MỤC LỤC
TẠP CHÍ ĐẠO PHẬT NGÀY NAY SỐ 14
THÁNG 02 NĂM 2012
Bệnh tâm thần & thiền định
Mỹ Thanh dịch
Bất cứ người nào theo học khóa thiền Vipassana trong vòng
mười ngày, đều có thể nhìn thấy sự sai lầm về mặt này của khoa tâm lý
học hiện đại. Anh ta biết ngay từ kinh nghiệm bản thân là các sự kiện
tâm lý nội tại có thể được quan sát trực tiếp. Mỗi thiền sinh của
Vipassana đều trở thành một bác sĩ tâm lý thực thụ cho chính mình. Và
xuyên qua môn khoa học thuần khiết về quán sát tự thân, anh ta bắt đầu
thoát khỏi đau khổ.
Hiện nay, thế giới đang có sự
rối loạn, không hiểu biết, tranh cãi về bệnh tâm thần, thiền định, và sự
liên hệ giữa hai đề tài này. Các chuyên gia về sức khỏe thể chất, và
tâm thần cũng không hiểu rõ phạm vi nghề nghiệp của họ. Họ cũng không
hiểu cái gì là thiền định. Bởi vậy đối với người bình thường họ sẽ rất
bối rối.
Cả hai chữ «tâm thần» và «thiền định»
cũng mang những hào quang thần bí. Nói tóm lại, bệnh tâm thần là khoa
học rất mới mẻ, chưa đến trăm năm, trong khi vô số cách thức thiền đã
bắt nguồn từ thuở xa xưa. Tuy vậy, đôi lúc có lời tuyên bố là thiền định
không có tính cách khoa học. Thật ra, thiền định là môn khoa học,
phương pháp thực tập và hoàn hảo hóa mấy thế kỷ về trước bởi các khoa
học gia về tinh thần và thể chất, bởi các vị Rishis, Munis và các vị
Phật. Sau rốt, khoa học là gì? Khoa học là sự quan sát một cách khách
quan về sự phân tích các dữ kiện và sự ứng dụng. Khoa học tìm kiếm để
biết sự thật. Chúng ta sẽ thấy trong bài xã luận này, dựa cả vào tiêu
chuẩn tân thời, thiền Vipassana (Minh Sát) thật là môn khoa học.
Người
ta thường nghĩ đến bệnh tâm thần là môn khoa học chuyên giải quyết
những tâm thần bất bình thường. Nhưng sẽ chính xác hơn nếu sử dụng từ
«hành vi» thay thế cho hai từ «tâm thần» trong việc định nghĩa, bởi vì
bệnh tâm thần định nghĩa là «Môn học về hành vi bất thường. Bây giờ, để
định nghĩa sự bình thường thì thật là nhiệm vụ khó khăn. Bình thường nói
chúng có nghĩa «trung bình». Hành vi ám chỉ những hành động thuộc về
lời nói hay việc làm, như hành vi nói năng, hành vi xử sự. Trong môn học
về bệnh tâm thần và tâm lý, cách suy nghĩ được nghiên cứu chỉ bằng kết
luận sau những hành động về lời nói, việc làm được thể hiện. Mục đích
của các môn khoa học này là để giúp sửa đổi hành vi của một người trở
lại bình thường (thông thường nghĩa là sự trung bình).
Chúng ta cũng có thể sử dụng định nghĩa
tân thời cho bệnh tâm thần như: Phương thức áp dụng môn khoa học về thần
kinh cho việc chữa trị bệnh tâm thần của một nhóm bệnh nhân tâm thần.
Thật ra ngay từ ban đầu, phạm vi của bậnh tâm thần đã không được định
nghĩa đúng đắn. Kết quả các bác sĩ chuyên môn về tâm thần thường chỉ
chữa cho những bệnh tâm thần thứ yếu. Trong những năm 60 và 70, các bác
sĩ về tâm thần ở phương Tây đều thực hành phân tâm lý học. Những bệnh
nhân của họ thường không có những triệu chứng, vấn đề nghiêm trọng; Rất
ít bệnh nhân bị loạn trí. Trong khoảng thời gian này, trong tâm thần học
có ấn tượng là bệnh tâm thần có thể chữa trị tất cả những vấn đề khó
khăn của con người. Nhưng thực tế thì tâm thần học không đóng góp được
gì quan trọng, trong sự hài hoà của xã hội nói chung, ngoại trừ giúp đỡ
được cho một số ít bệnh nhân.
