Mười
Thương
Một
thương đất khách dựng chùa
Hai
thương gìn giữ quê xưa nếp nhà
Ba
thương Phật điện nguy nga
Bốn
thương đạo pháp truyền ra nước ngoài
Năm
thương Phật tử khắp nơi
Sáu
thương cùng khổ không phai lời thề
Bảy
thương dân tộc hướng về
Tám
thương nguồn cội hồn quê vun trồn
Chín
thương xa cách muôn trùng
Mười
thương son sắt vẫn cùng núi sông.
Trí
Hoằng, 2001
Hình
bên là hình TT. Thích Trí Hoằng tại cuộc hội thảo Phật
Giáo Quốc Tế ở Việt Nam 7-2005 (Ghi chú của BBT)
Lời
Nói Đầu
Tập
sách này là kết tập những bài báo viết trên Bản Tin Hải
Ấn và Phật Giáo Việt Nam trong cùng một chủ đề. Đó là
Con Đường Phát Triển Tâm Linh. Nội dung các bài viết
này chỉ có một mục đích là trình bày các phương pháp tu
trì của Đạo Phật Việt Nam.
Qua
bao thăng trầm của lịch sử, Đạo Phật Việt Nam vẫn tồn
tại vững mạnh như bao giờ. Khi ẩn khi hiện trong mọi
tình huống chính trị và trong mọi bối cảnh lịch sử, nhưng
không bao giờ bị tiêu diệt. Sức mạnh đó như nguồn
nước, khi mạnh mẽ như thác đổ, khi dịu dàng như dòng sông
êm đềm chảy qua các đồng bằng, và khi âm thầm len lỏi
trong lòng đất. Điều gì đã khiến cho Đạo Phật Việt
Nam tồn tại qua cuộc tồn sinh thử lửa hàng ngàn năm?
Đó chính là Tinh Thần Dung Hóa. Đạo Phật đã đến
Việt Nam vào những ngày đầu của kỷ nguyên Tây lịch, đã
kết hợp với văn hóa bản địa để trở thành một thực
tại bất khả phân. Với tinh thần bao dung vô chấp Phật
Giáo đã chấp nhận mọi khác biệt tư tưởng nội tại cũng
như ngoại tại để dung kết trong đạo lý Tam Giáo Đồng
Nguyên (ba giáo thuyết khởi cùng một nguồn.) Con số ba tượng
trưng cho số nhiều. Phật Giáo đã kết hợp không những
với những luồng tư tưởng chính thống như Khổng Giáo và
Lão Giáo, nhưng cũng kết hợp với tín ngưỡng bản địa
để tạo nên một tín ngưỡng tổng hợp cho dân tộc.
Do đó trong một ngôi chùa chúng ta thấy có mặt tất cả những
xu hướng đó. Bên cạnh những pho tượng Phật, tượng
Tổ là tượng Khổng tử, Lão tử, Thập Điện Diêm Vương,
các thần sông núi, các anh hùng liệt nữ… Và các cách hành
trì của nhiều tông phái Phật Giáo đều có mặt như Tịnh
Độ Tông, Thiền Tông, Nam Tông và Mật Tông. Thâu hóa
những tinh hoa của các tông phái cũng như các nguồn tư tưởngkhác
nhau để bồi dưỡng cho sự hành trì của mình. Đây
là tính chất đặc biệt và cũng là sức mạnh của Đạo
Phật Việt Nam. Tinh thần bao dung và phóng khoáng này đã
làm cho Đạo Phật Việt Nam phong phú và đa diện có thể đáp
ứng được nhu cầu tu trì trên nhiều phương diện và có
thể tồn tại trong mọi hoàn cảnh. Với hoàn cảnh lịch
sử đặc thù và vị trí địa dư đặc biệt của đất nước,
Đạo Phật Việt Nam đã kết tinh từ những khó khăn thử
thách đó.
Các
bài viết trong tập sách này sẽ phân tích yếu tính của Đạo
Phật Việt Nam và con đường hành trì:
-Chương
1: Đức Phật và Con Người: phân tích về tính khai phóng trong
Phật Giáo cũng như vai trò của con người trong vấn đề sinh
tử, giải thoát.
-Chương
2: Đạo Phật Trong Lòng Dân Tộc: bàn về những đặc tính
căn bản của Đạo Phật Việt Nam và những đóng góp của
Đạo Phật trong văn hóa dân tộc.
-Chương
3: Phương Pháp Ăn Chay: trình bày về những lợi ích của vấn
đế ăn chay trong việc giữ gìn sức khỏe để tránh khỏi
những chứng bệnh nan y ngặt nghèo. Cũng như giữ gìn
lòng từ bi đối với muôn vật.
-Chương
4: Pháp Môn Lạy Phật: phương pháp hành trì thâm diệu để
luyện Thân và Tâm, đồng thời cũng để cập đến sự quan
hệ mật thiết giữa Thân và Tâm.
-Chương
5: Thiền Âm Thanh: cách hành trì thiền định bằng sự sử
dụng âm thanh. Âm thanh như một phương tiện hữu dụng
trong việc chuyển hóa phiền não.
-Chương
6: Phát Huy Phật Tính: bàn về phương pháp Niệm Phật trong
Tịnh Độ Tông như một phương cách hành trì đơn giản, trực
tiếp và thường xuyên trong việc tiếp xúc và phát huy Phật
tính.
