PHƯƠNG PHÁP TU TẬP TÂM TỪ
TẠI TRƯỜNG THIỀN PA-AUK
Tác giả: Pa – Auk Sayadaw
Dịch giả: Pháp Thông
Tu tập Tâm Từ
Muốn tu tập tâm Từ hay Từ vô lượng tâm (mettā), trước hết hành giả cần phải biết rằng thiền này không nên tu tập đối với một người khác phái (lingavisabhāga), hoặc một người đã chết (kālākatapuggala).
Không nên dùng một
người khác phái làm đối tượng (để rải tâm từ), vì dục tham đối với người
(nam hay nữ) ấy có thể sẽ phát sinh. Tuy nhiên, sau khi hành giả đã đắc
thiền thì có thể tu tập tâm từ đến người khác phái theo nhóm, chẳng hạn
như “cầu mong tất cả nữ nhân đều được an lành”. Một người chết lại càng
không nên dùng, vì hành giả không thể đắc thiền tâm từ với một người đã
chết làm đối tượng.

Những người mà hành giả nên tu tập tâm từ đến họ là:
- Bản thân (atta)
- Người hành giả kính mến (piya puggala)
- Người hành giả không thương không ghét (majjhatta puggala)
- Người hành giả ghét (verī puggala)
Mặc dù vậy, lúc ban
đầu hành giả chỉ nên tu tập tâm từ đến hai hạng người là bản thân và
người mà hành giả kính mến. Điều này có nghĩa là lúc mới hành thiền tâm
từ, hành giả không nên rải tâm từ đến những loại người sau:
- Người hành giả không thích (appiya puggala)
- Người rất thân với hành giả (atippiya sahāyaka puggala)
- Người hành giả không thương không ghét (majjhatta puggala)
- Người hành giả ghét (verī puggala)
Một người hành giả
không thích là người không làm điều gì có lợi cho hành giả, hoặc có lợi
cho những người mà hành giả quan tâm. Người hành giả ghét là người làm
điều tổn hại đến hành giả, hoặc tổn hại đến những người mà hành giả quan
tâm. Những người này rất khó cho hành giả rải tâm từ đến họ lúc ban
đầu, vì sân hận có thể khởi lên (khi nghĩ đến họ). Buổi đầu cũng sẽ khó
tu tập tâm từ đến một người mà hành giả không thương không ghét. Còn
trường hợp của một người rất thân, hành giả có thể bị dính mắc vào người
ấy, tức là quá lo lắng, ưu tư, thậm chí khóc than nếu nghe có điều gì
xảy đến cho người nam hay nữ ấy. Vì vậy, bốn loại người này không nên
dùng làm đối tượng rải tâm từ lúc ban đầu. Mặc dù sau đó, khi hành giả
đã đắc thiền tâm từ rồi, hành giả có thể tu tập tâm từ đến với họ.
Hành giả không thể
đắc thiền khi dùng chính bản thân mình làm đối tượng, cho dù có tu tập
thiền ấy cả trăm năm. Như vậy, tại sao lại khởi đầu bằng việc tu tập tâm
từ cho chính mình? Thực sự nó không đắc được dù chỉ là cận định, nhưng
vì khi hành giả đã tu tập tâm từ cho bản thân mình, với ý nghĩ “Cầu mong
cho tôi được an vui”, rồi hành giả mới có thể đồng hóa mình với mọi
người; để thấy rằng nếu ta muốn được an vui, không muốn đau khổ, muốn
được sống lâu, không muốn chết như thế nào, thì những người khác cũng
muốn được an vui, không muốn khổ, muốn được sống lâu, không muốn chết
như thế ấy.
Như vậy, hành giả có thể tu tập một cái tâm biết ước mong hạnh phúc và thịnh vượng cho tha nhân. Theo những lời đức Phật dạy:
Sabbā disā anupaparigamma cetasā,
Nevajjhagā piyatara mattanā kvaci.
Evaṁ piyo puthu attā paresaṁ
Tasmā na hiṁse paramattakāmo.