Các bác sĩ tâm thần học có lý trí đã dần
dần hiểu được biên giới của bệnh tâm thần không bao quát song song cùng
với hoạt động tinh thần của mọi người. Sự hiểu biết này là ý nghĩa to
tác, bởi vì nó giúp cho bác sĩ tâm thần học và người bình thường định
nghĩa phạm vi của bệnh tâm thần. Sự thiếu hiểu biết về điều này của một
người bình thường tạo nên nhiều vấn đề khó khăn khác nhau. Thí dụ, đôi
lúc bác sĩ tâm thần được mời xem bệnh, trong khi bệnh ấy lại không thuộc
về tâm thần, bắt nguồn từ sự tin tưởng, đòi hỏi vô lý, rằng bác sĩ tâm
thần học phải biết hết mọi vấn đề liên quan đến thần trí. Ngược lại với
quan niệm hiểu biết hết của bác sĩ tâm thần học, mặt khác của đồng tiền
là sự thiếu hiểu biết toàn bộ về môn đặc biệt này, kể luôn cả vài thành
phần chuyên gia về mặt sức khỏe với kết quả là… ngay cả khi cần thiết và
có lợi ích người ta cũng không chịu tìm đến sự giúp đỡ của bác sĩ tâm
thần.
Trong thời gian vừa qua, bệnh tâm thần
đã gia nhập vào một chuyên ngành của y học, với trọng tâm chuyên trị
những bệnh tâm thần nặng. Điều này đã xác định lại vai trò của bệnh tâm
thần như là môn khoa sinh học, và bác sĩ tâm thần học hiện nay đã giữ
vai trò thích hợp hơn, họ là những chuyên gia trị liệu về rối loạn sinh
học, và tâm lý. Điều này không có nghĩa là vai trò của bác sĩ tâm thần
chỉ giới hạn trong việc viết toa thuốc; Bác sĩ tâm thần cũng sử dụng
những phương thức trị liệu khác nhau. Nhưng ngày càng nhiều, các bác sĩ
tâm thần bắt đầu tự thu hẹp chuyên ngành của họ: Trị liệu những rối loạn
thần kinh nặng. Những điều kiện để giúp đỡ việc trị liệu cho các bác sĩ
tâm thần là trang bị đầy đủ dụng cụ, và tay nghề cao. Các bác sĩ tâm
thần được huấn luyện để giải quyết các hành vi «bất bình thường». Trong
những trường hợp căn bệnh gần với hành vi bình thường (hoặc trung bình),
hiệu quả của việc trị liệu tâm thần khác nhau rất xa giữa việc trị liệu
và phương cách trị liệu.
WHO - World Health Organi-zation (Hội
Đoàn Sức Khỏe Thế Giới) liên tục cố gắng cải thiện tiêu chuẩn chẩn đoán
cho các bệnh tâm thần. Liệt kê danh sách các chứng bệnh quốc tế
(International Classification of Diseases – ICD-10) là một bước tiến
quan trọng. Người ta đang cố gắng để phân ranh giới một cách hệ thống
trong lĩnh vực bệnh tâm thần. Việc này giúp cho các bác sĩ tâm thần có
thể chú tâm đến một số nhỏ dân chúng đặc biệt, để giúp các nhà nghiên
cứu tìm ra những phương thuốc để chữa các chứng bệnh rối loạn tâm thần,
và có thể bảo vệ dân chúng khỏi bị gán cho cái tên bệnh nhân tâm thần.
Tuy vậy, ranh giới vẫn còn mơ hồ. Kể cả bác sĩ tâm thần giỏi đôi lúc
cũng cảm thấy khó khăn khi phải quyết định nên chữa trị bệnh nhân đặc
biệt nào đó, hay cho rằng người ấy không cần sự trị liệu.
Mọi người đều chịu đau khổ từ những điều
bất hạnh khác nhau. Khi đối diện với những vấn đề thương mại, một người
có thể dễ nổi giận, trong khi người khác thì nghiêng về sự buồn rầu.
Trong những lúc này, một cá nhân có thể nói là không bị bệnh tâm thần.
Họ có thể được lợi ích từ lời khuyên, sự nâng đỡ của bạn hay thân quyến,
hoặc là bác sĩ tâm thần. Kể cả như vậy, trong cuộc sống, mỗi con người
đều luôn bị dính chặt vào các cuộc thử thách, và đau khổ cứ liên tục xảy
ra.
Một người phải làm thế nào khi đối diện
với những khó khăn trong cuộc sống? Mỗi một cá nhân cảm thấy đau khổ khi
gặp phải những việc không muốn vẫn xảy ra, và những việc muốn thì không
thành; Khi một người có được vật mà họ không thích, hoặc mất đi vật gì
họ thích. Tìm kiếm giải pháp ở đâu đây?
