THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglishMirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
CĂN NHÀ THỰC SỰ CỦA CHÚNG TA 
 Ajahn Chah Subatto
Diệu Liên Lý Thu Linh 
(Lược dịch Our Real Home, Tricycle The Buddhist Review)
Ajahn Chah Subatto (1918-1992) đã tu theo dòng Thiền Theravada.  Thiền sự đã sống một cuộc đời đơn giản  trong rừng Thái Lan hơn 70 năm. 
 
Ngay chính Ðức Phật, với bao công đức tích tụ từ vô lượng kiếp, cũng không tránh khỏi cái chết.  Cuối đời, Ngài đã từ bỏ thân nầy, thoát khỏi gánh nặng xác thân.  Ta cũng nên tự bằng lòng với bao nhiêu năm nương dựa vào thân mình.  Ta cần phải thấy đủ.
 
Ta có thể so sánh thân mình với vật dụng trong nhà mà ta đã xài bao nhiêu năm - ly, chén, muổng, nỉa, vân vân.  Khi mới được sắm về, chúng sạch bóng, nhưng giờ, sau khi đã được xử dụng quá lâu, chúng bắt đầu hư hao.  Có cái sứt mẻ, cái lạc mất, những cái còn lại thì củ kỷ; không giử nguyên hình thể ban đầu, và đó là đặc tính của chúng.  Thân thể của ta cũng thế.  Nó luôn luôn biến đổi kể từ lúc ta vừa chào đời, rồi lớn lên, trưởng thành, và già đi.  Ta phải chấp nhận điều đó.  Ðức Phật bảo mọi duyên hợp, dù là duyên hợp bên trong, ở thân hay bên ngoài, tất cả đều không phải Ngã - đặc tính của chúng là vô thường, luôn biến đổi.  Hãy quán chiếu tư duy nầy cho đến khi ta thật rỏ ràng.
 
Các bộ phận trong cơ thể ta đang bị hủy diệt hoại, đó là saccadhamma, sự thật.  Sự thật về thân thể là saccadhamma, và đó là giáo lý bất biến của Ðức Phật.  Ðức Phật dạy ta phải chăm sóc thân thể, để sống hòa hợp với nó, trong bất cứ hoàn cảnh nào.  Ðức Phật dạy rằng dù thân ta có bị giam cầm, nhưng đừng để tâm hồn ta cũng bị trói buộc theo nó.   Giờ đây khi cơ thể của ta bắt đầu suy yếu, hoại diệt với tuổi tác, hãy chấp nhận điều đó, nhưng chớ để tâm ta cũng bị hủy hoại, suy yếu theo.  Hãy tách biệt thân và tâm.  Hãy tăng thêm sức mạnh cho tâm bằng cách nhận ra tính cách vô thường của mọi vật.  Ðức Thế Tôn đã dạy đó là bản chất của thân.  Không thể làm gì khác hơn.  Sinh ra, lớn lên, gìa, bịnh rồi chết.  Ðó là sự thật tuyệt đối mà ta phải chấp nhận.  Hãy quán chiếu thân nầy với trí tuệ và nhận chân sự thật.
 
Ta không nên lo âu, vì đây không phải là căn nhà của ta thực sự.  Ðây chỉ là một chổ tạm trú.  Tất cả mọi thứ trong căn nhà nầy sẽ biến mất.  Nếu ta nhận biết điều đó, tâm ta sẽ được an lạc. 
 
Ta đã sống một thời gian dài.  Mắt đã được nhìn bao nhiêu cảnh vật, màu sắc, tai đã nghe được bao âm thanh, và ta đã có bao nhiêu là kinh nghiệm sống.  Vâng, tất cả tóm lại cũng chỉ là thế -chỉ là kinh nghiệm.  Ta đã thưởng thức bao miếng ngon, và miếng ngon cũng chỉ là miếng ngon, không có gì hơn.  Miếng dở, cũng chỉ là miếng dở.  Tất cả chỉ có thế.  Nếu mắt đã được nhìn bao cảnh đẹp, thì cảnh đẹp cũng chỉ là cảnh đẹp, cũng như ngược lại.  Tai đã nghe bao điệu nhạc du dương, thì cũng chỉ thế.  Mà tiếng động chói tai thì cũng chỉ có thế.
 
Ðức Phật nói rằng giàu, nghèo, gìa trẻ, con người hay động vật, không có gì trên thế gian nầy có thể giử nguyên hình thể của mình trong một thời gian  dài;  mọi vật đều thay đổi và biến hoại.  Ðó là một khía cạnh cuộc đời mà chúng ta không thể làm gì thay đổi được.  Tuy nhiên Ðức Phật nói điều chúng ta có thể làm là quán chiếu thân và tâm để nhìn ra tính vô ngã của chúng, để thấy rằng không phải thân cũng chẳng phải tâm là ‘cái tôi’ hay ‘cái của tôi’.  Chúng chỉ là phương tiện thực tế.  Giống như ngôi nhà nầy: trên danh xưng là của ta, nhưng ta không thể mang nó đi theo đâu cả. 
 
Cũng thế đối với của cải, sở hữu, người thân của ta -tất cả là của ta cũng chỉ trên danh xưng, chúng không thực sự thuộc về ta, chúng thuộc về thiên nhiên.  Sự thật đó không chỉ dành riêng cho ta, mà cho tất cả mọi người, ngay cả Ðấng Giác Ngộ và các đệ tử của Ngài cũng thế.  Họ chỉ khác chúng ta ở chổ biết chấp nhận sự vật như chúng là như thế.  Họ nhận biết rằng không thể có cách nào khác hơn.
 
Ðức Phật dạy ta  phải quán sát lại thân nầy từ gót chân lên tới tận đỉnh đầu, rồi trở lại gót chân.  Hãy quán sát thân.  Ta thấy được những gì?  Có gì thật sự sạch sẻ trong đó không?  Có gì lâu bền không?  Cả thân ta đang thoái hoá dần và Ðức Phật dạy ta phải nhận biết nó không thuộc về ta.  Thân phải hoại, đó là điều tự nhiên vì tất cả các thứ do duyên hợp đều phải thay đổi.  Ðâu có thể khác hơn.  Thật ra không có gì sai khi thân biến đổi như thế.  Thật ra không phải thân tạo ra phiền não cho ta, mà chính là vì những sự suy nghỉ sai lầm, u mê của ta làm ta phiền não.  Khi ta nhìn cái đúng ra sai, thì chắc chắn phải có sự đảo lộn.
 
Sự chú tâm của ta càng kiên định để có thể đối đầu với những cảm giác đau đớn dấy khởi, ta càng thấy mệt nhoài.  Khi bắt đầu cảm thấy mỏi mệt, hãy dừng mọi suy nghỉ, để tâm có thể định tĩnh, và chuyển sự chú tâm vào hơi thở.  Hãy thầm niệm: Nam-mô, Nam-mô.  Hãy buông bỏ ngoại cảnh.  Ðừng nghỉ tưởng đển con cái, người thân ta, đừng nghỉ về gì hết.  Hãy buông bỏ.  Hãy điều tâm về một chổ, và để tâm định tĩnh trú ngụ vào hơi thở.  Hãy để hơi thở là đối tượng duy nhất của tri thức.  Hãy tập trung cho đến khi tâm dần trở nên tĩnh lặng, cho đến khi mọi cảm thọ đều không còn là trở ngại, và nội tâm trở nên sáng suốt, đầy tỉnh thức.  Khi đó các cảm giác đau đớn khó chịu có dấy khởi thì tự chúng cũng tan lắng. 
 
Sự thật là ta không thể tìm ra tự Ngã ở đâu.  Chỉ có các cảm thọ dấy khởi, rồi qua đi, rồi dấy khởi, theo bản chất của chúng.  Ðó là bản chất của mọi vật, nhưng ta cứ bắt chúng phải thường hằng.  Thật là khờ dại.
 
Vì thế hãy buông xả, hãy buông bỏ mọi thứ -trừ trí tuệ.  Trong khi thiền định, nếu trong tâm ta dấy lên những cái thấy, những cái nghe, thì đừng để chúng dẩn dắt ta theo chúng.  Hãy buông bỏû chúng.  Ðừng bám víu vào gì cả.  Chỉ trú trong sự tĩnh thức trong tinh thần bất nhị nguyên.  Ðừng lo lắng về quá khứ hay cho tương lai.  Hãy ngồi yên và ta sẽ đến được nơi không có sự tiến tới, hay thoái lui, không có sự ngưng nghỉ, không có gì để bám víu, nắm bắt.  Tại sao?  Bởi vì không còn có cái Ngã, không có ‘cái tôi’ hay ‘cái của tôi’ nữa.  Tất cả đều đã lặng.
 
Ðức Phật dạy chúng ta phải buông xả hết mọi thứ bằng cách đó, không mang theo thứ gì với chúng ta.  Ðể được ngộ, hãy buông xả.
 
Hành Pháp, là con đường đưa ta thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, là việc ta phải tự mình thực hiện.  Vì thế hãy cố gắng buông bỏ và học hỏi Pháp.  Hãy dốc mọi tâm lực vào việc tu tập thiền định.  Ðừng lo âu về người thân của ta.  Hiện tại họ là họ, trong tương lai họ sẽ giống như ta thôi.  Không  có ai trên thế giới nầy thoát ra khỏi số phận đó.  Ðức Phật dạy chúng ta buông bỏ mọi vật có tính cách vô thường.  Nếu buông bỏ được chúng, ta sẽ thấy được sự thật.  Nếu không, ta sẽ mãi bị u minh che mờ.  Chỉ có như thế và đối với ai cũng thế.  Vì thế đừng nên lo âu và đừng bám víu gì.
 
Ðó là công việc ta phải tự gánh vác, không có ai có thể làm thay cho ta.  Trách nhiệm duy nhất của ta hiện thời là quán sát tâm và mang lại an bình cho tâm.  Hãy để mọi thứ khác cho người khác lo.  Hình thể, âm thanh, hương thơm, mùi vị - hãy để chúng cho người khác quan tâm.  Hãy bỏ chúng lại đằng sau và lo thực hiện công việc của ta, làm tròn trách vụ của ta.  Bất cứ vọng tưởng nào dấy khởi trong tâm ta -dù là lòng sợ hãi đau đớn, sợ Chết, lo lắng cho người thân hay gì đi nữa - hãy nói với chúng, “Ðừng quấy phá tôi.  Các người không còn là mối quan tâm của tôi nữa”. Hãy tiếp tực tự nhủ như thế khi ta nhận thấy các vọng tưỡng phát sinh.
 
Ước muốn được sống thật lâu sẽ làm ta đau khổ.  Nhưng ước rằng ta được chết ngay hay chết nhanh chóng cũng không phải là đúng.  Các duyên nghiệp không tùy theo ý chúng ta, chúng có luật lệ riêng của chúng.  Ta có thể tô điểm, làm sạch đẹp cho thân trong một khoảng thời gian ngắn, như cô gái trẻ tô son, đánh móng tay, nhưng khi tuổi già đến, mọi người có khác gì nhau.  Ðó là bản chất của thân, ta không thể làm khác được.  Nhưng cái ta có thể làm là phát triển tâm, thanh tịnh hóa tâm.
 
Ngay khi chúng ta vừa được sinh ra, chúng ta đã chết.  Sinh và tử chỉ là một thứ.  Giống như một thân cây: khi có rể, phải có các cành non.  Khi có các cành non, phải có rể.  Ta không thể có thứ nầy, mà không có thứ kia.  Thật buồn cười khi chứng kiến cảnh con người đau khổ tột cùng, sợ hãi, thất thần, buồn thảm khi có người thân Chết và mừng vui, hạnh phúc lúc họ được sinh ra.  Thật ra theo tôi nghỉ, nếu cần khóc, ta nên khóc lúc sinh ra đời.  Vì sinh thực ra là tử, và tử là sinh, rể là cành lá, cành lá là rể.  Nếu cần khóc, hãy khóc từ lúc bắt rể, khóc lúc mới chào đời.  Hãy nhận cho rỏ:  không có sinh, thì không có tử.  Chúng ta có thể hiểu điều đó không?
 