Tâm ta đi cùng khắp
Tất cả mọi phương trời
Cũng không tìm thấy được
Ai thân hơn tự ngã
Tự ngã đối mọi người
Quán thân ái như vậy
Vậy ai yêu tự ngã,
Chớ hại tự ngã người
Như vậy, để đồng hóa
mình với mọi người theo cách này, và làm cho tâm dịu dàng, thân ái,
trước tiên hành giả phải tu tập tâm từ đối với chính mình với ý nghĩ như
sau:
1. Cầu mong cho tôi thoát khỏi hiểm nguy (ahaṁ avero homi)
2. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ tâm (abyāpajjho homi)
3. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ thân (anīgho hoti)
4. Cầu mong cho tôi được an vui, hạnh phúc (sukhī attānaṁ pariharāmi)
Nếu tâm chúng ta dịu
dàng, nhân ái, hiểu biết, và có sự đồng cảm đối với tha nhân, chúng ta
sẽ tu tập tâm từ đến người khác không mấy khó khăn. Vì vậy, tâm từ mà
hành giả tu tập cho bản thân mình được mạnh mẽ và có năng lực thật là
quan trọng. Một khi tâm hành giả đã trở nên dịu dàng, nhân ái, hiểu biết
và có sự đồng cảm đối với tha nhân, lúc ấy hành giả có thể tu tập tâm
từ đối với họ.
Làm cách nào để tu tập tâm Từ đến từng hạng Người
Nếu hành giả đã đắc tứ thiền hơi thở, hoặc kasiṇa trắng, hành giả nên lập lại định ấy để cho ánh sáng bừng tỏ và tỏa chiếu. Đặc biệt là với ánh sáng của tứ thiền kasiṇa
trắng hành giả thực sự sẽ rất dễ tu tập thiền tâm Từ. Lý do là vì với
định của tứ thiền tâm được thanh lọc khỏi tham, sân, si và những phiền
não khác. Sau khi xuất khỏi tứ thiền kasiṇa
trắng, tâm dễ uốn nắn, dễ sử dụng, thuần tịnh, trong sáng và tỏa chiếu,
nhờ những điều kiện này, hành giả trong một thời gian rất ngắn có thể
tu tập tâm Từ thật mạnh mẽ và hoàn hảo.
Như vậy, với ánh sáng
mạnh mẽ và chói sáng, hành giả nên hướng tâm đến một người cùng phái mà
hành giả kính mến; có thể đó là thầy tổ hoặc bạn đồng tu của hành giả.
Hành giả sẽ thấy rằng ánh sáng tỏa khắp mọi hướng chung quanh hành giả,
và bất cứ người nào hành giả chọn làm đối tượng cũng đều trở nên rõ rệt.
Kế đó hành giả bắt lấy hình ảnh của nguời đó, đang ngồi hoặc đang đứng,
và chọn hình ảnh nào làm cho hành giả thích nhất và hạnh phúc nhất. Cố
gắng hồi tưởng lại thời gian người ấy được hạnh phúc nhất mà hành giả đã
từng thấy, và chọn hình ảnh đó. Làm cho hình ảnh ấy xuất hiện trước mặt
hành giả cách khoảng chừng một mét. Khi hành giả đã có thể thấy hình
ảnh người đó thật rõ ràng trước mặt, hãy tu tập tâm Từ đến người đó với
bốn ý nghĩ:
1. Cầu mong con người hiền thiện này đựơc thoát khỏi hiểm nguy (ayaṁ sappuriso avero hotu)
2. Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ tâm (ayaṁ sappuriso abyāpajjo hotu)
3. Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ thân (ayaṁ sappuriso anīgho hotu)
4. Cầu mong con người hiền thiện này được an vui hạnh phúc (ayaṁ sappuriso sukhī attānaṁ pariharatu).
Mở rộng tâm từ đến
người ấy với cách như vậy khoảng ba hay bốn lần, rồi chọn một cách hành
giả thích nhất, chẳng hạn, “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi
mọi hiểm nguy”. Kế, với hình ảnh mới của người đó, mới ở đây là trường
hợp thoát khỏi hiểm nguy, mở rộng tâm Từ bằng cách dùng một ý nghĩ tương
xứng, trong trường hợp này, “Cầu mong con người hiền thiện này thoát
khỏi hiểm nguy, cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi hiểm nguy”.