Những
chương này bàn về phương pháp tu trì của Đạo Phật Việt
Nam trong vấn đề phát triển tâm linh. Sự phát triển
này đặt trên quan hệ mật thiết giữa Thân và Tâm.
Nói lên tính chất thiết thực của Đạo Phật Việt Nam.
Không phải đi đâu xa để tìm đạo. Đạo nằm ngay trong
lòng cuộc sống. Niết Bàn thực hiện ngay tại thế gian
đau khổ và giải thoát cũng đạt được ngay tại cuộc sinh
tử vô thường. Và châm ngôn căn bản cho sự tu tập này chính
là “ăn chay, niệm Phật.”
Ngày
nay, qua những trầm luân của lịch sử, cộng đồng Phật
Giáo Việt Nam tại hải ngoại không những đã bảo tồn duy
trì được những vốn liếng quý báu mà chư tổ và tiền
nhân đã đổ không biết bao tâm lực và sinh mạng để hình
thành; mà còn phát triển và truyền bá con đường tu trì này
đến với người bản xứ.
Đạo
Phật Việt Nam đã kinh qua bao gian khổ để tồn tại.
Kinh nghiệm đó cộng với tinh thần bao dung phóng khoáng vượt
qua những sai biệt chấp nê nhỏ hẹp để đưa con người
tiến đến giải thoát trong mọi tình huống. Đây có
lẽ sẽ là những đóng góp tích cực của Đạo Phật Việt
Nam trong một thế giới đầy nhiễu nhương, phức tạp, chia
rẽ, và khủng hoảng. Ngày nay, sự phát triển khoa học
kỹ thuật tại xã hội Tây phương làm khoảng cách ngắn lại,
sự truyền thông thuận tiện, sự chia cách không là trở ngại
và sự độc tôn giáo điều không còn chỗ đứng. Nhưng
ngược lại cũng làm con người điêu đứng với những nỗi
khổ từ thể xác đến tinh thần. Do vì sự tiêu thụ
quá nhiều độc tố trong việc ăn uống, cũng như tinh thần
căng thẳng quá mức trong sự làm việc. Đạo Phật Việt
Nam đã đến đúng lúc và đáp ứng kịp thời những nhu cầu
của con người thời đại. Với pháp môn tu tập thiết
thực đầy sự bao dung và tinh thần phóng khoáng, mang lại
lợi ích cả về thân xác lẫn tâm linh, Đạo Phật Việt Nam
sẽ giúp cho người Tây phương tìm thấy an hòa hạnh phúc
trong cuộc sống. Đó là phương cách tạo dựng cảnh
Tịnh Độ trong lòng thế gian.
Tập
sách này ra đời như một tín tâm sâu xa đối với pháp môn
tu tập truyền thống của Đạo Phật Việt Nam cũng như bày
tỏ lòng tri ân vô biên đối với liệt tổ tôn sư của đất
nước.
Hải
Ấn Tự, Đông Bắc Hoa Kỳ (Connecticut)
Rằm
tháng bảy năm Canh Thìn (14/8/2000).
Thích
Trí Hoằng.
Chương
I. Đức Phật và Con Người
Đức
Phật và Con Người
Cách
đây hơn hai nghìn năm trăm năm, vào một đêm trăng tròn tháng
tư âm lịch Đức Phật đã đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni
dưới cây Vô Ưu. Lúc đó trái đất rung chuyển, những
cầu vồng hào quang bảy màu xuất hiện quanh mặt trời và
quanh khu vườn đó. Các loài chim ca hót, các thú rừng
nhảy múa và các cây hoa nở ra những đóa thơm ngát cúng dường.
Những luồng gió mát thổi từ xa lại mang theo những hương
trầm ngào ngạt. Thời gian như ngừng chuyển không gian như
cô đọng. Tất cả hòa vào trong một bầu không khí hân
hoan chào đón sự xuất hiện của một vĩ nhân, một bậc
thầy của nhân loại. Một người mà sau này đã tìm
ra con đường để giải thoát cho con người vĩnh viễn thoát
khỏi khổ đau và trái đất chúng ta có vinh dự chào đón
sự xuất hiện của bậc vĩ nhân đó.
Con
Người Là Tối Thượng
Sự
đản sinh của Đức Phật như một thách đố của con người
đối với thần linh và sự thành đạo của Ngài như một
đánh dấu sự trưởng thành của tâm thức nhân loại.
Ngài đã siêu việt hóa khả năng vô biên của tâm linh để
con người từ nay vĩnh viễn làm chủ vận mệnh của mình.
Với nỗ lực của chính mình con người tự giải thoát mình
ra khỏi mọi đau thương vật chất cũng như tinh thần.
Không
biết bao nhiêu ngàn năm trước khi Đức Phật xuất hiện,
con người vì yếu đuối mê lầm, tưởng tượng ra một đấng
sáng tạo, sau đó giao phó hoàn toàn vận mệnh của mình cho
vị thần đó để rồi bị đày đọa trong những thế lực
thần linh do chính mình tạo dựng. Con người đã cho vị
thần đó tất cả mọi quyền năng để khi thần ban phúc thì
được sung sướng; khi thần giáng họa thì phải chịu gian
khổ. Từ đó cả một hệ thống giáo điều được thành
lập để nô lệ hóa con người, bắt con người phải tuân
phục những chuyện phi nhân, bắt con người phải nhắm mắt
tin vào các tín điều phi lý. Ai không đồng ý đều bị
thiêu sống. Cả thân xác lẫn linh hồn con người đã
bị giam cầm trong cái địa ngục gọi là “thiên đường.”
