Ở
Việt Nam có khoảng 500 chùa Nam tông Khmer với số lượng chư
Tăng khoảng 15.000 vị. Riêng các chùa Nam tông người Kinh thì
có khoảng 60 chùa, 300 vị Tăng và 200 vị Tu nữ. Chư Tăng
chùa nào an cư tại chùa đó, chỉ có một số ít là có tổ
chức an cư tập trung như chùa Phước Sơn (Đồng Nai), chùa
Siêu Lý (Vĩnh Long), chùa Huyền Không (Huế).
Chư
Tăng Phật giáo Nam tông Việt Nam (người Kinh và người Khmer)
cũng như chư Tăng Nam tông ở các nước Phật giáo theo truyền
thống Theravàda trên thế giới như Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan,
Campuchia và Lào... đều có chung một thời gian an cư là 16/6
ÂL đến 15/9 ÂL, còn gọi là Tiền An cư (purimika vassùpanàyika).
Nếu như vì lý do nào đó không thể phát nguyện nhập hạ
Tiền An cư thì chư Tỳ kheo có thể nhập hạ trong thời gian
Hậu An cư (pacchimikà vassùpanàyika) thời gian từ 16/7 ÂL đến
15/10 ÂL. Ðến thời kỳ an cư mà Tỳ kheo cố ý không nhập
hạ thì phạm tội Tác ác (dukkata). Những Tỳ kheo nhập hạ
trong thời Hậu An cư thì không được hưởng quả báu Kathina.
Vassavàsa
là tiếng Pali. Vassa nghĩa là mưa, mùa mưa, Vàsa nghĩa là sự
cư ngụ. Như vậy, Vassavàsa là An cư mùa mưa. Đồng thời
chư Tỳ kheo sẽ tập trung thời gian này cho việc hành đạo,
nhất là tu tập Thiền định, thực hành Bát Chánh Ðạo, con
đường giải thoát.
Ðến
ngày an cư, Tỳ kheo phải tìm trú xứ thích hợp để nguyện
nhập hạ, địa điểm an cư có thể là ngôi chùa (àràma),
ngôi tịnh xá (vihàra), một chỗ ở thích hợp (àvàsa), hay
tịnh thất (senàsana). Tỳ kheo dự dịnh nhập hạ ở đâu
thì phải nguyện an cư ở đó. Vào ngày hoặc đêm 16/6 ÂL
(Tiền An cư), hay 16 /7 ÂL (Hậu An cư), Tỳ kheo nhập hạ phải
phát nguyện một mình hoặc phát nguyện chung với các Tỳ
kheo khác.
Sau
khi đã phát nguyện an cư mùa mưa, Tỳ kheo ấy phải nhập
hạ tại nơi ấy trong 3 tháng không được rời khỏi. Trong
trường hợp đặc biệt như cha mẹ, thầy tổ bị đau bệnh
hay viên tịch, hoặc có Tăng sự quan trọng, hoặc có thí chủ
thỉnh đi làm những Phật sự cần thiết, thì Tỳ kheo nhập
hạ phải xin nguyện tạm thời rời trú xứ an cư nhưng không
được quá bảy ngày.
Chư
Tỳ kheo theo truyền thống Nam tông đến ngày an cư mùa mưa
đều phải phát nguyện nhập hạ, dù ở nơi đó có tổ chức
trường hạ hay không. Thậm chí chỉ có một mình, Tỳ kheo
ấy cũng phải nguyện nhập hạ đúng phép.
Trường
hạ chùa Siêu Lý và chùa Huyền Không chủ yếu là tu tập,
tu học về Pháp học, trường hạ chùa Phước Sơn thì đặt
nặng về tu Thiền Tứ niệm xứ. Các ngôi chùa khác ngoài
những thời khóa tu tập hàng ngày như thường lệ còn tăng
cường thêm giờ hành Thiền và nghiên cứu kinh điển. Ðặc
biệt năm nay, Phật giáo Nam tông người Kinh có tổ chức cho
toàn hệ phái sinh hoạt tập trung 3 kỳ trong mùa An cư kiết
hạ tại Tổ đình Bửu Quang, Thủ Đức.
