MỤC LỤC
TẠP CHÍ ĐẠO PHẬT NGÀY NAY SỐ 14
THÁNG 02 NĂM 2012
Thiền sư Achaan Chah giải đáp về thiền
Khánh Yên dịch
Khi quán xét tâm và thân hầu như không có sự can thiệp nào
của tưởng (suy nghĩ). Và chúng ta có hai mức độ để quán xét. Mức độ thứ
nhất là dùng tư tưởng và lý trí để nhìn sự vật, với cách này bạn chỉ cảm
nhận hời hợt bên trên mặt của sự trải nghiệm...
Một số câu hỏi được trình bày
dưới đây là của những Tăng sinh người phương Tây cũng như người Thái đã
tham vấn thầy trong suốt mùa an cư kiết hạ của năm 1970, khi họ đang tu
học tại thiền viện. Một số câu khác đến từ những thiền sinh phương Tây
và của những thiền sư nhiều nơi trên thế giới khi họ đến viếng thăm
thiền viện Wat Ba Pong. Trong số đó có một số câu hỏi và những bài pháp
thoại được rút ra từ tác phẩm Living Buddhist Masters**(Những Thiền sư
Đương Đại). Nếu lắng nghe một cách chăm chú những câu trả lời, bạn sẽ
tìm thấy trong đó những điểm bạn có thể ứng dụng trong đời sống thực
hành, dựa vào hoàn cảnh riêng của mình. Mỗi phần trả lời của ngài Acchan
Chah đều chuyển tải trong đó hạt giống của giải thoát và chỉ ra cho bạn
cách thức để trở về với cội nguồn của tuệ giác- bản tâm của chính
mình.
H: Chúng tôi nên bắt đầu thực hành như thế nào? Phải chăng cần nên có một niềm tin mạnh mẽ?
Đ: Nhiều người đã bắt đầu thực hành bằng
sự hiểu biết và niềm tin rất ít. Đây cũng là lẽ tự nhiên. Chúng ta nên
bắt đầu từ điểm chúng ta cần bắt đầu. Vấn đề ở đây là người thực hành
cần phải có đủ ý chí để nhìn thẳng vào bản tâm mình và thấy rõ được khả
năng của chính mình, họ cần phải học hỏi trực tiếp từ bản thân mình. Sau
đó niềm tin và sự hiểu biết sẽ đến với họ.
H: Tôi đã cố gắng hết sức, nhưng hình như tôi thấy mình không đi đến đâu cả.
Đ:
Trong thực hành, đừng cố gắng để đạt được một điều gì cả. Mong cầu sự
tự do hay giác ngộ đều là biến chứng của lòng tham, chính điều này sẽ
ngăn trở chúng ta đến với tự do. Bạn có thể nỗ lực như bạn muốn, thực
hành ngày đêm theo sự nhiệt tình bạn có, nhưng nếu bạn mong cầu để đạt
được một điều gì đó, bạn sẽ không bao giờ tìm thấy được sự bình yên.
Chính sức mạnh của lòng tham sẽ đem đến cho bạn sự nghi ngờ và trạng
thái bất an. Bạn không cần phải biết mình đã thực hành bao lâu hoặc đã
nỗ lực như thế nào, chính lòng tham trong bạn sẽ không bao giờ đem đến
cho bạn sự minh triết. Hãy loại bỏ lòng tham. Quán tâm và thân trong
chánh niệm, đừng mong cầu một điều gì cả. Nếu không thực hiện được như
thế thì khi bạn bắt đầu thiền định và tâm có được tĩnh lặng, bạn sẽ bắt
đầu nghĩ, “Ồ, tôi đã đạt được trạng thái bước đầu chưa? Tôi phải thực
hành thêm bao lâu nữa?” Chính ngay trong lúc đó, bạn sẽ mất hết tất cả.
Cách tốt nhất là bạn chỉ quan sát tâm mình và để việc thực hành diễn ra
một cách tự nhiên.
Bạn chỉ cần tập trung mà không cần biết
mình đã đến mức độ nào của thiền. Chỉ chú tâm quan sát và cảm nghiệm
trực tiếp những gì đang xảy ra trong tâm bạn. Càng quan sát, bạn sẽ càng
thấy rõ diễn biến của tâm. Khi tập trung, đừng bận tâm lo lắng bạn đã
đạt đến trạng thái nào của thiền; và duy trì sự tập trung, sau đó mọi sự
sẽ vén mở ra trước mắt bạn một cách tự nhiên.
Làm thế nào tôi có thể nói với các bạn
cốt tủy của việc thực hành là gì? Đi về phía trước cũng sai, lùi lại
phía sau cũng sai, đứng yên một chỗ lại càng không đúng. Không có cách
nào để đo lường và đánh giá sự giải thoát cả.
