MỤC LỤC
TẠP CHÍ ĐẠO PHẬT NGÀY NAY SỐ 14
THÁNG 02 NĂM 2012
Đầu năm nói về cầu an cầu siêu
Phan Minh Đức
Cầu an là mong muốn có được đời sống an vui hạnh phúc, không bệnh tật, khổ não, ít rủi ro, bất trắc…
“An” ở mỗi con người phải là
thân an, (khỏe mạnh, sống lâu, không bệnh tật, không tai nạn, rủi ro…),
tâm an (trạng thái tinh thần thanh thản, thoải mái, không lo âu phiền
muộn, không sợ hãi, khủng hoảng, không căng thẳng bức bối…), hoàn cảnh
an (gia đình ấm no hạnh phúc, điều kiện sống, hoàn cảnh sống tốt, các
mối quan hệ tốt đẹp, gặp nhiều thuận duyên trong cuộc sống…).
Muốn được những điều đó cần phải tu
dưỡng, rèn luyện thân, tâm, tích cực xây dựng đời sống cá nhân, đời sống
xã hội trên tinh thần nhân quả, có chánh kiến (thấy, biết chơn chánh,
nhận thức đúng đắn), chánh tư duy (suy nghĩ chơn chánh, tích cực), chánh
ngữ (lời nói chơn chánh, hiền hòa, từ ái, có lợi ích thiết thực cho
mình và cho người), chánh nghiệp (hành vi chơn chánh, ba nghiệp thân,
khẩu, ý trong sạch), chánh mạng (nuôi sống thân mạng bằng nghề nghiệp,
việc làm chơn chánh), chánh niệm (ý niệm chơn chánh, thường nhớ nghĩ
điều lành, không vọng tưởng điên đảo, không niệm tham, sân, si), có tu
tập thiền định (để có năng lực làm chủ cảm xúc, tình cảm, tâm lý, không
dễ dàng bị lôi cuốn, cám dỗ bởi hành vi, lối sống tiêu cực, bất thiện),
trí tuệ (nhận thức sáng suốt, năng lực hiểu biết đúng đắn, tích cực giúp
xác định rõ đâu là điều thiện, đâu là điều bất thiện, hành vi nào mang
lại an lạc, hạnh phúc cho mình và tha nhân.
Cao hơn nữa là thấy rõ bản chất của đời
sống (duyên sinh, vô thường, khổ, không, vô ngã), thoát khỏi những ảo
tưởng, ảo kiến của người bình thường, từ đó không còn bị ràng buộc, hệ
luỵ, không còn những bất an, đau khổ).
Nếu
chúng ta muốn xây dựng một đời sống an vui hạnh phúc thì không gì hơn
cố gắng tạo nhiều thiện nghiệp, không làm phát sinh những bất thiện
nghiệp chưa phát sinh và chừa bỏ những bất thiện nghiệp đã tạo.
Có thể đời sống hiện tại của chúng ta
đang gặp nhiều khó khăn, khổ đau, bất hạnh, đó là do nghiệp nhân từ
những đời trước hoặc quá khứ của đời này, nhưng các nghiệp thiện được
tạo tác trong hiện tại có thể hóa giải phần nào các nghiệp bất thiện
trước kia. Bởi vì từ nhân đi đến quả có các yếu tố duyên (các nhân phụ)
xen vào nên nghiệp quả sẽ có sự chuyển biến. Cũng có trường hợp nghiệp
quả không hình thành do sự can thiệp quá mạnh của các duyên.
Trong kinh Pháp cú Thí dụ, phẩm Vô
thường thứ I có kể về vị trời Đế Thích sắp mãn phước, mất đi năm đức
tướng (Ngũ suy tướng: 1. Mất hào quang, thân thể hôi dơ, 2. Hoa trên mão
đội trên đầu khô héo, 3. Không còn ưa thích chỗ ở của mình, 4. Dưới
nách chảy mồ hôi dơ, 5. Bụi bám lên thân).