Không thể than van oán trách vào đâu được và không cách
nào thoát ra khỏi sự khống chế của những giáo quyền đó.
Đến
khi Đức Phật xuất hiện ánh sáng của sự giác ngộ đã
xua tan những bóng đen quái ác để con người nhận thức ra
rằng khổ đau hay hạnh phúc đều do chính TÂM mình tạo ra,
chứ chẳng phải do một vị thần linh nào có quyền lực quyết
định vận mạng của mình, hoặc có quyền ban phúc giáng họa
cho mình cả. Họa hay phúc đều là hậu quả của những
hành vi do mình tạo tác theo một định luật nhân quả.
Đó là Nghiệp. Như cụ Nguyễn Du đã phát biểu trong
Truyện Kiều:
“Đã
mang lấy Nghiệp vào thân,
Cũng
đừng trách lẫn trời gần trời xa.”
Hai
câu thơ đó đã gói ghém ý nghĩa hùng tráng quan niệm về
Nghiệp của đạo Phật. Một quan niệm chủ trương con
người chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hành động của
mình và sẵn sàng lãnh nhận mọi hậu quả đưa đến từ
những hành động đó, tốt cũng như xấu. Không than trời
trách đất, không than thân trách phận. Nhưng cũng không
có nghĩa Phật tử chấp nhận khổ đau một cách thụ động
như số mệnh đã an bài. Sự chấp nhận ở đây là sự
nhận lãnh trách nhiệm về nghiệp xấu mình đã gây ra trong
quá khứ chứ không trốn tránh. Nhưng đồng thời cũng
tìm cách chuyển đổi ác nghiệp thành thiện nghiệp bằng
những hành động vị tha và giữ tâm hồn từ bi thánh thiện.
Trong
quá trình chuyển nghiệp đó nỗ lực cải thiện nội tâm
được thực hiện liên tục cho đến lúc tâm hồn hoàn toàn
thanh tịnh. Đó chính là lúc con người tự tại giác
ngộ vượt ra ngoài mọi chi phối của nghiệp lực, chính là
lúc thành Phật. Khả năng thành Phật là khả năng tiềm
tàng trong mỗi con người, trong mỗi sinh vật, ngay cả trong
cỏ cây đất dá cũng đều có khả năng giác ngộ đó.
Đức Phật dạy: “ Tất cả chúng sanh đều có Phật tính.”
Hay “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành.” Đây
chính là điểm căn yếu của giáo lý đạo Phật: Phật tính.
Phật tính là khả năng giác ngộ tiềm tàng trong tự tâm của
mỗi người. Đức Phật đã chỉ rõ cho con người thấy
ai cũng có khả tính siêu việt đó. Sự khác biệt giữa
người giác ngộ và kẻ phàm phu ở nơi công phu tu tập.
Tâm của người giác ngộ như ly nước đã lắng đọng tất
cả những bùn đất phiền não và sự trong sáng của nước
hiển lộ. Còn tâm của kẻ phàm phu như ly nước bùn
đất bị khuấy động trong một hỗn hợp đục ngầu của
tham vọng, hận thù và mê muội. Chính những bùn đất
phiền não này đã che khuất sự trong sáng của chân tâm.
Sự giác ngộ của Đức Phật là sự thành tựu của quá trình
lắng đọng đó. Đây là sự khai phá tiềm năng vô biên
của con người và cũng là một thành tựu to lớn mà Đức
Phật đã mang đến cho con người: sự nhìn thấy bản tánh
chân thật của mình và của vũ trụ. Đạo Phật bắt
đầu từ nơi con người và tìm thấy Niết Bàn ngay trong tự
tâm của mình, chứ không bắt đầu ở thần thánh và thiên
đường xa xôi.
Sau
khi giác ngộ, Đức Phật đã giảng dạy đạo lý nhân bản
đó suốt hơn bốn mươi lăm năm. Ngài không bao giờ tự
xưng mình là Thượng Đế hay thần thánh gì cả, nhưng chỉ
là một con người bình thường và đã giác ngộ.
Vùng
đất dọc theo lưu vực sông Hằng đã ghi dấu bước chân
của Ngài, một con người đầu tiên của thế giới loài người
đã phát huy được những khả năng tiềm tàng vô biên của
tâm thức. Đưa con người vượt thoát những chi phối
của nội tâm cũng như ngoại cảnh, thế tục cũng như thần
thánh, để tự tại bình thản bước những bước chân an
lạc trên bãi cỏ xanh mướt màu ngọc thạch của đồng bằng
sông Hằng. Trong ánh sáng bình minh ửng hồng của tâm
thức nhân loại, vóc dáng của Ngài đã trải dài trên hai
ngàn năm trăm năm lịch sử, đã vang vọng vào tận cùng tiềm
thức của nhân loại khổ đau để ánh sáng giác ngộ đó
mãi mãi là ngọn đuốc soi đường giúp con người vượt qua
những đêm đen hãi hùng của tham vọng, hận thù và mê muội.
Giải
Thoát Là Tối Thượng
Đức
Phật dạy: “Nước trong bốn biển chỉ có một vị là vị
mặn, đạo của ta cũng chỉ có một vị là vị giải thoát.”
