NIỆM A DI ĐÀ PHẬT hay A MI ĐÀ PHẬT
Kính thưa Thầy Admin và Chư Vị đồng tu,
Gần đây qua tập sách "Ý Nghĩa Hoằng Pháp và Hộ Pháp" của tác giả Diệu
Âm - Diệu Ngộ khuyên nên niệm Nam Mô A Mi Đà Phật thay vì Nam Mô A Di Đà Phật
như trước đây. Điều này nếu không khéo tự nhiên sẽ chia làm 2 nhóm trong cùng một pháp môn tu
tịnh độ, chính vì lẽ đó kính mong Chư Tôn Đức lý giải vấn đề trên để hàng Phật
tử tại gia yên tâm tu niệm.
Vấn đề này có liên quan đến tập sách "Hương Sen Vạn Đức" của Hòa
Thượng Thích Trí Tịnh, hiện nay Hòa Thượng đang còn đương chức, nếu như niệm A
Mi thật sự có lợi ích hơn niệm A Di thì thiết nghĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam
nên phổ biến rộng rãi điều này một cách chính thức đến với các Phật tử, chứ để
tình trạng này kéo dài mà Giáo hội không lên tiếng thì sẽ làm cho các Phật tử
thêm hoang mang.
Còn một khía cạnh khác nữa là nếu thay A Di bằng A Mi thì không chỉ riêng câu
niệm Phật mà các câu trong các bài chú (như chú Vãng Sanh chẳng hạn) đều phải
thay đổi lại hết. Rồi liệu các danh hiệu Phật khác có gì phải sửa nữa không ?
v.v. và v.v
Điều này quả thật có ảnh hưởng rất lớn đến các Phật tử Việt Nam, kính mong Chư
Tôn Đức sớm xem xét vấn đề này.
Xin thành kính tri ân.
Phạn: अमिताभ Amitābha, Amitāyus
Trung: 阿彌陀佛(T) / 阿弥陀佛(S)
Bính âm: Ēmítuó Fó
Wade-Giles: E-mi-t’uo Fo
Nhật: 阿弥陀如来 Amida Nyorai
Hàn: 아미타불 Amit'a Bul
Mông Cổ: ᠴᠠᠭᠯᠠᠰᠢ ᠦᠭᠡᠢ ᠭᠡᠷᠡᠯᠲᠦ
Цаглашгүй гэрэлт
Tsaglasi ügei gereltu
Одбагмэд Odbagmed
Аминдаваа Amindavaa
Аюуш Ayush
Tây Tạng: འོད་དཔག་མེད་
od dpag med
Ö-pa-me yoong toog taaa
Việt: A di đà Phật |
TẠI SAO NIỆM A MI ĐÀ
PHẬT?
HT. Thích Trí Tịnh
Sáu chữ hồng danh đây nguyên là Phạn âm (tiếng Thiên Trúc). Hai chữ đầu (Nam
Mô) nguyên âm là Namo, ta quen đọc liền vần Nam mô, là lời tỏ lòng thành kính,
có nghĩa là Quy y (về nương) và Quy mạng (đem thân mạng gởi về).
Chữ thứ sáu (Phật) nguyên âm là Buddha (Bụt Đa hay Bụt Thô), ta quen đọc gọn
là Phật, chỉ cho đấng hoàn toàn giác ngộ (Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác).
Ba chữ giữa (A Mi Đà) là biệt danh của đấng Cực Lạc giáo chủ, dịch nghĩa là
Vô Lượng (Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ) Như trong kinh, đức Bổn Sư tự giải
thích rằng: “Đức Phật ấy, quang minh vô lượng, soi suốt các cõi nước ở mười
phương không bị cách ngại. Đức Phật ấy và nhơn dân trong nước của Ngài thọ mạng
vô lượng vô biên vô số kiếp “.
Trong Quán Kinh nói : “ Nếu người chí tâm xưng danh hiệu của Đức Phật đây,
thời trong mỗi niệm diệt được tội sanh tử trong 80 ức kiếp và được vãng sanh …”
Trong Kinh Chư Phật Hộ Niệm nói: “Nếu người nghe danh hiệu của Đức Phật đây
mà chấp trì trong một ngày đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn thời được thành tựu
nhiều thiện căn phước đức. Đức Phật ấy và Thánh chúng sẽ hiện đến nghênh tiếp…
“
Kinh Văn Thù Bát Nhã nói: “Nếu người chuyên xưng danh hiệu thời đặng chứng
Nhất Hạnh Tam muội và chóng thành Phật…”.
Xem như lời của Đức Bổn Sư Thích Ca, đấng chân thật ngữ phán trên đây, thời
thấy rằng ba tiếng hồng danh của đức Giáo chủ Cực Lạc có những năng lực bất khả
tư nghị. Muốn được kết quả to tát như lời trong kinh, hành nhơn phải chí tâm
xưng niệm, và phải xưng niệm đúng âm vận, chớ không nên như người Pháp goi Chợ
Lớn là Sôlông, hay Bà Rịa là Baria.