Tâm
thức là nguyên nhân chánh. Chúng ta cần phải tìm hiểu, thăm dò cho đến
tận chiều sâu của nó để có thể điều khiển nó – để giải quyết các khó
khăn của chúng ta. Đây chính xác là môn khoa học của thiền định. Thiền
định là môn khoa học nghiên cứu về hiện tượng tâm thức và vật chất. Môn
tâm thần học chỉ tìm hiểu về tâm thức một cách gián tiếp và chỉ trong
phạm vi có thể khảo sát được qua những hành vi từ lời nói và việc làm.
Trong môn khoa học về thiền định, tâm thức được tìm hiểu một cách trực
tiếp. Môn khoa học này đã được thực tập cùng khắp xứ Ấn Độ từ thời xa
xưa.
Sự thật tất cả các hành động đều bắt
nguồn từ tâm thức. Nhưng không phải tất cả những gì xuất hiện nơi tâm
thức đều biểu lộ qua lời nói hay cử chỉ. Những hành động dường như là
tương xứng có thể bắt nguồn từ những ý muốn thầm kín khác. Thí dụ, một
người đứng chết trân khi thấy một con rắn có thể có hai lý do cho hành
động này. Có lẽ anh ta quá sợ hãi; Hoặc anh ta có thể rất bình tĩnh và
đứng yên để không làm con rắn sợ, hoặc để quan sát con rắn. Tương tự như
thế, một người có thể cho kẻ nghèo một đồng bạc, với tâm lượng từ bi,
để họ đi cho khuất mắt, hoặc để cho những người khác không xem anh ta là
một người keo kiết.
Vì thế, vấn đề trước nhất là rất khó để
giải thích môn tâm thần học, chiếu theo các kết quả về tâm thức bắt
nguồn từ lời nói và hành động. Tâm thức cần được tìm hiểu trực tiếp. Vấn
đề khác là các kết quả của cái được gọi là “ thuyết nhị nguyên của Des
Cartes”, sự phân chia tùy ý về tâm và thân. Trong thời gian rất lâu, các
nghề y khoa chuyên môn về thân thể, đã bỏ qua việc tìm hiểu về tâm
thức. Và khi các bác sĩ tâm thần học bắt đầu tìm hiểu về tâm thức, trong
bất cứ phương cách nào, họ bác bỏ thân người. Ngày nay, tầm quan trọng
của phương pháp giải quyết vấn đề có tính cách thánh thiện được chấp
nhận. Tuy vậy, không có phương thức thẩm vấn nào được đầy đủ, không có
sự hiểu biết thích đáng cho sự tương tác giữa tâm thần và vật chất, với
kết quả là có rất nhiều lý thuyết, nhưng ít dữ kiện. Hiện tượng thân-tâm
không được tìm hiểu một cách đúng đắn.
Những vấn đề này được giải quyết xuyên
qua sự hiểu biết đúng đắn về thiền định. Chữ «thiền định» rất đa dạng
trong nhiều định nghĩa. Trong tiếng Anh, từ này được sử dụng một cách
thoải mái để chỉ đến việc suy nghĩ về một cái gì đó. Các tự điển định
nghĩa là «trầm tư mặc tưởng»: Luyện tập tâm thức trong sự trầm mặc,
chuyên chú đến một chủ đề của sự trầm mặc để suy nghĩ, suy tư và nghiền
ngẫm. Khi chúng ta nói đến thiền ở đây, chúng ta không sử dụng từ này
trong ý nghĩa chán ngắt đó.