Câu nói đó đã bao hàm mục tiêu căn yếu của đạo Phật
và trong hơn bốn mươi năm hoằng hóa Đức Phật cũng chỉ
giảng dạy một con đường duy nhất đó là con đường thoát
khổ. Bài thuyết pháp đầu tiên về Tứ Diệu Đế tại
Vườn Nai cũng là bài thuyết pháp cuối cùng. Giáo lý
đó là tư tưởng nòng cốt cho toàn bộ đạo lý giải thoát
của Phật Giáo.
Đạo
lý đó được cô đọng trong bài giảng đầu tiên cho năm
anh em Kiều Trần Như: Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế có
nghĩa là bốn chân lý kỳ diệu, đó là:
-Khổ:
khổ đau là căn bản của cuộc sống.
-Tập:
nguyên nhân của khổ đau.
-Diệt:
an lạc tịch diệt là căn bản của giải thoát.
-Đạo:
con đường đưa đến giải thoát.
Khổ
ở đây không hạn hẹp trong phạm vi tình cảm, nhưng bao gồm
một phạm trù triết học rộng lớn về bản chất của sự
vật, đó là vô thường, vô ngã hay không trường cửu, không
đơn thuần và băng hoại. Trong kinh điển đề cập đến
tám loại khổ (sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, cầu bất
đắc, oán tăng hội, ngũ ấm xí thạnh), tựu trung có thể
quy vào ba loại khổ là vật chất, tinh thần và tâm linh.
-Khổ
về vật chất là nỗi khổ thiếu ăn, thiếu mặc, bệnh tật,
thiếu thuốc, già nua, chết chóc.
Khổ
về tinh thần bao gồm nhiều lãnh vực từ tình cảm đến
trí thức. Về tình cảm có những nỗi khổ của những
kẻ yêu nhau nhưng phải xa cách, nỗi khổ của những kẻ phải
đối mặt với người thù, nỗi khổ của những kẻ bất
đắc chí.. Về trí thức có những nỗi khổ của kẻ ngu dốt,
nỗi khổ của những kẻ nô lệ vào trí thức, nô lệ chủ
nghĩa, sử dụng trí thức để làm khổ nhân loại như chế
tạo vũ khí giết người… hoặc cuồng tín vào giáo điều
để đày đọa nhân loại trong các cuộc chiến tranh chủ nghĩa.
-Về
tâm linh với nỗi khổ lớn của sự cuồng tín vào thần quyền,
tự xiềng xích mình vào địa ngục của hoang tưởng đó.
Sự nô lệ vào thần linh đã làm cho con người luôn luôn sợ
hãi sự trừng phạt của trời thần quỷ vật và không bao
giờ dám tự trách nhiệm lấy hành động của mình. Sự
cuồng tín tôn giáo đã làm cho con người thù hận con người
thay vì thương yêu nhau như các giáo chủ đã dạy. Cuộc
chiến tranh tôn giáo tàn khốc giữa Thiên Chúa Giáo với Do
Thái Giáo và Hồi Giáo kéo dài hơn ngàn năm. Cuộc tàn
sát đẫm máu giữa Thiên Chúa và Tin Lành kéo dài hàng trăm
năm tại Âu Châu. Ngày nay tại Bắc Ái Nhĩ Lan cuộc xung
đột giữa các tôn giáo này vẫn còn tiếp diễn. Cũng
như những cuộc đánh nhau giữa Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo
vẫn còn tiếp diễn. Tất cả đều do cuồng tín và ngu muội.
Phật Giáo đã tự hào, suốt hơn hai ngàn năm trăm năm, chưa
bao giờ đổ một giọt máu vì nhân danh tín ngưỡng Phật
Giáo. Lúc Hồi Giáo tàn sát Phật Giáo tại Ấn Độ vào
thế kỷ thứ mười hai, chư tăng và Phật tử cam tâm chịu
chết chứ không chống trả, một số khác chạy thoát ra ngoài
để rồi đạo Phật truyền ra khắp phương Đông. Ngày nay
Phật giáo bị bách hại tại các nước phương Đông, thế
rồi Phật Giáo lan tràn khắp phương Tây. Phật Giáo Tây
Tạng cũng thế, tuy Trung Cộng tàn phá đất nước và tiêu
diệt nhân dân Tây Tạng, nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma lúc nào
cũng kêu gọi nhân dân Tây Tạng tiếp tục đấu tranh bất
bạo động. Và trong tương lai chắc chắn thế nào Trung
Cộng cũng phải nhường bước trước sức mạnh tâm linh đó.
Tập
là nguyên nhân của khổ đau. Những nguyên nhân đó là
gì? Đó là tham vọng, hận thù và mê muội. Tất cả những
khổ đau của con người từ cá nhân đến tập thể, quốc
gia, xã hội đều bắt nguồn từ những nguyên nhân trên.
Vì tham vọng con người làm khổ cho nhau, quốc gia xâm chiếm
lẫn nhau. Vì hận thù con người xung đột lẫn nhau, chiến
tranh tàn khốc kéo dài. Vì mê muội con người tự đày đọa
mình vào những địa ngục tối tăm của sự ngu dốt.
Diệt
là sự tịch diệt giải thoát. Khi tham vọng, hận thù
và mê muội chấm dứt thì những khổ đau không còn tồn tại,
con người đạt được an vui giải thoát. Đó là Niết
Bàn. Sự giải thoát là sự thanh tịnh tâm hồn.
