Phương
pháp Yoga Heruka Vajrasattva
Gồm
những giáo huấn Nhập Thất
LAMA
THUBTEN YESHE
Lời
nói đầu của
LAMA
THUBTEN ZOPA RINPOCHE
Sưu
tập, biên tập và chú thích bởi Nicholas Ribush
Nhà
Xuất Bản Wisdom, 1995.
Nhà
Xuất Bản Thiện Tri Thức, 1999.
Bản
dịch Việt : Kiến Không.
NỘI
DUNG
Lời
nói đầu của nhà xuất bản Việt ngữ
Lời
nói đầu
Lời
tựa
Lới
giới thiệu của người Biên Tập
Dẫn
nhập
PHẦN
1: BÌNH GIẢNG CHÍNH
1
Tại sao và như thế nào chúng ta phải tịnh hóa
-
Bốn sức mạnh đối trị
-
Nghiệp
2
Quy y
-
Quy y và phát Bồ đề tâm
-
Quán tưởng đối tượng quy y
-
Ba phương pháp quy y
3
Quy y bên trong và thiền định về tánh Không
-
Sự thấu hiểu về tánh Không
-
Phát Bồ đề tâm
-
Thiền định “cái bình” : Bài tập thở chín vòng
4
Phương pháp Yoga thực sự
-
Quán tưởng ban đầu
-
Cúng dường Heruka Vajrasattva
-
Quán đảnh nhập môn
-
Cúng dường và ca tụng Heruka Vajrasattva
5
Sự tịnh hóa
-
Trì chú
6
Những thực hành kết thúc
-
Hồi hướng
PHẦN
2: NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ ẨN TU
7
Chuẩn bị sẵn sàng cho việc ẩn tu
Các
tiêu chuẩn đáp ứng với việc ẩn tu
Ẩn
tu ở đâu ?
Khi
nào bắt đầu ẩn tu
Một
số chuẩn bị chung
Bạn
ăn gì
Dọn
dẹp sạch sẽ nơi ẩn tu
Chỗ
ngồi thiền định
Xâu
chuỗi
Xếp
đặt bàn thờ
8
Các thời thiền định
Lịch
trình hàng ngày
Ngay
trước khi thiền
Bắt
đầu thời thiền
Nói
chung về các thời thiền
Sadhana
Trì
chú
Hoàn
tất thời thiền
9
Thêm một số khuyến cáo về sự ẩn tu
Giữa
các thời thiền
Sự
ẩn tu nói chung
Ẩn
tu theo nhóm
Kết
luận
PHẦN
3: NHỮNG BÀI THUYẾT PHÁP
10
Không có điều bất thiện nào không thể tịnh hóa hoàn toàn
11
Một quán đảnh nhập môn Heruka Vajrasattva
12
Bài giảng tóm lược về sadhana Vajrasattva
Sadhana
Câu
hỏi và trả lời
Việc
ẩn tu
Lễ
Puja bằng lửa
13
Sự thực hành Vajrasattva và Tantra Yoga Tối Thượng
14
Những phẩm tính của Vajrasattva vốn có sẵn ở trong chúng
ta
15
Hành động là tất cả
PHẦN
4: HERUKA VAJRASATTVA TSOK
16
Tsok là gì ?
17
Heruka Vajrasattva Tsok : Bài giảng thứ nhất
18
Heruka Vajrasattva Tsok : Bài giảng thứ hai
PHỤ
LỤC
1
Phương pháp Yoga về Heruka Vajrasattva vinh quang tối thượng
2
Dịch và giải thích Thần Chú Một Trăm Âm
3
Thần Chú Một Trăm Âm (âm Tây Tạng)
CHÚ
THÍCH
THUẬT
NGỮ
Lời
nói đầu của
nhà
xuất bản Việt ngữ
Sự
tịnh hóa của Kim Cương thừa nói riêng và con đường Kim
Cương thừa nói chung căn cứ vào trí huệ đại lạc và trí
huệ tánh Không. Nhờ và bằng trí huệ đại lạc và trí huệ
tánh Không mà tất cả nghiệp lực được tịnh hóa. Nhờ
và bằng trí huệ đại lạc và trí huệ tánh Không mà con
người đạt đến Phật tánh. Một vị Phật là người đã
đạt đến Phật tánh trọn vẹn, đầy đủ cả hai phương
diện trí huệ và phương tiện, tức là đầy đủ Không và
Lạc.
Sự
phân biệt giữa hai thừa của Đại thừa, Đại thừa tổng
quát hay còn gọi là Kinh thừa (Sutrayana) và Mật thừa hay Kim
Cương thừa (Mantrayana hay Tantrayana) là : cả hai thừa đều
nhắm đến trí huệ tánh Không (Trí huệ), nhưng với Kim Cương
thừa còn nhấn mạnh đến trí huệ đại lạc (Phương tiện).
Với đôi cánh Trí huệ và Phương tiện, Kim Cương thừa bay
thẳng vào không gian giải thoát một cách mạnh mẽ và nhanh
chóng nhất.
Vậy
phương tiện trong Kim Cương thừa là gì ? Nơi con người, Lạc
nằm trong hệ thống kinh mạch (nadi và chakra), khí (prana) và
hạt (bindu) trong thân thể mỗi người (mà những cái này khi
được chuyển hóa sẽ thành thân Kim Cương) và được kích
phát bằng những phương pháp như “hơi thở cái bình” chẳng
hạn. Chính cái Lạc này khi được đưa vào hoạt động trọn
vẹn cùng với tánh Không sẽ tiêu hủy tất cả những chủng
tử nghiệp nằm trong phần khí tức là thân thể vi tế của
mỗi người. Sự tịnh hóa như thế là chắc chắn và hẳn
nhiên là khoa học.
Lạc
và Không vốn có sẵn đầy đủ nơi Phật tánh của mỗi người,
vấn đề là làm sao kích phát chúng, đưa chúng vào hoạt động.
Bởi thế trong những hình tượng của Kim Cương thừa, chúng
ta thường thấy hai vị Hóa thần trong tư thế ôm ấp nhau,
tượng trưng cho Lạc và Không vốn nhất như ở trong Phật
tánh. Sự ôm ấp đó chẳng có chút gì là dục lạc, vì những
dục, tham, sân, si, mạn, đố kỵ, nghi…, là những xác chết
đã bị hai vị hóa thần giẵm đạp dưới chân. Trong đời
sống bình thường, sau thời thiền định, một hành giả Kim
Cương thừa phải thấy tất cả sắc, thọ, tưởng, hành,
thức là sự kết hợp của Lạc và Không, và do đó, hình
tướng của sanh tử bị thiêu rụi, chỉ còn lại một vị
giải thoát của Lạc và Không, tức Phật tánh.