Bậc giác ngộ, đức Phật Gotama, sử dụng
từ bhavana để diễn tả những thực tập về sự phát triển của tinh thần. Từ
này được dịch đại khái là thiền định. Thiền nói về những thực tập đặc
biệt cho tinh thần, những phương thức chính xác để chú tâm và thanh tịnh
hóa tinh thần. Khi chúng ta sử dụng từ «thiền định» ở đây, chúng ta sử
dụng từ này trong ý nghĩa chuyên môn này. Hầu hết trong các ngôn ngữ Ấn
Độ, có những từ rất đặc biệt dành cho nhiều loại thực tập thiền khác
nhau, bởi vì Ấn Độ có truyền thống phong phú về thiền. Những từ như
dhyana, japa, traa.taka, saadhandaa, vipassanaa, (vidarshanaa),
bhaavanaa, v..v..., nói về những loại thực tập khác nhau. Nói chung,
thiền là thực tập về sự chú tâm của tinh thần về những đối tượng khác
nhau. Bởi vì sự chú tâm của tinh thần là điều kiện trước hết cho bất cứ
một nhiệm vụ nào, đó là nhân tố rất quan trọng trong việc khám phá hiện
tượng thân tâm. Sự chú tâm có thể thực hành với vô số đối tượng: Mắt
thấy, tai nghe, sự tưởng tượng, lời nói…
Bậc Giác Ngộ đã cho chúng ta đối tượng
kỳ diệu để chú tâm, hơi thở tự nhiên của chúng ta. Không giống với những
đối tượng khác bên ngoài hoặc không có liên quan trực tiếp đến tâm thân
của chúng ta, hơi thở là đối tượng có nhiều tiện lợi. Hơi thở trong ta,
và luôn luôn hiện hữu từ lúc sanh ra cho đến lúc chết. Đây là thực tế
hiển nhiên, rõ ràng. Hơi thở ý thức và vô thức, có chủ tâm và không chủ
tâm. Nhịp điệu của hơi thở liên quan mật thiết đến trạng thái tinh thần
và biết rõ ô uế nào đang xuất hiện nơi ý thức, kể cả sự loạn động nhỏ
nhất, cũng làm nhiễu loạn nhịp hơi thở. Chúng ta không thể tìm thấy đối
tượng để chú tâm nào khác hơn là hơi thở, vì hơi thở liên quan mật thiết
với hiện tượng thân-tâm và nhất là quá dễ dàng cho việc quan sát.
Tuy vậy, sự chú tâm không phải là mục đích của thiền định; Nó chỉ là dụng cụ. Dụng cụ để làm gì?
Ở đây chúng ta gặp cái khó khăn thứ ba
về định nghĩa của thiền nơi khoa học tân tiến. Bốn chân lý huyền diệu về
khổ rất đơn giản, hợp lý và phổ dụng: Đau khổ hiện hữu; Nó có nguyên
nhân, nguyên nhân này có thể bị nhổ tận gốc và có con đường dành cho
việc nhổ gốc đau khổ. Tuy nhiên, những chân lý phổ dụng này không được
các bác sĩ tâm thần học tân tiến hoan nghinh, vì tâm lý học chú trọng
nhiều đến «tại sao» hơn là «làm sao». Thái độ tìm kiếm định nghĩa trong
khi không hiểu chút gì về cơ cấu căn bản của thực tế, làm cho khó hiểu
hơn là nâng cao sự học hỏi về các vấn đề tinh thần của con người.
Bậc
Giác Ngộ là khoa học gia chân chính, khoa học gia lỗi lạc về thân và
tâm. Chính Ngài đã không những khám phá hiện tượng thân-tâm và toàn bộ
của nó, Ngài lại còn chỉ đường cho những người khác, để họ có thể thoát
khỏi đau khổ. Ngài dạy phương thức quan sát tinh thần hoạt động ra sao,
như thế nào thân và tâm tương tác. Ngài dạy Vipassana (thiền Minh Sát).
Vipassana có nghĩa là thấy, thấy một
cách đặc biệt, quan sát bên trong. Đây là một sự quan sát có đối tượng
của thực tại bên trong. Việc phát triển về sự nhận biết sâu sắc về bản
thể tự nhiên của một cá nhân. Nó không có những giả thiết, chỉ là sự
quan sát. Đây là cách thực tiễn để hiểu khó khăn của chúng ta là đau khổ
và giải quyết việc này. Khó khăn chung của mọi người cũng giống như
thế, và thuốc giải cũng phổ dụng. Trong Vipassana, chúng ta học quan sát
những cảm xúc của chính chúng ta một cách khách quan. Các cảm giác là
địa điểm gặp mặt của sự tương tác thân mật giữa thân-tâm. Xuyên qua các
cảm giác xuất hiện nơi thân, chúng được cảm nhận nơi tinh thần. Mỗi một
người trong chúng ta là một khoa học gia của thân và tâm. Chúng ta có sự
hiểu biết trực tiếp. Bậc Giác Ngộ đã trình bày bốn giai đoạn căn bản
của tinh thần (tâm): Ý thức, nhận biết, cảm thọ và những điều kiện. Về
mặt trí thức, không có người nào phải chấp nhận những giai đoạn này;
Chúng sẽ trở nên rõ ràng một khi chúng ta bắt đầu kiểm nghiệm được chân
lý nội tại.