H: Nhưng nếu nói như vậy, chúng ta sẽ không tìm kiếm một điều gì trong lúc chúng ta tập trung thực hành hay sao?
Đ: Lúc ngồi thiền, nếu bạn thấy tâm mình
tĩnh lặng và tập trung. Đây là một công cụ vô cùng quan trọng trong
thiền. Nhưng bạn cũng cần thận trọng đừng để tâm mắc kẹt vào sự tĩnh
lặng đó. Nếu bạn ngồi thiền chỉ để tâm được tập trung, sau đó bạn cảm
thấy vui và hài lòng với sự tập trung đó, như thế bạn đang lãng phí thời
gian của mình mà thôi. Thực hành là để tâm được tĩnh lặng và tập trung,
sau đó hãy sử dụng sự tập trung đó để quán xét bản chất của tâm và
thân. Hay nói một cách khác, nếu bạn chỉ muốn tâm trí được tĩnh lặng,
bình yên và loại bỏ tham cầu, như thế tâm bạn chỉ được tĩnh lặng trong
lúc bạn ngồi thiền mà thôi. Việc làm đó cũng giống như bạn đang dùng một
cục đá để đè lên bên trên cái nắp của thùng rác, và khi bạn lấy cục đá
đi, phía dưới nắp thùng kia vẫn còn chứa đầy rác. Vấn đề ở đây là việc
bạn ngồi lâu hay mau không quan trọng. Tập trung không có nghĩa là chú
tâm chìm đắm trong trạng thái của sự an lạc mà để quán sâu vào bản chất
của tâm và thân. Chính điều này mới đem lại cho bạn tự do thực sự.
Khi quán xét tâm và thân hầu như không
có sự can thiệp nào của tưởng (suy nghĩ). Và chúng ta có hai mức độ để
quán xét. Mức độ thứ nhất là dùng tư tưởng và lý trí để nhìn sự vật, với
cách này bạn chỉ cảm nhận hời hợt bên trên mặt của sự trải nghiệm. Mức
độ thứ hai là cảm nghiệm trong sự tĩnh lặng và tập trung, lắng nghe
tiếng nói bên trong của bản tâm. Chỉ khi nào tâm chúng ta được tập trung
và tĩnh lặng thì trí tuệ lúc đó mới khai mở một cách tự nhiên. Ban đầu
tiếng nói của trí tuệ rất yếu ớt và mong manh như một cây non, một cơn
gió thoảng cũng đủ làm cho nó nằm rạp xuống đất. Nếu bạn hiểu được điều
này, bạn sẽ quan tâm nhiều đến nó và không phải dẫm đạp lên nó dưới lòng
bàn chân của bạn. Nhưng, nếu bạn cảm nghiệm tâm mình trong trạng thái
tĩnh lặng, trong một không gian bình yên, bạn sẽ bắt đầu nhận ra bản
chất quan trọng của thân và tiến trình của tâm. Bằng sự cảm nghiệm này
bạn sẽ nhìn thấy tính chất luôn thay đổi của sự vật, nó trống rỗng, và
vô ngã, dù đó là thân hay tâm.
H: Nhưng nếu chúng ta không tìm kiếm bất cứ điều gì thì Đạo pháp ở đâu?
Đ:
Bất cứ nơi nào bạn nhìn thấy đều là Đạo pháp: Nơi công trường xây dựng,
con đường đưa bạn xuống phố, trong nhà tắm, hoặc ở nơi đây, tại thiền
viện này. Tất cả đều là Đạo pháp. Khi bạn đã hiểu chính xác như thế thì
không có gì trên cuộc đời này là không Đạo pháp.
Nhưng, bạn cũng cần hiểu rằng hạnh phúc
và bất hạnh, niềm vui và nỗi khổ vẫn luôn đồng hành cùng với bạn. Và khi
bạn đã nhìn thấy bản chất thực của những trạng thái đó, thì Phật và Đạo
pháp cũng đang có mặt ở đó. Khi bạn đã nhìn xuyên suốt bản chất của mọi
sự vật, thì mỗi giây phút bạn trải nghiệm đều là Đạo pháp. Nhưng có một
điều là, hầu như mọi người thường phản ứng một cách mù quáng khi họ có
được niềm vui, “Ồ, tôi thích cái này, tôi muốn được có nó thêm nữa,” và
khi đối mặt với những điều không vui, họ nói, “Hãy xéo đi, tôi không
thích cái này, tôi không cần đến nó.” Nếu bạn rộng mở tâm mình để chào
đón mọi trạng thái trong lúc trải nghiệm, thì lúc đó Phật và bạn chỉ là
một, không sai khác.