Trong
phần kết thúc của Lễ Cúng Tsok Heruka Vajrasattva, ngài Lama
Yeshe viết :
Con
trình cúng tất cả mọi đồ cúng thanh tịnh còn lại –
Cam
lồ của năm trí chứa trong chén sọ người này –
Một
hình tướng như huyễn của Lạc và Không không thể tách rời.
Nguyện
tất cả tốt lành cho tôi thấy được tâm tôi là vị Thầy
:
Ngài
hiểu trọn vẹn tư tưởng của tất cả chúng sanh,
Ngữ
của ngài thỏa mãn cho mong muốn của vô số chúng sanh
Và
thân thanh tịnh của ngài khởi từ vô vàn tích tập công đức.
Nguyện
tất cả tốt lành để chứng ngộ tánh nhất thể của Pháp
thân và Sắc thân
Do
khám phá ra tâm thức vi tế thường trụ của chính mình
Nhờ
năng lực của việc dùng ba thân như con đường :
Cái
đối trị giải độc cho sự chết, trung ấm và tái sanh.
Nguyện
tất cả tốt lành để cho mọi sự trong sanh tử và niết
bàn
Được
tổng hợp bằng đại Không và đại Lạc
Qua
sự ôm ấp siêu việt của mẹ : cõi giới hư không vượt
khỏi mọi phân biệt mờ rối,
Và
cha : trí huệ đại Lạc, hình tướng xuất hiện của mọi
hiện tượng hiện hữu.
Đó
là mục đích của Kim Cương thừa.
Cuốn
sách này giúp người đọc tìm hiểu phần nào về Kim Cương
thừa, và nhất là để tự hiểu chính mình : sự hợp nhất
của đại Không và đại Lạc.
Nhà
Xuất Bản
Thiện
Tri Thức.
LỜI
NÓI ĐẦU
MỘT
GIẢI PHÁP CHO MỌI VẤN ĐỀ CỦA ĐỜI SỐNG:
THIỀN
ĐỊNH TỊNH HÓA
KIM
CƯƠNG TÁT ĐỎA (VAJRASATTVA)
Tôi
muốn giải thích sự quan trọng lớn lao của việc thiền định
Vajrasattva và thực hành trì tụng. Tại sao, vì nó quan trọng
ngay cả cho những người tin tưởng vào chính cuộc đời này
là thực !
Mọi
thành công trong cuộc đời, gồm những thứ bình thường như
gia đình, bạn bè, công việc, sức khỏe, tài sản và quyền
lực đều tùy thuộc vào việc tịnh hóa những chướng ngại
của nghiệp bất thiện và không tạo nghiệp bất thiện nữa.
Chúng ta tạo nghiệp bất thiện như thế nào ? Chẳng hạn
khi chúng ta dấn thân vào muời việc bất thiện do tính ích
kỷ và mê lầm. Tâm thức mê lầm là si mê, tham luyến và
sân hận ; mười việc bất thiện là : Thân có ba : sát, đạo,
dâm – Ngữ có bốn : nói dối, nói xấu, nói tổn thương
người khác, nói tầm phào – Ý có ba : thèm khát, ý xấu
và tà kiến. Theo luật tự nhiên của nghiệp, nếu bạn làm
tổn thương người khác tức là bạn tự làm tổn thương
mình.
Và
nó cũng vận hành như vậy trên con đường ngược lại. Nếu
bạn muốn người khác thương yêu mình, trước tiên bạn phải
thương yêu người khác. Nếu giúp đỡ và làm lợi ích cho
người khác, tự nhiên họ sẽ giúp đỡ hay tạo lợi ích
cho bạn. Định luật nhân quả giản dị như thế. Việc thực
hành tịnh hóa Vajrasattva có năng lực mạnh hơn các nghiệp
bất thiện, nó có thể che chở cho bạn khỏi trải nghiệm
những khó khăn do nghiệp bất thiện mang lại. Do vậy, thực
hành tịnh hóa là giải pháp quan trọng nhất cho những khó
khăn, và cực kỳ cần thiết, ngay cả cho những người chỉ
tin có một kiếp sống này.
Tiếc
thay, tâm của những người như vậy thường không rộng mở
để học hỏi những điều mới về thực tại của đời
sống hay bản tánh của những hiện tượng – những triết
lý mới, chủ đề mới. Họ thậm chí cũng chẳng phân tích
những khả tính mới. Tất cả cả điều này chỉ ngăn cản
họ không kinh nghiệm được hạnh phúc tạm thời hay hạnh
phúc tối hậu. Nếu bạn không muốn những khó khăn trong quan
hệ, thất bại trong làm ăn, bị bệnh tật như ung thư hay
AIDS, bị tai tiếng hay chỉ trích của người khác thì việc
thực hành Vajrasattva đặc biệt quan trọng.
Khi
nói về sự trưởng thành của tâm linh, việc thực hành tịnh
hóa Vajrasattva trở nên quan trọng hơn nhiều. Chẳng hạn, Đức
Văn Thù (Manjushri) khuyên Lama Tsong Khapa : “Cách hiện thực
hóa con đường giác ngộ nhanh chóng là làm ba việc : tu hành
tịnh hóa và tích lũy công đức, chú tâm cầu nguyện đến
Đạo sư, và tu hành tâm thức trên con đường giác ngộ.”
Vì
những lý do đó, việc thực hành Vajrasattva rất phổ biến
ở tất cả bốn truyền thống của Đạo Phật Tây Tạng :
Nyingma, Kagyu, Sakya, Geluk, dùng để tịnh hóa những chướng
ngại, che ám, nghiệp bất thiện và bệnh tật, Tantra gốc
Dorje Gyašn (Trang hoàng Kim Cương) nói rằng nếu bạn luôn luôn
không ý thức và cẩn trọng, ngay cả những nhân xấu nhỏ
bé cũng gây ra thương tổn to lớn cho thân, ngữ, tâm của
bạn giống như nọc rắn lan tràn nhanh chóng khắp thân ngày
càng trở nên tệ hại, gây nguy hiểm cho đời sống bạn.