Ba chữ A- mi- Đà nguyên là Phạn âm. Người Tàu đọc là A- mi- thô, và họ tụng
xuôi là Á- mi -Thồ. Danh hiệu ấy truyền qua xứ Việt ta bằng chữ Tàu, biên sẵn
trong các pho kinh sách Tàu. Người Việt ta cứ theo lệ phổ thông, chữ đâu đọc đó
nên đọc là A-di-đà. Như đọc Nã Phá Luân để kêu Hoàng đế Napoleon
(Na-po-lê-ông), cùng đọc Ba-Lê để kêu kinh đô Paris (Pari).
Với sự phiên âm bằng chữ Tàu, người Tàu đọc giống gần với nguyên âm, mà
người Việt ta đọc sai quá xa. Giá như ta gặp hoàng đế Pháp mà gọi ông ta là Nã
Phá Luân thời thật là đáng buồn cười. Với A-di-đà để gọi đức Giáo chủ Cực Lạc
cũng theo lệ đó.
Nhiều năm về trước, trong thời gian niệm Phật theo thông lệ Nam Mô A Di Đà
Phật, khi chuyên nhiệm nhiều (mỗi ngày từ hai vạn câu trở lên), tôi bị sự
chướng là trệ tiếng trong lúc niệm ra tiếng và lờ mờ trong lúc niệm thầm. Giữa
lúc đó tiếng “Di” là chủ của sự chướng. Vì thế, tôi mới để ý đến chính âm vận
của sáu tiếng hồng danh. Đồng thời lời của Tổ Vân Thê trong sớ sao nói: “Hồng
danh Nammô A-mi-đà Phật toàn là tiếng Phạn, chuyên trì không quên, thời cùng
với pháp trì chú của Mật tông đồng nhau”, lại thúc đẩy tôi vào sự khảo cứu.
Với vần La Tinh, người Anh ghép Amita, mà tôi được thấy ở bộ Phật Học Đại Tự
Điển.
Tôi đem ba chữ A-mi-đà ra hỏi, thời các Sư Tàu cũng như Cư sĩ Tàu đều đọc
gằn từng tiếng một trước mặt tôi : A-mi-thô.
Hai tiếng đầu “A”và “Mi” đã nhất định, và đồng thời quyết chắc đọc “di” là
sai. Tôi còn thắc mắc ở tiếng thứ ba, vì nếu dọc Amita như vần Anh, cùng
A-mi-thô như người Tàu thời với tiếng Việt có hai điều bất tiện:
1. Nghe không nghiêm và không êm.
2. Khác với thông lệ từ xưa.
Một học giả Bali và Phạn ngữ giải thích: chữ “đà” của tàu dùng phiên âm Phạn
ngữ có hai giọng:
1. Thô như danh từ “Bụt Thô” mà người tàu đọc xuôi là “Bù Thồ”.
2. Đa cũng như danh từ “Bụt Đa” (Buddha)
Với giọng “đa” để đọc chữ “thô”, nó mở đường cho tôi ghép 3 chữ lại: A-mi-đa
và theo cách đọc xuôi đánh dấu huyền: A-mi-đà.
Ghép luôn cả sáu tiếng nam mô A-mi-đà Phật, tôi nhận thấy rằng tránh khỏi
cái lỗi quá khác với nguyên Âm, dù vẫn chưa được hoàn toàn, nhưng có thể gọi là
nhiều phần đúng và không quá cách biệt với cách đọc phổ thông theo cổ lệ, vì
trong sáu tiếng đây chỉ có đổi “di” thành “mi” mà thôi.
Sau khi tham cứu như trên xong, tôi bắt đầu chuyên chí niệm Nammô A-mi-đà
Phật, và cũng bắt đầu từ đó tôi liền nhận được kết quả.
1. Sáu tiếng hồng danh đây nổi rõ nơi tai cũng như nơi tâm, khác hẳn sự mờ
mờ lọt sót của tiếng “di” trong thời trước.
2. Khi niệm ra tiếng, từ năm ngàn câu mỗi thời trở lên, môi lưỡi càng lúc
càng nhại, càng chuyên, càng lanh. Khác hẳn sự trệ môi cứng lưỡi của những ngày
niệm khi xưa.
3. Niệm ra tiếng với A-mi khỏe hơi hơn niệm ra tiếng của A-di khi trước, nhờ
vậy mà mỗi thời niệm được lâu và nhiều.
Người chuyên niệm danh hiệu của Phật, tầng cấp đầu tiên là đến mức bất niệm
tự niệm, hay niệm lực tương tục. Nếu khi niệm mà bị trệ, và tiếng Phật lại lờ
mờ không nổi rõ nơi tâm thời khó mong được kết quả trên. Còn nếu trái lại thời
mới có hy vọng đến đích.