Khi chúng ta học quan sát được các cảm
thọ nội tại, theo kinh nghiệm, việc này thật rõ ràng là chúng ta tiếp
tục phản ứng theo những cảm thọ này. Các cảm thọ là căn bản để các điều
kiện, mô hình cũ của ham muốn và ghét bỏ tăng trưởng. Sự khám phá sâu
sắc này là trụ cột cho việc giải thoát, mà Bậc Giác Ngộ đã đưa ra. Chính
điều kiện của chúng ta làm chúng ta mãi đau khổ, và chúng sẽ bị nhổ bỏ
tận gốc bằng cách thực tập quan sát đối tượng của cảm thọ. Thực tập
Vipassana, chúng ta không học để phát huy các điều kiện mới của ham muốn
và ghét bỏ các cảm thọ và như vậy, chúng ta bắt đầu tiêu diệt các điều
kiện cũ. Sự thực tập là hành trình từng bước một để tiêu diệt các ô uế
của tâm thức. Do đó, đây là tiến trình để tiêu diệt đau khổ.
Không nằm trong môn phái khoa học, kỹ
thuật này rất hữu dụng trong việc giúp tất cả mọi người có cuộc sống tốt
đẹp, hạnh phúc, an lạc hơn . Những ai đã từng theo học lớp Vipassana
trong vòng mười ngày, dưới sự chỉ dẫn của vị thầy giỏi, lớp học này là
kinh nghiệm đổi đời.
Thực tập để khám phá thân tâm ở mức độ
sâu xa nhất thật là không phải dễ. Việc này đòi hỏi sự ổn định, vững
chãi về mặt thân và tâm. Người cầu đạo chân chính mong cầu được thực tập
thiền Vipassana, họ cần có sức khỏe tối thiểu ở nơi thân và tâm. Thông
thường, tất cả đều học được, trừ những người bị bệnh tâm thần. (Nên liên
lạc với bộ quản lý lớp Vipassana trước khi ghi danh để xem học viên có
bệnh, có thể thích hợp cho khóa học hay không).
Thiền Vipassana là phương thuốc chữa
bệnh phổ biến cho nỗi đau khổ chung. Nhưng điều này không có nghĩa là
khoa tâm thần học không có chỗ đứng trong việc giúp đỡ nhân loại đang
đau khổ. Đối với những người điên, không có khả năng để theo học thiền
Vipassana, một công việc hết sức tế nhị. Các bác sĩ chuyên môn về tâm
thần học có thể giúp đỡ, làm giảm nỗi đau khổ của những người bệnh tâm
thần. Ngoại trừ một nhóm nhỏ với các bệnh tâm thần quá nặng, thiền
Vipassana rất hữu dụng cho tất cả mọi người.
Phạm vi của khoa tâm thần học giới hạn
vào một số nhỏ dân số. Nhưng thiền Vipassana thì phổ biến bao gồm tất cả
mọi mặt hoạt động về tâm thần của con người. Khoa tâm lý học ngụ ý tìm
hiểu hoàn toàn về hoạt động tinh thần của con người, như chúng ta đã bàn
qua, đây là môn “khoa học về thái độ cư xử”, và như vậy nó bị giới hạn.
Thái độ cư xử trong ý nghĩa này được định nghĩa như bất kỳ một hành
động phản ứng nào cũng có thể bị quan sát bằng cách này hay cách khác.
Luận điểm là hành động đó, khác với tâm thức, ý nghĩ hoặc cảm giác, có
thể bị quan sát và nghiên cứu. Ý là ở đây, người quan sát luôn là người ở
ngoài cuộc, một người khác. Các tâm lý gia hiện đại tin tưởng rằng thái
độ cư xử là con đường duy nhất mà các sự kiện tâm lý nội tại có thể
được nghiên cứu kỹ.
Bất cứ người nào theo học khóa thiền
Vipassana trong vòng mười ngày, đều có thể nhìn thấy sự sai lầm về mặt
này của khoa tâm lý học hiện đại. Anh ta biết ngay từ kinh nghiệm bản
thân là các sự kiện tâm lý nội tại có thể được quan sát trực tiếp. Mỗi
thiền sinh của Vipassana đều trở thành một bác sĩ tâm lý thực thụ cho
chính mình. Xuyên qua môn khoa học thuần khiết về quán sát tự thân, anh
ta bắt đầu thoát khỏi đau khổ.
Nguyện cầu cho nhiều người được bước đi
trên con đường do Bậc Giác Ngộ chỉ dẫn. Nguyện cầu cho nhiều người học
tập quán sát thực tại bên trong. Nguyện cầu cho mọi chúng sinh đều hạnh
phúc, mọi chúng sinh đều an lạc.