Bậc
Đại Giác Pabongka Dechen Nyingpo nói rằng nếu bạn giết một
con trùng nhỏ bé mà không tu hành tịnh hóa Vajrasattva trong
ngày đó, sức nặng của nghiệp sẽ tăng gấp đôi ở ngày
kế tiếp, ngày thứ ba lại tăng gấp đôi và tới ngày thứ
15 sẽ nặng như giết một người. Ở ngày 18 sẽ phát triển
131.072 lần. Vậy bạn thấy đó, hàng tuần, tháng, năm trôi
qua, một nghiệp bất thiện nhỏ bé sẽ nhân lên nhiều lần
chẳng sớm thì muộn sẽ trở thành một ngọn núi với kích
thước của trái đất này. Và đến lúc chết, nó trở nên
quá đỗi nặng nề.
Dĩ
nhiên, ở đây tôi chỉ nói về nghiệp tiêu cực nhỏ bé,
nhưng hàng ngày chúng ta tích tập nhiều, rất nhiều nghiệp
tiêu cực của thân, ngữ, ý. Sức nặng của mỗi một nghiệp
tiêu tực nhỏ bé tạo ra mỗi ngày lại nhân lên nhiều lần,
tạo ra sức nặng không thể tưởng được. Và chắc chắn
rằng hàng ngày bên cạnh những nghiệp bất thiện nhỏ bé,
chúng ta còn tạo nhiều nghiệp bất thiện to lớn. Cho nên
từ vô thủy cũng như ngay trong kiếp sống này chúng ta đã
tạo nhiều nghiệp nặng. Nếu bạn quán tưởng về sự nhân
lên tiếp tục của tất cả những nghiệp đó thì thật không
thể nào tưởng tượng nổi.
Tantra
Dorje Gyašn cũng nói nếu bạn tụng niệm chân ngôn Một trăm
âm Vajrasattva hai mươi mốt lần trong một ngày, sẽ ngăn ngừa
những nghiệp bất thiện phát triển. Những bậc chứng ngộ
cao cả, vĩ đại cũng giải thích đây là cách để tịnh hóa
bất cứ những sa đọa và phạm giới nào mà bạn đã tích
lũy. Hơn thế nữa, Đức Trijang Rinpoche mà tự thân Ngài thực
sự là Đức Heruka đã giải thích rằng việc trì tụng chân
ngôn ngắn Vajrasattva (OM VAJRASATTVA HUM) hai mươi mốt lần một
ngày là một sức mạnh tịnh hóa không thể nghĩ bàn. Chân
ngôn này không những có sức mạnh ngăn cản bất cứ nghiệp
bất thiện nào đã tạo trong ngày phát triển mà còn tịnh
hóa hoàn toàn tất cả những tiêu cực của bạn đã tạo
trong ngày hôm nay, trong đời này, và ngay cả trong những kiếp
đầu thai từ vô thủy của bạn.
Đây
là một số những lợi lạc chẳng thể nghĩ bàn của việc
thực hành trì tụng và thiền định Vajrasattva. Hơn nữa, Ngài
cũng dạy rằng nếu trì tụng chân ngôn Vajrasattva một trăm
âm một trăm ngàn biến bạn có thể tịnh hóa được ngay
cả việc phạm đại giới của Tantra Yoga tối thượng (Highest
Yoga Tantra). Do đó bạn chắc chắn có thể tịnh hóa được
việc phá hư gốc Pratimoksha (sự giải thoát của cá nhân hay
biệt giải thoát) và những lời nguyện của hạnh Bồ tát
qua kỹ thuật này.
Những
vị thiền giả có kinh nghiệm đã khuyên rằng nói chung rất
quan trọng khi cố gắng thực hành tịnh hóa trong cuộc sống
hàng ngày, đây là con đường đạt đến những chứng ngộ
tâm linh. Ngài Geshe Dolbowa của phái Kadam nói rằng nếu bạn
tu hành sự tịnh hóa và sự tích lũy công đức liên tục
và chuyển tâm bạn vào đường đạo, những chứng ngộ lam-rim
bạn nghĩ trong một trăm năm mới đạt được, sẽ đến với
bạn chỉ trong bảy năm. Đó là những hướng dẫn đầy khích
lệ của những thiền giả kinh nghiệm cao, đã đạt được
những cấp độ khác nhau trên con đường giác ngộ.
Lama
Atisha thường nói có vô số không thể nghĩ bàn những cửa
sa đọa cho những hành giả đã nhận được sự truyền pháp
Tantra Yoga tối thượng. Chẳng hạn chỉ nhìn vào một vật
bình thường như một cái lọ và thấy nó như bình thường,
là một sa đọa. Cũng như một mạn đà la tinh sạch bị bụi
đóng nhanh chóng trên bàn thờ, cũng vậy dòng tâm thức của
bạn tiếp tục tích chứa hàng đống tiêu cực trong một thời
gian ngắn. Tuy nhiên, khi nghe điều này chớ vội kết luận,
những sự nhận lãnh quán đảnh mật chú dễ đưa đến việc
sa đọa đẻ không còn có khả năng đạt đến giác ngộ.
Lama Atisha nói chỉ có những người vì không biết rằng mật
chú chứa đựng những phương tiện thiện xảo không thể
nghĩ bàn về sự tịnh hóa những sa đọa nên mới nghĩ như
vậy.
Ngài
nói : “Chỉ một cục đá có thể ném một trăm con chim, đó
là phương tiện thiện xảo được gọi là sự thực hành
Vajrasattva.” Điều mà Lama Atisha nói là về một mặt, chỉ
trong một phút, thật dễ dàng tích tập một số sa đọa và
bất thiện như mưa đổ xuống – chẳng hạn nhìn thấy một
đối tượng là bình thường – nhưng mặt khác có phương
tiện thiện xảo của tantra như sự thực hành Vajrasattva. Một
sự thực hành này sẽ tịnh hóa vô số những tiêu cực do
phá vỡ những lời hứa nguyện gốc hay chi nhánh, và trong
cách này bạn có thể phát triển tâm thức của mình trên
con đường giác ngộ.
Do
vậy, việc tu hành Vajrasattva đặc biệt quan trọng – cho cả
những ai dù chấp nhận hay không vào sự hiện hữu của sự
tái sanh và nghiệp.
Sự
bình giảng về Vajrasattva trong quyển sách này là một hướng
dẫn đầy kinh nghiệm của Đạo Sư tôi, Lama Yeshe, đã trao
cho tôi, người mà ngay cả với cách nhìn thông thường cũng
là một đại Yogini, và người đã chăm sóc tôi như một người
cha với đứa con duy nhất của mình. Ngài không chỉ trao cho
tôi những phương tiện của cuộc sống như thực phẩm, quần
áo, mà còn hướng dẫn tôi trong Pháp hơn ba mươi năm ròng.
