LÂM-TỲ-NI
(Nơi
Đản sinh Thái tử Tất-đạt-đa)
“Phật
tại thế thời
Ngã
đẳng trầm luân
Kim
đắc nhơn thân
Phật
dĩ diệt hậu.”
Vì
nguyện lực Người chôn vùi cát bụi
A-tăng-kỳ,
bao kiếp nối đường quanh
Từ
Đâu-suất gót mờ vang bóng nguyệt
Ứng
mộng vàng thác chất một lần sanh.
Vào
một sớm Người về bên núi tuyết
Đem
nguyện lành trải dấu bước nhân gian
Nâng
tay nhẹ Lâm-tỳ-ni hoa nở
Từng
bước chân lay động cõi ba ngàn.
Chim
vui hót nhạc trời vang trổi khúc
Khắp
nhơn thiên mở hội đón tin mừng
Ca-tỳ-la
trở mình trong hoan lạc
Đón
người về trong niệm khúc ca vang.
Và
từ đó Người hoàn thành nguyện lực
Gieo
mầm xanh tuệ giác khắp mọi nhà
Nhổ
khổ đau ban cho đời an lạc
Để
bây giờ còn lại vết đi xa.
Trăng
vẫn hiện bên hồ xưa in dấu
Ghi
lại lần tắm gội bến thiên thu
Cảnh
còn đấy bên thời gian hoang vắng
Người
ra đi vĩnh viễn khói sương mù.
Con
lạc bước trầm luân trong đáy mắt
Về
nơi đây qua ký ức nhạt nhòa
Con
cúi lạy thay vô minh vạn kiếp
Theo
vết chân Người để lại luân hồi.
Đếm
từng bước nắng nhòa qua mái tóc
Trắng
từng giây trong một niệm thiên thu
Trời
đất cũ xin về đây chứng giám
Con
lòng thành xin gởi lại nghìn sau.
Phổ
Đồng
Chiêm
bái Lumbini (Nepal 07/03/20008)
BỒ-ĐỀ ĐẠO
TRÀNG
(Nơi
thành Đạo của Thái tử Tất-đạt-đa)
Lũ
chúng con lạc theo duyên thức
Đường
mịt mờ vất vưởng nối tử sanh
Lấy
vô minh khổ đau làm sư nghiệp
Nên
luân hồi lên xuống bước loanh quanh.
Trôi
lăn mãi theo dòng đời vô tận
Lạc
bến bờ, từ cất bước ban sơ
Cho
đến nay gặp vào thời mạt pháp
Con
về đây, dấu cũ phủi bụi mờ.
Nhớ
chánh pháp thời huy hoàng xưa cũ
Người
ngược dòng lìa bỏ chốn phồn hoa
Chiếc
bóng cô thân rừng hoan tầm đạo
Giải
thoát khổ đau, sống chết, bệnh già.
Từ
tứ Thiền, rồi kinh qua bát Định
Đạt
đến nơi vẫn trói buộc nào ngờ!
Sáu
năm tr6i, tuổi mòn theo lực tận
Da
bọc xương qua thử thách từng giờ.
Nhưng
Đạo đâu vẫn không tìm ra được
Tuệ
giác càng mờ, đau khổ vẫn đeo mang
Chí
chuyển hướng, qua tìm cầu đối chiếu
Giữa
khổ đau và khoái lạc hai đường.
Người
quyết định xa lìa hai thái cực
Tắm
gội xong nhận bát sữa đầu tiên
Từ
tay nàng Tu-xà-đề dâng cúng
Vượt
Ni-liên-thuyền, qua bờ khổ hạnh.
Dưới
cội Bồ-đề bên sông vắng lặng
Ngồi
kiết già Người lập nguyện tương lai
Cho
dù thân, xương tan hay thịt nát
Sẽ
không bao giờ rời khỏi nơi đây!