Biết rằng niệm A-mi-đà được nhiều phần đúng với nguyên âm, nó sẽ đem đến cho
mình cái mãnh lực bất tư nghì, diệt vô số kiếp tội thành đại thiện căn phước
đức giống như pháp trì chơn ngôn (thần chú) của Mật tông mà Tổ Vân Thê đã phán.
Nó sẽ đưa mình đến mức bất niệm tự niệm, vì tiếng niệm không bị trệ lụt và nổi
rõ nơi tâm. Nhất là niệm A-mi-đà được khỏe hơi, nhờ đó nên được niệm lâu và
nhiều. Niệm Phật được thuần thục là nhờ niệm nhiều câu, nhiều giờ và tiếng niệm
nhấn rõ nơi tâm. Và mức bất niệm tự niệm đây là phần bảo đảm vãng sanh Tịnh Độ
cho người chuyên niệm. Tôi tin rằng niệm gần với nguyên âm, tức là gần đúng với
thật danh của Đức Giáo chủ Cực Lạc, tất dễ được tương ưng và chóng được cảm
thông với Phật. Và tôi đã tự cảm thấy có lẽ đúng như thế.
Nhưng trong kỳ kiết thất 49 ngày ở tịnh thất nơi chùa Linh Sơn Cổ Tự, một
hôm tôi bỗng có ý nghĩ: “Mình dù thiển trí bạc đức, song cũng là người tai mắt
trong Tăng giới, và cũng có đôi phần uy tín đối với gần xa, riêng mình tự tu đã
đành không ngại gì, song rồi đây, tất có người tin tưởng nơi mình, mà họ sẽ tự
noi theo chỗ làm của mình, nghĩa là họ sẽ niệm Nam mô A-mi-đà Phật. Một người
như thế, lần lần sẽ có nhiều người như thế, tất sau này khó khỏi đôi điều thắc
mắc:
1. Bàng quang sẽ cho mình lập dị, riêng phái, phá sự đã phổ thông của cổ lệ.
2. Đem sự ngờ vực cho người đã niệm A-di khi những người này chưa hiểu thế
nào là A-di và thế nào là A-mi. Và sự ngờ là điều rất chướng của pháp môn niệm
Phật
Tôi tự giải thích: “ Cổ lệ đã sai thời sự sửa đổi là điều cần (tôi tự sửa
đổi riêng tôi). Mình không có quan niệm lập phái riêng hay lập dị, thời cũng
không ngại gì với chuyên thị phi phê bình của bàng quan”. Và với sự ngờ của
những người chưa nhận chơn, sẽ giúp họ tìm tòi khảo cứu, nhờ tìm xét họ sẽ thấu
rõ sự sai với đúng, và họ sẽ thâu hoạch được kết quả tốt cũng như mình.
Mặc dù tôi tự giải thích với tôi như thế, nhưng trong thâm tâm vẫn mãi băn
khoăn gần suốt ngày.
Chiều hôm ấy, khi đứng dựa cửa sổ ngó mong về phía mặt trời sắp lặn, tôi
bỗng thấy chữ A-mi nổi bật giữa khung trời xanh sáng, gần như chữ điện ở trước
cửa của những hiệu buôn chiếu sáng trong đêm. Tôi thử ngó qua hướng khác thời
không thấy, khi ngó trở lại hướng Tây thời chữ A-mi vẫn nổi y nơi chỗ cũ, khổ
chữ lớn lối bốn tất Tây bề cao, và hiện mãi đến trên 30 phút mới ẩn..
Tối hôm ấy, tôi chiêm bao thấy mình đi vào một khu vườn cây cao cảnh đẹp.
Giữa vườn, một dãy nhà cất theo kiểu trường học, và nghe rõ trong ấy một người
xướng và số đông người hòa: Nam mô A-mi-đà Phật! Tôi tự bảo: “Ủa lạ! Câu Nammô
A-mi-đà Phật tưởng là chỉ của riêng mình cải cách, riêng mình tín hướng và
riêng mình chuyên niệm. Bất ngờ ở đây, người ta cũng đồng niệm như vậy rồi”.
Tôi đứng dừng trước ngõ trường chăm chú nghe xướng hòa như thế hơn 10 lần mới
choàng tỉnh. Bấy giờ mới biết là mình nằm mơ.
Do hai điềm trên đây (chữ A-mi hiện giữa trời và chiêm bao nghe xướng hòa
nam mô A-mi-đà Phật), bao nhiêu nổi thắc mắc và băn khoăn nơi lòng tôi đều tan
rã như khối tuyết dưới ánh nắng trưa hè…
Từ hồi nào, dù với hàng đệ tử, tôi chưa từng bảo ai bỏ niệm A-di mà niệm
A-mi. Song, do ảnh hưởng ngấm ngầm mà lần lần có một số đông người xuất gia
cũng như hàng tại gia niệm A-mi-đà. Đó phải chăng là do cơ duyên thời tiết nó
nên như thế! Và cũng vì cớ ấy mà hôm nay có bài thuyết minh và tự thuật này.