Bất
cứ ai học hỏi quyển sách này và có được cảm hứng để
tu hành và ẩn tu về sự thực hành Vajrasattva đều được
sự hướng dẫn của lòng bi của Lama. Ngài giải thoát cho
bạn nhiều kiếp nghiệp bất thiện, nhiều kiếp đau khổ
không thể tưởng được ở những cõi thấp, và cũng như
cõi người, trời, và dẫn bạn đến giải thoát và toàn giác.
Cầu
chúc cho những ai thấy, tiếp xúc, nhớ lại hay thậm chí nghĩ
hoặc nói về quyển sách này được không bao giờ sanh vào
những cõi thấp, chỉ nhận được sự đầu thai thành một
con người hoàn hảo, gặp được những thiện tri thức Đại
thừa đức hạnh và đầy đủ phẩm tính, thực hành tịnh
hóa Vajrasattva mỗi ngày và mau chóng thành tựu trạng thái
giác ngộ của Đạo Sư Vajrasattva. Đây là điều mong ước
của tôi.
Cám
ơn các bạn rất nhiều.
Thubten
Zopa
LỜI
TỰA
Lama
Thubten Yeshe (1935-1984) truyền pháp Heruka Vajrasattva lần đầu
tiên cho khoảng hai mươi lăm người đệ tử phương Tây tại
tu viện Kopan thuộc Nepal vào tháng 4 năm 1974.
Những
chi tiết đáng chú ý về cuộc đời Lama Yeshe giờ đây có
thể tìm thấy ở một số nơi, từ cuốn sách tuyệt vời
của Vicki Mackenzie, Sự Tái Sanh của Hài đồng Lama, và phụ
trương của Tạp chí Trí Huệ, cho đến sự giới thiệu, lời
mở đầu, lời tựa của những tác phẩm xuất bản trước
của Ngài : Năng lực của Trí huệ và Giới thiệu về Tantra.
Adèle Hulse đang viết một tiểu sử chính thức cho nhà xuất
bản Trí Huệ.
Nhưng
có lẽ sự mô tả hùng biện nhất về những phẩm tính phi
thường của Lama Yeshe là của Lama Thubten Zopa Rinpoche. Ngài
là đệ tử chính và tâm đắc, trong quyển “Lòng từ ái
của Đạo Sư” và trong bài điếu văn của Ngài Zopa đọc
sau khi Lama Yeshe viên tịch năm 1984.
Lama
Yeshe không chỉ là Vị Kim Cương Sư siêu tuyệt mà còn là
người gợi ý ra xây dựng Hội Bảo Tồn Truyền Thống Đại
Thừa (FPMT), một tổ chức thế giới của những trung tâm
giáo lý và thiền định Phật giáo cả nông thôn lẫn thành
thị, những tu viện, những nơi nhập thất, những trung tâm
chữa bệnh, và những nhà xuất bản trên khắp thế giới.
Lần
đầu tiên tôi gặp Lama năm 1972, trong lúc tham dự khóa thiền
định Kopan thứ ba, khóa đầu tiên của tôi. Việc giảng dạy
được ngài Zopa đảm nhiệm, và hầu hết năm mươi học sinh
đang theo học đều không biết có vị Lama khác ở Kopan. Có
ai đó biết tôi là thầy thuốc và khoảng một tuần vào khóa
học, tôi được mời đi thăm bệnh một Lama bị nhiễm trùng
ở chân. Tôi được dẫn vòng ra sau một ngôi nhà cũ kỹ ở
Kopan (bây giờ tiếc thay ngôi nhà đã hư hoại), ở đó có
một vị tu sĩ Tây Tạng khiêm tốn với nụ cười rộng mở,
hết lời cảm ơn dù tôi chưa làm gì. Nhưng ngài biết điều
tôi không biết, rằng cuộc đời tôi đã bắt đầu thay đổi.
Khi
mũi chích penicillin đầu tiên của tôi bắn vọt ra khắp phòng
thay vì vào mông của Ngài, với một nụ cười, Ngài mời
tôi trở lại : “Bạn thân mến, ngày mai cố gắng làm lại
nhé.” Vì thế, tôi đến gặp Ngài mỗi ngày vào tuần sau,
các bạn đạo của tôi bắt đầu loan truyền rằng nghề của
tôi đã dở đi. Mười tám tháng sau, khóa học ở Kopan nổi
tiếng đến bây giờ, tổ chức hai lần trong năm đã thu hút
trên hai trăm người, đa số họ đều là người phương Tây
trẻ đi du lịch Ấn Độ và Nepal. Hai mươi người chúng tôi
được nguồn cảm hứng từ tấm gương vô song của Thầy
chúng tôi, đã thọ giới làm Tăng, Ni. Vào mùa xuân năm 1974,
đúng sau khóa học Kopan thứ sáu sau vài năm giảng dạy kinh
điển về con đường tiệm đạo giác ngộ, Lama cảm thấy
chúng tôi đã sẵn sàng cho Tantra. Ngài chọn sự thực hành
tịnh hóa Heruka Vajrasattva và biên tập cho chúng tôi sadhana
hay phương pháp thành tựu từ Tantra Chakrasamvara. Rồi Ngài
ban cho năm buổi thuyết pháp bình giảng về sadhana và một
bài giảng rộng về việc nhập thất thiền định như thế
nào.
Quyển
sách này bao gồm những bài giảng của Lama về thực hành
Vajrasattva, những giáo huấn chi tiết về ẩn tu chủ yếu căn
cứ trên sự giảng dạy lúc đầu, sáu bài giảng đặc biệt,
phần lớn được đưa ra như sự mở đầu giới thiệu vào
những buổi lễ quán đảnh Heruka Vajrasattva tại những trung
tâm FPMT trên khắp thế giới, và hai bình giảng về Heruka
Vajrasattva Tsok do chính Ngài biên soạn năm 1982. Trong phần phụ
lục sẽ thấy sadhana và bản văn tsok bằng Tạng ngữ, phiên
âm Tây Tạng và tiếng Anh để dễ tán tụng, và một phương
pháp cúng cho những hồn linh địa phương, shi-dak torma. Nhưng
Lama đã nhấn mạnh trong phần giới thiệu “để thực hành
Heruka Vajrasattva bạn cần phải được làm lễ truyền pháp
tantra yoga tối thượng và giáo huấn từ một vị Lama đầy
đủ phẩm tính.”