Vấn đề sẽ trở nên đơn giản hơn và dễ cảm
nhận hơn khi bạn hiểu ra được như thế. Khi niềm vui đến, hãy biết rằng
chúng chỉ là trống rỗng. Khi khổ đau đến, hãy hiểu rằng chúng không phải
là bạn và không thuộc về của bạn, và mọi thứ sẽ nhanh chóng trôi qua.
Nếu bạn không liên quan gì đến mọi hiện tượng và xem nó không phải là
của mình, và nghĩ rằng bạn không phải là chủ nhân của nó, thì tâm bạn sẽ
được cân bằng. Chính sự cân bằng này là Đạo, là giáo pháp chân thật của
chư Phật và sẽ đưa bạn đến với bến bờ của giải thoát. Thông thường,
người ta luôn bị cuốn vào trạng thái quá phấn khích- “Tôi có thể đạt
được trạng thái này và không biết trạng thái như thế có phải là định hay
chưa? Hoặc “Tôi sẽ có được những năng lực gì?” Họ đã hoàn toàn quên đi
giáo pháp của Phật và hướng đến một khía cạnh nào đó, điều này thực sự
không mang lại cho họ ích lợi gì cả. Phật được tìm thấy trong những sự
việc đơn giản nhất ngay trước mắt bạn nếu bạn quyết tâm đi tìm Phật. Và
cốt tủy của sự cân bằng là tâm vô chấp.
Khi bắt đầu bước vào thực hành, điều
quan trọng là bạn cần phải xác định đúng hướng đi của mình, thay vì bạn
cứ đi lòng vòng, và để đi đúng hướng, bạn cần phải tham khảo bản đồ hay
nhờ đến một người nào đó đã đi qua để xác định đúng hướng đi của bạn.
Con đường để đến với giải thoát, ngay từ buổi đầu đức Phật đã chỉ rõ, đó
là Trung đạo; nó nằm giữa hai đối cực; một bên là thỏa mãn lòng tham
cầu, và bên kia là tự tiết chế trong khổ hạnh. Tâm bạn cần phải được
rộng mở với mọi trải nghiệm để không bị mất cân bằng và rơi vào hai đối
cực đó. Chính điều này cho phép bạn nhìn thấy rõ bản chất sự vật mà
không cần phải phản ứng hay mê chấp và loại bỏ.
Khi bạn đã hiểu được thế nào là yếu tố
của sự cân bằng, từ đó đạo pháp sẽ trở nên đơn giản và rõ ràng hơn. Khi
đã có được một cái nhìn sáng suốt thì mọi trạng thái đến đều là niềm
vui, và bạn sẽ thấy rằng những trạng thái kia sẽ tồn tại không lâu,
chúng hoàn toàn trống rỗng và không có gì là bền vững cả. Và khi đó,
những trạng thái không đem lại cho bạn niềm vui sẽ không còn là vấn đề
nữa, vì bạn đã thấy rằng bản chất của nó là không bền vững, và đều trống
rỗng như nhau. Cuối cùng, khi đi sâu vào con đường đạo pháp, bạn sẽ cảm
nhận ra rằng không có gì trên cuộc đời này là giá trị và bền vững lâu
dài cả. Cho nên bạn không còn gì để chấp thủ. Mọi thứ đều giống như
những cái vỏ chuối khô meo mốc hoặc là những cái vỏ đậu hoàn toàn vô
dụng- bạn không còn dùng đến nó nữa và chúng cũng không có gì để thu hút
bạn. Khi đã nhìn thấy mọi thứ trên cuộc đời như những cái vỏ chuối thừa
thải và không còn giá trị gì đối với bạn, bạn sẽ tự do bước đi mà không
bị ngăn ngại trong cuộc đời này, bạn không còn cảm thấy phiền não hoặc
khổ đau. Đây là con đường đưa bạn đến với tự do thực sự.
H: Ngài có nghĩ rằng thiền sinh cần phải ngồi thiền lâu, tập trung và nhập thất trong tĩnh lặng?
Đ:
Đây là vấn đề cá nhân. Bạn cần phải học cách thực hành trong mọi tình
huống, ngay cả ở những nơi chợ búa đông người qua lại hoặc những lúc bạn
chỉ có một mình. Tuy nhiên, để bắt đầu, hãy chọn một nơi yên tĩnh sẽ có
lợi hơn cho bạn. Đó là lý do vì sao chúng ta tìm đến với cuộc sống ở
trong rừng. Bước đầu thực hành, mọi thứ bạn làm cần nên chậm rãi để tâm
được chánh niệm. Sau một thời gian, tập giữ tâm chánh niệm trong mọi
tình huống.