Ta không cần phải lo âu về bất cứ điều gì, vì đây không phải là căn nhà thực thụ của ta, nó chỉ là một chốn tạm dung.  Dầu muốn dầu không , ta đã có mặt ở trong cõi đời, vậy hãy quán chiếu về bản chất của cuộc đời.  Tất cả mọi vật hiện hữu ở giây phút hiện tại, đều sẽ biến mất, hủy diệt.  Hãy quán sát thân ta.  Có bộ phận nào còn giử nguyên hình thể lúc ban đầu?  Da ta có giống như xưa không? Và tóc?  Ðã đổi thay rồi phải không?  Những cái xưa củ, đã biến đi đâu?  Ðó là thiên nhiên, đó là bản chất của sự vật.  Khi duyên hợp tan, chúng biến mất.  Không có gì trên thế giới nầy đáng để ta dựa vào -đó là một vòng luân hồi không dứt của phiền não, khổ đau, sung sướng và đau đớn.  Không bao giờ có sự bình an.
 
Những ai đang nuôi dưỡng cha mẹ già, hãy có lòng thương, đừng than trách.  Ðây là cơ hội để ta báo đáp những gì họ đã làm cho ta.  Từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành, ta đã phải dựa vào cha mẹ.  Sở dỉ chúng ta có ngày hôm nay, là nhờ bao công sức của mẹ cha.  Chúng ta mang ơn họ xiết bao.
 
Trước ta là con cái, giờ cha mẹï trở thành con cái ta.  Họ đã càng ngày, càng già cho đến ngày họ lại trở lại thời trẻ con.  Trí nhớ của họ không còn, mắt kém, tai điếc.  Ðôi khi họ khào khạt những chữ vô nghỉa.  Ðừng để những biến đổi nầy làm ta nản  lòng.  Tất cả chúng ta, những ai từng phải chăm sóc người bịnh, người già, phải biết buông xả. 
 
Hãy để người bịnh nhớ về lòng tử tế của người chăm sóc họ, để họ đủ sức chịu đựng bao cảm giác đớn đau.  Còn nếu ta là người cần sự giúp đở của con cái, thì hãy tận dụng sức mạnh tinh thần của ta, đừng để tâm ta tán loạn và kích động, đừng làm công việc thêm khó cho những người chăm sóc ta.  Hãy để những người làm công tác chăm sóc người bịnh phát triển lòng tử tế, tình thương trong tâm hồn họ.  Ðừng nghỉ đến các khía cạnh đen tối của công việc, như chùi rửa máu mủ, phân, nước tiểu.  Hãy cố gắng hết sức mình.  Tất cả mọi người trong gia đình, hãy góp tay vào.
 
Ðây là cha mẹ của ta.  Họ đã cho ta cuộc đời, đã làm thầy ta, chăm sóc cho ta, là người thầy thuốc của ta; họ đã là tất cả chỉ vì ta. Họ đã nuôi dưỡng ta, dạy dổ, chia sẻ của cải với ta, chọn ta làm người kế thừa sản nghiệp của họ, đó là lòng tốt của cha mẹ.  Bởi thế, Ðức Phật đã dạy ta lòng biết ơn (katannu) và đền ơn (katavedi).  Hai pháp nầy hổ tương nhau.  Vì thế nếu cha mẹ cần ta, cha mẹ đau yếu, khó khăn, ta phải làm hết sức mình để giúp họ.  Ðó là biết ơn và đền ơn, một đức tính giúp thế giới tồn tại đến ngày nay.  Nó giúp cho gia đình tránh khỏi cảnh tan vỡ, nó bện chặt người thân với nhau, và giúp họ sống thuận hòa.
 
Ai cũng có thể xây được căn nhà bằng gạch, và gổ, nhưng Ðức Phật dạy rằng đó không phải là căn nhà thực sự của ta.  Căn nhà thực sự của ta là sự an bình trong lòng ta.

Diệu Liên Lý Thu Linh 
(Lược dịch Our Real Home, Tricycle The Buddhist Review)

THIỀN MINH SÁT TRONG ỨNG DỤNG 
Ian Hetherington
Diệu Liên Lý Thu Linh
(trích dịch từ Realizing Change,  Vipassana Research Publications)
 
Thiền Minh Sát rất được nhiều người Tây phương tu tập.  Trong quyển Realizing Change-Vipassana Meditation in Action (tạm dịch Sự Chuyển Hóa Chứng Thực – Thiền Minh Sát Trong Ứng Dụng) Ian Hetherington đã giới thiệu cho độc giả một vài điển hình của những người đã đến với thiền Minh Sát (Vipassana); những suy tư, quá trình tu tập của họ; thiền minh sát đã thay đổi cuộc đời họ như thế nào, những sự chuyển hoá nào họ đã chứng nghiệm được trong cuộc sống.  Chúng tôi xin trích dịch để giới thiệu với bạn đọc.

**  Jenni Parker, Chicago, USA
 
Năm hai mươi lăm tuổi khi tôi bắt đầu hành thiền, tôi đã trải qua những giai đoạn khó khăn trong cuộc đời: sử dụng các loại ma túy như là cần sa, cocaine, và các loại thuốc gây hoang tưởng khác. Tôi đã bị cảnh sát bắt năm tôi mười sáu tuổi vì tội tàng trữ ma túy, và cha mẹ tôi rất khổ đau khi biết được điều này. Tôi cũng đã trải qua thời gian đi ăn cắp đồ trong các cửa tiệm, hay của người khác; người ta có cảm giác rằng tôi có thể lấy bất cứ thứ gì ở quanh tôi! Tôi bị các cửa tiệm bắt nhiều lần và cha mẹ tôi cũng được thông báo. Cũng đáng ngạc nhiên vì tôi được trưởng thành trong một môi trường rất bền vững về tài chánh và tình cảm.  Tôi lớn lên ở thành thị; cha tôi là một giáo sư thành đạt. Cả hai cha mẹ tôi đều thương yêu nhau và đều chăm lo cho tôi. Tôi có được những cơ hội về học vấn, xã hội, thể  thao mà nhiều người mong muốn –được học trường tư, có nhà ở khu trượt tuyết, nhà nghỉ hè cạnh bờ biển; sau giờ học được tham gia vào các chương trình về thể thao, văn hóa nghệ thuật. Hành động mê muội nhất của tôi là đắm chìm trong những cuộc tình bừa bãi, không mệt mỏi, đến nỗi nó đã thành một thói quen khó bỏ, ngay cả sau khi tôi đã bắt đầu hành thiền.

** David Crutcher tham dự khóa thiền lần đầu tiên vào năm 1982 tại San Francisco’s Boy Club Camp, USA
 
Anh trai tôi đã dự một khóa tu thiền Minh Sát năm trước đó. Tôi là chủ một doanh nghiệp.  Anh ấy thấy cuộc sống của tôi quá nhiều căng thẳng, vì thế anh đã khuyên tôi nên đi dự một khóa tu thiền để được nhiều lợi ích. Tôi đã lên chương trình để đến nghỉ ngơi ở một bãi biển nào đó ở Caribbean.  Đó là điều tôi luôn mơ ước.  Trong suốt hai năm trường, tôi đã làm việc liên tục, gần như chưa có ngày nghỉ nào và rất cần một kỳ nghỉ hè. Vì thế khi anh đề nghị tôi đi học thiền, tôi đã nghĩ trong đầu là sẽ không bao giờ làm việc đó.  Tôi cần một thứ gì đó trong đời như là thư giãn trên bãi biển. Nhưng những gì anh nói vẫn lẩn quẩn trong đầu tôi, rằng nếu đi nghỉ ở một nơi nào đó như là bãi biển, tôi có thể được vài tuần nghỉ ngơi; nhưng đi học thiền, tôi có thể được một điều gì đó ích lợi cho tôi cả đời.  Và tôi biết rằng mình đang ở trong một hoàn cảnh rất căng thẳng, vì thế cuối cùng tôi bỏ ý định đi nghỉ hè mà mua vé máy bay đến trung tâm thiền này.

**  Ray Gross, Phát Thanh Viên Thể Thao ở Pennsylvania, USA
 
Nền tảng tôn giáo và giáo dục mà tôi được hấp thụ luôn nhấn mạnh rằng tôi phải làm chủ cuộc đời mình. Nói một cách khác, về tri thức, tôi biết mình phải sống như thế nào trong cuộc sống, nhưng có một cái gì trong tôi không phải lúc nào cũng nghe theo tôi. Tôi không thể nhớ từ lúc nào, tôi đã bắt đầu đi tìm một điều gì đó để thay đổi con người bên trong. Để tôi có thể hành động theo lương tâm, mà không phải luôn dằn vặt tranh đấu nội tâm để khỏi buông trôi theo sự dễ dãi, sự thõa mản nhất thời. 
 
Đầu năm 1988 trong kỳ nghỉ hè cùng với với vợ tại bãi biển Myrtle, Nam Carolina, tôi rảo quanh các tiệm bán sách cũ và vô tình cầm lên quyển sách “Nghệ thuật sống” (The Art of Living) của William Hart. Vì là sách cũ, giá chỉ $2.95 đô la, nên tôi đã mua, nghĩ rằng tôi sẽ có dịp đọc nó.  Một vài tháng sau khi đã có dịp đọc sách, tôi cảm thấy rằng tôi phải dự một khóa thiền Minh Sát 10 ngày.  Ngay cả trước khi dự khóa thiền, tôi đã biết đây chính là điều mà tôi luôn tìm kiếm. Một trong những điều thật sự gây ấn tượng cho tôi là tham dự khóa thiền không phải trả chút lệ phí nào. Tất cả đều tùy theo lòng hảo tâm của thiền sinh sau khóa thiền.  Với một khóa học như thế thì còn cần đến động lực bên ngoài nào nữa? 
 
Tôi đã dự khóa thiền đầu tiên vào tháng 3, 1989 ở Shelburne Falls, bang Massachusetts và đó là điều quan trọng nhất mà tôi đã làm được trong đời tôi.

**   Dimitri Topitzes, Wisconsin USA, tham dự khóa thiền Minh Sát đầu tiên vào năm 1996.
 
Mang thai con ngoài giá thú trong một ngôi làng nhỏ ở ven một bờ biển ở Hy Lạp vào khoảng năm 1965, mẹ tôi không thể giữ và nuôi tôi trong hoàn cảnh văn hóa của thời đó và ở nơi đó. Vì thế, tôi bị đưa vào một cô nhi viện ở gần đó, sau khi được sanh ra trên một chuyến xe buýt đi ra khỏi làng. Đó là những bắt đầu không được tốt đẹp của đời tôi.  Tuy nhiên lúc 6 tháng tuổi, tôi lại được một gia đình người Mỹ gốc Hy Lạp nhận làm con nuôi và đem về Mỹ, đến một thành phố lớn ở miền trung tây. Gia đình cha mẹ nuôi đã hết lòng chăm sóc, thương yêu tôi để bù đắp cho những bất hạnh của tôi trong những năm đầu đời.
 
Tuy nhiên, những vết thương của việc nhận con nuôi, đối với gia đình cũng như đối với đứa con đã không bao giờ được trao đổi một cách thẳng thắng, để chúng bưng kín rồi dần dần bung mủ ra.  Ngoài ra còn có một số xung đột lạ lùng trong gia đình tựa như xát thêm muối vào vết thương.  Và tôi có cảm giác mình là người phải giải mã tất cả những lo lắng và thương yêu của gia đình song song với những trăn trở, bức xúc trong nội tâm tôi. Thời thơ ấu, tôi đối mặt với sự thử thách này giống như nhiều đứa trẻ khác đã làm, bằng cách lôi mẹ chúng vào trong những câu chuyện đầy triết lý. Cho đến ngày nay tôi vẫn còn nhớ chúng, mà chủ đề xoay quanh sự quan tâm, thắc mắc của tôi về nguồn gốc của cuộc đời, sự chấm dứt của cuộc đời, và những khổ đau của con người.
 
