Tiểu
luận này được công bố lần đầu ngày 11.11.1930 trên nhật
báo Berliner Tageblatt.
Tất
cả những gì con người tạo dựng và phát kiến là để thỏa
mãn những nhu cầu do các giác quan khơi dậy cũng như để
làm dịu những nỗi đau. Ta phải luôn nhìn nhận điều đó
nếu ta muốn hiểu các trào lưu tinh thần cũng như sự phát
triển của chúng. Cảm xúc và khát vọng là động cơ của
tất cả những nỗ lực và tạo tác của con người, cho dù
động cơ sau (tức khát vọng - ND) có tỏ ra cao thượng đến
đâu đi chăng nữa. Vậy thì đâu là những cảm xúc và nhu
cầu đã đưa con người tới tư duy tôn giáo và niềm tin tôn
giáo theo nghĩa rộng nhất? Nếu chúng ta suy ngẫm về điều
đó, chúng ta sẽ thấy rằng, trong cái nôi của tư duy và trải
nghiệm tôn giáo có vô số loại cảm xúc khác nhau. Ở những
người sơ khai thì trước tiên là sự sợ hãi đã gợi lên
những biểu tượng tôn giáo. Sợ đói, sợ thú dữ, bệnh
tật và cái chết. Vì ở cấp độ tồn tại này, sự hiểu
biết về các mối quan hệ nhân quả còn thấp, đầu óc con
người tự tưởng tượng ra các "hình nhân" ít nhiều giống
họ. Những trải nghiệm đầy sợ hãi của con người phụ
thuộc vào ý muốn cũng như tác động của những hình nhân
ấy. Họ nghĩ rằng, họ sẽ lấy lòng được hình nhân ấy
nếu họ tiến hành các nghi lễ và đem tới vật hiến tế,
những gì theo niềm tin truyền từ đời này qua đời khác
sẽ có tác dụng làm cho hình nhân ấy nguôi giận và phù hộ
cho con người. Tôi gọi tôn giáo theo nghĩa này là tôn giáo
sợ hãi. Loại tôn giáo đó tuy không được sáng tạo ra, nhưng
nó vẫn được củng cố về cơ bản nhờ một tầng lớp
giáo sĩ đặc thù đóng vai trò trung gian giữa hình nhân đáng
sợ với dân chúng, và tầng lớp này thiết lập một vị
trí ưu thắng trên cơ sở ấy. Thông thường, để bảo vệ
quyền lợi, các thủ lĩnh hoặc nhà cầm quyền (mà quyền
lực của họ vốn dựa trên những yếu tố khác), cũng như
giới thượng lưu với quyền thống trị thế tục của họ
thường thâu tóm luôn cả chức năng tôn giáo; hoặc giữa
giới cầm quyền chính trị và giới tăng lữ cùng chia sẻ
một cộng đồng lợi ích chung.
Nguồn
suối thứ hai của hình tượng tôn giáo là những cảm xúc
xã hội. Cha, mẹ, thủ lĩnh của các bộ tộc lớn đều có
thể chết và phạm sai lầm. Lòng khao khát được dẫn dắt,
được yêu thương và che chở đã kính thích sự hình thành
khái niệm Thượng đế theo nghĩa xã hội cũng như luân lý.
Đó là vị Thượng đế quan phòng, người che chở, quyết
định, ban thưởng và trừng phạt. Tùy theo viễn tượng của
mỗi người, vị Thượng đế ấy thương yêu và thúc đẩy
cuộc sống của một bộ tộc, cuộc sống của nhân loại,
vâng, cả sự sống nói chung; Ngài là kẻ an ủi trong cơn bất
hạnh và hoài vọng khôn nguôi, là kẻ canh giữ linh hồn của
những người đã chết. Đó là khái niệm về Thượng đế
theo nghĩa xã hội hoặc luân lý.
Có
thể quan sát một cách thú vị sự chuyển biến từ tôn giáo
sợ hãi lên tôn giáo luân lý trong Sách Thánh của dân tộc
Do Thái. Sự chuyển biến này tiếp tục diễn ra trong Kinh Tân
Ước. Tôn giáo của tất cả các dân tộc, nhất là các dân
tộc vùng Cận Đông, về cơ bản là các tôn giáo luân lý.