Một số người hỏi tôi nên dành thời gian
sáu tháng hay một năm để thực hành nhiếp tâm tĩnh lặng và tập trung. Vấn
đề này không có một nguyên tắc nào cả, cá nhân họ phải tự biết và quyết
định. Việc luyện tâm cũng giống như những chiếc xe bò mà dân làng quanh
đây thường sử dụng. Nếu người điều khiển xe muốn chở hàng đến thị trấn,
anh ta cần phải biết rõ khả năng chuyên chở của xe, sức chịu đựng của
bánh và cả con bò kéo nữa. Họ phải biết rõ xe của họ có thể chở được
nhiều hay ít? Cũng giống như vậy, người thầy và học trò phải biết được
khả năng và mức giới hạn của họ đến đâu. Người học trò đã sẵn sàng để
thực hành những bài học hay chưa? Đúng thời điểm hay không? Cần phải
biết rõ và nhạy bén trong mọi tình huống; phải nhìn rõ và nhận biết
những giới hạn của mình. Đây cũng là sự minh triết.
Đức Phật đã chỉ ra cho chúng ta hai
phương thức để thực hành: Giải thoát trong minh triết và giải thoát
trong sự tập trung. Những người giải thoát trong sự minh triết, khi nghe
pháp, họ liền cảm nhận. Khi tất cả giáo pháp là điều đơn giản để họ cảm
nghiệm, và nhìn rõ bản chất của sự vật, họ bắt đầu đi vào thực hành và
cảm nghiệm sự vật một cách tự nhiên mà không cần phải nỗ lực và tập
trung nhiều. Qua sự cảm nghiệm đơn giản này, cuối cùng, họ sẽ chiến
thắng cái bản ngã của chính mình, và khi đó họ nhận thấy không còn gì để
buông bỏ và mê chấp nữa.
Một số người khác, vì hoàn cảnh đặc thù
của riêng mình, trong thực hành, họ cần phải nỗ lực tập trung nhiều. Họ
phải ngồi và ép mình trong kỷ luật một thời gian rất dài. Với những
người này, nếu họ biết sử dụng sự tập trung một cách đúng đắn sẽ là
phương tiện cơ yếu để họ thâm nhập sâu vào sự sáng suốt của bản tâm. Một
khi tâm bạn đã được tập trung, cũng giống như bạn đã học xong trung
học- khi đó bạn có thể tiếp tục bước vào học đại học, và bạn có thể học
bất cứ chuyên ngành nào bạn muốn. Khi khả năng định trong bạn đủ mạnh
mẽ, bạn có thể thâm nhập vào mọi trạng thái của định và cảm nghiệm mọi
tình huống của sự minh triết, dựa trên pháp thực hành bạn đã chọn.
Hai phương thức thực hành trên, giải
thoát bằng trí tuệ và giải thoát bằng sự tập trung đều bình đẳng như
nhau. Bất cứ phương tiện thực hành nào mà không bị kẹt vào sự mê chấp
đều đưa chúng ta đến với giải thoát. Thậm chí trong giới luật- như năm
giới cấm dành cho cư sĩ, hay mười giới dành cho Sa di, hoặc 227 giới của
Tỳ kheo- có thể ứng dụng cho cả hai phương thức thực hành này. Vì đây
là những giới hạnh sẽ đem lại cho bạn sự chánh niệm và nhiếp tâm, không
giới hạn ở mức độ nào cả. Chẳng hạn, nếu bạn chỉ nghiêm trì tốt một giới
căn bản là sự thành thật, và áp dụng giới hạnh này trong mọi hành vi
ứng xử và quán chiếu bản tâm, thì giới hạnh đó sẽ đem lại lợi ích cho
bạn không có giới hạn. Cũng giống như những phương tiện khác của Pháp,
bạn có thể ứng dụng và cũng đạt đến sự giải thoát.
H: Hành pháp thiền thể hiện tình yêu thương và xem đó như một phần trong thực hành có đem lại ích lợi gì không?
Đ: Một số câu tụng được lập đi lập lại
trong pháp thiền ban rải lòng yêu thương cũng rất hữu ích cho bạn, nhưng
đây chỉ là pháp hành ban đầu. Khi bạn quán sâu vào bản tâm và thực hành
đúng những bài thực hành căn bản, bạn sẽ nhận ra rằng tình yêu chân
thực là yếu tố rất tự nhiên vốn có của người hành đạo. Khi tự ngã và mọi
yếu tố khác của tâm không còn, thì trong bạn sẽ tự khắc sẽ có được một
tình yêu sâu sắc và tự nhiên, khác với trò chơi của trẻ con luôn lập đi
lập lại một khuôn mẫu, “Nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc,
nguyên cho tất cả chúng sinh thoát khỏi mọi khổ ách.”
(Trích dịch từ tác phẩm A Still Forest Pool/Tâm Tĩnh Lặng của Jack Kornfield & Paul Breiter).
Bài viết liên quan:
●
MẶT HỒ TĨNH LẶNG - Nguyên tác: Thiền sư Ajahn Chah - Tỳ kheo Khánh-Hỷ chuyển dịch