Tôi viết bài này chỉ với mục đích giúp thêm sự nhận chơn về câu Nammô
A-mi-đà Phật cùng lịch sử của nó, cho các bạn đồng tu đã chuyên niệm như thế.
Và bài này cũng chỉ truyền bá trong phạm vi các bạn đây thôi.
Tôi xin khuyên nhắc các bạn, đối với những vị đã quen niệm hay đã sẵn
tín tâm nơi câu Nam mô A-di-đà Phật, nhất là người ở trong hoàn cảnh thiếu
tiện lợi, các vị nên để yên cho các vị ấy niệm theo sự phổ thông cổ lệ để
tránh sự ngoại chướng cho họ và cho họ khỏi sự do dự trên đường hành trì
mà họ có thể vướng phải.
HT. Thích Trí Tịnh(Trích Hương Sen Vạn Đức)
__________________________________________________________
Kính thưa quí
Phật tử,
Như đã thông báo
cũng như phổ
biến mà chúng
tôi cố gắng đã
trả lời về việc
mà nó đã gây một
ảnh hưởng rất
lớn đối với
người tu hành
theo tông Tịnh
Độ, giữa câu
Phật hiệu " Nam
Mô A Di Đà Phật"
và " Nam Mô A Mi
Đà Phật".
Theo lịch sử của
Phật giáo cũng
như từ điển Hán
- Việt của Phật
Học chưa bao giờ
có ghi là "A Mi
Đà", chắc cũng
có lẻ sẽ không
lâu đâu, chúng
ta sẽ tìm thấy
rải rác đâu đó
sẽ được nhóm
người tự cho
thánh hiệu của
Đức Từ Phụ A Di
Đà nên sửa đổi
là A Mi Đà mới
đúng, và chính
tay họ sẽ tự đưa
vào từ điển. Sự
việc trước mắt
như vậy rồi, mà
có một số người
lại vô tri hùa
theo tư tưởng
cải mới???
Như chúng tôi đã
giải thích, Phật
thì chẳng có
tướng làm gì có
danh, mà lại là
A Di Đà Phật hay
A Mi Đà Phật.
Nếu chúng ta là
người thực hành
chơn chánh, thì
với tâm thanh
tịnh thì niệm
câu Phật nào
cũng là Phật
thôi, chứ không
hề sai khác. Ở
thế gian thì
trọng cái danh,
nhưng trong Phật
Pháp thì trọng
cái tâm. Còn nữa,
mong rằng những
ai chủ trương
nên cải mới câu
Phật hiệu A Di
Đà Phật thành A
Mi Đà đừng bao
giờ mượn chữ
chơi chữ nữa nhé.
Vì sao? Vì sẽ có
người bảo rằng:
" Nhất thiết do
tâm tạo?". Nếu
bảo như vậy, thì
chính bản thân
của người thực
hành cũng đừng
xưng niệm danh
hiệu Phật, hành
bái sám, tụng
kinh....v.v...
để làm gì cho
phiền toái. Cứ
làm những chuyện
đảo điên và khi
xong rồi thì "Nhất
thiết do tâm tạo"
thì được rồi.
Đứa bé khi chào
đời cũng phải
theo thứ trình
mà phát triển,
từ bò, tập đi,
rồi mới chạy,
hoàn toàn không
có thể nào chạy
trước khi đi.
Người mới học
Phật cũng phải
theo từng lớp mà
hấp thụ tuỳ theo
căn cơ của từng
mỗi cá nhân mà
chọn những pháp
thích ứng cho
chính bản thân,
rồi tinh tấn
hành trì. Nếu
như đi đúng
phương Pháp mà
Đức Thế Tôn đã
dạy thì may ra
tâm mờ mịt kia
sẽ được tỏa sáng
đôi chút, chớ
đâu thể nào có
chuyện" Nhất
thiết do tâm tạo".
Người đồ tể sát
sanh quá nhiều,
khi nghe được
người bảo hãy
đọc "Nhất thiết
do tâm tạo" là
ông sẽ khỏi đọa
vào đường ác.
Quí vị có cho
thật có đạo lý
nầy? Người đồ tể
kia nếu muốn
được "Nhất thiết
do tâm tạo" thì
trước tiên người
này phải hiểu
thấu đáo câu "Nhất
thiết do tâm tạo"
mà quan trọng là
ông ta phải biết
cái tâm của mình
đang ở đâu? Phải
hiểu rõ ràng về
cái tâm của ông
ấy, thì may ra
mới "Nhất thiết
do tâm tạo". Còn
chỉ biết đọc
xuông theo người
ta thì chúng tôi
tin chắc rằng
chỉ có thể là: "Nhất
thiết do nghiệp
lực" mà thôi.