Sự phát triển từ tôn giáo sợ hãi lên tôn giáo luân lý
đã tạo nên một sự tiến bộ quan trọng trong đời sống
của các dân tộc. Ta cần phải dẹp bỏ định kiến, rằng
tôn giáo của các dân tộc sơ khai thuần túy là tôn giáo sợ
hãi, còn tôn giáo của các dân tộc văn minh thuần túy là
tôn giáo luân lý.
Trên
thực tế, tất cả đều có sự pha trộn; nhưng ở các cấp
độ cao của đời sống xã hội, tôn giáo luân lý giữ vai
trò chủ đạo. Điểm chung của tất cả các loại hình tôn
giáo kể trên là tính nhân hình của ý niệm về Thượng đế.
Thường chỉ có những cá nhân có thiên tư đặc biệt tiềm
tàng xuất chúng và những cộng đồng đặc biệt cao quý mới
có thể thực sự nâng mình vượt lên khỏi cấp độ này
của trải nghiệm tôn giáo. Song trên tất cả, còn có một
cấp độ thứ ba của trải nghiệm tôn giáo, dù nó ít khi
xuất hiện ở dạng thuần túy. Tôi muốn gọi đó là Đạo
vũ trụ. [1] Rất khó giải thích ý niệm này cho những ai hoàn
toàn không có nó, một phần vì nó không giống với ý niệm
về Thượng đế nhân hình.
Cá
nhân cảm nhận được tính hư vô trong những ước vọng và
mục đích của con người; cảm nhận được tính hùng vĩ
và trật tự kỳ diệu trong thiên nhiên cũng như trong thế
giới suy tưởng. Anh ta cảm thấy sự tồn tại của cá nhân
mình như một thứ tù ngục, và anh ta muốn trải nghiệm cái
tổng thể hiện tồn như một chỉnh thể thống nhất và đầy
ý nghĩa. Ta đã có thể tìm thấy những tiếp cận đầu tiên
với Đạo vũ trụ ngay từ các cấp độ phát triển xa xưa,
trong những bài ca vịnh của Thánh David cũng như ở vài nhà
tiên tri khác. Song những yếu tố của Đạo vũ trụ còn mạnh
mẽ hơn nhiều trong Phật giáo - đặc biệt những tác phẩm
tuyệt diệu của Schopenhauer đã dạy chúng ta về điều đó.
Những bậc thiên tài về tôn giáo của mọi thời đại đều
được tôn vinh bằng Đạo vũ trụ ấy - cái đạo không hề
biết đến những giáo điều cũng như không biết đến một
vị Thượng đế được suy tưởng theo hình ảnh con người.
Bởi vậy cũng không thể có nhà thờ với nội dung truyền
giảng chính là Đạo vũ trụ. Điều đó dẫn tới thực tế
là, ta thường gặp trong số những kẻ dị giáo của mọi
thời đại những cá nhân đạt được cái Đạo cao nhất
ấy; họ thường bị những người đương thời xem là vô
thần, song đôi khi lại được coi là thánh nhân. Từ điểm
nhìn ấy, những vị như Democrit, Franciscus von Assisi và Spinoza
thật gần gũi nhau.
Làm
sao có thể truyền đạt Đạo vũ trụ từ người này sang
người khác, dù nó không hề dẫn tới một ý niệm khuôn
mẫu về Thượng đế cũng như một nền thần học nào cả?
Theo tôi nghĩ, chức năng quan trọng nhất của nghệ thuật
và khoa học là đánh thức cảm xúc này ở những người thụ
nhận chúng và giữ cho nó luôn sống động. Chúng ta đang đi
đến một quan niệm về mối quan hệ giữa khoa học và tôn
giáo rất khác so với những quan niệm thông thường. Dưới
cái nhìn lịch sử, người ta có xu hướng xem khoa học và
tôn giáo như những địch thủ không đội trời chung. Lý do
cũng khá dễ hiểu: Ai thấu hiểu tính quy luật nhân quả của
tất cả các hiện tượng thì đối với người đó, ý niệm
về một hình nhân can thiệp vào diễn trình của thế giới
là không thể chấp nhận được - với điều kiện là anh
ta thực sự coi trọng giả thuyết về tính nhân quả. Tôn
giáo sợ hãi chắc chắn sẽ không có chỗ đứng trong đầu
anh ta; song ngay cả tôn giáo xã hội hay luân lý cũng vậy.
