TẮC
46: CẢNH THANH TIẾNG MƯA RƠI
LỜI
DẪN: Một chùy liền thành siêu phàm vượt Thánh, nửa câu
khả dĩ mở trói gỡ niêm, như đi trên tảng băng, chạy trên
kiếm bén, ngồi trong khối thanh sắc, đi trên đầu thanh sắc.
Diệu dụng dọc ngang gác lại, khoảng sát-na liền đi thế
nào, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Cảnh Thanh hỏi Tăng: Ngoài cửa là tiếng gì ? Tăng thưa:
Tiếng mưa rơi. Cảnh Thanh bảo: Chúng sanh điên đảo quên
mình theo vật. Tăng thưa: Hòa thượng thì thế nào ? Cảnh
Thanh bảo: Toàn chẳng quên mình. Tăng thưa: Toàn chẳng quên
mình ý chỉ thế nào ? Cảnh Thanh bảo: Xuất thân vẫn còn
dễ, thoát thể nói rất khó.
GIẢI
THÍCH: Chỉ trong này khéo tiến lấy, cổ nhân dùng một cơ
một cảnh cần tiếp người. Một hôm, Cảnh Thanh hỏi Tăng:
Ngoài cửa là tiếng gì ? Tăng thưa: Tiếng mưa rơi. Thanh bảo:
Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật. Lại hỏi: Ngoài cửa
là tiếng gì ? Tăng thưa: Tiếng chim bột cưu. Thanh bảo: Muốn
được chẳng chuốc nghiệp vô gián, chớ chê bai chánh pháp
Như Lai. Lại hỏi: Ngoài cửa là tiếng gì ? Tăng thưa: Tiếng
rắn bắt nhái kêu. Thanh bảo: Sẽ bảo chúng sanh khổ, lại
có khổ chúng sanh. Những câu này với công án ở trước không
có hai thứ. Hàng Thiền tăng ở trong đây thấu được thì
ở trong thanh sắc chẳng ngại tự do. Nếu thấu chẳng được
liền bị thanh sắc lôi. Công án này, các nơi gọi là lời
“tôi luyện”. Nếu là “tôi luyện” chỉ thành tâm hạnh,
không thấy được chỗ vì người của cổ nhân. Cũng gọi
lời này là “thấu thanh sắc”, một sáng đạo nhãn, hai
sáng thanh sắc, ba sáng tâm tông, bốn sáng vọng tình, năm
sáng triển diễn. Song nếu không chín chắn, sao khỏi thành
hang ổ. Cảnh Thanh hỏi: Ngoài cửa là tiếng gì ? Tăng thưa:
Tiếng mưa rơi. Lại nói: Chúng sanh điên đảo quên mình theo
vật. Người ta lầm hội, cho là cố ý chuyển người, quả
thật không dính dáng. Đâu chẳng biết Cảnh Thanh có thủ
đoạn vì người, mật lớn chẳng nệ một cơ một cảnh,
rất mực chẳng tiếc lông mày. Cảnh Thanh đâu chẳng biết
tiếng mưa rơi, tại sao lại hỏi ? Phải biết cổ nhân dùng
sào dò bóng cỏ, cốt nghiệm vị Tăng này. Vị Tăng này khéo
xô đẩy liền hỏi: Hòa thượng thì sao ? Liền được Cảnh
Thanh vào bùn vào nước, nói với ông “toàn chẳng quên mình”.
Vị Tăng kia quên mình theo vật là phải, Cảnh Thanh vì sao
cũng quên mình ? Phải biết nghiệm trong câu kia liền có chỗ
xuất thân. Vị Tăng này quá lầm lẫn cốt cắt đứt lời
này, hỏi: Chỉ cái chẳng quên mình ý chỉ thế nào ? Nếu
là tông môn Đức Sơn, Lâm Tế thì gậy hét đã hiện. Cảnh
Thanh thông qua một bước, tùy kia tạo sắn bìm, nói với kia
“xuất thân còn là dễ, thoát thể nói rất khó”. Tuy nhiên
thế ấy, người xưa nói tương tục cũng rất khó. Cảnh Thanh
chỉ một câu làm vị Tăng này sáng việc lớn dưới gót chân.
Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Hư đường vũ trích thanh
Tác giả nan thù đối
Nhược vị tằng nhập lưu
Y tiền hoàn bất hội
Hội bất hội
Nam sơn Bắc sơn chuyển bàng bái.
DỊCH:
Nhà trống tiếng mưa rơi
Tác giả khôn đối đáp
Nếu bảo từng nhập lưu
Như trước lại chẳng hội
Hội chẳng hội
Núi Nam núi Bắc mưa xối xả.
GIẢI
TỤNG: “Nhà trống tiếng mưa rơi, tác giả khôn đối đáp”,
nếu nói tiếng mưa rơi thì quên mình theo vật, chẳng nói
tiếng mưa rơi lại làm sao chuyển vật ? Đến trong ấy, dù
là tác giả cũng khó đối đáp. Vì thế, cổ nhân nói: “Thấy
cùng thầy bằng, kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy,
mới kham truyền thọ.” Nam viện nói: “Dưới gậy vô sanh
nhẫn, lâm cơ chẳng nhượng thầy.” “Nếu bảo từng nhập
lưu, như trước lại chẳng hội”, trong kinh nói: “Ban đầu
trong cái nghe nhập lưu vong sở, sở nhập đã lặng, hai tướng
động tịnh rõ ràng chẳng sanh…” Nếu nói là tiếng mưa
rơi thì chẳng phải. Nếu nói chẳng phải tiếng mưa rơi cũng
chẳng phải. Phần trước bài tụng hai hét cùng ba hét. Tác
giả biết cơ biến chính là loại tụng này. Nếu nói là vào
thanh sắc cũng chẳng phải. Nếu gọi là thanh sắc, như trước
chẳng hiểu ý kia. Ví như lấy tay chỉ mặt trăng, mặt trăng
chẳng phải là ngón tay. Hội cùng chẳng hội, núi Bắc núi
Nam mưa xối xả vậy.
?
TẮC
47: VÂN MÔN SÁU CHẲNG THÂU
LỜI
DẪN: Trời nói gì đâu bốn mùa đi vậy, đất nói gì đâu
vạn vật sanh vậy. Nhằm chỗ bốn mùa đi khả dĩ thấy thể,
ở chỗ vạn vật sanh khả dĩ thấy dụng. Hãy nói nhằm chỗ
nào thấy được Thiền tăng ? Lìa sạch ngôn ngữ động dụng,
đi đứng ngồi nằm, dẹp hết môi mép cuống họng, lại biện
được chăng ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là Pháp thân ? Vân Môn đáp:
Sáu chẳng thâu.
GIẢI
THÍCH: Vân Môn nói sáu chẳng thâu hẳn là khó nắm. Nếu nhằm
khi điềm ứng chưa phân nắm được, đã là đầu thứ hai.
Nếu nhằm khi điềm ứng đã sanh tiến được, lại rơi vào
đầu thứ ba. Nếu nhằm trên ngôn cú biện minh, rốt cuộc
tìm chẳng được. Cứu kính cái gì là Pháp thân ? Nếu là
hàng tác gia vừa nghe cử lên liền đứng dậy đi ra. Nếu
chờ suy đợi cơ, hãy lắng nghe xử phân. Thượng tọa Phù
ở Thái Nguyên trước là Giảng sư, một hôm lên tòa giảng
về Pháp thân, nói “dọc cùng tam tế, ngang khắp mười phương”.