Chúng tôi sẽ
không nói nhiều
về ở đâu đâu,
những đạo lý
thâm sâu như nói:
"Nhất thiết do
tâm tạo". Vì
chúng tôi chưa
lên bờ vẫn còn
lênh đênh trên
biển sanh tử thì
phải ôm thuyền
chứ không thể
nào bỏ thuyền
được. Nhưng nếu
là người đã lên
bờ thì thuyền
cũng chỉ là vật
chướng ngại mà
thôi. Tuy nhiên,
những ai tự cho
mình đã lên bờ
thì tất nhiên
không cần thuyền
nữa, nhưng xin
nhớ một điều
rằng, những
người đang trên
thuyền không như
người đã lên bờ.
Đừng bao giờ
dùng phương pháp
bỏ thuyền để dạy
họ. Vì sao? Vì
nếu không có
thuyền, những
người này sẽ rơi
vào biển nghiệp,
thật tội nghiệp
thay. Xin hãy
thận trọng.
Vấn đề thật giữa
câu Phật hiệu A
Di Đà và A Mi Đà
thật là đơn
giản, nhưng
không biết tại
sao có quá nhiều
người lại hoang
man và lo lắng
(đối với người
tu hành theo
Tịnh Độ tông).
Theo chúng tôi
thì quí vị chưa
có đủ lòng tin
nơi Phật Pháp
cũng như chưa có
lòng tin đối với
những bậc tiền
bối đã đi trước.
Lòng tin của quí
vị chỉ là lòng
tin tạm thời và
lòng tin ấy phải
theo một số đông
thì quí vị mới
cảm giác an toàn.
Thử hỏi chỉ có
bao nhiêu đó,
thì sao quí vị
muốn vãng sanh
về thế giới Cực
Lạc kia, để vĩnh
viễn thoát khỏi
vòng luân hồi?
Muốn vãng sanh
về thế giới kia,
quí vị phải có
lòng tin chắc
chắn, phải hội
đủ ba việc: TÍN,
HẠNH, NGUYỆN,
tròn đầy thì mới
mong ra khỏi
luân hồi. Thử
nghĩ xem, Phật
giáo đâu phải
mới xuất hiện ở
nước ta trong
đôi mươi năm,
nói cách khác
tông Tịnh Độ đâu
chỉ mới lập
thành tông trong
vài mươi năm, mà
quí vị lại hoang
man, mà Phật
giáo và tông
Tịnh Độ nói
riêng đã là gốc
rễ ăn sâu vào
lòng của tín đồ
Phật giáo, hay
rộng ra là khắp
mọi người.
Chữ Buddha là
tiếng Phạn mà
phải gọi cho đủ
là Buddhabhardra
- Phật đà bạt đà
la nghĩa là giác
Hiền, tóm lại là
người giác ngộ.
Có người bỏ rất
nhiều công sức
cũng như thời
gian để khảo cứu
để chứng minh
rằng Phật là sai
mà phải là Bụt.
Tuy nhiên quí vị
thử hỏi mọi
người bình
thường chẳng
biết gì Phật lý
chữ Bụt là gì.
Tôi tin chắc
rằng họ sẽ trả
lời; Bụt là một
vị thần tiên râu
tóc bạc phơ. Vì
sao vậy? Vì từ
Bụt, trong văn
hóa Việt Nam
cũng như trong
tâm thức của
người Việt từ
Bụt chỉ để chỉ
một vị thần tiên
mà thôi. Nhưng
hỏi về từ Phật
thì ai ai cũng
biết ngay là
Phật giáo. Như
vậy, dù là đúng
hay sai cũng
không cần thay
đổi.
Thầy Trí Tịnh
bảo trong bài để
biện minh cho ý
tưởng mới của
thầy, khi bảo:
"Nhiều năm về
trước, trong
thời gian niệm
Phật theo thông
lệ Nam Mô A Di
Ðà Phật, khi
chuyên niệm
nhiều (mỗi ngày
từ hai vạn câu
trở lên), tôi bị
sự chướng là trệ
tiếng trong lúc
niệm ra tiếng và
lờ mờ trong lúc
niệm thầm. Giữa
lúc đó tiếng
“Di” là chủ của
sự chướng".
Xin hỏi ngay
rằng niệm Phật
để làm gì? Để
cho vần với âm
niệm hay để
thoát luân hồi.
Nếu như câu trả
lời là để vần âm
điệu thì hoàn
toàn không gì để
nói. Còn nếu câu
trả lời là vì
thoát sanh tử mà
trì danh thì cần
phải nói. Còn
nữa, nếu thuận
lòng là nên dùng
từ BỤT thì phải
niệm là Nam Mô A
Mi Đà Bụt mới
chính xác, thế
thì sao lại đổi
một từ mà giữ
lại một từ mà
không thể giữ
nguyên như cũ
như bao bậc tiền
bối đã làm. Nếu
cho chữ "DI" là
sai thì hoàn
toàn câu Phật A
Di Đà phải đổi
cho đúng chính
xác hết.