Sau khi đã có được một căn bản giáo dục cao cấp và một bằng cấp thạc sĩ về tâm linh, tôi trở về quê nhà và làm việc trong một nhà sách “thuộc thời đại tiến bộ” (“New Age”) ở địa phương để có thể đọc tất cả những gì đã viết về số phận con người. Giáo dục ở nhà trường không giúp tôi giải tỏa những thắc mắc từ niên thiếu, nên ý định của tôi khi nhận công việc này, ngoài việc có một ít tiền, là để khám phá ra những nghịch lý trong các điều kiện vũ trụ, cũng như  trong chính câu chuyện đời tôi. Tôi đọc các sách về những phương pháp hàn gắn, về xung đột gia đình, về con nuôi, khổ đau, về “nền khoa học mới”, vân vân.   … cuối cùng tôi tìm đến phần sách về Phật giáo.  Và tôi đã đọc được từ một tác giả rằng đặc biệt là để chuyển hóa khổ đau, trước hết người ta phải chuyển hóa cách suy nghĩ và cách sử dụng lời nói. Lúc đó, người ta sẽ đạt đến một cái nhìn nhất nguyên, ở đó cả hai: vẻ đẹp và sự điên rồ của cuộc sống biến mất vào trong một bí mật không thể nói thành lời. Theo tác giả này, chỉ đọc và hiểu không thôi, không thể giải quyết được điều nghịch lý đó; chỉ có hành thiền mới có thể làm được điều đó.
 
Vậy là tôi chọn hành thiền, và từ đó tôi tiếp tục tu tập theo con đường vượt thoát khổ đau ….

  **    Ben Turner, điều dưỡng, đã có thời gian 5 năm làm việc trong Ban Chăm Sóc Sức Khỏe ở một  nhà tù ở Mỹ.
 
Nghĩ lại đó là một may mắn khi tôi được sinh ra với tâm trạng của một đứa trẻ khá trầm cảm.  Những ký ức xa xưa nhất của tôi là về các cảm giác cô đơn, bị những đứa trẻ khác xa lánh, xua đuổi. 
 
Ở trường học, đã có thời gian tôi bị cho là không phát triển bình thường, hay “bại não” như là thuật ngữ được dùng trong những ngày này. Khi lớn lên, tôi càng trở nên không hòa hợp với cuộc sống, có rất ít bạn, phần lớn thời gian chỉ ở một mình, bị học lại lớp 7.
 
Khi tôi bước vào tuổi thiếu niên, trước khi trở thành người lớn, mặc cảm về sự yếu kém, không ra gì của tôi càng tăng lên và ý nghĩ muốn tự tử thường chiếm lĩnh tôi. Tôi tìm sự giúp đỡ qua những buổi tư vấn phân tích tâm lý của các nhà tâm lý, các nhà sinh lý, các nhà tư vấn và các nhân viên xã hội. Họ cũng không giúp tôi được nhiều. Tôi luôn ý thức cảm giác bị dồn nén vào trong một loại hộp đóng kín bởi một lý thuyết này hay lý thuyết kia, thường thì tôi cảm thấy bản ngã của người tư vấn ảnh hưởng nhiều trong quá trình chữa trị đến nỗi tôi cảm thấy tôi bị lạc vào trong hoặc là chính sự ngạo mạn của họ hay sự tự nghi ngờ bản thân của họ.
 
Vào thời điểm đó, những năm bắt đầu tuổi hai mươi, tôi cảm thấy mình đã đi đến tận cùng sự tuyệt vọng. Các nhà chuyên nghiệp về sức khỏe tinh thần không thể làm gì để có thể giúp tôi thấy rằng tôi phải đi đến tận cùng những khổ đau của mình, thì tôi mới có thể tự tìm được câu trả lời của mình. Tôi bắt đầu suy nghĩ về những vấn đề tâm linh và tôn giáo. Suy cho cùng, nếu có hàng tỷ người khắp trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề này, thì hẳn là phải có ích lợi gì, và họ có cùng những kinh nghiệm gì.
 
Tôi bắt đầu đọc từ Kito giáo, Lão Tử, Khổng Tử, đến thiền, Phật giáo Tây Tạng, phong thủy và rất nhiều những tài liệu về “thời đại mới” (New Age). Dần dần tôi thử thực hành một số. Tôi đã hy vọng rằng có thể qua đó tôi sẽ tìm được một giải pháp. Hình như cũng có một số điểm chung về nguyên tắc. Nhưng khi thực hành, tôi không thể tìm ra nó. Dường như tất cả đều ẩn dấu trong những nghi thức, hình tượng, những bê bối tài chánh và cả sự vô đạo đức của học viên hay đôi khi của vị thầy. Tuy nhiên hạt giống hy vọng vẫn còn trong tôi, và tôi dần dần phát triển bốn điều để giúp tôi tiếp tục tìm kiếm:

1. Khóa tu phải hoàn toàn miễn phí. Nếu có một phương cách, một  sự hiểu biết nào có thể đưa đến hạnh phúc và giải thoát, thì bất cứ ai khi đã tìm được điều đó, bất cứ ai đang giảng dạy những điều này, cũng nên chia sẻ với người khác, cũng phải nhận thấy rằng không nên tìm nguốn lợi riêng cho mình, bằng cách không chia sẻ với những người không có khả năng trả lệ phí.

2. Không đòi hỏi phải có một bước ngoặt trong lòng tin, không cần có một vị Thượng đế khuất mặt nào, không có sự tôn sùng mù quáng nào.  Mỗi bước cần phải rõ ràng và chấp nhận được ngay từ lúc ban đầu. 

3. Không được loại trừ một ai, và không có sự kết án đối với những người đi con đường khác.

4. Vị thầy phải thực hành những điều mình giảng dạy và không bị uế nhiễm vì những hành động bất thiện.
 
Những điều kiện này được đặt ra để giúp tôi dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm chân lý của mình, nhưng chúng gần như loại trừ tất cả những gì mà tôi đã tiếp cận được từ trước đến lúc bấy giờ. Nhưng cuối cùng tôi được gặp một người đã tham dự một khóa thiền Minh Sát ở Ấn độ.
 
Sau khi đã dự khóa thiền đầu tiên với ngài Goenka, tôi biết rằng tôi đã tìm được một công cụ thỏa mãn tất cả bốn điều kiện trên. Tôi nhận thấy rằng, không có phép lạ nào, nhưng từ khóa tu này sang khóa tu khác, từ năm này sang năm khác, dần dần căn bịnh trầm cảm cả đời của tôi đã thuyên giảm nhiều. Nói đúng hơn tôi đã trở nên ít phản ứng lại với những đau khổ vốn là bản chất của cuộc đời. Dĩ nhiên, các trạng thái trầm cảm của tôi vẫn còn. Nhưng chúng giống như khi ta nhìn ngắm một đám mây đi ngang qua mặt trời hơn là cảm giác bị chôn vùi dưới đám bùn.

CÓ KHỔ MỚI BIẾT TU 
Upasika Kee Nanayon
Diệu Liên-Lý Thu Linh 
(dịch theo Tough Teachings To Ease The Mind, Tricycle Spring 2005)
 
Upasika Kee Nanayon, sinh năm 1901,  là một trong những vị nữ giảng sư nổi tiếng ở Thái thời hiện đại.   Vị cư sĩ này đã xây một trung tâm tu tập cho nữ tu/cư sĩ trên một ngọn đồi ở tỉnh Rajburi, phía tây Bangkok, nơi bà sống cho đến lúc tịch vào năm 1978.  Các bài giảng của bà đã được Đại đức Thanissaro dịch ra tiếng Anh, trong quyển “Thanh Tịnh Và Giản Đơn”.

 
Những người nằm bịnh thật may mắn vì họ có cơ hội không phải làm gì ngoài việc quán sát cái đau, nỗi bứt rứt.  Tâm họ không vướng bận gì khác, không cần phải đi đâu, làm gì.  Họ có cơ hội để luôn quán sát cái đau –và để luôn buông cái đau đó.
 
Quán sát sự thay đổi, sự bứt rứt và vô ngã tưởng (trong Phật giáo, là ba dấu ấn của sự hiện hữu –anicca, dukkha và anatta -thường được biết như là vô thường, khổ và vô ngã) khi chúng ở kề cận bên bạn, khi bạn đang nằm bịnh ở đây, là rất hữu ích.  Chỉ cần nhớ đừng nghĩ bạn là cái đau.  Chỉ cần nhìn các hiện tượng tự nhiên của các sự kiện sinh tâm lý khi chúng khởi lên rồi qua đi.  Chúng không phải là bạn.  Chúng cũng không thực là của bạn.  Thực sự, bạn đâu có quyền kiểm soát gì đối với chúng.
 
Hãy quán sát chúng!  Thật ra bạn kiểm soát được chúng tới đâu?  Bất kể thân bạn đang có bịnh gì, điều đó không quan trọng.  Quan trọng là cái bịnh trong tâm.  Thông thường ta không để ý đến sự thật là ta có bịnh trong tâm –các căn bịnh của uế nhiễm, tham luyến.  Chúng ta thường chỉ để ý đến những căn bịnh nơi thân, lo sợ tất cả mọi chuyện khủng khiếp có thể xảy đến cho thân.  Các loại thuốc ta dùng để chữa bịnh cho thân chỉ có thể tạm thời trì hoãn bản án tử hình của ta.  Ngay chính những người trong quá khứ không có bịnh hoạn gì cũng không còn với chúng ta nữa.  Cuối cùng thì tất cả mọi người đều phải bỏ thân nầy.  Khi tiếp tục quán tưởng như thế, bạn sẽ thấy sự thật của vô thường, khổ và vô ngã một cách trung thực ngay nơi bản thân, và từng bước, từng bước, bạn sẽ trở nên ngày càng nhàm chán với mọi thứ.
 
Bạn phải quán sát cái đau của mình thật kỹ lưởng để thấy rằng thật ra không phải bạn là cái đau.  Căn bịnh đó không phải của bạn.  Đó là căn bịnh của thân, căn bịnh của một hình thể vật lý.  Hình thể vật lý và sự kiện tâm linh phải thay đổi, bạn cần chú tâm vào chúng khi chúng xuất hiện, quán sát, theo dõi từng bộ phận nhỏ nhặt của chúng.  Một sự hiểu biết tường tận về đặc tính của các hình thể vật lý và diễn biến tâm linh sẽ giải thoát bạn khỏi những khổ đau, căng thẳng.
 
Có những người đang khỏe mạnh, an nhiên, bỗng đột ngột qua đời mà không biết điều gì đã xảy ra cho họ.  Tâm họ hoàn toàn mờ mịt về chuyện gì đang xảy ra.  Điều đó còn tệ hơn người nằm bịnh trên giường có thể dùng cái đau của họ như là một phương tiện để tu tập và phát triển tâm nhàm chán, không bám víu.  Bạn không cần phải sợ hãi cái đau.  Nếu nó đang ở đó, cứ để nó ở đó –nhưng đừng để tâm phải đau đớn theo nó.
 
Vì thế khi đau bịnh, bạn hãy tự coi mình may mắn.  Nằm đó, đối mặt với căn bịnh, bạn có cơ hội để thực tập thiền minh sát trong từng phút giây.  Không quan trọng là bạn đang ở nhà hay nằm viện.  Đừng để tâm bạn phải quan tâm đến việc bạn đang ở đâu.  Bạn không cần gán mình vào một nơi chốn nào.  Chỉ cần nắm lấy cơ hội để quán sát các hiện tượng đến rồi đi.
 
Ta không thể ngăn cản nỗi đau hay niềm vui, ta không thể cấm tâm phán đoán sự việc, hình thành tư duy, nhưng ta có thể sử dụng chúng theo một hướng khác.  Nếu tâm dán nhãn cho cái đau và nói, ‘Tôi đau,’ ta phải xem xét sự gán ép đó kỹ lưởng, quán sát nó cho đến khi bạn nhận ra được cái sai của nó: cái đau đó không thật sự là ta.  Nó chỉ là một cảm giác phát khởi rồi qua đi, chỉ có thế.
 
Quán sát bất cứ những gì phát khởi -một cảm giác, một cảm xúc, một tư tưởng – và rồi hãy để nó qua đi mà không chấp, không bám víu vào đó.  Bắt đầu bằng cách thực tập kiềm chế tâm, chú tâm ghi nhận, quán sát những biểu hiện của sự căng thẳng, đớn đau.  Tiếp tục thực tập cho đến khi tâm có thể duy trì thái độ đó trong trạng thái trống không rõ ràng của tâm.  Nếu bạn có thể thực hành viên mãn điều đó, thì sự giải thoát cuối cùng của cái đau sẽ xảy ra ngay tại đó, ngay tại nơi cái tâm trống rỗng. 
 