Trú
xứ an cư là vùng đất an lành sẽ giúp cho Tăng Ni thở được
mùi thơm của cơn gió Giới-Ðịnh-Tuệ. Tu tập tích cực trong
mùa An cư, Tăng Ni sẽ dần dần vén được bức màn vô minh
ái dục, những cây chánh niệm của rừng xanh, tâm linh sẽ
đâm chồi nẩy lộc, những dòng suối trí tuệ sẽ tung tăng
nhảy múa, trái tim từ bi sẽ từng nhịp thở thật thà. Nhờ
có sự an cư kiết hạ mà chư Tăng Ni mới làm cho Phật pháp
được sống còn, vì có an cư kiết hạ mà Giới, Ðịnh, Tuệ
mới có điều kiện phát huy. Nơi nào còn Giới, Ðịnh, Tuệ,
nơi đó mới còn Phật pháp.
Ðức
Phật dạy trong Trung Bộ, bài kinh "Thừa tự Pháp" như sau:
"Dhammadàyàda me bhikkhave bhavatha mà ámisadàyàdà bhavatha" (Này
các Tỳ kheo, hãy là người thừa tự Pháp của ta, đừng là
kẻ thừa tự tài vật).
An
cư mùa mưa là truyền thống tốt đẹp của Phật giáo nói
chung và của Phật giáo Nam tông nói riêng. Mùa nhập hạ giúp
cho người con Phật tự nhìn lại chính mình.
Mùa
an cư kiết hạ giúp cho chư Tăng Ni có thời gian để tự nhìn
vào tấm thân ngũ uẩn phù du giả tạo vô thường sanh diệt
này, chẳng khác nào một cánh nhạn giữa sớm tinh sương,
một cơn gió thoảng, một áng mây trôi, cái hiện hữu chỉ
là trong nháy mắt.
(Phật
Tử VN.org)
AN
CƯ KIẾT HẠ
Hỏi:
Xin cho biết về duyên khởi và ý nghĩa của an cư. Vì sao có
sự khác nhau về thời điểm an cư giữa hai truyền thống
Nam tông và Bắc tông?(PHÁP CHƠN, Tân Thành, Bà Rịa – Vũng
Tàu; DIỆU LẠC, Tân Bình, TP.HCM)
Đáp:
Bạn
Pháp Chơn và Diệu Lạc thân mến!
An
cư, Phạm ngữ Varsa, Pàli ngữ Vassa, hán dịch là Vũ kỳ, Hạ
an cư, Kiết hạ, Toạ hạ, Cửu tuần cấm túc… An cư có
nghĩa: “Thân tâm đều tĩnh lặng gọi là an, đến thời gian
quy định phải ở yên một nơi gọi là cư” (Nghiệp sớ,
q4).
Nhân
duyên Phật thiết định an cư, theo Đại phẩm, chương Vào
mùa mưa: Lúc Thế Tôn trú tại thành Vương Xá, tinh xá Trúc
Lâm (Luật Tứ phần, q37, ghi Thế Tôn trú tại Xá Vệ, tinh
xá Kỳ Viên), bấy giờ việc an cư mùa mưa chưa được
Thế Tôn quy định cho các Tỷ kheo. Có một số Tỷ kheo du
hành trong mùa mưa, dân chúng phàn nàn, chê bai rằng: “Các
sa môn Thích tử du hành trong mùa lạnh, mùa nóng và cả trong
mùa mưa. Ngay cả các du sĩ ngoại đạo hàng năm vẫn có ba
tháng ở cố định trong mùa mưa, những con chim sau khi làm
tổ trên ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa. Còn
các sa môn Thích tử thì lại du hành trong mùa mưa. Các vị
ấy đang giẫm đạp lên cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống
các loài côn trùng”.
Các
Tỷ kheo khác nghe được những lời chê bai ấy đem trình lên
Thế Tôn. Nhân sự việc này, Phật dạy: “Này các Tỷ kheo,
phải an cư trong mùa mưa. Đây là hai thời điểm an cư. Thời
điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn tháng Àsàlha,
thời điểm sau là vào ngày sau ngày trăng tròn của tháng sau.
Này
các Tỷ kheo, trong ba tháng mùa an cư không nên du hành. Vị
nào đi ra ngoài (nếu không có lý do chính đáng) thì phạm
Dukkata (Phá an cư)”.