Câu Phật hiệu
này được người
Trung Hoa viết
như vậy:南無阿彌陀佛 -
Nam Mô A Di Đà
Phật, mà ai ai
nếu là tín đồ
Phật giáo cũng
đều biết đến.
Nhưng hãy xem
cho kỷ từ Mô (無)
từ này không
phải là VÔ (Không)
sao? nếu nói là
sai thì phải
niệm như thế này:
Nam Vô A Mi Đà
Bụt. Nếu như bảo
là sai mà sửa
lại được như vậy
thì hoàn toàn
không có gì để
nói. Nhưng ở đây
chỉ sửa từ DI
thành MI mà thôi.
Rõ ràng là khi
niệm "Nam Mô A
Di Đà Phật" thì
từ DI này là
chướng ngại cho
âm điệu, vậy thì
đây là sự chướng
ngại từ nơi tâm,
chớ hoàn toàn
không phải
chướng ngại do
dùng sai danh từ.
Quí vị bảo niệm
Nam Mô A Mi Đà
Phật nhanh hơn
là niệm " Nam Mô
A Di Đà Phật".
Kỳ thật niệm
Phật mà còn tâm
tham ở đây nữa,
phải nên biết,
không phải niệm
nhiều là được
vãng sanh, mà
người niệm ít
thì không được
vãng sanh. Phải
nhớ cho kỹ điều
này. Nếu như quí
vị dùng tâm để
niệm, xả bỏ vạn
duyên chướng
ngại, thì chỉ
cần niệm 10 niệm
cũng được vãng
sanh. Ở đây
không phải do
nhiều hay ít mà
được vãng sanh.
Mà chú trọng nơi
tâm lực của
người hành trì.
Tuy biết rằng,
trong Kinh dạy,
niệm danh hiệu
của Đức Phật
nhiều thì sẽ
được sanh vào
hoa sen lớn phẩm
cao. Nhưng phải
rõ rằng, đó là
nói việc trì
theo tâm lực của
người đó. Quí vị
niềm nhiều nhưng
chẳng hiểu nghĩa
của câu Phật
hiệu thì cũng
bằng không. Tâm
tham, tam sân,
tâm si, không xả
thì niệm nhiều
để làm gì?
Nguyện thứ 18 có
nói chỉ cần
chúng sinh trong
mười phương hết
lòng tin tưởng,
muốn sinh về cõi
nước của Ngài
thì chỉ trong
mười niệm, đều
được vãng sanh.
Lại nữa chữ Di
Lặc - 彌 (trong
thánh hiệu của
Phật Di Lặc), đã
nói chữ DI là
sai thì phải đổi
luôn chữ Di Lặc
thành Mi Lặc mới
đúng. Chớ sao
lại đổi hiệu của
đức Từ Phụ A Di
Đà mà không đổi
hiệu của Đương
Lai hạ Sinh Di
Lặc Phật?
Câu Phật Hiệu A
Di Đà Phật,
tiếng Phạn là:
Namo Amitabha,
mà người Trung
hoa dịch âm là
Namo A Mi Tuo Fo,
nếu chúng ta
dịch theo âm
tiếng Phạn thì
có thể dịch như
vậy: Nam Mô A Mi
Thà (Đà) Phật,
còn nếu dịch
theo âm Hán thì
phải dịch Nam Vô
A Di Đà Phật. Do
đó, có lẻ cổ đức
hòa dung cả hai
nên thành Nam Mô
A Di Đà Phật.
Ở trên chỉ để
giải thích cho
xác nghĩa của
câu Phật hiệu.
Chớ để tâm chú
trọng vào việc
đúng sai. Ở đây
chúng tôi chỉ
giải thích để
qúi vị có cái
nhìn khái niệm.
Quan trọng ở đây
là những người
niệm Nam Mô A Di
Đà Phật thuở xưa
cũng như ngày
nay có được
thanh tịnh hay
không và có được
vãng sanh hay
không mà thôi.
Nếu như lịch sử
đã chứng minh,
sách vở đã ghi
chép đều có, thì
cần chi họa thêm
chữ MI vào? Thật
là dư thừa và
tội lỗi. Tại sao?
Vì gây hoang man
cho không biết
bao người, còn
nữa những người
chưa thấu suốt
giáo lý, đem ra
bàn cãi, tranh
chấp ..v.v...
quí vị nghĩ có
phải tội lỗi
không?
Thầy Trí Tịnh
lại mang sự Phật
chứng để biện
minh không thể
thuyết phục được
nếu dùng Giáo lý
của Phật để đo
thì không hợp lý.
Phải nên biết
giáo lý của Phật
Đà là một giáo
lý giác ngộ,
chẳng phải thần
quyền hay mê tín.