Có một Thiền khách ở dưới tòa nghe liền bật cười. Phù
xuống tòa, hỏi: Vừa rồi tôi có chỗ nào dở, mong Thiền
giả vì chỉ cho. Thiền khách nói: Tọa chủ chỉ giảng được
bên lượng của Pháp thân, mà chẳng thấy Pháp thân. Phù hỏi:
Cứu kính thế nào mới phải ? Thiền khách bảo: Hãy tạm
bãi giảng, ngồi trong thất vắng, ắt được tự thấy. Phù
làm như lời Thiền khách. Một đêm ngồi yên lặng bỗng nghe
đánh chuông canh năm, hốt nhiên đại ngộ, liền chạy gõ
cửa Thiền khách nói: Tôi ngộ rồi. Thiền khách hỏi: Ông
thử nói xem ? Phù nói: “Kể từ ngày nay tôi chẳng nắm cái
lỗ mũi của cha mẹ sanh ra.” Trong kinh nói: “Chân Pháp thân
Phật ví như hư không, ứng vật hiện hình như trăng trong
nước.” Lại Tăng hỏi Giáp Sơn: Thế nào là Pháp thân ?
Giáp Sơn đáp: Pháp thân không tướng. Hỏi: Thế nào là Pháp
nhãn ? Đáp: Pháp nhãn không tỳ. Vân Môn nói: Sáu chẳng thâu.
Công án này có người nói: Chỉ là sáu căn sáu trần sáu
thức, sáu cái này từ Pháp thân sanh, nên sáu căn thâu nó
không được. Nếu tình giải thế ấy, quả thật chẳng dính
dáng, lại làm đới lụy Vân Môn. Cần thấy liền thấy, không
có chỗ cho ông đục đẽo. Trong kinh nói: “Pháp ấy chẳng
phải chỗ suy nghĩ phân biệt hay hiểu.” Vân Môn đáp câu
hỏi phần nhiều gợi lên tình giải của người. Vì thế,
trong một câu phải đủ ba câu, lại chẳng cô phụ lời hỏi
của ông, hợp thời hợp tiết, một lời một câu, một chấm
một vạch cũng có chỗ xuất thân. Cho nên nói: “Một câu
thấu, ngàn câu muôn câu đồng thời thấu.” Hãy nói là Pháp
thân, là Tổ sư ? Tha ngươi ba mươi gậy. Tuyết Đậu tụng
ra:
TỤNG:
Nhất nhị tam tứ ngũ lục
Bích nhãn Hồ Tăng sổ bất túc
Thiếu Lâm mạn đạo phó Thần Quang
Quyện y hựu thuyết qui Thiên Trúc.
Thiên Trúc mang mang vô xứ tầm
Dạ lai khước đối Nhũ Phong túc.
DỊCH:
Một hai ba bốn năm sáu
Hồ Tăng mắt biếc đếm không đủ
Thiếu Lâm dối nói trao Thần Quang
Cuộn áo lại bảo về Thiên Trúc.
Thiên Trúc mênh mang không chỗ tìm
Đêm về lại đến Nhũ Phong ngủ.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu thực tài ở chỗ không thưa hở, xuất
phát nhãn mục tụng cho người thấy. Vân Môn nói “sáu chẳng
thâu”. Tuyết Đậu vì sao nói “một hai ba bốn năm sáu”,
liền nói “Hồ Tăng mắt biếc đếm không đủ” ? Bởi vì,
“chỉ cho lão Hồ biết, chẳng cho lão Hồ hiểu”. Phải
là trả lại cho con cháu trong nhà kia mới được. Như trên
nói “một lời một câu hợp thời tiết”, nếu thấu được
mới biết nói không ở trong ngôn cú. Nếu chưa được thế,
chẳng khỏi khởi tình giải. Ngũ Tổ lão sư nói: “Phật
Thích-ca Mâu-ni, khách hạ tiện làm con, cây bá ở trước sân,
một hai ba bốn năm.” Nếu nhằm dưới ngôn cú Vân Môn thấy
được cùng tột thì đến cảnh giới này. “Thiếu Lâm dối
nói trao Thần Quang”, Nhị Tổ trước tên Thần Quang.