Trong
tính cách này, người đọc cũng cần chú ý rằng vì những
giảng dạy trong sách này đến từ truyền thống khẩu truyền
và nhắm vào những hành giả. Phạn ngữ và Tạng ngữ không
được diễn đạt theo cách học giả mà là cách phát âm đúng
và không có các dấu phụ.
Một
điểm khác là trong những bài giảng, Lama Yeshe thường dùng
từ “người phương Tây” để chỉ những thính giả vào
lúc đó và không được loại bỏ. Tuy nhiên, những đọc giả
không phải người phương Tây không nên cảm thấy bị bỏ
rơi vì lòng bi và trí huệ của Lama chiếu sáng mười phương
hoàn toàn không thiên vị.
Những
bài viết của Lama năm 1974 đã được các Tăng Ni của Viện
Đại Thừa Quốc Tế ghi âm và sao chép. Trước tiên cho công
việc nhập thất và tu hành Heruka Vajrasattva của họ vào mùa
xuân 1974. Tôi đã dành thời gian hơn bốn tháng cho bản viết
tay tại hang động Charok ở Lawudo, không cách xa Lawudo Gompa
nơi ẩn tu của Lama Lawudo, là tiền kiếp của Lama Zopa Rinpoche.
Đây là đỉnh cao của cuộc đời tôi, và tôi khuyến khích
cho mọi người việc nhập thất theo những bình giảng của
Lama. Và khoảng chừng mười huynh đệ kim cương lên xuống
núi Lawudo ở quanh tôi, cùng làm một sự thực hành, là một
cảm hứng lớn lao. Đó là thời gian tuyệt vời.
Cùng
lúc ấy, khoảng chừng hai mươi thiền giả khai mạc nhóm nhập
thất cùng với FPMT tại Kopan Gompa và một nhóm nhập thất
ba tháng Heruka Vajrasattva vẫn được hướng dẫn hàng năm tại
Trung tâm Nhập thất Tushita, phía trên Dharamsala Ấn Độ, và
trung tâm Milarepa, Vermont USA và một số không thường xuyên
thuộc các trung tâm khác.
Sau
nhập thất, Lama làm việc với Thượng tọa Marcels Bertel và
Thượng tọa Yeshe Kharda để bổ sung cho sadhana và bản bình
giải. Trong hầu hết hai mươi năm, nhiều hành giả nhập thất
Heruka Vajrasattva đã dựa vào ấn bản tuyệt vời của Marcels,
và sau đó được in lại trong dạng chép tay nhiều lần bởi
hai tu viện Kopan và Trí Huệ. Nó là căn bản của phần 1 và
2 trong quyển sách này.
Tôi
bắt đầu làm việc về quyển “Con đường Tantra về sự
tịnh hóa” sau khi Lama Yeshe cử tôi làm giám đốc nhà xuất
bản Trí Huệ vào năm 1981. Sau những lời giảng dạy của
Lama về Sáu Yoga của Naropa tại viện Lama Tsong Khapa vào đầu
năm 1983, bảy người chúng tôi như được mô tả chi tiết
bởi Jon Landaw trong quyển Giới thiệu về Tantra cùng nhau nhập
thất biên soạn gần Cécina, Italy, làm việc với một số
những lời giảng khác của các Lama để xuất bản. Trong nhiều
chuyện khác, chúng tôi được biết Lama thật độc đáo trong
việc sử dụng cực kỳ sáng tạo tiếng Anh như nhà nhập
thất Robin Bretano tinh tế nhận xét, đến nỗi sự biên tập
lời ngài cũng giống như chuyển dịch. Sự khó khăn do việc
biên soạn những lời giảng của Lama là đáp ứng đúng với
ý nghĩa của Ngài, văn phạm chính xác, âm điệu giống như
Lama. Tất cả chúng tôi đã làm hết khả năng với những
khó khăn này.
Tôi
đọc bản phác thảo của bình giảng chính cho Lama nghe tại
Trung tâm nhập thất Tushita vào tháng 4 năm 1983 và Ngài đã
bổ sung nhiều sửa chữa. Tôi cất giữ những băng ghi âm
về những buổi gặp đó cũng như ghi nhớ tất cả những
lúc tôi ở với Lama. Tất cả mọi đề nghị của Ngài đều
được kết hợp vào trong sách này.
Tôi
biên soạn những lời dạy sau – những bài giảng Heruka Vajrasattva
không thường xuyên của Lama và những bài viết của Ngài
về cúng dường Heruka Vajrasattva Tsok năm 1993 tại Kinglake, Victoria,
Australia.
Lama
Yeshe là một người ủng hộ lớn lao cho việc thực hành tịnh
hóa Heruka Vajrasattva. Một lần ngài bày tỏ hy vọng rằng tất
cả đệ tử của Ngài dành thời gian nhập thất tối thiểu
một lần trước khi chết. Sau khi Lama ra đi, theo như ước
mong của Ngài, một nhóm đệ tử duy trì thời khóa suốt ngày
đêm việc thực hành Heruka Vajrasattva trong vòng mười hai tháng
tại tu viện Kopan, và những giai đoạn ngắn hơn tại Trung
tâm nhập thất Osel Ling, Spai và Mahamudra (Đại Ấn) ở New
Zealand.
Từ
lòng đại bi của Lama và phước nguyện nhỏ bé của những
đệ tử, vào ngày 12 tháng 2 năm 1985 Ngài đã trở lại với
thế gian này như là Lama Tenzin Osel Rinpoche, và chúng tôi cầu
nguyện Ngài một lần nữa giảng dạy việc thực hành Heruka
Vajrasattva cho những đệ tử của Ngài và có lẽ, sẽ sửa
chữa những lỗi lầm có trong sách này.
Lời
cảm tạ
“Cảm
ơn Rinpoche vì ngài đã thay đổi cuộc đời con.” Tôi đã
nói với Lama Zopa Rinpoche vào lúc kết thúc khóa thiền định
Kopan đầu tiên của tôi (Ngài chỉ cười). Tất cả chúng
tôi trong FPMT tiếp tục cảm ơn Lama Zopa Rinpoche, ngọn hải
đăng sáng rỡ của trí huệ và đại bi của chúng tôi và
là một khuôn mẫu sống của những chứng ngộ. Khi Lama Yeshe
viên tịch, Rinpoche duy trì liên tục việc phát triển của
FPMT cho đến nay gồm hơn bảy mươi trung tâm ở mười bảy
nước trên khắp thế giới, trong lúc tiếp tục dẫn dắt
tâm linh những đệ tử ngày càng phát triển trên khắp thế
giới bằng cả cách ứng xử vô song và những lời dạy thâm
sâu của Ngài.