Ông biết mình sắp mạng chung và tái sinh
vào thai con lừa của một người thợ làm đồ gốm. Ông hết sức lo buồn, vội
tìm đến chỗ Phật xin Phật cứu độ cho. Đế Thích đến nơi gặp Phật liền
phủ phục sát đất đảnh lễ, chí tâm quy mạng Phật, Pháp, Tăng. Nhờ công
đức phước lành đó mà ông thoát khỏi kiếp lừa sắp tái sinh và giữ được
thân tướng Thiên Đế đầy đủ năm đức tướng.
Vì thế cần phải hiểu là tất cả những gì
trong hiện tại không phải hoàn toàn do nghiệp nhân các đời quá khứ quyết
định mà còn do nghiệp nhân trong hiện tại tạo nên, đó là thái độ sống,
quan niệm, những suy nghĩ, hành vi tiêu cực hoặc tích cực trong hiện
tại. Cho nên không tạo nghiệp nhân xấu, tạo nhiều nghiệp nhân thiện
trong hiện tại là thái độ sáng suốt để cải thiện đời sống bất như ý và
xây dựng đời sống an vui hạnh phúc cho mình. Đó là cách thức cầu an tích
cực.
Ta có thể chuyển nghiệp nặng thành nhẹ
bằng cách ăn năn sám hối những nghiệp đã tạo và nỗ lực tu tập, tạo các
nhân duyên lành làm trở ngại sự hình thành nghiệp quả. Bằng sự thực hành
các thiện pháp, bằng sự tu tập giới, định, tuệ, chúng ta có thể vô hiệu
hoá các nghiệp nhẹ mà đáng lẽ chúng ta phải nhận lãnh quả báo.
Ngoài sự chuyển hoá tâm ra thì mọi nhân
duyên can thiệp vào cơ chế nhân quả đều có giá trị tạm thời hoặc phản
tác dụng. Ví dụ như dùng quyền năng của chú thuật hay thần thông để ngăn
chặn nghiệp quả, né tránh nghiệp quả thì chỉ có thể trốn tránh nhất
thời chứ không trốn tranh mãi được.
Chỉ những người có thiện tâm, hành động
của thân, khẩu, ý đều là hành động thiện lành thì những nghiệp nhân đó
khế hợp với bổn hoài chư Phật, tương ưng với tâm đại bi của chư Phật nên
chiêu cảm quả báo tốt, biểu hiện ở chỗ cầu có linh ứng, có hiệu nghiệm,
gặp nhiều thuận duyên v.v... chứ không phải Phật, Bồ-tát ban phước hay
tiêu trừ nghiệp chướng cho chúng ta.
Không ai có thể ban phước giáng họa cho
chúng ta kể cả Đức Phật. Nếu người tạo nhiều nghiệp bất thiện mà người
khác có thể gánh chịu thay cho hoặc giúp cho thoát khỏi quả khổ thì định
luật nhân quả nghiệp báo không còn. Đức Phật cứu độ chúng ta là giúp
cải thiện chính mình, từ đó làm thay đổi hoàn cảnh.
Khi
chúng ta phát khởi thiện tâm chính là tạo nghiệp nhân thiện, từ đó đưa
đến quả báo tốt: Đời sống an vui hạnh phúc, gặp nhiều điều xứng ý vừa
lòng. Hành động đi chùa cúng dường Tam bảo, kính Phật, trọng Tăng là
hành động thiện, là nghiệp nhân thiện tất nhiên đưa đến quả báo tốt đẹp
chứ kỳ thực không ai ban cho ta cả.
Trong kinh Pháp Cú Đức Phật có dạy:
“Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói năng,
hành động với tâm ô nhiễm thì sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe
lăn theo chân con vật kéo. Nếu nói năng, hành động với tâm thanh tịnh
thì sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình” (Pháp Cú 1-2, Phẩm
Song Yếu).