Nhẫn đến sau này lại nói “về Thiên Trúc”, Tổ Đạt-ma
tịch, nhập tháp dưới núi Hùng Nhĩ. Khi ấy Tống Vân vâng
lệnh đi sứ Tây về, đến ngọn núi phía Tây thấy Tổ Đạt-ma
quảy một chiếc giày trở về Tây thiên… Tống Vân về triều
tâu lại, triều đình cho khai tháp xem, chỉ thấy để lại
một chiếc giày. Tuyết Đậu nói “kỳ thật việc này làm
sao phân phó”? Đã không phân phó “cuộn áo lại bảo về
Thiên Trúc”. Hãy nói vì sao xứ này lại có sáu vị thứ
lớp trao truyền nhau ? Trong đây quả thật kỳ quái, phải
là nắm được mới có thể nhập. Câu “Thiên Trúc mênh mang
không chỗ tìm, đêm về lại đến Nhũ Phong ngủ”, thử nói
hiện nay ở chỗ nào ? Sư liền đánh, nói: Mù !
?
TẮC
48: CHIÊU KHÁNH LẬT NGƯỢC ẤM TRÀ
CÔNG
ÁN: Vương Thái Phó vào chùa Chiêu Khánh nấu trà. Khi ấy Thượng
tọa Lãng cùng Minh Chiêu đang soạn ấm trà. Lãng lật ngược
ấm trà lại. Thái Phó thấy hỏi: Dưới lò trà là cái gì
? Lãng nói: Thần bưng lò. Thái Phó hỏi: Đã là thần bưng
lò vì sao lại lật ngược ấm trà ? Lãng đáp: làm quan ngàn
ngày mất ở một buổi. Thái Phó phủi áo đi ra. Minh Chiêu
nói: Thượng tọa Lãng ăn cơm Chiêu Khánh xong, lại đi ngoài
sông đánh gốc cây cháy. Lãng hỏi: Hòa thượng thì sao ? Minh
Chiêu bảo: Phi nhân được cơ hội thuận tiện. Tuyết Đậu
nói: Khi ấy chỉ đạp nhào lò trà.
GIẢI
THÍCH: Muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thời tiết nhân
duyên. Vương Thái Phó coi Tuyền Châu, tham vấn Chiêu Khánh
đã lâu. Một hôm nhân vào chùa, Thượng tọa Lãng nấu trà,
lật úp ấm trà. Thái Phó cũng là hàng tác gia, vừa thấy
lật úp ấm trà liền hỏi: Thượng tọa ! Dưới lò trà là
gì ? Lãng đáp: Thần bưng lò. Quả là trong lời có vang, song
đầu đuôi trái nhau, mất đi tông chỉ, chạm bén đứt tay,
chẳng những cô phụ chính mình cũng xúc phạm kẻ khác. Cái
này tuy không có việc được mất, song nêu lên, như trước
có thân sơ, có đen trắng. Nếu luận việc này chẳng ở trên
ngôn cú, lại cũng nhằm trên ngôn cú biện chỗ sống. Vì
thế nói kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Cứ theo Thượng
tọa Lãng nói thế ấy như chó điên đuổi bóng. Thái Phó
phủi áo ra đi, dường như không chấp nhận kia. Minh Chiêu
nói: Thượng tọa Lãng ăn cơm Chiêu Khánh xong, lại đi ngoài
sông đánh gốc cây cháy. Gốc cây cháy tức là gốc cây ở
trong đồng hoang bị lửa cháy, gọi là gốc cây cháy. Dùng
câu này để chỉ Thượng tọa Lãng chẳng nhằm chỗ chánh
mà đi, lại nhằm bên ngoài mà chạy. Lãng đẩy lại hỏi:
Hòa thượng thì sao ? Chiêu đáp: Phi nhân được cơ hội thuận
tiện. Minh Chiêu tự nhiên có chỗ xuất thân, cũng chẳng cô
phụ câu hỏi của kia. Cho nên nói chó dữ cắn người chẳng
nhe răng. Hòa thượng Triết ở Qui Sơn nói: Vương Thái Phó
giống như cướp ngọc mà được bông tua chiếc mũ. Minh Chiêu
không cam chịu đựng, khó gặp cơ hội tốt. Đại Qui nếu
làm Thượng tọa Lãng thấy Thái Phó phủi áo ra đi, liền
buông ấm trà xuống cười ha hả ! Tại sao ? - Thấy đó chẳng
chụp ngàn năm khó gặp. Như Bảo Thọ hỏi Hồ Đinh Giao: Đã
lâu nghe danh Hồ Đinh Giao, có phải đây chăng ? Giao thưa: Phải.