Lặp đi lặp lại nhiều lần, cho tới khi tâm được an định và gắn chặt trên
đối tượng, đồng thời hành giả có thể phân biệt các thiền chi. Rồi duy
trì pháp hành cho đến khi hành giả đạt đến nhị thiền và tam thiền. Sau
đó lấy một cách khác trong ba cách còn lại và tu tập tâm từ cho đến tam
thiền. Mỗi lần như vậy hành giả phải có một hình ảnh tương xứng cho cách
đã chọn, tức là, khi nghĩ “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi
hiểm nguy”, thì hành giả phải có một hình ảnh đặc biệt của người đó như
vừa được thoát khỏi hiểm nguy, khi nghĩ “Cầu mong con người hiền thiện
này thoát khỏi khổ tâm”, hành giả phải có hình ảnh khác, một trong những
hình ảnh về nguời đó không có khổ tâm hay ưu sầu v.v… Bằng cách này,
hành giả tu tập ba bậc thiền, và nhớ rằng ở mỗi trường hợp cần phải thực
hành năm pháp thuần thục (vasī bhāva).
Khi hành giả đã thành
công trong việc rải tâm từ đến nguời mình kính mến rồi, hãy lập lại
điều đó với một người cùng phái mà hành giả kính mến khác. Cứ thử làm
như vậy với khoảng mười người thuộc loại đó, cho đến khi hành giả có thể
đạt đến tam thiền lấy bất cứ ai trong họ làm đề mục cũng được. Đến giai
đoạn này hành giả có thể tiến hành một cách an toàn tới những người rất
thân với hành giả (atippiyasahāyaka),
song vẫn phải cùng phái. Lấy khoảng mười người thuộc loại đó và tu tập
tâm từ đến họ từng ngừơi một, theo cách đã nói, cho tới khi đạt đến tam
thiền.
Lúc này hành giả kể
như đã thuần thục thiền tâm từ đến mức độ có thể tu tập nó đối với
khoảng mười người cùng phái mà hành giả ghét, theo cách như trên. Nếu
hành giả thuộc hạng Đại nhân giống như đức Bồ tát khi Ngài làm khỉ chúa Mahākapi,
không bao giờ oán ghét người làm hại mình, và hành giả thực sự không
sân hận hay oán ghét một người nào, thì không cần phải tìm một người
(loại sân hận) để dùng làm đề mục thiền ở đây. Chỉ những ai có người
mình oán ghét hay ác cảm mới có thể tu tập tâm từ đối với loại người đó.
Cứ thực hành thiền
tâm từ theo cách này, tức là theo cách tu tập định cho đến tam thiền
trên mỗi loại người, tiến dần từ người này đến người kế, từ dễ nhất đến
khó nhất, làm cho tâm hành giả càng lúc càng trở nên dịu dàng, nhân ái
và nhu nhuyến, đến cuối cùng, khi hành giả có thể đắc thiền trên bất kỳ
loại người nào trong bốn loại: người hành giả kính mến, người rất thân
với hành giả, người hành giả không thương không ghét vàngười hành giả
oán ghét.
Làm thế nào để phá bỏ ranh giới (Sīmāsambheda)
Khi hành giả tu tập
tâm từ liên tục như vậy, hành giả sẽ thấy rằng tâm từ của mình đối với
những người mình kính mến, và những người thân thiết trở nên bằng nhau,
và hành giả có thể xem họ như một, tức như chỉ là người mình thích. Lúc
đó hành giả sẽ chỉ còn bốn loại người này:
1. Bản thân.
2. Người hành giả thích.
3. Người hành giả không ưa không ghét.
4. Người hành giả oán ghét.
Hành giả cần tu tập
tâm từ liên tục đối với bốn loại người này, cho tới khi tâm từ đối với
họ trở nên quân bình, không có sự phân biệt. Mặc dù hành giả không thể
đắc thiền tâm từ với chính bản thân mình làm đối tượng, song vẫn cần
phải kể chung vào đấy để quân bình bốn loại.