Hãy giử chánh niệm về cái đau ngay ở nơi mà trạng thái đó chỉ là một cảm giác trong thân.  Nó có thể là cái đau ở thân, nhưng không cần thiết phải là cái đau của tâm.  Trước hết hãy bảo vệ tâm, hãy buông bỏ mọi thứ, rồi hướng vào bên trong tìm cái phần sâu thẳm, tận cùng nhất của chánh niệm và trú ngay tại đó.  Ta không cần phải liên can đến cái đau ở bên ngoài, ngay nếu như chúng dường như quá sức chịu đựng của ta.  Hãy tìm cho được những khía cạnh sâu thẳm của tâm, lúc đó ta có thể để mọi thứ khác qua một bên.
 
Nếu cái đau là loại bạn có thể quán sát, thì hãy cố gắng quan sát nó.  Tâm sẽ ở trạng thái trung tính bình thường, an tĩnh với tánh không bên trong nó, quán sát cái đau khi nó chuyển đổi, rồi qua đi.  Nếu quá sức đau đớn, thì quay lại, trở vào bên trong, vì nếu bạn không thể kiểm soát cơn đau, thì tham sẽ khởi dậy chen ngay vào, với ý muốn xua đuổi cái đau để tìm sự dễ chịu.  Và nó cứ chồng chất, nối tiếp nhau, khiến tâm ở trong trạng thái hoảng loạn cùng cực.  Nếu cái đau đột ngột, cao độ, lập tức quay trở lại, tập trung sự chú ý vào tâm.  Ta không muốn dây dưa với thân và cái đau.  Tập trung trú vào điểm sâu thẳm của chánh niệm.  Đạt đến chỗ bạn có thể thấy được trạng thái tâm thanh tịnh, không đau đớn theo cái đau ở thân, và duy trì trạng thái tâm luôn sáng suốt.
 
Một khi tâm luôn sáng suốt, thì dầu thân đang đau đớn bao nhiêu, đó cũng chỉ là các hiện tượng tâm sinh lý.  Tuy nhiên tâm không liên can.  Nó để mọi thứ sang một bên.  Nó buông xả.
 
Bạn phải tiếp tục thực tập như thế không ngừng nghỉ.  Khi nào cái đau khởi lên, không kể mức độ đau, đừng gán ép cho nó là gì hay dành cho nó một ý nghĩa nào.  Ngay nếu như có sự dễ chịu phát khởi, cũng đừng bám vào sự dễ chịu đó.  Cứ tiếp tục buông nó đi, thì tâm cũng được nhẹ nhàng –thoát khỏi mọi bám víu hay chấp vào ‘ngã’ trong từng phút giây.  Bạn phải luôn dồn hết sức chánh niệm và năng lực vào sự thực tập nầy.
 
Bạn phải coi như mình may mắn được nằm bịnh ở đây, để quán sát về cái đau, vì bạn có cơ hội để phát triển đến con đường hoàn toàn tỉnh thức, đạt được tri kiến và buông xả tất cả.  Không ai có cơ hội tốt hơn những gì bạn hiện đang có.  Một người nằm bịnh trên giường có cơ hội để phát triển tri kiến với từng hơi thở vào ra.  Điều đó chứng tỏ bạn đã không uổng phí kiếp người của mình, bạn biết thế, vì bạn đang thực hành những lời dạy của Đức Phật cho đến độ bạn có thể đạt được sự hiểu biết rõ ràng về bản chất chân thực của sự vật.
 
Người ta thuờng suy gẫm về sự chóng qua của cuộc đời khi nó liên hệ đến người khác, khi ai đó bị bịnh, hay chết, nhưng họ rất ít khi suy gẫm về sự chóng qua của chính cuộc đời mình.  Hoặc nếu có, thì việc đó cũng chỉ xảy ra trong thoáng chốc, sau đó họ quên ngay tất cả, lại hoàn toàn đánh mất mình trong những vấn đề khác.  Họ không đem những sự thật nầy vào bên trong để suy gẫm về những sự vô thường đang xảy ra với chính họ trong từng phút giây.
 
Thiền quán không phải là một việc mà bạn có thể lấy một hay hai tháng nghỉ để dự một khóa tu chuyên sâu.  Đó không phải là sự thực hành đúng.  Nó không thể so sánh với những gì bạn đang làm hiện giờ, quán sát cái đau cả ngày, mỗi ngày và cả đêm, trừ lúc ngủ.  Khi cái đau thật trầm trọng, nó càng tốt hơn cho sự hành thiền của bạn vì nó cho bạn cơ hội để biết một lần cho tất cả vô thường là gì, căng thẳng, khổ đau là như thế nào, sự bất lực của bạn ra làm sao.
 
Thiền quán không phải là việc bạn đợi đến lúc chết hay sắp chết mới bắt đầu.  Đó là việc bạn chỉ phải tiếp tục thực hành, tiếp tục ‘minh sát’.  Khi căn bịnh thuyên giảm, bạn cũng phải ‘minh sát’ nó.  Khi nó trở nặng, bạn cũng ‘minh sát’ nó.  Bạn cứ tiếp tục phát triển tri kiến như thế, tâm sẽ chế ngự được sự tăm tối, vô minh của nó.  Nói cách khác, những thứ như tham dục, uế nhiễm sẽ không còn dám phiền rộn đến tâm như chúng vẫn thường làm trong quá khứ.
 
Khi tâm trở nên thức tỉnh với mọi thứ, bước kế tiếp là quán sát tâm một cách khéo léo để xem nó trở nên trống rỗng như thế nào, xuyên suốt cho đến khi không còn tư tưởng nào bày trò gì, không có sinh, không có diệt, không có biến đổi gì cả.
 
Vì thế hãy chú tâm vào, quán sát ngay nơi ấy, ngay nơi tâm, ngay nơi thức, và hãy để chỉ có cái biết của việc buông bỏ cái biết (the knowing that lets go of knowing).  Điều nầy có nghĩa là bạn sẽ buông bỏ cho đến chỗ tâm thức không còn đặt tên, dán nhãn hiệu cho chính nó.  Sẽ không còn phân biệt tốt, xấu hay bất cứ thứ gì.  Tính nhị nguyên cũng không còn ảnh hưởng gì.  Nhưng vì điều nầy nẳm ở một mức độ sâu hơn, bạn cần phải chắc rằng sự nhận thức của bạn thật sắc bén, tinh xảo.  Phải chắc chắn rằng sự nhận thức bén nhạy nầy được duy trì liên tục.  Bạn sẽ nhận ra rằng bạn không còn bám víu vào các nhãn hiệu, các ý nghĩa; các suy nghĩ về tốt hay xấu đều ngừng lại.
 
Do đó Đức Phật dạy chúng ta nên xem vạn pháp như không, như trống rỗng, đó là cách chúng ta nên nhìn sự vật.  Pháp bảo ở ngay đây, trong thân và tâm của ta, chỉ là ta không nhìn ra được –hay nhìn một cách sai lạc.  Nếu chúng ta nhìn sự vật với con mắt của chánh niệm và trí tuệ, thì còn gì có thể khiến ta khổ đau?  Tại sao lại phải sợ đau, sợ chết?  Nếu ta có thể hiểu rằng chính sự bám víu khiến ta khổ đau, thì tất cả việc ta cần làm là buông bỏ, và ta sẽ thấy được sự giải thoát khỏi khổ đau sẽ xảy ra như thế nào ngay trước mắt ta. 

Diệu Liên-Lý Thu Linh 
(dịch theo Tough Teachings To Ease The Mind, Tricycle Spring 2005) 

BẢO VỆ GIA ĐÌNH KHỎI BỊ ĐỔ VỠ 
Pháp thoại của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh  ở Làng Mai, Pháp, vào ngày 2 Tháng 8, 1998
Diệu Liên-Lý Thu Linh dịch 
 
Có một con sư tử mẹ đang đi kiếm ăn.  Nó sắp làm mẹ.  Buổi sáng đó nó chạy đuổi theo một chú nai.  Chú nai con chạy thật nhanh dầu sức yếu.  Sư tử mẹ dầu mạnh, nhưng đang mang thai, nên khá chậm chạp.

Sư tử mẹ chạy sau chú nai con rất lâu, khoảng 15 phút, mà vẫn chưa bắt kịp.  Sau đó chúng tới một rãnh sâu.  Chú nai lẹ làng nhảy qua rãnh, sang bờ bên kia.  Sư tử mẹ rất bực tức vì không bắt kịp con mồi, và vì nó đang cần thức ăn cho cả nó và đứa con trong bụng.  Vì thế, nó cố hềt sức để nhảy qua cái rãnh sâu. Nhưng tai họa đã xảy ra, sư tử mẹ đã sẩy đứa con khi cố nhảy qua rãnh.  Dầu qua được bờ bên kia, nhưng sư tử mẹ biết rằng mình đã đánh mất đứa con mà nó đã chờ đợi từ bao lâu, đã yêu thương hết lòng, chỉ vì một phút vô tâm của mình.  Nó đã quên rằng nó đang mang một bào thai trong người, và nó cần phải hết sức cẩn trọng.  Chỉ một phút lơ đễnh, nó đã không giữ được đứa con của mình.

Qua được bờ bên kia, nhưng sư tử mẹ không còn màng đến điều gì nữa.  Nó không còn muốn chạy đuổi theo con nai nữa.  Không muốn cả ăn hay uống.  Sư tử mẹ nghĩ rằng mình không đáng sống nữa.  Sư tử mẹ chỉ còn biết đứng bên rãnh sâu mà khóc.  Đó là một trong những câu chuyện đã được Đức Phật kể trong kinh.
 
Trở về hang, sư tử mẹ rất buốn.  Cả tuần nó chẳng muốn ăn uống gì, vì trong lòng quá đau buồn.  Đứa con là lý do để nó sống, thì làm sao nó có thể hạnh phúc khi đã mất con?
 
Nhưng với thời gian, sư tử mẹ cũng nguôi ngoa.  Nó lại bắt đầu đi săn, cho chính mình vì nó cũng đói.  Giờ nó có thể chạy nhanh hơn vì không còn phải mang bào thai trong bụng, nên việc bắt mồi cũng đơn giản đối với nó.  Cho đến  một ngày kia, khi đang đi trong rừng, nó bắt gặp một chú sư tử con đang leo cây, với một bầy khỉ.  Chú sư tử nhỏ leo cây cũng giỏi như bầy khỉ.

Sư tử mẹ suy nghĩ, “Đây đúng là đứa con mà mình nghĩ nó đã chết.  Nhưng nhìn kià!  Nó vẫn còn sống”.  Và đó là sự thật.  Khi sư tử mẹ sinh rớt con xuống rãnh sâu, có một con khỉ to ở trên cây đã nhìn thấy hết.  Nó nhảy xuống rãnh và đem chú sư tử con về nuôi.  Nhờ sữa khỉ mà sư tử con lớn lên.  Nó cũng học trèo cây,  học ăn trái cây.  Thay vì rống như sư tử, nó học kêu chkk-chkk-chkk-chkk như khỉ, và nó đã sống, chơi đùa với bầy khỉ rất hạnh phúc.  Khỉ mẹ cũng yêu chú sư tử con giống như khỉ con của mình.  Khỉ con và sư tử con chơi với nhau nhu anh em, không có sự phân biệt gì giữa chúng.  Sư tử con cũng không nghĩ mình là sư tử, chứ không phải là khỉ.

Ngày đó, sư tử mẹ nhìn thấy con trên cây với bầy khỉ, nó suy nghĩ, “Con ta vẫn còn sống, nhưng giờ nó đã quen sống như một con khỉ”.  Vì thế, sư tử mẹ không nói gì.  Nó hoạch định cách để đem chú sư tử con trở lại nhà.

Vì thế, sư tử mẹ chờ một ngày khi bầy khỉ không có ở nhà, nó đã đến bên chú sư tử con và nói, “Con không biết mình là sư tử sao?  Không biết ta là mẹ con sao?”  Sư tử con trã lời, “Bà không phải là mẹ tôi.  Mẹ tôi không giống bà.  Mẹ cho tôi sữa, mẹ ôm tôi trong vòng tay, bồng tôi lên cây.  Vậy sao bà dám bảo là mẹ tôi.  Tôi rất ghét bà!”