Nếu chúng ta sống đời sống không chơn
chánh, đời sống bất thiện (trộm cắp, cướp giật, lừa đảo, chiếm đoạt, mua
gian bán lận, giả dối lọc lừa, làm giàu bằng xương máu kẻ khác…), nếu
chúng ta sống buông thả không có trách nhiệm đối với bản thân, đối với
gia đình, xã hội (rượu chè, cờ bạc, sa đọa, truỵ lạc, làm khổ cho mình
và người khác…) thì dù có cầu cho lắm cũng không an, cầu đến đâu cũng
không ai cứu độ được. Nên nhớ, ý nghĩa cầu an trong đạo Phật khác các
tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo thần quyền.
Trong vấn đề cầu siêu cũng vậy, không
thể cầu cho người tạo nhiều ác nghiệp được siêu thoát theo ý muốn của
mình. Tất cả những việc làm lúc sinh thời là thiện nghiệp hay ác nghiệp,
sau khi chết sẽ phải nhận lãnh kết quả dưới hình thức tái sinh cao hay
thấp. Tức con người sau khi chết sẽ siêu thoát (tái sinh vào nhàn cảnh)
hay đọa lạc (tái sinh vào khổ cảnh) tùy thuộc vào nghiệp mà mình đã tạo.
Cầu siêu có nghĩa là mong muốn hương
linh người đã khuất siêu thoát khỏi khổ cảnh (địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh), được tái sinh vào cõi người hoặc các lạc cảnh khác (cõi Phật, cõi
trời). Cầu siêu đích thực phải là sự mong mỏi, sự thành tâm thành ý và
hành động hữu ích giúp hương linh được lợi lạc trong quá trình tái sinh.
Việc cầu siêu chỉ có ý nghĩa, giá trị
khi người còn sống khai thị, cảnh tỉnh, giúp người chết chuyển đổi tâm
niệm của mình. Pháp ngữ, lời kinh, tiếng kệ có năng lực giúp hương linh
giác ngộ, tỉnh thức và sinh tâm hoan hỷ, nhờ đó họ an lạc không còn khổ
não. Những công đức phước báu mà người thân làm để hồi hướng cho hương
linh cũng mang lại nhiều lợi ích cho hương linh.
Khi người chết biết tùy hỷ trước những
việc làm nhằm tạo công đức phước lành của những người thân của mình và
phát khởi lòng thành kính hướng về Tam bảo thì họ đã chuyển hóa được
phần nào những nghiệp ác bất thiện và tăng trưởng phước báu cho tự thân,
nhờ đó mà được tái sinh vào lạc cảnh. Như trường hợp bà Thanh Đề, mẹ
của Tôn giả Mục Kiền Liên, hay Hoàng hậu Hy Thị vợ vua Lương Võ Đế. Bà
Thanh Đề lúc còn sống xan tham, bỏn xẻn, không kính tin Tam bảo, tạo
nhiều nghiệp ác bất thiện, nên sau khi chết bị đọa làm ngạ quỷ phải chịu
đau khổ, đói khát. Tôn giả Mục Kiền Liên đã tổ chức trai đàn, thỉnh
Phật và mười phương Tăng siêu độ cho bà. Nhờ công đức phước báu cúng
dường Tam bảo của tôn giả Mục Kiền Liên và sự phát tâm hoan hỷ của bà
trước việc làm của Tôn giả mà bà thoát khỏi tội báo mang thân ngạ quỷ.
Bà Hy Thị lúc sinh tiền cũng tạo nhiều
ác nghiệp nên sau khi chết sinh làm rắn. Nhờ vua Lương Võ Đế thỉnh Hòa
thượng Chí Công và chư Tăng mở đàn tràng Lương Hoàng Sám giúp bà sám hối
tội lỗi mà bà thoát khỏi kiếp rắn.