Thọ hỏi: Lại đóng được hư không chăng ? Giao thưa: Mời
Thầy đập phá. Thọ liền đánh. Giao chẳng nhận. Thọ bảo:
Ngày khác sẽ có ông thầy lanh mồm vì ông điểm phá. Giao
sau gặp Triệu Châu thuật lại câu nói trước. Châu hỏi:
Ông vì sao bị Bảo Thọ đánh ? Giao thưa: Chẳng biết lỗi
tại chỗ nào ? Châu bảo: Chỉ một đường tơ này còn không
thể được, lại bảo đập phá hư không. Giao liền thôi.
Châu nói thế: Hãy đóng một đường tơ này. Giao khi đó có
tỉnh. Thầy Mễ Thất ở Kinh Triệu đi hành cước về, có
vị Lão túc hỏi: Sợi dây kéo nước đứt bỏ ngoài đường,
ban đêm người ta cho là rắn, chưa biết thầy Thất khi thấy
Phật gọi là gì ? Thầy Thất đáp: Nếu có cái để thấy
tức đồng chúng sanh. Lão túc nói: Cũng là hạt đào ngàn
năm. Quốc sư Trung hỏi Cung Phụng Tử Lân: Nghe nói Cung Phụng
chú giải kinh Tư Ích phải chăng ? Cung Phụng đáp: Phải. Quốc
sư bảo: Phàm chú kinh phải hiểu ý Phật mới được. Phụng
đáp: Nếu chẳng hiểu đâu dám nói chú kinh. Quốc sư sai thị
giả đem một chén nước, bảy hột gạo, một chiếc đũa
để trên cái chén, trao cho Cung Phụng, hỏi: Ấy là nghĩa gì
? Phụng đáp: Chẳng hiểu. Quốc sư bảo: Ý của Lão sư còn
chẳng hiểu, lại nói gì ý Phật ? Vương Thái Phó với Thượng
tọa Lãng nói như thế, người hiểu không phải một. Rốt
sau Tuyết Đậu lại nói: Khi ấy chỉ đạp nhào lò trà. Minh
Chiêu tuy như thế, trọn chẳng bằng Tuyết Đậu. Tuyết Phong
ở trong hội Động Sơn làm trưởng phòng trai, một hôm đãi
gạo. Đông Sơn hỏi: Làm gì ? Phong thưa: Đãi gạo. Động
Sơn hỏi: Đãi gạo bỏ cát, đãi cát bỏ gạo ? Phong thưa:
Gạo cát đồng thời bỏ. Động Sơn hỏi: Đại chúng lấy
gì ăn ? Phong liền úp chậu lại. Động Sơn bảo: Nhân duyên
của ông không phải ở đây. Tuy nhiên thế ấy, đâu giống
Tuyết Đậu nói “khi ấy chỉ đạp nhào lò trà”. Bậc nhất
đẳng là thời tiết gì ? Đến chỗ dụng kia vượt nay suốt
xưa, có chỗ sống linh hoạt.
TỤNG:
Lai vấn nhược thành phong
Ứng cơ phi thiện xảo
Kham bi độc nhãn long
Tằng vị trình nha trảo.
Nha trảo khai
Sanh vân lôi
Nghịch thủy chi ba kinh kỷ hồi.
DỊCH:
Đến hỏi nếu thành phong
Ứng cơ chẳng khéo léo
Đáng buồn một mắt rồng
Chưa từng trình nanh vuốt.