Khi bảo rằng
"Chiều hôm ấy,
khi đứng dựa cửa
sổ ngó mong về
phía mặt trời
sắp lặn, tôi
bỗng thấy chữ
A-mi nổi bật
giữa khung trời
xanh sáng, gần
như chữ điện ở
trước cửa của
những hiệu buôn
chiếu sáng trong
đêm. Tôi thử ngó
qua hướng khác
thời không thấy,
khi ngó trở lại
hướng Tây thời
chữ A-mi vẫn nổi
y nơi chỗ cũ,
khổ chữ lớn lối
bốn tất Tây bề
cao, và hiện mãi
đến trên 30 phút
mới ẩn... "
Chúng tôi không
dám bảo là không
có thật hay có
thật, mà chúng
tôi chỉ nói theo
nền giáo lý của
Phật Đà. Nếu bảo
là Phật cũng ấn
chứng với ý nghĩ
của thầy là nên
dùng chữ Mi để
thay cho chữ Di
thì đức Phật còn
là Đức Phật nữa
không? Vậy thì
những người niệm
từ thưở xưa đến
nay niệm Phật
hiệu gì? Cũng
như theo lịch sử
những người niệm
Phật vãng sanh
thì chẳng phải
Phật rước hay
sao? Còn nếu nói
không chấp vào
danh tự, thì tại
sao Đức Phật lại
báo điềm lành
cho nổi chữ A
-mi trên trời
xanh cùng với ý
tưởng mới là cổ
đức đã sai nên
nay phải thay
đổi. Trong khi
đó, Đức Phật là
bậc đại giác,
vạn Pháp đều
không, mà không
cũng đều có. Thì
tại sao lại còn
phân biệt là có,
không, sai và
đúng ...v.v....,
trong khi đó
Ngài tất phải
biết danh hiệu
của Ngài là A Di
Đà, Vì ai ai
cũng niệm danh
hiệu này, cho dù
có sai, nhưng
tâm thức của họ
chính là đức
Phật của thế
giới Cực Lạc về
Phương Tây. Quí
vị thử nghĩ có
mâu thuẫn không?
Lại nữa, nếu cho
rằng có sức mầu
nhiệm gia hộ của
thánh chúng, mà
chữ A-mi nổi lên
trời xanh và chỉ
nổi lên từ
phương Tây, khi
nhìn về phương
khác khi không
thấy chỉ thấy ở
phương Tây. Nếu
đã là điềm lành
lẻ tất nhiên
phải thấy bất
luận ở phương
nào, xin đừng
bảo rằng vì
Phương Tây là
thế giới Cực Lạc.
Vì Phật đâu còn
mê như chúng
sanh, và ích kỷ
như vậy, nhìn về
chỗ ở của mình
thì thấy, khi
nhìn về quốc độ
khác thì không?
trong Phật giáo
đâu có đạo lý
này.
Như chúng tôi đã
nói, là không
chú trọng vào
đúng hay sai, mà
là quan trọng ở
nơi thật hành và
quy cũ. Cổ đức
từ xưa đã như
vậy, bậy giờ
cũng như vậy, vị
lai cũng cố gắng
như vậy, cần chi
thay đổi để thêm
rắc rối và gây
ảnh hưởng đến
nhiều người.
Tóm lại, nếu ai
tha thiết muốn
thoát vòng sanh
tử luân hồi, thì
cố gắng giữ tâm
của mìinh và
theo cổ đức mà
hành, chứ nên
đem đề tài này
ra phiếm diện,
mỗ xẻ đúng sai.
Vì tất cả đều là
vô ích, chẳng
giúp ích gì cho
việc tiến tu
cũng như việc
cầu vãng sanh
của mọi người.
Mà hãy thật hành
y như pháp, hội
đủ Tam Lương,
TÍN- HẠNH-
NGUYỆN, để vĩnh
viễn thoát ra
khỏi vòng ma lực
giăng bủa khắp
mọi nơi.
Như đã trả lời,
nhưng còn có
nhiều Phật tử
còn thắc mắc,
nên gởi mail về
hỏi. Do đó,
chúng tôi một
lần nữa cố gắng
trả lời như trên,
hy vọng rằng sẽ
giúp ích được
một số người nào
đó, đang cũng có
tâm hoang man và
thắc mắc như vậy.
Sau cùng, chúng
tôi tha thiết
kêu gọi quí vị,
những ai đang
hành và sẽ theo
tông chỉ của
Tịnh Độ thì hãy
cứ yên tâm hành
trì theo cổ đức,
cứ việc niệm
Phật hiệu là
"Nam Mô A Di Đà
Phật" hết lòng
thành kính, tha
thiết cầu vãng
sanh, nếu như có
một ai làm đúng
như lời dạy của
Đức Từ Phụ Thích
Ca Mâu Ni Phật,
hành thiện tránh
ác, nhưng lại
đọa lạc, không
được vãng sanh
vì niệm Phật
hiệu sai, thì
tôi nguyện gánh
hết những tội
lỗi mà hôm nay
tôi cố gắng giải
thích để duy trì
Phật hiệu là
"Nam Mô A Di Đà
Phật" gây nghịch
duyên cho người
mới phát chánh
tín cầu vãng
sanh đối với
Phật hiệu.