Chí
đã định, hướng tâm về định tĩnh
Lìa
các duyên ưu hỷ xả niệm Thiền
Thanh
tịnh trong veo nào còn cấu uế
Dọn
sạch tâm cho đạt khởi ba minh .[1]
Canh
đầu tiên hướng tâm về quá khứ
Biết
nhiều đời thành hoại kiếp Người qua
Sống
chết theo nhau nơi này nơi khác
Rõ
tận tường như mới xảy hôm qua .[2]
Vào
giữa đêm, bằng mắt trời thanh tịnh
Thấy
chúng sanh, sinh tử như thế nào
Nghiệp
tạo ra do ba căn lành dữ
Hưởng
quả thế nào tùy thuộc vào nhân ?[3]
Và
cuối cùng, khi sao mai vừa mọc
Người
rõ khổ đau, lậu hoặc không còn
Quả
nhân khổ tập, quả nhân khổ diệt
Và
con đường Người vượt thoát khổ đau .[4]
Người
tuyên dương ba minh tác chứng
Đạt
viên thành đem đạo quả xiển dương
Rồi
theo duyên Người đi xa vĩnh viễn
Để
bây giờ lưu lại dấu dư hương.
Con
về đây với mong cầu tìm lại
Chút
hương xưa Người để lại luân hồi
Qua
xúc cảnh con cầm lòng không được
Lệ
ngưng tròng trên đôi mắt hắt hiu.
Con
đảnh lễ với lòng thành dâng hiến
Gieo
chút duyên vô sự dưới chân Người
Mong
mai sau ở đời luôn gặp Phật
Xin
chứng minh ghi nhận tấm lòng này.
Phổ
Đồng
Chiêm
bái Mahābodhi Temple 01/03/2008
[1]
Đạt được tứ Thiền
[2]Túc
mạng minh
[3]
Thiên nhãn minh
[4]
Lậu tận minh
VƯỜN LỘC
DÃ
(Nơi
đức Đạo sư nói Pháp lần đầu tiên)
“Phật
tại thế thời
Ngã
đẳng trầm luân
Kim
đắc nhơn thân
Phật
dĩ diệt hậu.”
Migadāya,
bên sông Hằng cát mỏi
Nhìn
thời gian vết tích phủi bụi mờ
Con
đến đây theo duyên trần lưu lạc
Muốn
tìm về ươm pháp nhũ nguyên sơ.
Vì
thiếu duyên nên sinh thời pháp nhược
Trôi
mãi luân hồi tà kiến đảo điên
Chút
thiện duyên nhặt đường dài mỏng mảnh
Xin
về đây mong gieo hạt kết duyên.
Đường
Trung đạo Người đã từng tác chứng
Tuyên
pháp mầu trao phương tiện đầu tiên
Năm
anh em bạn đường tu trước đó
Theo
thời gian đạt pháp lạc vô phiền.
Đây
là khổ, đây nguyên nhân của khổ
Đây
là vui, đây đường đến an vui
Lìa
các duyên tránh xa đường cố chấp
Thoát
đôi bờ vô sự bước chân đi.
Vớ
Từ đế ba lần phương tiện chuyển
Thành
mười hai hành tướng để tỏ bày
Từ
thấy biết và kinh qua tu chứng
Nhãn,
trí, minh, giác thắng giải hiển bày.
Người
tuyên dương con đường đi thoát khổ
Một
con đường xa lánh các cực đoan
Từ
nhận thức đến thực hành chân chánh
Qua
con đường Bát chánh bước nhàn an.
Để
từ đó triển khai thành vô lượng
Đối
trị muôn nghìn tà pháp trói ngẳn
Lời
ban sơ nghe như còn vang vọng
Giữa
ngổn ngang bên phế tích điêu tàn.
Con
xúc động trước tiêu điều cám cảnh
Ác
độc con người, đánh tráo nhân danh [5]
Họ
sợ hãi không tự mình dám nhận
Lòng
vô minh tham hận của chính mình.
Con
lạy Phật Người từ bi gia hộ
Cho
mọi chúng sanh biết được lối về
Bỏ
bến mê để quay về bờ giác
Biến
nhơn gian thành cửa ngõ đi về.