Nanh vuốt bày
Mây sấm dậy
Sóng vỗ ngược dòng bao giờ về.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “đến hỏi nếu thành phong, ứng cơ chẳng
khéo léo”, là nói chỗ hỏi của Thái Phó giống như vận
dụng rìu thành gió. Đây là xuất xứ từ Trang Tử, trong ấy
nói: Người đất Vĩnh lấy đất trét vách, còn trống một
lỗ nhỏ xíu, bèn vò một hòn đất tròn ném vào liền kín,
khi ấy có chút đất nhỏ rơi dính chót mũi ông ta. Bên cạnh
có người thợ mộc bảo: Anh bổ chỗ thiếu rất khéo, tôi
vận dụng chiếc rìu vì anh phủi chút bùn ở chót mũi. Mảnh
bùn dính chót mũi bằng con ruồi đậu, bảo anh thợ mộc đẽo
nó. Anh thợ mộc vận dụng chiếc rìu thành gió đẽo sạch
mảnh bùn mà chẳng chạm đến lỗ mũi, người đất Vĩnh
đứng bình thường không đổi sắc mặt, để nói hai người
đều khéo léo. Thượng tọa Lãng tuy ứng với cơ mà lời
không khéo. Vì thế, Tuyết Đậu nói “đến hỏi nếu thành
phong, ứng cơ không khéo léo, đáng buồn một mắt rồng, chưa
từng trình nanh vuốt”. Minh Chiêu nói rất kỳ đặc, song
chưa có nanh vuốt dồn mây dậy mưa. Tuyết Đậu đứng bên
chẳng nhận, không chịu nổi liền thay kia nói ra. Tuyết Đậu
thầm hợp với ý kia, tự tụng lời đạp nhào lò trà. “Nanh
vuốt bày, mây sấm dậy, sóng vỗ ngược dòng bao giờ về.”
Vân Môn nói: Chẳng mong ông có tài sóng ngược nước, chỉ
có ý thuận dòng cũng được. Vì thế nói: Dưới câu sống
tiến được vĩnh kiếp chẳng quên. Thượng tọa Lãng cùng
Minh Chiêu ngữ cú tợ chết. Nếu cần thấy chỗ sống, chỉ
xem Tuyết Đậu đạp nhào lò trà.
?
TẮC
49: TAM THÁNH CÁ VÀNG PHỦNG LƯỚI
LỜI
DẪN: Bảy xoi tám phủng cướp trống đoạt cờ, trăm vòng
ngàn lớp, xem trước ngó sau, cỡi đầu cọp nắm đuôi cọp,
chưa phải tác gia. Đầu trâu mất đầu ngựa về, cũng chưa
là kỳ đặc. Hãy nói khi người quá lượng đến thì thế
nào, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Tam Thánh hỏi Tuyết Phong: Cá vàng vọt phủng lưới, chưa
biết lấy gì làm thức ăn ? Tuyết Phong đáp: Đợi ông ra
khỏi lưới đến, vì ông nói. Tam Thánh nói: Là thiện tri
thức của một ngàn năm trăm người mà thoại đầu cũng chẳng
biết. Tuyết Phong nói: Lão tăng trụ trì nhiều việc.
GIẢI
THÍCH: Tuyết Phong, Tam Thánh tuy nhiên một ra một vào, một
xô một đẩy, chưa phân thắng bại. Hãy nói hai vị tôn túc
này đủ con mắt gì ? Tam Thánh từ Lâm Tế nhận ấn ký trải
khắp các nơi, đều được các nơi đãi vào hàng cao khách.
Xem Sư đặt câu hỏi bao nhiêu người dò tìm chẳng được.