Khi con người không còn những tham vọng chính trị hay tôn
giáo điên cuồng như ý muốn thống trị toàn thế giới, thì
con người không những đã giải thoát cho mình mà còn mang
lại hạnh phúc cho kẻ khác. Khi con người không còn hận
thù vì ganh ghét, đố kỵ không xem kẻ khác tử tưởng, chính
kiến như kẻ thù thì con người đã giải thoát cho mình và
góp phần vào việc xây dựng nền hòa bình trường cửu cho
thế giới. Khi con người không còn ngu muội cuồng tín
tin theo những chủ thuyết chính trị hay thế lực tôn giáo
đầy tham vọng và hận thù để tiêu diệt sự sống con người
cho những mưu đồ đen tối, là con người đã tự giải thoát
cho chính mình và đem lại hạnh phúc cho nhân loại.
Đạo
là con đường đưa đến giải thoát. Đó là Bát Chánh
Đạo, con đường của tám sự chân chánh. Đó là: sự
hiểu biết chân chánh, sự suy nghĩ chân chánh, lời nói chân
chánh, hành động chân chánh, sinh sống bằng nghề chân chánh,
nỗ lực chân chánh, ghi nhớ chân chánh, thiền định chân
chánh. Tựu trung, Bát Chánh Đạo chỉ nhằm đến một
mục đích duy nhất là sự giữ gìn cho tâm được trong sáng.
Khi tâm đã chân chánh, thì hành động sẽ chân chánh.
Mọi tai họa trên thế giới đều bắt đầu bằng tâm bạo
động, tâm chiếm đoạt, khi tâm con người đã trong sáng thanh
tịnh thì thế giới sẽ hòa bình an lạc.
Trên
đây là sơ lược về Tứ Diệu Đế. Đây là giáo lý
căn bản của mọi tông phái Phật Giáo. Đức Phật thường
dạy vì chúng sanh có nhiều trình độ và hoàn cảnh khác nhau,
do đó Ngài đã giảng dạy bằng nhiều cách khác nhau.
Từ căn bản đó, Ngài đã thiết lập tám mươi bốn ngàn
pháp môn, tức là tám mươi bốn ngàn đường lối tu tập
khác nhau nhưng đều đưa đến giải thoát. Từ đó Phật
giáo đã xuất hiện ra nhiều tông phái với những chủ trương
khác nhau từ Thiền Tông với chủ trương phế bỏ kinh điển,
đến Tịnh Độ Tông với sự hành trì bằng con đường tụng
kinh bái sám. Mật Tông với phương pháp trì chú mật
truyền, Hiển Tông với sự tuyên dương giáo nghĩa… Về hình
thức, các tông phái này có vẻ như mâu thuẫn đối nghịch
nhau về chủ trương cũng như phương pháp hành trì, nhưng thật
ra các tông phái này đều là các tông phái Phật giáo, tất
cả đều hướng về một mục đích duy nhất là giác ngộ
giải thoát. Còn những hình thức sai biệt kia chỉ là
những phương tiện khác nhau mà thôi. Ví như những người
đi về kinh đô bằng những phương tiện di chuyển khác nhau
tùy theo khả năng và điều kiện riêng của mỗi người để
tự chọn một phương cách thích nghi, nhưng tất cả đều
hướng về một mục tiêu như nhau. Từ đó Phật giáo
đã thiết lập một hệ thống kinh điển đồ sộ mà chưa
một hệ thống tôn giáo triết học nào trên thế giới có
thể so sánh được. Nhưng tất cả kinh điển đó đều
chỉ diễn tả một nội dung duy nhất đó là sự giải thoát.
Tính nhất quan này đã được hòa thượng Phước Hậu (1866-1953),
chùa Báo Quốc Huế đã diễn tả trong một bài kệ:
Giáo
pháp lưu truyền tâm vạn tư,
Học
hành không thiếu cũng không dư.
Năm
nay ngẫm lại chừng quên hết,
Chỉ
nhớ trên đầu một chữ Như.
Chữ
Như ở đây có nghĩa là Chân Như, Giải Thoát. Ngoài ra
cũng có nghĩa là tất cả kinh Phật do Ngài A Nan kết tập
đều bắt đầu bằng câu: Như Thị Ngã Văn (Tôi đã nghe Chân
Như Thị Hiện như sau.)
Từ
Bi và Trí Tuệ Là Tối Thượng
Sự
giải thoát chỉ đạt được trong sự giác ngộ hoàn toàn
với lòng từ bi vô lượng. Sự giác ngộ chính là sự
phát triển tột đỉnh của trí huệ, là sự hiểu biết toàn
diện. Tâm trí con người bị vô minh phiền não che lấp
không nhìn thấy bản tính chân thật của sự vật, để từ
đó ngộ nhận phát sinh, đó là căn nguyên của đau khổ.
Sự đau khổ đó chỉ chấm dứt khi nào tâm con người trong
sáng, ngộ nhận không còn, nhìn thấy sự thật hiển hiện.