Sư tử mẹ biết rằng mình đã phạm sai lầm –nó đã nói không khéo léo.  Đáng lý nó không được nói thẳng như vậy, nó phải nói khéo hơn.  Vì thế, nó quay đi, và suy nghĩ: “Ta phải tìm cách làm quen với con ta, để đem nó về nhà, để hai mẹ con có thể sống trong tình thương yêu?”

Sư tử mẹ chờ đợi thêm 15 ngày nữa, rồi khi thấy sư tử con đang chơi một mình, sư tử mẹ đến bên, nói bằng giọng rất lễ phép, “Con ơi, hôm nay con vui vẻ không?  Ta rất vui được gặp lại con.  Ta xin lỗi rằng hôm nọ đã nhầm tưởng con là con ta, nhưng ta đã sai.  Con là một chú khỉ con rất dễ thương, ta muốn được kết bạn, muốn chơi đùa với con”,

Sư tử con nghe vậy, nó rất vừa lòng, nên nói, “Được, tôi vui lòng làm bạn với bà.  Nhưng với một điều kiện -đừng bao giờ gọi tôi là sư tử con.  Tôi là khỉ, và bà phải gọi tôi như thế”.

Nhờ lời nói nhẹ nhàng, khéo léo, sư tử mẹ được làm bạn với sư tử con.  Chúng chơi với nhau một lúc, rồi sư tử mẹ nói: “Thôi được rồi, giờ ta chia tay, ta sẽ trở lại chơi với con lúc khác nhé”.  Sư tử con rất vừa lòng, nó nghĩ: “Bà sư tử này rất lễ phép, không ép ta phải làm điều gì, chơi với bà cũng vui”.

Rồi một ngày kia sư tử mẹ rủ sư tử con đi chơi xa, thật xa, vì chúng đã bắt đầu thân nhau.  Sư tử mẹ đã rất kiên nhẫn, vì nó biết rằng, nếu không kiên nhẫn, sẽ không có cách gì để mang sư tử con trở về nhà, trong gia đình, để gặp lại sư tử cha, và cộng đồng sư tử. 
 
Rồi chúng đến bên một dòng nước.  Sư tử mẹ nói, “Này con, hãy đến uống nước đi, ta rất khát”.  Khi cùng uống nước, bóng của chúng in xuống dòng nước rất rõ ràng.  Bỗng nhiên sư tử mẹ nghĩ ra một điều gì, nó nói: “Thôi đừng uống nữa, hãy soi bóng xuống dưới nước chơi đi”.

Khi sư tử mẹ nhìn xuống dòng nước, nó tự thấy mình.  Nhưng khi sư tử con nhìn xuống, nó thấy một chú sư tử con.  Nó không thấy con khỉ.  Nó chưa bao giờ soi mình dưới nước trước đó.  Nó không biết đó là ai.  Khi nhìn lên nó thấy một con sư tử,  nhưng khi nhìn xuống nước, nó thấy hai, một sư tử mẹ và một sư tử con.  Sư tử con bắt đầu nghi ngờ việc nó là khỉ.  Nó suy nghĩ, “Có thể ta không phải là khỉ”.
 
Khi sư tử mẹ thấy rằng sư tử con đã bắt đầu nhận ra mình là sư tử, nên nó nghĩ rằng con mình đã chuyển đổi.  Vì thế sư tử mẹ rống lên, dồn sức vào hai chân sau để nhảy qua bờ bên kia.  Sư tử con cũng làm giống như thế, nó đã rống lên như một con sư tử.  Đó là lần đầu tiên nó không kêu như khỉ.  Nó nhày sang bờ bên kia như mẹ nó, và giờ thì nó biết rằng nó là một chú sư tử con.  Sau đó sư tử mẹ đi trước, sư tử con theo sau, cả hai đi trở về hang động của sư tử.  

Chúng ta cần nhớ đây là câu chuyện Đức Phật đã kể với các đệ tử của Ngài.

Sư tử mẹ đã biết làm thế nào để thở, và sư tử con cũng biết làm thế nào để thở.  Vì thế từ đó sư tử mẹ bắt đầu dạy cho sư tử con cách cư xử của sư tử: đi như thế nào, đứng như thế nào, nằm, ngồi, nói năng, rống như thế nào cho giống như một con sư tử.  Sư tử con học hỏi rất nhanh, nó có thể làm được tất cả những gì mẹ nó đã dạy trong ba tuần.  Giống nhu 21 ngày trong một khóa tu.  Chúng ta cũng có thể học hỏi tất cả mọi thứ trong 21 ngày đó.

 Sau khi chú sư tử con đã trưởng thành và trở thành một chú sư tử thực sự, nó bèn nói với sư tử mẹ, “Con biết con không phải là khỉ.  Nhưng con vẫn yêu gia đình khỉ.  Con biết rằng nếu không có họ, con đã chết.  Con vẫn thương mẹ khỉ, thương anh chị em khỉ, nên mẹ hãy cho con về thăm họ, thăm mẹ khỉ đã nuôi con lớn”.

 Đức Phật dạy rằng tất cả chúng ta đều có huyết thống tốt đẹp.  Chúng ta có khả năng hưởng hạnh phúc, tự do, vững chải.  Nhưng vì ta sống trong một xã hội không phù hợp với sự phát triển của chúng ta, nên ta quên rằng mình có thể sống hạnh phúc như những người tự do, vững chải.  Chúng ta có thể ngồi bệ vệ như một con sư tử, mà không phải sợ sệt bất cứ điều gì.  Chúng ta có thể đi, đứng, nằm ngồi như một người Giác Ngộ, và trong quá trình đó có thể được rất nhiều hạnh phúc.  Nhưng chúng ta được rèn luyện để sống khác đi.  Vì thế khi ăn điểm tâm, chúng ta không biết phải ăn thế nào.  Chúng ta ăn mà không có tự do, tự tại.  Khi rót sữa vào chén, chúng ta lại nghĩ đến điều gì đó.  Chúng ta để cho nỗi buồn giận, lo âu chiếm cứ tâm hồn. Chúng ta không có khả năng có mặt ngay khi ta rót sữa ra chén như một người tự do.  Khi ăn một miếng bánh mì, hay chấm bánh mì vào sữa, chúng ta không ý thức mình đang làm việc đó, vì chúng ta không biết có mặt trong hiện tại.  Bánh ngon, sữa cũng ngon, nhưng ta ăn như thể chúng chẳng ngon lành gì.

Hãy thử quán sát xem người ta dùng điểm tâm trong thành phố này như thế nào.  Họ ăn vội vã làm sao.  Ăn như kẻ cướp, kẻ cướp dĩ nhiên sẽ không có thì giờ để ngồi xuống ăn, và nhìn người đối diện.  Họ không nhìn thấy ai ở quanh mình.  Họ củng không nhìn thấy món ăn, vì trong đầu họ toàn là những âu lo, buồn rầu, sân hận.  Đôi khi chúng ta cũng sân hận đến nỗi ta cầm tờ báo lên trước mặt lúc dùng điểm tâm, để không phải nhìn thấy người chung quanh.  Chúng ta đã nhìn thấy họ đủ rồi, và không muốn thấy nữa, nên ta che mặt bằng tờ báo.  Điều đó có nghĩa là bữa điểm tâm lại có thêm một nguyên liệu không cần thiết, đó là tờ báo.  Tại sao ta cần đọc báo khi đang ăn điểm tâm?  Chúng ta sẽ không ăn được đàng hoàng, không nhìn người thân rõ ràng trước khi mỗi người chia tay đi mỗi hướng.  Buổi sáng là cơ hội để ngồi lại với nhau và nhìn nhau.  Lý ra ta phải rất hạnh phúc, vì có thể dừng lại và nhìn nhau, nhưng ta không làm thế, để rồi cả ngày chúng ta chạy đi làm việc này, việc kia, giống như đang ở trong mộng.

Tôi nhớ lại có lần ở New York, tôi đang dùng điểm tâm thì có người mang đến cho tôi tờ báo -tờ Thời báo New York Chủ nhật.  Nó nặng đến gần 2 kilo.  Làm sao bạn có thể vừa ăn điểm tâm, vừa đọc được tờ báo nặng 2 kilo?  Tại sao ta cần đến 2 kilo giấy? Người ta cần phải đốn bao nhiêu cây rừng để làm một tờ báo như thế? Nhiều người mua báo mà đâu có đọc, họ chỉ nhìn lướt qua một chút, hay chỉ dùng nó để che mặt khi họ không muốn nhìn người đối diện.  Bạn có biết họ quảng cáo thế nào về tờ Thời báo New York không?  Họ bảo, “Bạn không cần phải đọc tất cả, nhưng biết rằng có nó ở đó là tốt rồi”.  Đó là cách họ quảng cáo, để nếu ta không mua báo, ta cảm thấy thiếu thốn, sợ rằng người ta biết điều gì trong báo mà mình thì không, nên bắt buộc mình phải mua nó.

Cuộc sống của chúng ta ở New York  không phải là cuộc sống cúa một người hạnh phúc, một người tự do, một người vững chải. Vì thế, chúng ta phải thực tập sống như một người vững chải, một người tự do.  

Vì lỗi lầm của người cha hay mẹ, hay ông bà, chúng ta quên cội nguồn, quê hương  nơi chúng ta đến từ đó.  Chúng ta quên tổ tiên của ta là Đức Phật, là các vị Bồ tát, những người có khả năng để sống hạnh phúc, vững chãi, và tự do.  Nên chúng ta chạy lòng vòng, và tự đắm mình trong khổ đau.  Đức Phật và các vị Bồ tát đã thể hiện giống như những con sư tử mẹ, đi tìm đàn con đã lạc lối.  Chư Phật và các vị Bồ tát với tấm lòng đầy kiên nhẫn, và tất cả chúng ta như là những chú sư tử con đã lạc đường về. Chúng ta cần phải khéo léo, thông minh, mới có thể tìm được đường trở về nhà.  Chúng ta cũng có khả năng được hạnh phúc, an lạc, tự do, vậy mà trong cuộc sống, chúng ta khổ đau, chúng ta chìm đắm.  Do gánh nặng của khổ đau, chúng ta làm cho người quanh ta cũng không hạnh phúc.  Giờ, ta phải trở về với cha mẹ ruột của mình, học đi, học đứng, học ngồi, học nằm trở lại, học nói, học lắng nghe trở lại, để có thể làm sống lại cung cách của một con sư tử thật sự.  Dầu đã lạc lối, chúng ta cũng không biết học hỏi kinh nghiệm, hay ta đã quên con đường, quên những tập quán, quên cuộc sống có thể mang đến cho ta yếu tố hạnh phúc mà chúng ta cần được hưởng. 
 
Nếu là người Do Thái, tổ tiển của chúng ta là các vị giáo sĩ Abraham và các vương nữ như Sarah, Rebecca và Ruth.  Tổ tiên chúng ta có những giới luật riêng của họ, và qua những giới luật này, họ có thể duy trì hạnh phúc và vững chải trong xã hội của họ.  Nhưng vì một số lỗi lầm, một số bất cẩn của cha mẹ hay tổ tiên chúng ta, mà chúng ta quên đi cội nguồn, và chúng ta đã lang thang cùng trời cuối đất mà không nhớ đến cội nguồn, vì thế ta phải khổ đau.

Tổ tiên của chúng ta cũng có thể là Jesus Christ, và qua nhiều thế hệ đã tuân theo văn hóa và những lời dạy tinh thần của chúa Jesus Christ.  Họ đã hạnh phúc vì điều này.  Họ đã biết thương yêu là như thế nào, nương tựa vào nhau là nhờ các giáo lý này.  Nhưng vì lỗi lầm của một vài thế hệ, sai lạc của nhà thờ, chúng ta đã bỏ các giáo đoàn.  Chúng ta đã hận thù giáo đoàn của mình, và đi tìm một con đường tâm linh khác.  Chúng ta đi tìm Phật giáo, đi tìm Ấn Độ giáo, và chúng ta nghĩ là hạnh phúc không thể có trong cội rễ Thiên Chúa Giáo. 

Có lẽ vì chúng ta là người Việt Nam, và vì những bất hạnh lớn, vì những lỗi lầm của các vị lãnh đạo, chúng ta phải từ bỏ quê hương, đi tìm một cuộc sống xa lạ đối với chúng ta, phải học đi, đứng, nghĩ suy, và hành động không giống như cách sống của tổ tiên chúng ta.   Và chúng ta đã mang khổ đau, dằn dặt đến cho tâm hồn, cho thân xác chúng ta, khi chúng ta rời bỏ quê hương.  Chúng ta không biết mình có những cội nguồn này.  Chúng ta nghĩ rằng mình thuộc dòng giống khác, và chúng ta nghĩ rằng mình sẽ không trở về lại với cội nguồn.