Vả lại chẳng dính lý tánh Phật pháp. Hỏi con cá vàng vọt
phủng lưới, chưa biết lấy gì làm thức ăn ? Thử nói ý
Sư thế nào ? Cá vàng vọt phủng lưới bình thường đã chẳng
ăn mồi thơm của người, chẳng biết lấy gì làm thức ăn
? Tuyết Phong là tác gia dường như nhàn rỗi, chỉ lấy một
hai phần đáp kia, lại vì kia nói “đợi ông ra khỏi lưới
đến, vì ông nói”. Phần Dương gọi là hỏi “trình giải”,
tông Tào Động gọi là hỏi “mượn việc”. Phải là vượt
quần thoát loại được đại thọ dụng, trên đảnh có con
mắt, mới gọi là cá vàng vọt phủng lưới. Nào ngờ Tuyết
Phong là hàng tác gia chẳng ngại làm giảm uy danh của người,
nên nói đợi ông ra khỏi lưới đến, vì ông nói. Xem hai
vị nắm vững phong cương, vách đứng muôn trượng. Nếu chẳng
phải Tam Thánh một câu này liền đi chẳng được. Nhưng Tam
Thánh cũng là hàng tác gia mới biết nói với kia, là thiện
tri thức của một ngàn năm trăm người mà thoại đầu cũng
chẳng biết. Tuyết Phong lại nói “Lão tăng trụ trì nhiều
việc”. Câu này thật cứng rắn cao ngạo. Hai vị tác gia
gặp nhau, một bắt một thả, gặp mạnh liền yếu, gặp tiện
liền quí. Nếu ông khởi hiểu hơn thua thì chưa mộng thấy
Tuyết Phong. Xem hai vị lúc đầu nguy hiểm cao vót, rốt sau
hai người đều là kẻ chết. Hãy nói có được mất, hơn
thua chăng ? Những vị tác gia khác đối đáp ắt chẳng như
thế. Tam Thánh ở chỗ Lâm Tế làm Viện chủ, Lâm Tế sắp
tịch dạy: Sau khi ta đi, chẳng được diệt chánh pháp nhãn
tạng của ta. Tam Thánh ra thưa: Đâu dám diệt chánh pháp nhãn
tạng của Hòa thượng. Lâm Tế hỏi: Về sau có người hỏi
ông làm sao ? Tam Thánh liền hét. Lâm Tế nói: Ai biết chánh
pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù này diệt rồi.
Tam Thánh liền lễ bái. Sư là chân tử của Lâm Tế mới dám
đối đáp như thế. Tuyết Đậu rốt sau chỉ tụng cá vàng
vọt phủng lưới, bày chỗ tác gia thấy nhau.
TỤNG:
Thấu võng kim lân
Hưu vấn đới thủy
Diêu càn đảng khôn
Chấn liệp bãi vĩ.
Thiên xích kình phún hồng lãng phi
Nhất thanh lôi chấn thanh tiên khỉ
Thanh tiên khỉ
Thiên thượng nhân gian tri kỷ kỷ.
DỊCH:
Thủng lưới cá vàng
Thôi bảo dính nước
Rung càn động khôn
Mang chấn đuôi quạt.
Ngàn thước cá kình phun sóng to
Một tiếng sấm vang gió mạnh nổi
Gió mạnh nổi
Trên trời nhân gian mấy người biết.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “thủng lưới cá vàng, thôi bảo dính nước”,
Ngũ Tổ tiên sư nói chỉ trong một câu này tụng xong vậy.
Đã là cá vàng vọt thủng lưới há kẹt trong nước, ắt
ở chỗ nước nổi mênh mông sóng dậy ngập trời. Hãy nói
trong mười hai giờ lấy cái gì làm thức ăn ? Các ông hãy
nhằm dưới ba cây đòn tay, trước cái đơn bảy tấc, thử
định đúng xem ? Tuyết Đậu nói việc này tùy phần niêm
lộng, như loại cá vàng khi “mang chấn đuôi quạt” thì
“rung càn động khôn”. Câu “ngàn thước cá kình phun sóng
to” là tụng Tam Thánh nói “là thiện tri thức của một
ngàn năm trăm người mà thoại đầu cũng chẳng biết”, như
cá kình phun sóng to. Câu “một tiếng sấm vang gió mạnh nổi”
là tụng, Tuyết Đậu nói “Lão tăng trụ trì nhiều việc”,
giống như một tiếng sấm gió mạnh nổi dậy. Đại cương
tụng hai vị đều là hàng tác gia. Hai câu “gió mạnh nổi,
trên trời nhân gian mấy người biết”, thử nói hai câu tụng
này rơi tại chỗ nào ? Chữ tiên là gió, khi gió mạnh thì
trên trời nhân gian có mấy người hay biết.
?