Quá trình tu tập để phát triển trí tuệ, để làm sáng tâm
trí. Tham vọng ích kỷ được chuyển hóa thành vị tha,
hận thù được chuyển hóa thành từ bi, mê muội được chuyển
hóa thành trí tuệ. Trong quá trình chuyển hóa đó, nội
tâm được gạn lọc. Những bùn cặn vô minh được tẩy
trừ, để tâm trí hoàn toàn trong sạch. Đó chính là
cao điểm của trí tuệ và sự giác ngộ. Ánh sáng của
sự đạt đạo tỏa rạng khắp nơi, sự nghiệp này chỉ thành
tựu trong sự vị tha vô biên với lòng từ bi vô hạn.
Nếu giác ngộ không có từ bi thì đó là sự ích kỷ.
Khi tâm hãy còn phân biệt chấp ngã, hãy còn nghĩ đến mình
đến người thì mình hãy còn lăn lộn trong luân hồi lục
đạo, đó chưa phải là giác ngộ. Sự giải thoát chỉ
trọn vẹn khi có sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ với
từ bi.
Từ
bi là tình thương cao rộng trong ý nghĩa Từ là làm cho kẻ
khác bớt đau khổ và Bi là đem lại an vui hạnh phúc cho kẻ
khác. Sau khi được giác ngộ giải thoát, không còn
bị khổ đau vì sự chi phối của những điều kiện vật
chất cũng như tinh thần. Các vị Phật, Bồ Tát đã phát
lòng từ bi vô lượng thương tưởng đến những kẻ đang
trầm luân trong biển khổ để tìm phương cách cứu độ.
Với khổ đau vật chất, chúng ta chia sẻ cơm áo thuốc men,
với khổ đau tinh thần chúng ta dùng lời an ủi, dùng Phật
pháp để giác ngộ.
Trong
kinh điển Đại Thừa thường đề cập đến các vị bồ
tát với lòng từ bi vô lượng, như Bồ Tát Quan Thế Âm, trong
Kinh Phổ Môn, với hạnh nguyện cứu khổ cứu nạn cho chúng
sanh. Ngài lắng nghe tiếng kêu đau thương của chúng sanh
trong cõi Ta Bà để thị hiện cứu độ. Nơi nào có tiếng
kêu đau thương, nơi đó có mặt của Ngài. Bồ Tát Quan
Thế Âm đã phát nguyện: “Khi nào trong thế gian không còn
chúng sanh đau khổ thì lúc đó Ngài mới nhập Niết Bàn.”
Trong
Kinh Địa Tạng, Đức Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện xuống
địa ngục để cứu độ chúng sanh với đại nguyện: “Địa
ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh vị tận phương
chứng Bồ Đề.” (Khi nào địa ngục chưa trống hết thì
tôi chưa thành Phật, lúc nào chúng sanh chưa khỏi luân hồi
thì tôi chưa chứng Bồ Đề.) Với đại nguyện đó Bồ Tát
Địa Tạng đã xông pha vào các tầng địa ngục để cứu
vớt chúng sanh. Chỉ những chúng sanh trong các cõi đó
mới kinh nghiệm sâu xa về khổ đau. Trong triền miên
đau khổ đó, sự phát tâm mới sâu sắc và ý chí mong cầu
giải thoát mới mạnh mẽ. Có lẽ trong cõi địa ngục
là nơi chúng sanh thực chứng Đệ Nhất Diệu Đế về sự
khổ đau sâu sắc hơn hết. Nhưng sự thống khổ triền
miên không cho chúng sanh cơ hội tu tập, nếu không có từ
tâm bảo hộ của các vị bồ tát thì các chúng sanh đó chỉ
triền miên với đau khổ mà thôi.
Trong
Kinh Lăng Nghiêm, Ngài A Nan với đại nguyện: “Như nhất chúng
sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê Hoàn.” (Nếu
còn một chúng sanh chưa thành Phật, tôi nguyện chưa nhập
Niết Bàn.) Chúng sanh đây không phải chỉ là chúng sanh trong
một cõi, nhưng là tất cả chúng sanh trong mười phương thế
giới, trong vũ trụ bao la. Với con số thế giới vô cùng,
chúng sanh vô tận đó để chúng ta thấy được tầm kích
vĩ đại vô hạn về lòng từ bi của các vị Bồ Tát.
Trong
Phật Giáo, từ bi (tình thương) đi đôi với trí tuệ (sự
hiểu biết), đây là căn bản của sự tu tập chuyển hóa.
Hai tiêu chuẩn này như đôi chân của con người, chúng ta sẽ
bị què quặt nếu chỉ có một chân. Từ bi mà thiếu
trí tuệ chỉ là sự thương vay khóc mướn. Trí tuệ
thiếu từ bi chỉ là những kiến thức khô khan vô nhân.
Do đó sự giải thoát chỉ thật sự là giải thoát khi nào
con người đã phát triển cùng cực lòng thương và sự hiểu
biết của mình. Với ánh sáng trí tuệ giải thoát, các
vị Bồ Tát soi sáng nỗi khổ của chúng sanh bằng tình thương
bao la. Đối xử mọi người mọi loài bằng tâm bình
đẳng với tất cả sự thương yêu và sự hiểu biết để
tìm phương cách cứu vớt.
Tóm
lại, qua những tìm hiểu trên chúng ta thấy điểm nổi bật
của đạo Phật là đặt trọng tâm ở con người. Bắt
đầu từ nỗi khổ đau của con người, để rồi tìm phương
cách giải thoát nỗi đau khổ đó trong điều kiện và khả
năng của con người. Trong sự khám phá về tiềm năng
vô hạn của tâm thức con người, Đức Phật đã cho chúng
ta thấy rằng: chỉ có con người mới giải thoát mình ra khỏi
mọi nỗi thống khổ, không một thần linh nào có thể thay
đổi vận mệnh của con người, cũng như đày đọa con người.