Gate
gate pāragate pārasaṃgate Bodhi svāhā.
Phổ
Đồng
Chiêm
bái Migadāya 10/03/2008
[5]
Nhân danh giáo chủ đạo mình mà tàn sát tha nhân không theo
mình và, ra sức tiêu diệt tàn phá các nền văn hóa để mở
mang đất Thành mê tín của mình. Đây có phải là một tôn
giáo không? Đây có phải là chân lý chăng?!!!
NÚI LINH THỨU
(Nơi
đức Đạo sư Niêm vi tiếu và thuyết những bộ kinh lới
Đại thừa)
Gridhrakuta
mấy nghìn năm lịch sử
Bóng
trải dài che mát cả Phương đông
Từ
giây phút Người niêm hoa thị chúng
Tâm
chảy dài vẫn mỉm nụ dòng không.
Theo
dấu vết xa xưa Người để lại
Con
về đây tìm lại dấu thời gian
Nơi
tòa thượng sương mờ vương núi biếc
Linh
Thứu sơn nước chảy động mây ngàn.
Cầu
bắt nhịp qua non Kỳ-xà-quật
Đứng
nơi này nghe tiếng vọng bên kia
Suối
róc rách chở trăng về non Thứu
Trăng
hạ huyền sương ru ngủ trời khuya.
Dư
ảnh âm hao như còn hiển hiện
Vang
vọng một thời ký ức hằng sa
Còn
hiện tại vật dời sao thay đổi
Người
ra đi là mãi mãi trăng tà!
Trăng
in đáy giữa lòng khe vắng lặng
Thả
nỗi buồn cho dòng suối mang đi
Nghìn
năm trước nghìn năm sau có phải
Chính
vô thường là thường trụ tà huy?
Phổ
Đồng
Chiêm
bái Gridhrakuta 02/03/2008
RỪNG CÂU-THI-NA
(Nơi
đức Đạo Sư vào Niết-bàn)
Con
phủi bụi đường dài qua tay mỏi
Bao
kiếp rồi, phủi mãi vẫn không ra
Trời
Tây Trúc rừng hoang treo bóng chếch
Cho
bình minh, trời vẫn hiện trăng già.
Con
về đây giữa đêm dài vắng lặng
Đại
thọ Sa-la buồn thảm vô thường
Theo
tiếng kệ lời vàng lên âm hưởng
Con
ngậm ngùi nén giọt lệ trôi lăn.
Lệ
cứ chảy nhòa lời kinh tiếng kệ
Lời
dạy cuối cùng âm hưởng đâu đây
“Các
tỳ-kheo! Sau khi Ta diệt độ
Các
Thầy hãy lấy Giới Luật làm thầy.”
Lời
cao cả nay chỉ còn chứng tích
Của
dòng đời nghịch lại ý sơ tâm
Vì
lợi danh Tỳ-kheo đành bán Phật
Buôn
chính mình, làm nô lệ ma tâm.
Cứ
phương tiện tùy duyên nhưng biến mất
Lặn
hụp theo tình khõa lấp theo duyên
Đem
lời vàng làm trò cười thiên hạ
Ngụy
biện giải bày hí luận đảo điên!
Con
buồn tủi vì thiện duyên quá mỏng
“Khi
Phật ra đời con vẫn trầm luân
Nay
được nên thân, Phật đà đi vắng.”
Sanh
không gặp thời phải chịu gian truân.
Cảnh
hiu hắt người sầu lên khóe mắt
Nội
chướng ngoại ma phước cạn nghiệp dày
Chỗ
Người nằm ghi dấu ấn thiên thu
Lệ
tiếc thương đau đớn của nhơn thiên.
Con
xúc động, rừng thiêng thôi lên tiếng
Cõi
ba ngàn như lắng đọng lời kinh
Cầu
sám hối, dặn lòng qua nhất niệm
Trả
duyên về cho thật tướng chúng sinh.
Gate
gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.
Phổ
Đồng
Chiêm
bái Kushinagar: Rạng sáng ngày 06/03/2008.
08-28-2008
11:23:34