TẮC
50: VÂN MÔN TRẦN TRẦN TAM-MUỘI
LỜI
DẪN: Vượt qua giai cấp siêu tuyệt phương tiện, cơ cơ hợp
nhau, cú cú vào nhau. Ví chẳng phải vào cửa đại giải thoát,
được dụng đại giải thoát, lấy gì quyền hành Phật Tổ,
qui giám tông thừa. Hãy nói đương cơ cắt đứt, nghịch thuận
tung hoành, làm sao nói được câu xuất thân, thử mời cử
xem ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là trần trần tam-muội ? Vân
Môn đáp: Cơm trong bát, nước trong thùng.
GIẢI
THÍCH: Lại định đúng được chăng ? Nếu định đúng được
thì lỗ mũi Vân Môn ở trong tay các ông. Nếu định đúng
chẳng được thì lỗ mũi các ông ở trong tay Vân Môn. Vân
Môn có câu chặt đinh cắt sắt, trong một câu đủ ba câu.
Có người hỏi đến liền nói, cơm trong bát, mỗi hạt đều
tròn, nước trong thùng, mỗi giọt đều ướt. Nếu hiểu thế
ấy, chẳng thấy chỗ Vân Môn đoan đích vì người.
TỤNG:
Bát lý phạn dũng lý thủy
Đa khẩu a sư nan hạ chủy
Bắc đẩu Nam tinh vị bất thù
Bạch lãng thao thiên bình địa khỉ.
Nghĩ bất nghĩ
Chỉ bất chỉ
Cá cá vô côn trưởng giả tử.
DỊCH:
Cơm trong bát, nước trong thùng
Ông thầy lanh mồm khó mở miệng
Sao Bắc sao Nam vị khác nào
Sóng bủa ngập trời đất bằng dấy.
Nghĩ chẳng nghĩ
Dừng chẳng dừng
Mỗi mỗi không quần con trưởng giả.
GIẢI
TỤNG: Ở trước, Tuyết Đậu tụng Vân Môn đối một nói
“đối một nói, quá cao tột, quả chùy không lỗ thêm hạ
chốt”. Sau tụng Mã Tổ ly tứ cú tuyệt bách phi nói “Tạng
đầu bạc, Hải đầu đen, Thiền tăng mắt sáng hội chẳng
được”. Nếu nơi công án này thấu được thì thấy tụng
kia. Tuyết Đậu mở đầu nói “cơm trong bát, nước trong
thùng”, trong lời có vang, trong câu trình cơ. Tiếp “ông
thầy lanh mồm khó mở miệng”, theo sau vì ông chú cước.
Nếu ông nhằm trong này cần tìm huyền diệu đạo lý, so sánh
càng khó mở miệng. Tuyết Đậu đến đây cũng được ông
ta thích ngay mở đầu nắm đứng, sợ e trong chúng có người
đủ mắt sáng nhìn thấu, nên đến phần sau lại phóng qua
một nước, rồi cúi xuống vì kẻ sơ cơ vạch bày tụng ra
khiến người thấy. Bắc Đẩu như xưa ở phương Bắc, sao
Nam như xưa ở phương Nam, vì thế nói “sao Bắc sao Nam vị
khác nào”. Câu “sóng bủa ngập trời đất bằng dấy”,
bỗng nhiên đất bằng dậy sóng phải làm sao ? Nếu nhằm
trên sự xem thì dễ, nếu nhằm dưới ý căn tìm thì mò bắt
chẳng được. Cái này giống hệt cây cọc sắt, lung lay chẳng
được, nhổ lên chẳng được. Nếu ông nghĩ nghị muốn hiểu
thì chẳng hiểu, muốn dừng mà không dừng. Loạn trình túi
dốt chính là “mỗi mỗi không quần con trưởng giả”. Thơ
của Hàn Sơn nói: “Lục cực thường thêm khổ, cửu duy luống
tự bàn, có tài vứt cỏ rậm, không thế đóng cửa bồng,
trời lên núi vẫn tối, khói hết hang còn mờ, trong kia con
trưởng giả, mỗi mỗi thảy không quần.”