Muốn làm điều này, hành giả cần lập lại tứ thiền hơi thở hoặc kasiṇa
trắng. Với ánh sáng mạnh mẽ và chói sáng của định, hành giả mở rộng tâm
từ đối với bản thân mình trong khoảng một phút hoặc vài giây; rồi hướng
về người hành giả thích, kế đến một người hành giả không ưa không ghét,
và rồi đến một người hành giả oán ghét, với mỗi người như vậy phải đạt
cho đến tam thiền. Rồi lại rải tâm từ đến bản thân một cách ngắn gọn,
tuy nhiên, đối với ba loại kia, lúc này mỗi loại phải là một người khác.
Hãy nhớ tu tập chúng với từng cách như đã nói: “Cầu mong con người hiền
thiện này thoát khỏi hiểm nguy”, rồi “Cầu mong con người hiền thiện này
thoát khỏi khổ tâm”, v.v… với mỗi đối tượng, cho đến tam thiền.
Như vậy mỗi lần hành
giả phải thay đổi người ở mỗi trong ba loại: người hành giả thích, người
không ưa không ghét và người hành giả oán ghét. Cứ làm đi làm lại như
vậy nhiều lần với các nhóm bốn khác nhau, sao cho tâm hành giả phát
triển lòng từ liên tục không gián đoạn, và không có những sự phân biệt.
Khi đã có thể tu tập thiền tâm từ đối với bất kỳ loại người nào trong
bốn loại này không có sự phân biệt, hành giả kể như đã thành tựu những
gì được gọi là “sự phá bỏ ranh giới” (simāsambheda).
Khi ranh giới giữa những người đã được phá bỏ, hành giả có thể tu tập
thêm thiền tâm từ này, bằng cách thọ trì pháp môn mà Tôn giả Xá Lợi Phất
dạy và được ghi lại trong bộ Paṭisambhidāmagga – Vô Ngại Giải Đạo.
Hai Mươi Hai Phạm Trù Mở Rộng Tâm Từ
Pháp môn đề cập trong
Vô Ngại Giải Đạo bao gồm hai mươi hai phạm trù qua đó hành giả mở rộng
tâm từ của mình: năm phạm trù mở rộng tâm từ không nêu rõ (anodhiso pharaṇā), bảy phạm trù mở rộng tâm từ có nêu rõ (odhiso pharaṇā), và mười phạm trù mở rộng tâm từ theo phương hướng (disā pharaṇā)
Năm phạm trù không nêu rõ gồm:
1. Tất cả chúng sinh (sabbe sattā)
2. Tất cả loài có hơi thở (sabbe pāṇā)
3. Tất cả sinh vật (sabbe bhūtā)
4. Tất cả mọi người (sabbe puggalā)
5. Tất cả các cá thể (sābbe attabhāva pariyapannā)
Bảy phạm trù có nêu rõ gồm:
1. Tất cả nữ nhân (sabbā itthyo)
2. Tất cả nam nhân (sabbe purisā)
3. Tất cả thánh nhân (sabbe ariyā)
4. Tất cả phàm nhân (sabbe anāriya)
5. Tất cả chư thiên (sabbe devā)
6. Tất cả nhân loại (sabbe munussā)
7. Tất cả chúng sanh trong các cảnh giới thấp (sabbe vinipātikā)
Mười phạm trù theo phương hướng gồm:
1. Hướng Đông (puratthimāya disāya)
2. Hướng Tây (pacchimāya disāya)
3. Hướng Bắc (uttarāya disāya)
4. Hướng Nam (dakkiṇāya disāya)
5. Hướng Đông Nam (puratthimāya anudhisāya)
6. Hướng Tây Bắc (pacchimāya anudisāya)
7. Hướng Đông Bắc (uttarāya anudisāya)
8. Hướng Tây Nam (dakkhināya anudisāya)
9. Hướng dưới (heṭṭhimāya disāya)
10. Hướng trên (uparimāya disāya).
Tu tập Năm Phạm Trù Không Nêu Rõ như thế nào
Muốn tu tập pháp môn thiền tâm từ này, hành giả cũng phải lập lại tứ thiền hơi thở hoặc kasiṇa
trắng như trước, rồi tu tập tâm từ đối với bản thân, một người hành giả
kính mến hoặc thân thiết, một người không thương không ghét, và một
người hành giả oán ghét, cho đến khi không còn những ranh giới giữa họ
và hành giả.