Chúng tôi tha
thiết kêu gọi
mọi người rằng;
cũng đừng đem đề
tài này để bàn
cãi nữa, vì sẽ
không giúp ích
gì cho việc tiến
tu của mình. Ai
làm sao thì cứ
tùy họ vậy, còn
đối với bản thân
thì cứ y Pháp mà
hành. Nếu như
còn có người tự
thắc mắc cho
rằng nếu điều ấy
là sai, thì sao
lại có người
theo v.v.... Thì
hãy tự hỏi với
mình rằng: " Hút
thuốc thật sự có
hại cho sức khỏe
hay không? Sao
lại có nhiều
người dẫu biết
là có hại mà vẫn
cam tâm tình
nguyện vướng vào".
Tất cả cũng chỉ
đều do nghiệp
lực của mỗi cá
nhân khác nhau
mà thôi.
Nam Mô A Di Đà
Phật!
Nam Mô Tây
Phương Cực Lạc
Thế Giới Đại Từ
Đại Bi Tiếp Dẫn
Đạo Sư A Di Đà
Như Lai, Ứng
Cúng, Chánh Biến
Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải,
Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhơn
Sư, Phật, Thế
Tôn.
Nam Mô Liên Trì
Hội Thượng Phật
Bồ Tát Ma Ha Tát!!
Trân trọng,
Tịnh Quang(http://www.trangnghiemtinhdo.net/adidaphathayamidaphat.html)
Xem thêm: NHỮNG HẠT ĐẬU BIẾT NHẢY - Tác giả: Lâm Thanh Huyền - Dịch giả: Phạm Huê
Nghe thêm: Giảng Sư Thích Trí Huệ Nhận Định Về Niệm A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật MP3
Kính thưa các đạo hữu,
Lướt qua các bài viết và ý kiến
liên hệ, xin được ghi nhận vài ý mọn như sau - khi TIẾNG đã thoát ra từ
TÂM thì mang đủ loại hình thái (sắc < thân khẩu ý) phản ánh bản chất
cá nhân, thời gian (lịch đại) và không gian (địa phương, phương ngữ). Âm
thanh con người cũng chịu ràng buộc (<tam phọc) bởi dây âm thanh và
cấu trúc miệng . Không bàn chi tiết về gốc Phạn mà chỉ chú trọng đến sự
khác biệt giữa Di và Mi trong câu niệm A Di Đà Phật 阿彌陀佛, Amit'a Bul
(Hàn), Ēmítuó Fó (Quan Thoại/QT), Amida Butsu (Nhật) ... Đây là khuynh
hướng ngạc cứng hóa (palatalisation) các âm Hán Việt: phụ âm m trở thành
j-/d- giọng Nam VN khi đứng trước nguyên âm trước (front vowel) với độ
mở miệng nhỏ (như i) - giọng Bắc VN đã xát hóa cao độ di để thành dạng
zi.
So sánh các cách đọc sau đây
民 mín (QT) dân (Hán Việt)
名 míng danh
滅 míe diệt (như cách dùng diệt đế, diệt độ, diệt pháp ...)
妙 miào diệu (thần diệu)
面 miàn diện (mặt)
彌 mí di (phiên âm Phạn me/mai như Di Lặc, Tu Di, Sa Di, Cù Đàm Di ...)
...
泯
mǐn mẫn, dân,miến (để ý có khả năng đọc m- hay d-) - hầu như chỉ
có tiếng Việt mới cho thấy khuynh hướng này rõ nét khi so sánh với các
giọng Quảng Đông, Hẹ, Mân Nam ... (A)
渺 miǎo miểu, diểu
緬 miǎn miễn, miến, diến - 緬甸 Miến Điện hay còn là Diến Điện (Myanmar bây giờ)
...v.v...
Thành ra đọc Mi 彌 ngạc cứng hóa
thành Di là quá trình tự nhiên, hiện diện đã lâu trong vốn từ tiếng Việt
(thời tự điển Việt Bồ La/1651 đã có dân, danh, diệt ...), tương tự như
từ Bụt (Phật) - xem thêm loạt bài "Bụt hay Phật?" về các biến âm liên hệ
(cùng tác giả). Muốn đổi cách đọc Di (ngạc hóa, Việt hóa) trở lại âm Mi
ta nên cẩn thận coi lại các trường hợp đã dẫn (Di Lặc, Sa Di, Tu Di
.... Dân, danh, diệt ...).
Vài ý mọn (rất vắn tắt) cùng đóng góp
Nguyễn Cung Thông
(A)泯 có thể đọc là vũ tận thiết
武盡切 (Đường Vận) hay nhi tận thiết 弭盡切 (Tập Vận, Chính Vận), hay dân kiên
thiết 民堅切 (Vận Bổ). Các dạng sau thời Đường Vận (751) đều cho thấy khả
năng nhạc cứng hóa (d-, nh-).