Ngoài
ra, theo luật Ngũ phần, q19; Ma ha Tăng kỳ, q27; Thập tụng,
q24… ghi nhận về duyên khởi của truyền thống an cư, đại
thể cũng tương đồng với Đại phẩm và luật Tứ phần.
Về
ý nghĩa an cư, qua phần duyên khởi, trước hết an cư là một
truyền thống chung cho mọi Sa môn, Bà la môn của các tôn giáo
thời bấy giờ. Mặt khác, dù khi Phật chưa ban hành luật
an cư nhưng đa phần các Tỷ kheo vẫn ở cố định trong những
tháng mùa mưa. Do vậy, ngoài việc tôn trọng truyền thống,
hạn chế sự giẫm đạp côn trùng, an cư mùa mưa là thời
gian thích hợp nhất để nỗ lực tu tập thiền định, phát
triển tâm linh và chứng đạt các Thánh quả. Mặt khác, an
cư còn mang ý nghĩa quan trọng về xây dựng đời sống hoà
hợp trong Tăng đoàn đồng thời cũng là dịp để hàng cư
sĩ gần gũi, nương tựa chư Tăng học tập giáo pháp và tu
tạo phước điền.
Thời
điểm an cư, các kinh luật đều đồng nhất vấn đề khởi
sự an cư tính từ ngày đầu tiên (trăng tròn) của tháng Àsàlha
(hay A sa đà – Ashadha-Phạn). Tháng Asàlha chính xác là thời
điểm trong khoảng cuối tháng 6 và đầu tháng 7 dương lịch.
Truyền thống Phật giáo Nam tông xác định ngày mồng một
(trăng tròn) của tháng Asàlha chính là ngày 16 tháng 6 âm lịch.
Do đó, Phật giáo Nam tông tổ chức an cư vào ngày 16 tháng
6 và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 âm lịch.
Tuy
vậy, theo ngài Huyền Trang (Tây Vực ký) và ngài Pháp Hiển
(Nam hải ký quy nội pháp truyện) thì ngày mồng một (trăng
tròn) của tháng Asàlha tương đương với ngày 16 tháng 5 theo
lịch Trung Quốc. Vấn đề là Phật giáo Bắc tông dù đã
xác định ngày mồng một (trăng tròn) của tháng Asàlha tương
đương với ngày 16 tháng 5 theo lịch Trung Quốc nhưng thực
tế thì an cư lại bắt đầu từ 16 tháng 4. Để giải thích
điều này, có thể là do ảnh hưởng của kinh Vu Lan, quy định
ngày rằm tháng 7 là ngày tự tứ, do vậy phải kiết hạ vào
ngày 16 tháng 4 (Thích Trí Thủ - Yết ma yếu chỉ, Viện
Cao đẳng Phật học Hải Đức, tr.258). Ngày nay, an cư
bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 là truyền thống của Phật giáo
Bắc tông.
Tuy
nhiên, thực tế cho thấy dù theo bất cứ truyền thống nào
(16-4 Bắc tông hay 16-6 Nam tông) thì vẫn xảy ra trường hợp
đến thời điểm quy định an cư theo truyền thống nhưng tại
một số địa phương hoặc quốc gia không phải là thời điểm
của mùa mưa. Do đó, nếu cứ vào nguyên tắc “an cư mùa
mưa” thì truyền thống nào cũng có những bất cập nhất
định.Vì vậy, nếu tôn trọng truyền thống và nhất là xác
định mục đích chính yếu của an cư để trưởng dưỡng
và trau dồi giới định tuệ thì vấn đề thời điểm an
cư dù có sự khác biệt giữa các truyền thống song không
quan trọng bởi phận sự an cư ba tháng trong năm của một
Tỳ kheo vẫn được chu toàn.
Chúc
các bạn tu lập thành công!
(Theo
Giác Ngộ)
Xem
Thêm:
An
Cư Kiết Hạ, Suối Nguồn Từ Bi và Trí Tuệ, Tâm Diệu
Truyền
Thống An Cư Mùa Mưa của Phật Giáo Nam Tông
An
Cư Kiết Hạ: Nguồn Sinh Lực của Tăng, TT. Thích Chơn Thanh
An
Cư Kiết Hạ tại TP. Hồ Chí Minh
An
Cư Kiết Hạ tại Chùa Phật Tổ