Kế đó dùng ánh sáng
sáng chói, rực rỡ của định để thấy tất cả chúng sanh trong một vùng rộng
lớn quanh hành giả, quanh nhà ở hay tu viện. Khi các chúng sanh ấy được
thấy rõ ràng rồi, hành giả có thể tu tập tâm từ đến họ theo năm phạm
trù không nêu rõ, và bảy phạm trù có nêu rõ, tổng cộng là mười hai. Ở
mỗi phạm trù hành giả nên rải tâm từ theo bốn cách:
1. Cầu mong họ thoát khỏi hiểm nguy
2. Cầu mong họ thoát khỏi khổ tâm
3. Cầu mong họ thoát khỏi khổ thân
4. Cầu mong họ được an vui, hạnh phúc…
“Họ” ở đây là một
trong mười hai phạm trù đã kể, như tất cả chúng sanh, tất cả chư thiên
v… Như vậy hành giả sẽ rải tâm từ tổng cộng bốn mươi tám cách
[(7+5)4)=48].
Những chúng sanh
trong mỗi phạm trù phải được thấy rõ ràng trong ánh sáng của định và sự
hiểu biết. Chẳng hạn như, khi hành giả mở rộng tâm từ đến tất cả nữ
nhân, thì hành giả phải thực sự thấy những nữ nhân trong vùng đã xác
định với ánh sáng của định. Đối với các phạm trù khác cũng phải thấy
thực sự như vậy. Hành giả phải tu tập mỗi phạm trù cho đến tam thiền
trước khi chuyển sang phạm trù kế tiếp, và phải hành theo cách này cho
tới khi trở nên thành thạo trong việc rải tâm từ theo tất cả bốn mươi
tám cách.
Một khi đã thành
thạo, hành giả nên mở rộng vùng đã ấn định ấy ra toàn chùa, toàn làng,
toàn tỉnh, toàn bang, toàn nước, toàn thế giới, toàn thái dương hệ, toàn
giải ngân hà, và toàn vũ trụ vô biên. Mỗi trong những vùng mở rộng này,
hành giả tu tập theo bốn mươi tám cách đã nói cho đến tam thiền.
Khi thành thạo rồi hành giả có thể tiến hành sang phạm trù mười hướng.
Tu tập Phạm Trù Theo Mười Hướng
Các phạm trù rải tâm từ theo mười hướng bao gồm bốn mươi tám phạm trù đã bàn đến trước đó ở mỗi trong mười hướng.
Hành giả phải thấy
tất cả chúng sanh trong toàn thể vũ trụ vô biên theo hướng Đông của hành
giả, và mở rộng tâm từ đến họ theo bốn mươi tám cách. Rồi cũng làm y
vậy đối với hướng Tây của hành giả và các hướng khác.
Điều này đưa tổng số
lên bốn trăm tám mươi cách mở rộng tâm từ (10×48=480). Nếu thêm bốn mươi
tám phạm trù biến mãn tâm từ ban đầu vào, chúng ta có năm trăm hai mươi
tám cách mở rộng tâm từ (480+48=528).
Khi hành giả thuần
thục năm trăm hai mươi tám cách rải tâm từ này, hành giả sẽ kinh nghiệm
mười một lợi ích của việc hành tâm từ mà đức Phật đã dạy trong Kinh Tăng
Chi (Anguttara Nikāya):
“Này các Tỳ khưu, khi
từ tâm giải thoát được trau dồi, được tu tập, được thực hành, được làm
thành cỗ xe, được làm thành nền tảng, đựơc an trú, được củng cố, và thọ
trì đúng cách, thời mười một lợi ích có thể trông đợi. Thế nào là mười
một? (1) Người ấy ngủ an lạc; (2) thức an lạc; (3) không ác mộng; (4)
được loài người thân ái (5); các hàng phi nhân thân ái; (6) chư thiên
bảo hộ; (7) không bị lửa, thuốc độc, binh khí xúc chạm; (8) tâm dễ đắc
định; (9) sắc mặt trong sáng; (10) lúc chết không rối loạn; và (11) nếu
không đắc cao hơn, người ấy sẽ tái sanh Phạm Thiên giới.”