   Chúng ta là hoa sen với hương sắc diệu kỳ, nhưng chúng ta đã đánh mất hương sắc của hoa sen, chúng ta không nhận ra mùi hương của hoa sen là mùi hương của chúng ta.  Ta đi mua nước hoa để thoa lên người, và cho rằng đó là mùi hoa của chúng ta, và trong quá trình trôi lăn như thế chúng ta đã học được bao điều tiêu cực trong xã hội mà chúng ta mới du nhập đến.  Xã hội đó cũng có những điều tốt đẹp.  Chúng có mặt trong môi trường mới này, nhưng để biết được những điều tốt đẹp này trong xã hội mới, chúng ta cần có người dìu dắt.  Văn hóa Mỹ có nhiều khía cạnh tốt đẹp, tuyệt vời, mà chúng ta có thể học hỏi, hàm ân và sử dụng, giống như chú sư tử con có thể học được những điều mới lạ từ gia đình khỉ kia.  Nhưng vì chúng ta không có người dìu dắt, hướng dẫn, chúng ta để cho những rác rưởi của xã hội phương Tây mà ta đang sống ở đó, trùm phủ chúng ta.  Chúng ta không chọn lựa những châu báu của xã hội phương Tây, mà chúng ta chỉ nhận lấy rác rưởi của xã hội phương Tây để đeo lên người.  Những đớn đau, bất hạnh của việc sử dụng ma túy, của tình dục bừa bải, là những rác rưởi của văn hóa phương Tây.  Khi ta bỏ những thứ đó vào đầu, vào lòng ta, thì thân tâm ta sẽ khổ đau, và ta sẽ khiến cha mẹ ta khổ đau, tổ tiên ta khổ đau. 

Chúng ta không biết rằng có châu báu, có những gía trị trong xã hội phương Tây mà ta có thể học hỏi để làm giàu thêm cho văn hóa của bản thân.  Ta cần biết rằng trong văn hóa của chính mình, trong văn hóa Việt Nam, cũng có châu báo, và chúng ta phải gom góp chúng lại, học hỏi, vì chúng ta đến từ văn hóa đó, đó là nền tảng của chúng ta.  Nhưng vì chúng ta giận hờn cha mẹ, chúng ta không thể nói chuyện, trao đổi với họ.  Do đó cha mẹ chúng ta không thể chuyển giao  cho chúng ta châu báo, những tinh hoa của truyền thống, phong tục cổ truyền.

Nếu cha mẹ không thể nói chuyện với con cái họ, làm sao họ có thể chuyển giao cho chúng những giá trị và đức hạnh đã được trao lại từ truyền thống qua bao thế hệ?  Nhưng giữa thế hệ của những người trẻ và người lớn tuổi có hố phân cách lớn.  Một trong những lý do là thế hệ của người lớn quá bận rộn, họ có quá nhiều công việc, và thế hệ tuổi trẻ cũng bận rộn không kém.  Cả ngày cha mẹ đều bận rộn, cả ngày con cái cũng bận rộn, buổi tối khi họ trở về nhà, tất cả ai cũng đều mệt mỏi, và họ dễ quạu; bực bội phát sinh do họ mệt mỏi.  Không có bên nào biết làm sao để  lắng nghe sâu lắng, làm sao để nói những lời yêu thương, hòa hợp.  Do đó, khoảng cách giữa hai thế hệ càng ngày càng lớn rộng, và thế hệ tuổi trẻ cảm thấy đau khổ, thế hệ người lớn cũng cảm thấy đau đớn không kém.  Cuối cùng thế hệ tuổi trẻ không còn có thể nhìn thế hệ người lớn,  và cha mẹ không thể nhìn con cái họ, vì cả hai bên đều quá đau khổ vì nhau.  Chúng ta chưa thể tiếp nhận cách sống từ văn hóa dân tộc, văn hóa tâm linh, và do đó chúng ta không biết nghệ thuật sống.  Và trong sự quên lãng này, trong sự vụng về, dại khờ này, chúng ta gây ra lỗi lầm, giống như khi con sư tử mẹ phóng sang bên bờ rãnh sâu, trong một phút lãng quên đã làm sẩy con  xuống hố sâu.

Đã có bao nhiêu bà mẹ, ông cha đau khổ vì đánh mất con mình?  Tại sao họ mất con?  Vì họ đã vô tâm, vì họ vụng về.  Điều này không chỉ đúng cho cha mẹ người Việt Nam, mà cũng đúng cho các bậc cha mẹ người Tây phương.  Vì có quá nhiều cha mẹ người Tây phương quá bận rộn, họ không có chánh niệm, họ vụng về, do đó, họ cũng đã đánh mất con cái mình.  Dầu họ không có cùng văn hóa như người Việt Nam chúng ta, họ cũng đã mất con trai, con gái họ, giống như người Việt Nam đến sống ở Tây phương.  Người Việt Nam đau khổ hơn người Tây phương,  không chỉ vì sự cách biệt tuổi tác, mà còn vì cách biệt văn hóa giữa hai thế hệ.  Dầu người Tây phương không có sự cách biệt văn hóa, như đối với người Việt Nam, nhưng họ có sự cách biệt tuổi tác.  Có thể văn hóa của thế hệ này khác với thế hệ kia, và cha mẹ không thể chấp nhận văn hóa của thế hệ tuổi trẻ.  Các kiểu tóc của người trẻ bây giờ rất khác với thế hệ cha ông, và chỉ kiểu tóc thôi cũng đã làm thế hệ cha mẹ phải không bằng lòng với con cái họ.  Những người trẻ Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, âm nhạc mà giới trẻ lắng nghe làm nhức đầu thế hệ cha ông.  Cha mẹ rất ngạc nhiên rằng con cái họ lại có thể nghe được loại âm nhạc đó.  Không chỉ các gia đình Việt Nam sống ở Tây phương có vấn đề về sự khác biệt giữa các thế hệ, mà các gia đình phương Tây cũng có những vấn đề này.

Đó là một bi kịch khi cha mẹ không còn có thể nhìn con cái họ nữa, không còn hạnh phúc khi nhìn nhau nữa, vì thế khi ngồi ăn cùng nhau, họ không hạnh phúc.  Vì không có hạnh phúc, chúng ta đặt tờ bào trước mắt mình, để không phải nhìn thấy các thành viên khác trong gia đình.  Có những gia đình mà không ai muốn nhìn mặt ai, họ chỉ muốn nhìn về hướng khác.  Đó không phải là hướng của những lý tưởng chung, đó là hướng của chiếc truyền hình.  Nhìn vào hướng đó để bớt khổ đau, để quên khổ đau.  Họ đang chạy trốn khỏi thực tại, thực tại của khổ đau.  Nhìn người thân, ta không còn cảm thấy họ thân thiết nữa.  Gương mặt họ luôn khổ đau, và khi những người này nhìn lại chúng ta, họ cũng không thấy gì ngoài khổ đau trên gương mặt ta.  Do đó dường như ta đã có một hiệp ước ngầm rằng cả hai bên đều nhìn vào truyền hình, để không còn khổ đau nữa.  Đó là những gì đang xảy ra trong rất nhiều gia đình, dầu chúng ta làm như nó không đang xảy ra.  Giờ ta phải có can đảm nhìn thẳng vào sự thật và tự hỏi mình, tại sao?  Tại sao ta để cho điều đó xảy ra?
 
Sư tử mẹ đã phạm một lỗi lầm: bà đã để sư tử con rơi rớt, để mất nó.  Chúng ta cũng thế: chúng ta đánh mất con cái mình vì sự dại khờ của chúng ta, và con cái chúng ta cũng không còn cha mẹ, dầu chúng ta vẫn còn ở cõi đời này.  Nhưng cha mẹ không thể yêu thương con cái họ nữa, không thể ôm ấp chúng nữa, không thể ngồi ăn với chúng nữa, và con cái không còn thấy giá trị của cha mẹ nữa.  Đó là một bi kịch lớn, không chỉ cho người tỵ nạn Việt Nam ở phương Tây, mà còn cho cả những người đã có mặt ở đó lâu hơn.  Có những người cha mẹ khi thức giấc, giống như con sư tử mẹ khi thức giấc, nhận ra được sự vụng về của mình, những lầm lỗi mình đã phạm trong quá khứ, và họ tu tập để mang những đứa con trở về.  Chúng ta biết rằng sư tử mẹ rầt kiên nhẫn, đầy tình thương, dầu đôi khi nó phải nói những điều không muốn nói, những điều rất khó nói như: “Này con, ta rất lấy làm tiếc, nhưng con không phải là sư tử con, mà con là khỉ, ta đã không tế nhị”.  Bạn có thể thấy là sư tử mẹ rất đau khổ khi nói lên những lời ấy.  Nhưng vì yêu thương chú sư tử con mà nó phải nói lên những điều này.

Khi chúng ta là người cha hay người mẹ đã đánh mất hay sắp mất con cái, chúng ta cũng phải tỉnh giấc để thấy nguy cơ sắp mất con.  Vì nếu điều đó xảy ra, chúng ta đánh mất tất cả: tương lai, vì con cái là tương lai của chúng ta. Do đó chúng ta phải làm tất cả, bất cứ điều gì có thể để mang chúng trở về.   Bằng tình thương, bằng sự quyết tâm, chúng ta có thể làm được bất cứ điều gì.  Nếu đã đánh mất con cái, mà chúng ta không muốn phải trải qua những giây phút khó khăn khi phải nhận lỗi với chúng, thì con cái chúng ta sẽ không bao giờ quay trở lại. Do đó ta phải học từ sư tử mẹ, chúng ta phải biết làm thế nào để đến bên con cái, nhận lỗi của mình, để dần dần mang chúng trở về với chúng ta.  Lúc đó, mối liên hệ giữa con cái và cha mẹ có thể được nối kết trở lại.  Sau đó chúng ta có thể giao truyền cho con cái những điều tốt đẹp của nền văn hóa từ quê hương, xứ sở, từ nền văn hóa tâm linh, đến từ chư Phật và các vị Bồ tát.

Nếu là người theo đạo Kitô giáo, ta cũng phải làm giống như thế. Nếu ta không thích giáo hội, không ưa cha xứ, đức giám mục; hoặc nếu ta theo Do thái giáo, mà ta không ưa các vị rabbi, không thích giáo đoàn, vì họ đã phạm lỗi lầm, không hiểu chúng ta, đã ép bưộc chúng ta làm những điều mà chúng ta không hiểu lý do tại sao phải làm.  Khi chúng ta dùng quyền lực để ép bưộc người khác phải làm những điều họ không hiểu, họ sẽ không thích chúng ta, không thích Kitô giáo hay Do Thái giáo của chúng ta, họ sẽ rời bỏ chúng ta để đi tìm một con đường tâm linh khác.  Các vị giám mục, các rabbi, các cha xứ, các bậc cha mẹ, phải thấy rõ những lầm lỗi mình đã làm, và phải học từ sư tử mẹ.  Họ cần phải nói với con cái mình:  “Trong truyền thống văn hóa, trong xã hội của chúng ta có những điều không tốt đẹp, có những điều xấu xa, những điều gây hiểu lầm, không có tự do, nhưng đó không phải là tất cả”.

Nếu chúng ta cố gắng, đi trở về với văn hóa, với tâm linh và cách sống văn hóa của chúng ta, ta sẽ khám phá ra nhiều, rất nhiều châu báu quý giá trong truyền thống của chúng ta, dầu đó là văn hóa phương Tây, hay phương Đông, dầu đó là Do Thái, Kitô hay Phật giáo.  Phật giáo có những điều tốt đẹp; Phật giáo cũng có những điều chưa tốt đẹp.  Những điều chưa tốt đẹp có mặt, vì có những người không hiểu Phật giáo, do đó họ đã làm những việc mà họ cho là ‘Phật giáo’, nhưng thực sự không phải là Phật giáo.  Có mê tín dị đoan, có đàn áp, ép buộc người ta làm những việc thực sự ra là mê tín dị đoan.  Có rất nhiều điều tốt đẹp về Phật giáo, và trong Kitô giáo, trong Do Thái giáo, chúng ta cũng có thể tìm được những điều tốt đẹp.  Nhưng những người có trách nhiệm trong các tôn giáo này, vì họ không tìm được an lạc cho chính bản thân, nên họ đã có những hành động ép buộc người khác, đán áp người khác.  Và những người không thể chịu đựng được điều đó, họ sẽ rời bỏ tôn giáo của mình.  Vì thế, sư tử mẹ phải tỉnh giác, phải khéo léo, phải nói:  “Mẹ đã sai lầm.  Hãy tha thứ cho mẹ”.  Chúng ta phải coi con cái như là bạn bè khi thực hiện điều này.  Phải nói với chúng như thể đang nói với bạn bè và phải công nhận rằng mình đã sai lầm.