Đạo lý về Nghiệp cho chúng ta nhìn thấy sâu sắc hạnh phúc
hay khổ đau là do con người tự tạo, con người làm chủ
lấy vận mệnh của mình. Vì mê lầm chúng ta tạo ra
một thần linh rồi trở lại nô lệ vào thần quyền đó.
Sự giác ngộ chính là sự nhận thức đúng đắn sự thật
đó mà thôi.
Chương
II. Đạo Phật Trong Lòng Dân Tộc
Đạo
Phật Trong Lòng Dân Tộc
Trong
sự tăm tối cùng cực của đêm là thời điểm khởi đầu
cho một ngày khác. Quê hương chúng ta đang trải qua những
ngày đen tối, nhưng niềm tin chúng ta vào sức sống mãnh liệt
của dân tộc không phai mờ. Sự tin tưởng này không
phải là niềm tin hão huyền hay một an ủi trong sự tuyệt
vọng. Suốt dòng sử mệnh, văn hóa Việt đã nhiều lần
minh chứng sức sống mãnh liệt đó.
Sức
sống đó chính là khả năng dung hợp cá biệt, hóa giải những
đối nghịch, đãi lọc những tinh hoa để phong phú nền văn
hóa cố hữu của mình trong truyền thống Tam Giáo Đồng Nguyên
của dân tộc. Đây là nền văn hóa tiềm tàng nhưng hiếu
động, là lực đẩy dân tộc Việt vượt qua mọi gian nguy,
tiến về phía trước. Chính trong những lúc tuyệt vọng
nhất là những lúc văn hóa Việt biểu lộ sức sống mãnh
liệt nhất. Sức mạnh này đã giữ cho dân tộc Việt
vẹn toàn trước những âm mưu xâm lăng ngoại lai trên các
lãnh vực văn hóa cũng như chính trị.
Về
phương diện hình thức, văn hóa Việt không có những công
trình tráng lệ và phô trương. Chúng ta không có những
đền đài hùng vĩ như Đế Thiên Đế Thích (Angkor Wat) của
Cam Bô Chia, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, Kim Tự Tháp
của Ai Cập v.v… Chúng ta không có những triết gia vĩ đại
như Khổng Tử, Lão Tử, Socrate, Descartes… Vì thế có người
cho rằng dân tộc chúng ta không có một nền văn hóa đặc
thù. Đó là cái nhìn hời hợt, phiến diện bên ngoài,
không thể nào nhìn thấy được sức sống mãnh liệt, tiềm
ẩn trong lòng dân tộc của nền văn hóa Việt.
Văn
Hóa Sự Sống
Văn
hóa đó chính là văn hóa về Sự Sống. Sở dĩ chúng
ta không có những đền đài cao chót vót vì hoàn cảnh thái
bình không có mặt lâu dài trên quê hương. Do đó bao
nhiêu tâm lực chúng ta đã sự dụng để bảo tồn cuộc sống
và để xây dựng niềm tin cao ngất về sự sống đó.
Cuộc tồn sinh thử lửa hàng bao ngàn năm qua với những cuộc
chiến diệt chủng tàn khốc là minh chứng hùng hồn về sức
sống mãnh liệt đó. Đất nước triền miên khói lửa
nhưng giống nòi không bị hủy diệt. Dân tộc bị lệ
thuộc hàng ngàn năm nhưng văn hóa không bị tiêu mất.
Chúng ta không có những triết gia vĩ đại vì mỗi chúng ta
một triết gia về sự sống của chính mình. Trong ca dao
Việt Nam không thiếu những câu biểu hiện triết lý yêu thương
nồng nàn sự sống đó:
“Còn
người còn của.”
“Người
sống hơn đống vàng.”
“Dầu
xây chín bậc phù đồ
Sao
bằng làm phúc cứu cho một người.”
Văn
hóa của chúng ta là sự sống. Mầu nhiệm và sinh động.
Chúng ta không thể hóa thạch sự sống trên những pho tượng,
đền đài. Chúng ta cũng không thể đóng khung sự sống
trong những chủ trương, triết thuyết hay giáo điều.
Tất cả những điều đó chỉ là sự tẩn ướp của một
thây ma được mệnh danh là “văn hóa.” Mọi nền văn hóa
đóng khung trong triết thuyết, giáo điều chỉ là những nền
văn hóa khô chết và phiến diện. Khi tìm đến một nền
văn hóa toàn diện là một cuộc hành hương tìm về cội nguồn
của sự sống. Rồi đắm mình trong dòng sống đó, chứ
không phải đứng trên bờ để phân tích tìm hiểu dòng sống
đó.
Yếu
tính của nền văn hóa Việt chính là sự sống. Hoàn cảnh
lịch sử chiến tranh liên tục của nước Việt đã khiến
cho dân tộc ta có một tinh thần yêu sự sống nồng nàn.