Tu tập Tâm Bi
Một khi hành giả đã
tu tập tâm từ như vừa mô tả ở trên được rồi thì việc tu tập phạm trú Bi
vô lượng sẽ không khó. Để tu tập tâm bi, trước hết hành giả phải chọn
một người cùng phái với mình đang chịu đau khổ. Hành giả phải làm khơi
dậy lòng bi mẫn đối với họ bằng cách suy xét đến nỗi khổ đau mà họ đang
gánh chịu.
Kế đó lập lại tứ thiền với kasiṇa mầu
trắng, nhờ vậy ánh sáng sẽ trong sáng hơn, và dùng ánh sáng đó để thấy
người ấy, rồi tu tập tâm từ cho đến tam thiền. Xuất khỏi tam thiền, hành
giả tu tập tâm bi đối với người đang đau khổ đó với ý nghĩ “Cầu mong
con người hiền thiện này thoát khỏi khổ đau” (ayaṁ sappuriso dukkhā muccatu).
Làm vậy nhiều lần, lập đi lập lại cho tới khi hành giả đắc sơ thiền,
rồi nhị thiền, và tam thiền cùng với năm pháp thuần thục cho mỗi bậc
thiền chứng. Sau đó, hành giả sẽ tu tập tâm bi như đã làm với tâm từ, đó
là, tu tập cho bản thân, cho một người hành giả thích, một người hành
giả không thích cũng không ghét, và một người hành giả oán ghét, cho đến
tam thiền, tới khi các ranh giới được phá bỏ.
Muốn tu tập tâm bi
đối với những chúng sanh không có phương diện đau khổ nào rõ ràng cả,
hành giả phải suy tư trên sự kiện rằng mọi chúng sanh chưa giác ngộ đều
phải cảm thọ những kết quả của điều ác mà họ đã làm trong quá trình lang
thang qua vòng từ sanh luân hồi, vì vậy có lúc phải tái sanh trong bốn
ác đạo (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh và atula). Hơn nữa, mọi chúng sanh
đều đáng thương tâm, vì họ chắc chắn không thoát khỏi cái khổ của già,
đau và chết.
Sau khi suy xét như
vậy, hành giả cũng tu tập tâm bi như đã tu tập tâm từ, tức là tu tập tâm
bi đối với chính bản thân mình và hai loại người thông thường cho đến
tam thiền, tới khi các ranh giới được phá bỏ.
Sau đó hành giả còn
phải tu tập tâm bi theo cùng một trăm ba mươi hai cách mà hành giả đã tu
tập tâm từ, đó là: năm phạm trù không nêu rõ, bảy phạm trù có nêu rõ,
và một trăm hai mươi phạm trù theo phương hướng [5+7+(10x12)=132].
Trích trong: BIẾT và THẤY
Tác giả: Pa – Auk Sayadaw
Dịch giả: Pháp Thông
Nguồn: http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/ThuVien62/BVT3.htmXem thêm kinh sách liên quan:●
KINH TỪ BI (METTA SUTTA) - Ni sư Ayya Khema - Diệu Liên Lý Thu Linh chuyển ngữ ●
KINH TỪ BI (METTA SUTTA) - Phạm Kim Khánh dịch ●
KINH TỪ BI (METTA SUTTA) - Thích Nhất Hạnh dịch●
KINH TỪ BI (METTA SUTTA) Thích Thiện Châu dịch
●
KINH TỪ BI (METTA SUTTA) Vietnamese and English text CA KHÚC TỪ BI The Chant of Metta Text Nhạc sĩ: Imee Ooi
Nguyên Giác,Imee Ooi