Tổ tiên của chúng ta cũng có sai lầm.  Họ cũng không khéo léo, không thực sự thấu hiểu thông điệp, không nắm được đức tính thực sự của truyền thống của chúng ta, và họ đã làm những điều ngược lại với tình thương yêu, với sự hiểu biết.  Họ đã lợi dụng tôn giáo để gây ra chiến tranh, để hỗ trợ cho bạo động, cho sự phân biệt chủng tộc.  Đó không phải là châu báu của văn hóa và tôn giáo, đó là rác rưởi đã được tạo ra do sự không khéo léo, vụng về.  Chúng ta cần phải nhìn nhận rằng những thứ này đều có mặt, nhưng chúng không phải là thứ duy nhất.  Cũng có những thứ quý báu, giá trị, những châu báu, rực rỡ, sáng chói, những thứ của hạnh phúc.  Nếu chúng ta cùng nhau trở về, chúng ta có thể tìm được những thứ này, để trao truyền cho các thế hệ mai sau tận hưởng.  Chúng ta cần biết làm thế nào để tha thứ, làm thế nào để trở về với cha ông, vì thế chúng ta sẽ cùng nhau bước trên đường khám phá, để khám phá ra nét đẹp của cội nguồn.  Không biết có bao nhiêu người trên thế giới có thể hành động giống như con sư tử mẹ đã làm?

Sáng nay tôi dùng điểm tâm với một sadi.  Chú Sadi là người Việt Nam, trưởng thành ở Tây phương.  Chú rất thành công trong việc học hành ở xứ người, đã tốt nghiệp kiến trúc sư, và đã kiếm được việc làm.  Chú rất hạnh phúc với công việc của mình, cho đến ngày chú được gặp lại sư tử mẹ của mình, chú thấy rõ con đường của chú là con đường trở về nhà.  Chú tham dự một khóa tu dành cho người Việt Nam ở nam California.  Chú nói và viết tiếng Anh hoàn hảo, nhưng tiếng Việt thì không thông, và chú biết rất ít về văn hóa cũng như Phật giáo Việt Nam.  Nhưng chỉ trong một khóa tu, chú đã có thể trở về với những giá trị của truyền thống tâm linh và văn hóa của mình.
 
Sau đó chú viết cho tôi một lá thư và nói: “Kiến trúc để làm gì?  Kiến trúc lả để tạo ra không gian để người ta có thể sống dễ chịu, trong an lạc.  Con nghĩ trở thành một tu sĩ cũng là thực hành một loại kiến trúc khác, vì chúng ta cũng tạo ra những không gian để người ta có thể sống thoải mái, trong tự do.  Khi trở thành một tăng sĩ, con thực sự đang tiếp nối lý tưởng được trở thành một kiến trúc sư”. Rồi chú hỏi, “Xin cho con được thành tu sĩ, vì con nghĩ là con sẽ có thể giúp được nhiều người, nếu con là tu sĩ”.  Chú đã xuất gia mùa đông năm ngoái, nhưng đã trở về với cội nguồn rất nhanh chóng, chú đã có thể nói sõi tiếng Việt, và chú đã học hỏi rất nhiều điều về văn hóa Việt Nam.  Chú làm được điều đó nhanh chóng vì trong tim chú có rất nhiều yêu thương, có sự ngưỡng mộ rất sâu xa.
 
Tất cả các chú sư tử con, nếu đã lạc đường, nếu có thể làm được như chú Sadi kia, vì sư tử mẹ đã có mặt ở đó với tất cả tấm lòng yêu thương.  Không thể nói bà không có mặt ở đó.  Bà đã mở rộng tấm lòng để hướng dẫn cho sư tử con khi nó trở về nhà.  Tất cả các chú sư tử con, người đã lạc lối, người đã đánh mất dòng giống, sự truyền thừa.  Chúng ta phải lắng nghe lời kêu gọi của sư tử mẹ, trong máu thịt của ta, và hãy trở về với cội nguồn.  Điều đó không chỉ đúng cho những người Việt Nam sống ở Tây phương mà còn đúng cho cả những người Việt Nam đang sống trong nước, mà cảm thấy như đã đánh mất bản thân.  Người  Việt Nam ở Tây phương cảm thấy lạc lỏng, vì “Đây không phải là nhà, xã hội thực sự của tôi”.  Và xã hội Tây phương cũng đã khiến cho rất nhiều người trẻ không cảm thấy thoải mái ngay chính trong xã hội của mình, họ cảm thấy họ đã lạc lối.  Họ không có phương hướng, không nhận nhìn được tổ tiên, cha mẹ của họ.  Nỗi khổ của người tỵ nạn Việt Nam lang thang không gốc rễ, với nỗi khổ của những người trẻ Tây phương không có cội nguồn, cái nào lớn hơn?

Thế kỷ thứ 16, 17, đã có những người truyền giáo đạo Kitô vào Việt Nam, nhưng phương pháp của họ không được tốt.  Họ khuyên người Việt Nam, “Đừng có thờ cúng tổ tiên.  Đừng có lễ bái Đức Phật.  Hãy vứt bỏ tất cả.  Hãy dẹp bàn thờ, đừng đốt nhang ở đó nữa.  Chỉ nên tin theo đức chúa Jesus Christ”.  Vì cái nhìn hẹp hòi của họ, họ muốn tách rời chúng ta khỏi cội nguồn của mình.  Do đó họ đã tạo ra nhiều người không có cội nguồn. 

 Khi đến phương Tây, tôi không đến với tư cách của người truyền giáo.  Tôi đển để kêu gọi chấm dứt chiến tranh Việt Nam.  Vì tôi là người tu sĩ, dầu ở đâu, tôi cũng phải tọa thiền, thiền hành và thiền thở.  Những người trẻ ở Tây phương đồng ý với tôi, muốn cùng làm việc với tôi để chấm dứt chiến tranh giữa nước Mỹ và Việt Nam, và họ học làm thế nào để thở, làm thế nào để ăn trong chánh niệm.  Khi họ thực hành những điều này, họ cảm thấy rất nhẹ nhàng và hạnh phúc.

Các bạn tôi cũng khuyến khích tôi mở các khóa tu, để nhiều người có thể học hỏi về chánh niệm.  Tôi không bao giờ nói, “Hãy từ bỏ truyền thống của bạn để theo tôi”.  Một con sư tử chỉ có hạnh phúc, khi được là chính nó.  Nó không muốn trở thành một con khỉ.  Dầu nó có thể học hỏi được nhiều điều mới lạ từ khỉ, nhưng nó sẽ không thực sự hạnh phúc khi bị tách rời khỏi cội nguồn sư tử của nó.  Một người theo Kitô giáo cũng vậy. Dầu bạn có bất mãn với nhà thờ, với cha xú, với cha mẹ, bạn cũng cần phải hiểu đó là cội nguồn của bạn.  Vì thế tôi khuyến khích bạn đến chùa để học tập chánh niệm, rồi bạn sẽ thấy trong chính truyền thống tâm linh của bạn, có châu báu, bạn sẽ trở về với truyền thống, sẽ giúp gầy dựng lại châu báu trong truyền thống của bạn.
 
(. . .) 
Ngũ giới không phải là để ép buộc ta làm điều gì, chúng là cách sống trong chánh niệm.  Chánh niệm là sống với sự tỉnh thức, để biết rằng nếu tôi làm điều này, nó sẽ đem lại tai hại, trái lại, nó sẽ đem lại hạnh phúc.  Năm giới được đặt ra là để giữ cho thân tâm ta được khỏe mạnh, để giữ cho gia đình chúng ta được khỏe mạnh.  Đây là chân lý mà ta phải chấp nhận: rằng nếu ta sống theo năm giới, ta sẽ bảo vệ được những mối liên hệ giữa ta với người, để chúng không bị đổ vỡ. Chỉ có một con đường duy nhất là tu tập theo năm giới.  Khi đến được một trung tâm thực hành như thế này, chúng ta cần phải biết rằng, nếu ta chấp nhận năm giới, và đem chúng về nhà để thực hành, đó là lời cầu nguyện để bảo vệ chúng ta và bảo vệ thân tâm của những người ta yêu thương.  Ta có thể chắc chắn rằng gia đình của chúng ta sẽ không bao giờ bị đổ vỡ, nếu chúng ta thực hành theo Năm giới.

Hôm nay, huynh Sanghakaya sẽ đi gặp Phó Tổng thống Mỹ, nên hỏi tôi, “Con sẽ nói gì với ông Phó Tổng thống?” và tôi  trã lời, “Năm giới”.  Tôi khuyên huynh ấy đặc biệt nói về Giới thứ ba.  Vì nếu Tổng thống Clinton đã thực hành theo năm giới, ông đã không cảm thấy khó trã lời trước sự chất vấn của báo giới, tinh thần ông không phải bất ổn, trong khi ông còn bao nhiêu việc phải làm.  Nhưng vì gia đình, vì quốc gia, ông phải trã lời những câu hỏi hóc búa này.  Ông cần tu tập năm giới không chỉ để bảo vệ bản thân, mà còn để bảo vệ quốc gia.  Cả đất nước ông cần đến Năm giới.  Nếu tất cả mọi người trong xã hội Mỹ, xã hội Pháp, sống theo Năm giới, thì chắc chắn, họ không phải đối mặt với bao khủng hoảng.

Giới thứ ba khuyên rằng, “Hãy tránh xa tình dục không chính đáng.  Nếu hai thể xác muốn hòa hợp nhau, điều đó chỉ có thể xảy ra khi cả hai thệ nguyện lâu dài”.  Nếu không có tình yêu và sự thệ nguyện, nhưng lại có sự giao hợp thân xác, thì hoạt động tình dục đó sẽ mang đến khổ đau cho cả hai phía.  

Chúng ta nghĩ rằng khi ở bên nhau, ta sẽ bớt cô đơn.  Vì bên trong tất cả chúng ta đều cô đơn, chúng ta dại khờ khi nghĩ rằng nếu chúng ta sống với ai đó, ta sẽ không còn cô đơn nữa, nhưng sự thật là trái lại.  Chúng ta đã ở bên nhau biết bao lâu, mà vẫn không thấy bớt cô đơn; thật ra ta cảm thấy dằn vật, bức xúc hơn trước đó, vì cơ thể chúng ta có thể giao hợp, nhưng hoàn toàn không có sự thông cảm, không có sự hòa hợp giữa hai tâm hồn. Do đó sống theo Giới thứ ba là để bảo vệ thân tâm của ta và thân tâm của người khác.
 
Và Giới thứ tư, đó là gì?  Giới thứ tư giúp chúng ta biết làm thế nào để lắng nghe, làm thế nào để sử dụng ái ngữ.  Chúng ta không bao giờ nói lời thô tục, đổ lỗi, buộc tội, và khi ai đó nói, ta phải  lắng nghe mà không nên la hét hay cắt ngang.  Chỉ cần biết lắng nghe là ta cũng đã giúp người khác rất nhiều.  Người kia đã từng đau khổ, mà không có cơ hội để thổ lộ nỗi khổ đau đó.  Không ai muốn ngồi xuống lắng nghe họ, vì thế nỗi khổ của họ không được vơi bớt.  Giờ chúng ta ngồi xuống bên người đó, giống như Bồ tát Avalokiteshvara (Quán Thế Âm), lắng nghe với tất cả lòng bi mẫn, để người đó có thể nói về nỗi đau khổ của mình.  Có thể người kia nói những điều ta không đồng ý, vì họ có cái nhìn thiên lệch, hoặc là họ kết tội chúng ta, những điều họ nói đầy cay độc, nhưng vì lòng bi mẫn, chúng ta có thể vẫn ngồi đó để lắng nghe họ.  Khi họ được nói, họ sẽ vơi bớt khổ đau.  Rồi vài ngày sau, bạn sẽ đến bên người đó để nói:  “Ngày hôm đó, khi nghe bạn nói, tôi biết bạn đang đau khổ, tôi rất hiểu bạn.  Nhưng có một số điều, tôi nghĩ là bạn đã hiểu lầm, hãy để tôi được giải thích, để bạn có thể hiểu tôi hơn”.  Với những lời lẽ dịu dàng như thế, ta giúp người khác thoát khỏi tà kiến của họ, và họ sẽ chuyển đổi.