Dự
án này và nhiều dự án khác đã và sẽ làm lợi lạc ngay
cả trong tương lai xa hơn, từ công việc đặc biệt do Peter
và Nicole Kedge và Thượng tọa Alisa Cameron trong xây dựng và
duy trì Tài Liệu Trí Huệ về những lời dạy của Lama Yeshe
và Lama Zopa Rinpoche. Mỏ kim cương được vi tính hóa này sẽ
tiếp tục sản sinh những lời dạy vì lợi ích chúng sanh
trong một thời gian dài và với tư cách là nhà xuất bản
những lời dạy này, chúng tôi đặc biệt biết ơn công việc
thiện nguyện của họ.
Không
cần phải liệt kê những gì họ đã giúp đỡ, vì họ đã
làm quá nhiều. Tôi cũng cám ơn Ven. Geshe Lama Lhudrub Rigsel,
Viện trưởng tu viện Kopan, Ven. Marcel Petels, Ven. Yeshe Khardo,
Ven. Thubten Peno, Ven. Thubten Wongmo, Ursula Bernis, Ven. Ann McNeil,
Ven. Max Matthew, Ven. Ronina Courtin, Jonathan Landaw, Ven. Roger Kunsang,
Tim McNeil, Thubten Chošdak, Piero Cerri, những thành viên biên soạn
nhập thất của Cecina Mare, Mary Moffat, Gookie Claire, Ritter, Beatrice
Ribush mẹ tôi, Dorian và Alison Ribush, Wendy Cook, Ven. Geshe Tsulga
(Tsultrim Chopel), David Molk, Ven. George Churinoff và Vincent Montenegro.
Tôi cũng cám ơn FPMT dã cung cấp những lời dạy cho quyển
sách này và những đệ tử thiện nguyện đã biên soạn lại
những băng ghi âm. Chúng tôi đặc biệt cám ơn Peter Iseli đã
trang hoàng bìa sách bằng bức họa Heruka Vajrasattva thật đẹp,
chuyển từ mẫu vẽ đẹp đẽ của Lisa Sawlit.
Nicolas
Ribush
LỜI
GIỚI THIỆU
CỦA
NGƯỜI BIÊN TẬP
SỰ
TỊNH HÓA – BỐN SỨC MẠNH ĐỐI TRỊ
VÀ
SỰ THỰC HÀNH VAJRASATTVA
Trước
khi Lama Yeshe bắt đầu giảng dạy và làm lễ truyền pháp
Tantra như đã nói ở trên, Ngài chắc chắn những đệ tử
Tây phương của Ngài đã đã rành rẽ ba phương diện chính
của con đường kinh điển – từ bỏ, Bồ đề tâm và chánh
kiến về tánh Không với đệ tử chính của Ngài, Lama Thubten
Zopa Rinpoche, ẩn tu một tháng hai lần trong năm về lam-rim (con
đường thứ bậc đến giác ngộ). Sau sáu “khóa học Kopan”
này Lama quyết định những đệ tử của Ngài đã sẵn sàng
cho tantra yoga tối thượng (maha anuttara) và đồng ý làm lễ
nhập môn cho họ vào sự thực hành tịnh hóa của Heruka Vajrasattva.
Trong
Giới thiệu về Tantra và Lạc của Nội Hỏa của Ngài, Lama
Yeshe đã diễn giải sự liên quan giữa Kinh (Sutra) và Mật
(Tantra) là hai phần chính yếu của Phật giáo Đại thừa.
Những hướng dẫn xa hơn có thể tìm thấy ở những trang
sách này và những tựa sách đề nghị tham khảo thêm. Tuy
nhiên, để đặt sự tịnh hóa vào mạch văn, chúng tôi chỉ
cần nhắc lại lời khuyên của Đức Văn Thù (Manjushri) cho
Lama Je Tsong Khapa : Để đạt được những chứng ngộ tâm
linh người ta phải phối hợp thiền định về con đường
giác ngộ với sự tịnh hóa, tích tập công đức và cầu
nguyện với vị Đạo sư như một Đức Phật. Như Lama giải
thích phương pháp yoga của Heruka Vajrasattva bao gồm tất cả
những điều đó, với sự nhấn mạnh đặc biệt vào khía
cạnh tịnh hóa.
Không
có sự tịnh hóa tâm thức bạn để chuẩn bị cho những chứng
ngộ tâm linh, bạn sẽ có rất ít tiến bộ trên con đường
giác ngộ. Những phương pháp tịnh hóa được diễn bày trong
quyển sách này là loại mạnh mẽ nhất đã từng được dạy.
Trong thực hành Đạo Phật, sự tịnh hóa là khoa học đặt
căn bản trên một sự thấu hiểu về cơ chế tâm lý của
nghiệp hay hành động, luật nhân quả và kèm theo sự áp dụng
bốn sức mạnh đối trị.(1) Đôi khi được gọi là “Sự
sám hối,” sự tịnh hóa rất khác cách hiểu thuật ngữ
này của người cơ đốc mặc dù có thể tìm thấy vài điểm
tương đồng.
Những
hành động của thân, khẩu, ý để lại dấu vết trên thức
giống như những hạt giống gieo trên một cánh đồng. Khi
những điều kiện hội đủ, những dấu in chín mùi và trở
thành kinh nghiệm. Những dấu in tích cực hay thiện nghiệp
đem lại kết quả hạnh phúc, những dấu in tiêu cực hay bất
thiện đem lại đau khổ. Sự khác nhau giữa hai điều trên
được giải thích rất rõ trong quyển “Cánh Cửa đến sự
Mãn Nguyện” của Lama Zopa Rinpoche.
Mỗi
một hành động đều có bốn khía cạnh xác định cho dù
nó được hoàn tất hay chưa hoàn tất : động lực, đối
tượng, sự thực hành và sự hoàn tất. Chẳng hạn, để
hoàn tất một hành động sát hại đòi hỏi động cơ hay
ý muốn giết, một chúng sanh là đối tượng để giết, sự
thực hiện là hành động cho dù trực tiếp hay gián tiếp
là tự mình làm ra hay ra lệnh cho người khác làm, và sự
hoàn tất của hành động là cái chết của chúng sanh trước
người giết.
