NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN DỊCH KINH
HT. Thích Trí Tịnh
Chúng ta ngày nay không gặp Phật ra đời, nhưng gặp được các
vị Bồ-tát cũng quý rồi, cộng thêm có kinh sách chỉ đường dẫn lối. Như
vậy, muốn no thì phải ăn, muốn giải nghiệp thì phải thật sự tu hành,
đừng chấp lỗi người khác...
Tôi có quan niệm, dịch không
phải để cho mình đọc mà để cho mọi người đọc. Vì vậy nên khi dịch, tránh
dùng văn tự cầu kỳ, bóng bẩy làm người đọc tụng khó hiểu. Tôi thường
chọn bản văn chữ Hán của ngài Cưu-ma-la-thập để dịch vì văn nghĩa rất
phổ thông, mạch lạc, dễ hiểu. Riêng những bản văn của ngài Huyền Trang
vì dùng nhiều từ ngữ triết lý sâu xa rất khó đoán định, phải nghiệm lắm
mới thông suốt. Theo tôi, những văn bản của ngài Huyền Trang dùng để
nghiên cứu, học tập hay hơn là để đọc tụng. Tôi nghĩ rằng pháp của Phật
sâu xa, mầu nhiệm, vốn đã khó rồi mà chúng ta còn dùng văn tự khó hiểu
nữa thì làm sao người đọc lãnh hội được.
Điều đáng lưu ý là trong khi ngồi dịch,
tâm mình phải theo âm vận, làm thế nào để đọc cho suôn sẽ và nghe cho
vui tai, nếu âm vận nghe trắc quá sẽ gây cho người đọc cảm giác khó
chịu, mệt mỏi.
Trước đây, Giáo hội Tăng già Nam Việt có
yêu cầu tôi dịch bộ Phạm Võng cho những người thọ giới Bồ-tát bố tát.
Sau đó, có vài vị tôn đức cũng dịch, nhưng có lẽ vì không để ý đến âm
vận nên nhiều người đã nhận xét: “Nếu dùng để đọc tụng rất khó vì câu
văn nghe trắc quá”. Ở đây tôi phải nói thẳng: “Phật pháp bất vị nhơn
tình”, nếu theo nhơn tình thì sẽ hư việc. Ví như giới luật nhà Phật, nếu
chiều theo nhơn tình thì đâu còn giới luật. Tuy rằng Phật pháp vốn
không rời nhơn tình, đúng việc cũng phải tùy thuận nhơn tình. Thường thì
trước khi dịch kinh, tôi chọn thời điểm thích hợp, tránh các chuyện
chung quanh. Thí dụ như ngày nào không có Phật sự, giao tiếp thì phải
bắt đầu từ 07 giờ 30 sáng tôi lên phòng riêng ngồi làm việc tới 12 giờ
trưa mới xuống dùng cơm. Buổi chiều từ 14 giờ tới 18 giờ. Trước khi
viết, tâm mình phải thật vắng lặng, phải quán xuyến trước sau, thông
suốt ý nghĩa. Tôi khởi sự dịch kinh năm 30 tuổi (1947). Bộ Kinh Pháp Hoa
được khởi dịch đầu tiên tại chùa Kim Huê (thị trấn Sa Đéc) Đồng Tháp,
ngay nơi sanh quán của tôi. Sau đó, tôi dịch tiếp các bộ Kinh Tam Bảo,
Địa Tạng, phẩm Phổ Hiền, Hoa Nghiêm, Niết-bàn, Đại Bát-nhã, Phạm Võng,
Đại Bửu Tích…
Tôi
cũng có dịch cuốn Ngộ tánh luận của Tổ Bồ-đề-đạt-ma, đây là một trong
mấy quyển của ngài được ghi trong Tục Tạng để cho mọi người biết rằng,
Tổ cũng để lại kinh sách chớ không phải chỉ có ngồi nhìn vách (cửu niên
diện bích). Nên khi dịch quyển này, tôi có cảm nhận như được sự trợ lực
của oai thần Tam bảo và sự hộ niệm của chư vị Tổ sư. Nên khi dịch và
phân 32 đoạn xong, tôi sửng sốt vì con số 32 đoạn này ngẫu nhiên trùng
hợp với con số 32 chương trong quyển Kinh Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật mà
Chiêu Minh thái tử đời nhà Lương đã phân định từ ngàn xưa.
Đối với người thọ trì đọc tụng, nên biết
rằng, kinh Phật là Pháp vương, phải hết sức trân trọng. Ngày xưa, tiền
thân đức Phật muốn tu hành phải xả thân cầu đạo. Ngày nay, mọi việc tu
hành được thuận lợi hơn nhiều vì có kinh sách chỉ đường mà chúng ta thờ ơ
ỷ lại là điều đáng trách. Nếu người nào còn thích đọc tụng kinh chữ Hán
hoặc chữ Pali thì phải học để thông hiểu được ý nghĩa lời Phật dạy hầu
ứng dụng tu hành. Nếu không học được thì nên đọc tụng bằng những bản
kinh đã dịch ra Việt ngữ sẽ có lợi ích hơn.
Chúng ta ngày nay không gặp Phật ra đời,
nhưng gặp được các vị Bồ-tát cũng quý rồi, cộng thêm có kinh sách chỉ
đường dẫn lối. Như vậy, muốn no thì phải ăn, muốn giải nghiệp thì phải
thật sự tu hành, đừng chấp lỗi người khác. Phải tự soi xét lại mình, coi
căn lành có lớn chưa, nguyện lực có tha thiết chưa, tu hành có được
chánh định chưa. Tu hành quan trọng là ở chỗ không dính mắc, có như vậy
mới mong thoát khỏi trần lao nghiệp chướng đã nhiều đời, nhiều kiếp.
Nhân ngày sanh nhật 2 tháng 9 Mậu Thìn
(1988), tôi có cảm tác một bài thơ. Nay dù hơn 22 năm trôi qua, tôi thấy
bài thơ này vẫn còn ý nghĩa nhắc nhở ta trên đường tu. Tôi gửi đến các
huynh đệ thay cho lời chúc Tết.
“Tuổi ngoài bảy chục gẫm nhơn sanh
Nhơn sanh vô nghĩa mãi trôi quanh
Ăn uống, uống ăn, lo đại tiểu
Việc làm, làm việc, nhọc bại thành
Sống đeo danh lợi phiền đắc thất
Chết để thịt xương ngán hôi tanh
Ân cần nhắn gởi chư thân hữu
Đạp phá cửa trần gấp chuyển nhanh”.