Thời Phật còn tại thế, có lần Ngài gặp
một tội nhân bị chặt hết tay chân đem đến dâng cúng Ngài một cành hoa
sen, Phật bảo với các Tỳ-kheo rằng: “Nhờ phước đức này, suốt trong chín
mươi mốt kiếp sắp tới người cụt tay chân kia không những khỏi bị đoạ vào
ba đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh mà còn được sinh lên các
cõi trời cho đến khi hưởng hết phước ấy mới trở lại làm người”.
Trong kinh Kutadanta thuộc Trường Bộ
kinh số 5, Đức Phật có dạy rằng, thường xuyên cúng dường các sa môn, xây
tịnh xá, quy kính Tam bảo và thọ trì ngũ giới cùng thực hành các pháp
môn tu tập là những cách tế lễ, cầu nguyện thực sự đem lại nhiều lợi ích
nhất.
Mỗi người khi còn sinh tiền nên tạo cho
mình những nghiệp nhân thiện, vì đó là hành trang duy nhất chúng ta có
thể mang theo sau khi chết, nó quyết định đời sống kế tiếp của chúng ta.
Đây là điều cần quan tâm nhất. Còn vấn đề cầu siêu sau khi chết chỉ là
trợ duyên, chỉ có lợi ích khi hương linh người quá cố nghe tiếng kệ lời
kinh mà giác ngộ tỉnh thức, sinh tâm hoan hỷ thành kính hướng về Tam
bảo, tín thọ giáo pháp mà chuyển hoá tự tâm.
Vai
trò của hương linh là chính yếu, kế đó là sự thanh tịnh của trai đàn,
uy đức đạo hạnh của chư Tăng và sự thành kính, thiết tha của thân nhân
người quá cố cùng với những phước báu mà họ tạo được và hồi hướng cho
hương linh.
Tuy hương linh đóng vai trò quyết định,
vì hương linh có thay đổi tâm niệm, buông bỏ những ý niệm mê lầm, xả bỏ
phiền não, tham đắm, chấp trước, tự chuyển nghiệp của mình thì mới siêu
thoát được, nhưng nếu không có sự giúp đỡ, trợ duyên của chư Tăng và
người thân bằng cách khai thị, cảnh tỉnh, hướng dẫn hương linh hướng tâm
về Tam bảo, làm các việc lành để hồi hướng công đức phước báu cho thì
hương linh cũng khó mong siêu thoát, do đó người thân cần phải hỗ trợ
cho hương linh để hương linh thoát khổ và được phần lợi lạc.
Cầu an-cầu siêu là hoạt động văn hóa
tinh thần, hoạt động của đời sống tâm linh, từ lâu đã trở thành nhu cầu
thiết thực đối với những ai quan tâm đến những giá trị tinh thần. Trong
cuộc sống ai cũng muốn được an ổn, hạnh phúc, có sức khỏe, sống lâu
trường thọ, đời sống gặp nhiều thuận duyên, ít rủi ro bất trắc…
Ai cũng muốn những người thân của mình
sau khi qua đời sẽ được tái sinh vào các cảnh giới an vui, được về cõi
Phật hoặc cõi Trời, hay ít ra cũng được trở lại làm người, không rơi vào
các khổ cảnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đó là nhu cầu chính đáng. Cầu
an cho bản thân, gia đình, xã hội, quốc gia, nhân loại là nghĩa cử đẹp
đáng khích lệ, tán dương, là việc làm thấm đẫm tình người, giàu lòng từ
bi.
Cầu siêu cho những người thân của mình
đồng thời cũng cầu cho tất cả những vong linh chưa siêu thoát là việc
làm thể hiện ân tình nghĩa cảm của người còn sống đối với những người đã
khuất, thể hiện mối liên hệ giữa người với người dù sống trong hai thế
giới hoàn toàn khác biệt.
Việc cầu siêu với mong muốn giúp cho
những vong linh chưa siêu thoát được siêu thoát, đang ở trong cảnh khổ
được thoát khổ cũng là biểu hiện của lòng từ bi, việc làm ấy cần được
quan tâm phát triển.