Nếu
một hành động hoàn tất trong tất cả bốn phương diện
nó trở thành cái được gọi là nghiệp đã gieo. Một hành
vi có thể xác định tình trạng đầu thai của bạn bằng
việc đẩy bạn vào một trong sáu cõi của sanh tử. Nếu một
hay hơn nữa trong bốn khía cạnh chưa thực hiện, hành động
trở thành nghiệp đang hoàn tất, xác định tính chất kinh
nghiệm bạn sẽ chịu trong tương lai. Một nghiệp đang hoàn
tất đem lại ba loại kết quả : kết quả tương tự với
nguyên nhân trong kinh nghiệm, kết quả tương tự với nguyên
nhân trong thói quen, và những kết quả thuộc môi trường.
Do đó, một nghiệp bất thiện được hoàn tất phải chịu
bốn quả đau khổ. Chẳng hạn bốn kết quả của sự giết
có thể tuần tự : đầu thai ở địa ngục, cuộc sống ngắn
ngủi vì bệnh tật, có chiều hướng muốn giết chúng sanh
khác và đầu thai vào những chỗ nguy hiểm.
Dù
mọi điều này áp dụng đồng đều với hành động thiện
hay bất thiện, chúng ta tập trung ở đây vào việc tịnh hóa.
Bốn sức mạnh đối trị tác động – và tất cả đều
cần thiết – vì mỗi cái sẽ chống lại một trong bốn kết
quả của nghiệp bất thiện. Sức mạnh thứ nhất là quy y
và phát Bồ đề tâm, được gọi là sức mạnh của đối
tượng, hay sức mạnh của sự nương dựa và tịnh hóa nghiệp
đã gieo gây ra sự tái sanh của bạn vào ba cõi thấp. Nó được
gọi là sức mạnh của sự nương dựa vì sự hồi phục của
chúng ta tùy thuộc vào đối tượng làm chúng ta bị tổn thương.
Chẳng hạn, để đứng dậy sau khi đã ngã té và tự làm
tổn thương, bạn nương dựa vào chính nền đất đã làm
bạn bị thương. Tương tự, hầu hết nghiệp bất thiện chúng
ta tạo ra đều là với đối tượng thiêng liêng hay chúng
sanh. Để tịnh hóa chúng ta phải quy y những đối tượng
thiêng liêng và phát Bồ đề tâm vì lợi lạc của tất cả
chúng sanh.
Sức
mạnh thứ hai là sức mạnh buông bỏ, nó chống lại kết
quả tương tự với nguyên nhân trong kinh nghiệm. Sức mạnh
thứ ba là sức mạnh của sự chữa trị, nó đối trị với
kết quả về môi trường, cuối cùng sức mạnh thứ tư là
sự quyết tâm không có gì hủy hoại được nhờ đó chúng
ta vượt qua được khuynh hướng có thói quen nhiều đời tạo
nghiệp bất thiện lập đi lập lại. Như thế trong việc hóa
giải bốn kết quả của nghiệp xấu, bốn sức mạnh đối
trị tịnh hóa chúng một cách hoàn toàn, ngăn ngừa chúng ta
chịu những kết quả của chúng. Loại lý luận minh bạch
và đầy đủ này nằm sau tất cả những giải thích và thực
hành của đạo Phật, góp phần khiến đạo Phật hấp dẫn
những người trí thức và có học tìm kiếm tâm linh ngày
nay.
Sức
mạnh thứ ba gồm nhiều loại chữa trị, từ việc lễ lạy,
xây dựng bảo tháp đến việc tụng niệm chân ngôn một trăm
âm Vajrasattva, tới việc thiền định về tánh Không. Lý tưởng
thay một số điều này được thực hành cùng lúc. Trong bình
giảng, Lama Yeshe nhấn mạnh sự chứng ngộ tánh Không và sự
tịnh hóa tuyệt đối và chỉ dẫn chúng ta làm thế nào thực
hành đúng đắn sadhana, bao gồm bốn sức mạnh đối trị,
dẫn dắt chúng ta một cách hệ thống đến sự chữa trị
thực tiễn trong sự thực hành, hay trì tụng chân ngôn. Sự
giải thích tỉ mỉ của ngài về kỹ thuật Đại thừa của
quy y bên trong như một phần sức mạnh của đối tượng là
hiếm có và độc nhất.
Lama
Yeshe đã làm cho cách thực hành tịnh hóa Vajra-sattva trở nên
rõ ràng và rất hiệu nghiệm để dành cho việc ẩn tu. Bởi
thế, Ngài đã đưa những giáo huấn chi tiết về mọi khía
cạnh của nhóm và cá nhân nhập thất, thật ra những giáo
huấn này hữu ích cho bất kỳ loại nhập thất nào.
Sáu
bài thuyết pháp trong phần 3 rất tuyệt vời, những bài thuyết
pháp chia thành từng cụm nhỏ giúp người nhập thất Vajrasattva
sẽ tìm thấy lợi lạc khi đọc giữa những thời công phu.
Tuy nhiên không một ai trong chúng tôi khi đọc những cuộc
nói chuyện tuyệt hảo này mà không cảm hứng bởi năng lực
kích động có một không hai của Lama.
Cuối
cùng, tất cả hành giả của Tantra mẹ yêu cầu được cúng
lễ Tsok vào ngày thứ mười và hai mươi lăm của lịch Tây
Tạng, và phần lớn lễ thực hành Guru Puja cũng làm như vậy.
Tuy nhiên, Heruka Vajrasattva Tsok mà Lama biên soạn cũng là một
phương tiện tuyệt diệu đáp ứng cam kết này, đặc biệt
trong khi nhập thất Vajrasattva, và hy vọng của chính Lama rằng
các đệ tử của Ngài và những người khác thêm lễ Puja
Tsok này như một phần trong việc thực hành đều đặn của
họ.
Người
ta thường nói rằng những giáo lý lam-rim giống như một bữa
ăn sẵn sàng để ăn – là con đường có tính luận lý trong
đó sự sắp xếp làm cho dễ thấy toàn bộ giáo pháp và dễ
biết theo thứ tự một loạt bao la những thiền định Phật
giáo cần thực hiện để hành giả đạt tới giác ngộ. Trong
Con đường Kim Cương thừa về sự Tịnh Hóa Lama Yeshe đã
chuẩn bị một bữa tiệc Tantra cho tất cả được thưởng
thức.
DẪN
NHẬP
NHỮNG
VỊ TRÍ THỨC HÃY CẨN THẬN !