Giới thứ tư khiến cho hố ngăn cách, những trở ngại giữa ta và người biến mất, để ta và họ có thể đến với nhau, thiết lập lại sự giao hữu.  Do đó, Giới thứ tư là một sự nguyện cầu, và chúng ta cầu nguyện nơi miệng, nơi tâm.  Chúng ta không cần phải niệm Jesus Christ, hay Phật, chúng ta chỉ cần có đôi tai biết lắng nghe, và miệng biết nói lời ái ngữ.  Sau ba, năm hay bảy ngày, hoàn cảnh sẽ đổi thay.  Người khác sẽ thấy là ta trở nên tử tế hơn.  Trước  kia, ta giống như một bức tường, bất cứ ai nói gì ta cũng không nghe được. Nay khi ta nói, lời nói của ta trở nên nhẹ nhàng, dễ chịu.  Đó là Giới thứ tư –đó không phải là điều ta có thể thực hiện được vì ta muốn làm thế, mà đó là điều ta làm được vì ta đã có thực hành, vì tăng đoàn đã hỗ trợ cho chúng ta trong việc thực hành.  Khi ta thực hành sự giữ giới này trong gia đình, là ta đã bảo vệ được gia đình mình: gia đình ta sẽ được toàn vẹn, tránh được đổ vỡ, nó đã được bảo vệ.  Nếu ai cũng có thể thực hành Giới thứ tư này, dù chưa hoàn hảo, chúng ta cũng có thể chắc chắn rằng gia đình họ cũng sẽ không bị đổ vỡ.

Giới thứ năm là về sự tiêu thụ.  Chúng ta phải chánh niệm khi tiêu thụ.  Phải biết loại đồ ăn gì là cho thân, gì là cho tâm, để chúng được thiện hảo và khỏe mạnh.  Khi ăn vào, ta thấy nhẹ nhàng, giải thoát, và thân tâm được thêm dinh dưỡng.  Những cũng có những thứ, khi chúng ta ăn vào, sẽ hủy hoại thân tâm.  Có những quyển sách, tạp chí, chương trình truyền hình đầy độc tố.  Khi xem chúng, ta thấy có quá nhiều hận thù, quá nhiều bạo lực, nhiều sự hiểu lầm, sợ hãi len vào thân tâm ta.  Khi ta tự nhồi nhét mình với những thứ này mỗi ngày, làm sao ta tránh khỏi bị bịnh?  Khi nổi giận, ta chỉ muốn tìm cái búa, con dao hay một khẩu súng để giết hại người khác.  Chúng ta không biết dùng lời ái ngữ.  Không biết lắng nghe, vì đã hấp thụ quá nhiều bạo lực trong các phim ảnh.  Quảng cáo luôn nói với chúng ta rằng, “Hãy mua sản phẩm này để được hạnh phúc”.  Nhưng khi đã mua nó rồi, ta phải nhận bao hậu quả xấu.

Hạnh phúc không đến từ sự tiêu thụ.  Khi đã tháo gỡ hết mọi khổ đau bên trong ta thì hạnh phúc sẽ đến.  Điều này thật diệu ký.  Nhiều người nghĩ rằng hạnh phúc đến từ sự tiêu thụ cái gì đó, từ việc mang cái gì đó từ bên ngoài vào trong ta, nhưng thực sự là hạnh phúc đến từ bên trong ta.  Khi đã có thể tháo gở khổ đau trong ta, lòng sân hận, tuyệt vọng trong tâm ta, thì hạnh phúc sẽ nở ra như đóa hoa sen, hay hoa hồng.  Hạnh phúc của hoa không đến từ bên ngoài, mà từ bên trong đóa hoa, hạnh phúc của chúng ta cũng thế.  Vì ta có những thứ tiêu cực trong thân tâm, chúng ta không thể có hạnh phúc. 

Không phải vì được ăn nhiều mà ta cảm thấy được hạnh phúc, nhất là khi ta ăn những chất độc hại làm cơ thể ta mỗi ngày thêm nặng nề.  Tâm ta cũng thế:  không phải vì ta hấp thụ nhiều phim ảnh, sách báo mà nó cảm thấy hạnh phúc, mà chính vì ta có thể tống khứ những chất độc hại ra khỏi cơ thể.  Đó là điều mà Pháp thoại có thể mang đến cho chúng ta.  Lắng nghe Pháp thoại là để tháo gở những hiểu lầm, si mê, tham đắm, sân hận trong ta.  Ta càng có thể tháo gở được nhiều, thì tâm ta càng cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái, và hạnh phúc là điều có thể.  Hạnh phúc tăng trưởng từ trong ra ngoài.  Hãy nhớ điều đó.  Do đó, Giới thứ năm là về sự tiêu thụ trong chánh niệm.  Mỗi ngày ta ăn những gì, uống gì, hấp thụ những sách báo gì, những mối liên hệ gì thì rất quan trọng, vì khi ta tiêu thụ như thế, ta có thể đem rất nhiều độc tố vào trong thân.

Có những đứa trẻ ngồi trước truyền hình ba tiếng mỗi ngày, và trong ba tiếng đồng hồ đó, chúng đã nhồi nhét vô tâm trí bao điều bạo lực.  Khi ra ngoài xã hội, chúng cũng áp dụng những điều đã xem trên truyền hình.  Khi không thích điều gì, ta muốn dẹp bỏ nó.  Chúng ta có dụng cụ điều khiển từ xa, khi  không thích gì ta có thể bấm bỏ nó.  Khi không thể dẹp bỏ người ta ghét, ta bắn giết họ để nhanh chóng dẹp họ qua một bên.  Nhưng khi làm thế, ta phải vào tù, vì thế ta không thể loại bỏ họ nhanh chóng như ta muốn.  Ta không có kiên nhẫn, không có yêu thương, không có sự hiểu biết, và đó là kết quả của những gì ta đã nhận được trong cuộc sống hàng ngày, qua sự hấp thụ của ta.  Điều đó không phải là thực sự sống, mà đúng hơn là thực sự chết, nó giống như một kiểu tự tử.

Chúng ta cho rằng các tăng ni không thực sự sống vì họ không coi truyền hình, xem sách báo, nhưng họ mới thực sự sống.  Họ không tiêu thụ độc tố, không tự nhồi nhét vô người những độc tố, nhờ đó thân tâm họ nhẹ nhàng, thảnh thơi.

Bất cứ khi nào tôi thấy ai đó quỳ xuống để thọ ngũ giới, tôi cảm thấy hạnh phúc.  Hạnh phúc cho người đó, cho gia đình đó.  Phật tử có thể thọ ngũ giới (năm giới) từ tôi, người theo Kitô giáo có thể thọ nhận Năm giới từ cha xứ hay đức giám mục, vì Năm giới cũng có trong Kitô giáo.  Tôi đã viết về chúng rất rõ ràng.  Người trẻ cũng có thể đọc được.  Đó không phải là những điều cấm đoán, không ép buộc bạn phải làm điều gì đó.  Chỉ là vì chúng tôi đã thấy quá nhiều đau khổ, nên chúng tôi nguyện giữ Năm giới.  Vì đã tỉnh thức, chúng tôi thấy rằng nếu không thực hành Năm giới, gia đình chúng tôi sẽ đổ vỡ, xã hội chúng tôi sẽ đổ vỡ.  Đó là lý do tại sao chúng tôi muốn thực hành điều này.  Và ở các khóa tu, khi tôi thấy ba trăm, bốn, năm trăm người quỳ xuống để thọ ngũ giới, tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc đến nỗi tôi muốn khóc, vì tôi biết ngũ giới sẽ giúp họ tự bảo vệ mình, bảo vệ gia đình họ, bảo vệ xã hội của họ.

Chúng tôi sống ớ nơi người ta chế biến rượu, nhưng khi có bốn hay năm người nguyện không uống giọt rượu nào, tôi cảm thấy rất hạnh phúc.  Rượu đã khiến cho bao gia đình bị đổ vỡ.  Ở Mỹ, ở Pháp, quá nhiều trẻ em lớn lên trong đau khổ, chỉ vì cha mẹ của các em nghiện ngập.  Chúng ra đường tìm đến ma túy để quên khổ, và vì các loại ma túy này, chính quyến đã phải áp dụng những chính sách cứng rắn để chặn đứng đường dây buôn bán ma túy.  Nếu chúng ta giữ được năm giới, nếu tất cả mọi người sống trên đất nước này đều sống theo Năm giới, thì chúng ta không cần đến chính quyền phải sử dụng những phương tiện mạnh mẽ để dẹp bỏ việc sử dụng ma túy.

Thỉnh thoàng vị Bộ trưởng Y tế của Pháp cũng kêu gọi người ta bớt sử dụng rượu, vì đã có biết bao tai nạn trên đường phồ do sử dụng rượu.  Tôi nhớ có một tấm bảng quảng cáo như thế này, “Một ly –thì được; ba ly –là gặp họa”.  Và tôi đã nói, “Làm sao có tới ly thứ ba, nếu không có ly rượu đầu tiên?”  Do đó, tôi nghĩ là không nên có đến một ly rượu nào, vì sau ly thứ nhất, có thể bạn sẽ khát ly thứ hai hay ly thứ ba.  Một khi đã có ly thứ hai, thì bạn đánh mất sự sáng suốt và bình tĩnh. Nên tốt hơn hết là chẳng nên bắt đầu ly thứ nhất.  Nếu những người làm rượu nghe tôi nói chắc là họ sẽ giận dữ lắm.  Tôi biết là họ sẽ thất nghiệp nếu không có ai uống rượu nhưng khi tôi nghe tiếng xe cứu thương chạy nhanh đến chỗ tai nạn. . . vài ngày trước  đây, bốn hay năm người trẻ ở Duras, vì say rượu đã lái xe xuống hồ nước và tất cả đều chết chìm, vì họ đã không giữ được giới thứ năm.

Cha mẹ uống rượu, thì con cái cũng uống rượu –đó là điều tự nhiên.  Chúng ta nên uống bao nhiêu?  Thường cảnh sát sẽ có những dụng cụ để bạn thở vào đó, và họ sẽ biết bạn có lái xe khi đang say rượu không.  Còn bao nhiều thứ đồ uống ngon bổ khác, mà không phải là rượu, như nước trái cây.  Nếu chúng ta giữ năm giới, chúng ta không chỉ giữ gìn cho thân mình, tâm mình: chúng ta cũng bảo vệ con cái và cha mẹ chúng ta.  Nếu khi còn trẻ, chúng ta bị chết đi, thì cha mẹ chúng ta cũng cảm thấy như họ đã chết, nếu cha mẹ chết đi, con cái sẽ cảm thấy như họ cũng chết.  Vì thế khi ta tự bảo vệ bản thân, là ta cũng bảo vệ người khác.  Giữ gìn năm giới không phải là vấn đề của cá nhân, nó là vấn đề của quốc gia.  Nếu cả nước đều thực hành giữ năm giới thì đất nước sẽ phồn thịnh.  Sẽ không còn những gia đình bị đổ vỡ, xã hội bị đổ vỡ.  Do đó, ta biết rằng việc giữ gìn năm giới là phương cách cụ thể nhất để thực hành chánh niệm.  Nếu chúng ta thọ năm giới, và khuyến khích mọi người trong gia đình ta thọ năm giới, thì ngày đó là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời ta, vì gia đình ta sẽ được duy trì, và cuộc sống gia đình đơn giản, tốt đẹp sẽ ảnh hưởng đến những gia đình khác trong xã hội.

 Diệu Liên Lược Dịch
(Vesak 2008)

 
06-23-2008 09:23:46
 
c