Với anh ta, một vị Thượng đế ban thưởng và trừng phạt
là không thể suy tưởng được, bởi con người hành động
theo tính tất yếu hợp quy luật bên ngoài và bên trong, do
vậy không hề chịu trách nhiệm gì từ điểm nhìn của Thượng
đế, tương tự như một đồ vật vô tri không phải chịu
trách nhiệm gì về những chuyển động do nó thực hiện.
Vì thế mà người ta đã trách cứ khoa học là chôn vùi đạo
đức - hẳn nhiên là vô lý. Hành vi luân lý của con người
dựa trên sự cảm thông, giáo dục và sự gắn kết xã hội
mà không cần đến một nền tảng tôn giáo nào hết. Thật
đáng buồn cho con người, nếu chỉ vì sợ hãi bị trừng
phạt hay vì hy vọng được ban thưởng sau khi chết mà phải
chịu cúi đầu thần phục.
Như
vậy cũng dễ hiểu khi nhà thờ đã luôn chống lại khoa học
và truy bức những ai tin theo khoa học. Nhưng ngược lại, tôi
khẳng định rằng Đạo vũ trụ là động lực mạnh mẽ nhất
và cao quý nhất của nghiên cứu khoa học. Chỉ những ai có
thể đo lường được những nỗ lực khổng lồ, và trước
hết là sự tận hiến - mà không có nó thì không thể có
những phát minh khoa học mang tính mở đường được - người
đó mới có thể lượng định đúng sức mạnh của cái xúc
cảm mà chỉ từ đó, một việc làm quên mình - ngoảnh lưng
lại với cuộc sống "cơm áo gạo tiền" thực tế - mới có
thể lớn dậy được. Phải nuôi dưỡng một niềm tin đến
thế nào vào sự hữu lý của cấu tạo thế giới, phải nuôi
dưỡng một khát vọng hiểu biết đến thế nào, dù chỉ
là khát vọng để nắm bắt lấy một chút ánh hồi quang của
cái lý tính đã tỏa rạng trong vũ trụ này, để sau bao năm
ròng đắm mình trong công việc đơn độc, Kepler và Newton mới
giải mã được nguyên lý của cơ học thiên thể! Những ai
biết đến việc nghiên cứu khoa học chủ yếu chỉ từ những
ứng dụng thực tiễn của nó, kẻ đó dễ đi đến một cách
nhìn hoàn toàn sai lạc về tâm trạng của các vĩ nhân (những
người vốn luôn bị bủa vây bởi sự hoài nghi của người
đương thời), những người đã chỉ ra các con đường cho
những kẻ đồng chí hướng sống phân tán ở khắp các vùng
đất, qua nhiều thế kỷ. Chỉ những ai cống hiến đời mình
cho những mục đích như thế mới có được một hình dung
sống động về cái gì đã hun đúc tinh thần cũng như đem
đến sức mạnh cho những vĩ nhân ấy, để, dù gặp muôn
vàn thất bại, vẫn luôn trung thành với mục đích của mình.
Đạo vũ trụ chính là cái đã ban cho họ sức mạnh ấy. Ai
đó đã nói không phải không có lý rằng, trong thời đại
nhìn chung là xem trọng thái độ duy vật chất như thời đại
của chúng ta, chính những nhà nghiên cứu nghiêm chỉnh mới
là những người duy nhất có tín ngưỡng sâu xa.
[1]kosmische
Religiösität: tính tín ngưỡng vũ trụ. Với những gì Einstein
viết tiếp theo đây về "kosmische Religiösität", chúng tôi cho
rằng hoàn toàn có thể dịch thoát khái niệm này là "đạo
vũ trụ". - ND
Nguồn:
Trích từ Thế giới như tôi thấy, Nxb. Tri thức 12. 2005, tr.
30-37. Bản đăng trên talawas có sự đồng ý của dịch giả
và có vài sửa đổi nhỏ so với bản in. Dịch từ nguyên
bản tiếng Đức: Mein Weltbild, 30. Auflage, Carl Seelig 2005, Germany
2005, tr. 17-21