Trong
một lễ truyền pháp quán đảnh vị Guru cầu gọi đến năng
lực thiêng liêng của vũ trụ, biểu hiện như trí huệ đại
lạc thiêng liêng trong hình dáng của vị hóa thần riêng biệt
– trong trường hợp này là Đức Heruka Vajrasattva. Năng lực
này kích hoạt một sức mạnh ngủ vùi trong hệ thần kinh
các đệ tử mà bây giờ được đánh thức và bắt đầu
rung động. Nếu bạn phát sanh trạng thái tâm thức vị tha
đúng đắn và một hiểu biết về tánh Không, tụng niệm
chân ngôn Vajrasattva, bạn sẽ lưu giữ và làm gia tăng sự
rung động đã được Đạo Sư kích hoạt. Bấy giờ qua một
giai đoạn thiền chỉ (thiền định tĩnh lặng) bạn khởi
đầu một tâm thức tĩnh lặng, tham thiền, giải thoát khỏi
dòng những tư tưởng không kiểm soát, mê mờ thông thường
của bạn, thì trí huệ nội tại nơi bạn sẽ tự động tự
hiển lộ.
Nhưng,
có một lời cảnh báo với người trí thức. Tự mình đọc
những giáo lý Tantric không có sức mạnh của lễ truyền pháp
thích hợp, chỉ là một tiêu khiển tri thức – chỉ bằng
cách thực hành đứng đắn dưới sự dẫn dắt của một
vị thầy đầy đủ phẩm tánh và kinh nghiệm mới có thể
giúp bạn tiến bộ vượt khỏi tri thức, vượt khỏi những
khái niệm của tư tưởng, dẫn đến trí huệ chân thật,
thanh tịnh và tự nhiên. Không phải tôi cố ý tạo sự huyền
bí, hay chuyên dành riêng ở đây, mà chỉ nói rằng nếu bạn
nghĩ bạn có thể hiểu, kinh nghiệm một mình về những phương
pháp của Yoga Tantra chỉ bằng cách đọc sách tức là bạn
đang đánh lừa chính bạn – giống như một người bệnh
hấp hối tự làm bác sĩ cho mình với cùng những phương pháp
đã làm cho người đó bệnh…
Phương
pháp yoga Heruka Vajrasattva nên được thực hành chỉ cho những
ai đã nhận lễ quán đảnh và khẩu truyền từ một vị Kim
Cương Sư chứng ngộ. Mặc dù bình giảng được xuất bản
ở đây vốn có giá trị vô hạn và phải được nghiên cứu
đầy đủ trước khi thực hành những phương pháp nó mô tả,
bạn phải nhận được lễ truyền pháp nhập môn và một
số hướng dẫn từ vị đạo sư của bạn. Nếu làm khác
đi, thì thay vì cho bạn cái kinh nghiệm trực tiếp bạn tìm
kiếm, nó sẽ trở thành sự luyện tập tri thức khô khan và
chỉ có ít lợi ích, tương đối.
Thiền
giả vĩ đại Tây Tạng Dharmavajra giải thích lễ quán đảnh
Tantra yoga tối thượng Heruka Vajrasattva là một nét đặc biệt
của truyền thống Gelug của Phật giáo Tây Tạng. Tantra yoga
tối thượng bao gồm những phương pháp nhờ đó bạn có thể
đạt đến giác ngộ chỉ trong một đời hay thậm chí như
trường hợp của Lama Tsong Khapa chỉ có ba năm. Lẽ dĩ nhiên
những lời dạy thâm sâu ấy không hề được xuất bản,
nhưng những phương pháp vẫn còn hiện hữu, không thoái hóa
trong tâm trí của một số hành giả. Những giáo lý mật truyền
này của Đức Phật có thể được trao truyền chỉ qua sự
tương thông nội tại không chướng ngại giữa vị Kim Cương
Sư (Vajra Guru) và đệ tử. Một ít người nhận thức rằng
những phương pháp đầy sức mạnh như vậy vẫn có thể tìm
thấy trong những lời dạy của phái Geluk.
Toàn
bộ truyền thống của những yogi Tây Tạng đã làm cho phương
pháp Yoga Heruka Vajrasattva thành một kinh nghiệm sống. Trước
khi bạn có thể hiện thực hóa giai đoạn phát sanh (kye-rim)
và giai đoạn thành tựu (dzok-rim) của tantra yoga tối thượng,
bạn phải tự tịnh hóa. Thực hành Vajrasattva là một trong
những cách có sức mạnh nhất để làm điều đó. Sau khi
nhận lễ truyền pháp, bạn nhập thất, trong đó bạn tụng
một trăm ngàn biến chân ngôn Vajrasattva một trăm âm. Điều
này giúp bạn thực hành hai giai đoạn của Tantra được nhiều
hiệu quả hơn. Nếu bạn không tịnh hóa những thói quen lâu
đời của thân, ngữ, ý, thì ngay cả nếu bạn có những nỗ
lực to lớn về thiền định trên con đường giác ngộ, bạn
sẽ không đạt được giác ngộ vì có quá nhiều chướng
ngại trên con đường của bạn.
Bởi
thế, bạn nên xen kẽ tịnh hóa với thiền định về lam-rim.
Ngay cả việc cố gắng hoàn thành tập trung nhất tâm (vipasyana)
mà không có sự tịnh hóa là nguyên nhân khiến bạn trở nên
chán nản, cảm thấy vô hy vọng và thối chí vì thấy mình
thiếu tiến bộ. Điều này bởi vì không nhận biết hay không
đối phó được với những chướng ngại do những quan niệm
sai lầm của tâm thức và những hậu quả của nó – thân
và ngữ bị ô nhiễm.
Một
số hành giả không được hướng dẫn, cố gắng kinh nghiệm
tánh Không đơn giản bằng việc bác bỏ sự hiện hữu của
tất cả hiện tượng, bị ám ảnh bởi ý niệm rằng tánh
Không là một loại hư vô mơ hồ nào đó. Nếu bạn muốn
hiện thực hóa tri kiến chân chánh về tánh Không chẳng hạn
như của trường phái Trung Quán (Madhayamaka) hay những phái
Thiền tông Phật giáo, bạn phải thực hành cả hai thứ phương
tiện và trí huệ. Một số người quan tâm lớn lao đến trí
huệ nhưng chẳng có ai để ý gì đến phương tiện – Họ
giống như con chim cố gắng bay với chiếc cánh gãy.
Bất
cứ khi nào bạn gặp chướng ngại hay bị gián đoạn trong
thực hành của mình, đừng nên nản lòng hay thất vọng. Hãy
nhận thức rằng bạn cần tịnh hóa, và lúc đó tập trung
vào phương tiện hơn là trí huệ, đúng thời gian bạn sẽ
đạt được sự tỉnh thức mà bạn tìm kiếm.