Những tang thương dâu bể giúp dân tộc ta ý thức sâu xa về
sự đổi thay vô thường để thấy rằng những công trình
kiến trúc cao vĩ cũng chỉ là công dã tràng trước sự phá
hủy tàn khốc của chiến tranh và thời gian. Một khi
sinh mệnh của dân tộc đã tuyệt chủng, thì những đền
đài đó chỉ là những phế tích, vang bóng một thời như
những Kim Tự Tháp của Ai Cập, vết tích của một dĩ vãng
huy hoàng, hay những tháp Chàm khóc thương cho quá khứ.
Sự
đau khổ dai dẳng trong chiến tranh đã làm cho dân tộc ta trưởng
thành. Do đó chúng ta không cần những triết gia chỉ
đạo về ý nghĩa của kiếp sống. Tất cả những nỗ
lực tư tưởng chính yếu của văn hóa Việt đều dồn vào
việc tu bồi cho sự sống thanh bình, tạo dựng một cuộc
sống an lạc giải thoát về vật chất cũng như tinh thần
trong lý tưởng “sanh thuận tử an” (sống an vui và chết
không nuối tiếc.) Một triết lý sống bình dị, nhưng
mạnh mẽ với sự tỉnh thức cùng độ trong từng giây phút
để tận hưởng sự mầu nhiệm của cuộc sống.
Nền
văn hóa này, cụ Nguyễn Đăng Thục gọi là Văn Hóa Chùa Một
Cột, tiêu biểu sự vượt thoát khỏi những thống khổ của
cuộc sống để đạt sự an lạc tự tại, như những đóa
sen sinh trong bùn, vượt qua sình lầy để vươn mình lên tỏa
hương thơm ngát dưới ánh mặt trời.
Mặt
khác, sự trường kỳ phấn đấu đã vun bồi un đúc cho dân
tộc ta một sức sống mãnh liệt, vượt qua mọi thử thách
để tồn tại. Sự thành tựu đó nhờ vào tính phóng
khoáng, tinh thần cởi mở của văn hóa dân tộc. Không
bị ràng buộc hay đóng khung trong một hệ thống ý thức hay
giáo điều nào. Từ đó chúng ta dễ dàng tiếp nhận
những luồng văn hóa ngoại nhập, kể cả những ý thức hệ
đối nghịch để dung hóa, tô bồi phong phú cho nền văn hóa
sinh động của mình. Lịch sử văn hóa dân tộc đã cho
chúng ta thấy rõ yếu tố đặc thù này trong sự thành tựu
của đạo học “Tam Giáo Đồng Nguyen.”
Tinh
Thần Dung Hóa
Ngay
từ đầu kỷ nguyên, Việt Nam đã là một trạm giao thông
nằm trên ngã tư quốc tế. Những thương gia Ấn Độ
hoặc các nước khác muốn sang Trung Hoa đều dừng chân tại
Việt Nam trước khi tiếp tục cuộc hành trình. Ngược
lại, tàu bè từ Trung Hoa sang Ấn Độ, Ả Rập đều phải
ghé lại Việt Nam. Chính vị trí giao thông đặc biệt
này đã khiến dân tộc Việt có cơ hội tiếp xúc với những
nền văn minh dị biệt, học hỏi nhiều nền văn hóa ngoại
quốc rất sớm để từ đó dân tộc có tầm nhìn bao quát,
rộng rãi và phóng khoáng hơn. Thêm vào đó bản tính
bao dung, cởi mở cố hữu đã tạo nên một tinh thần đặc
thù của văn hóa Việt. Tên cũ của nước ta là Giao Chỉ
đã gói ghém những ý nghĩa của tinh thần giao lưu văn hóa
đặc biệt này.
Theo
giáo sư Nguyễn Đăng Thục, tinh thần giao lưu này chúng ta
có thể nhìn thấy trong huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ,
giải thích về nguồn gốc “Con Rồng Cháu Tiên” của dân
tộc Việt, đã ngụ ý rất rõ ràng về sự kết giao giữa
hai nền văn hóa đại dương của Ấn Độ và văn hóa lục
địa của Trung Hoa. Lạc Long Quân dòng dõi Rồng ở biển
và Âu Cơ dòng dõi Tiên ở non cao. Núi cao biển rộng
trong một tao ngộ trùng phùng sản sinh ra một tinh hoa tổng
hợp: bọc trứng trăm con. Tiêu biểu cho sức sống vô
tận, trẻ trung, mạnh mẽ như sức sống của cả trăm dân
tộc dồn lại. Đó là nguồn văn hóa sống động của
dân tộc Việt.
Từ
hoàn cảnh lịch sử, từ vị trí địa dư đã hun đúc cùng
với tinh khí của dân tộc đã tạo ra một nền văn minh sáng
hóa, phong phú và sinh động. Tinh thần đặc thù của
nền văn hóa này là khai phóng, mở cửa với mọi tư tưởng
dị biệt, với mọi văn minh ngoại lai, để rồi thâu hóa,
bồi bổ, tô điểm cho nền văn hóa cố hữu của mình ngày
thêm phong phú. Điển hình là sự thâu hóa hai nền văn
hóa Ấn Độ và Trung Quốc trong những thế kỷ đầu lập
quốc, cũng như sau này sự thâu hóa văn minh Âu Tây trong thế
kỷ hai mươi.
Tam
Giáo Đồng Nguyên
Văn
hóa Ấn Độ truyền vào Việt Nam theo đường biển do các
thương gia và các vị sư người Ấn. Đạo Phật được
truyền vào Việt Nam rất sớm trước khi truyền sang miền
Nam Trung Quốc. Trong một bút ký về cuộc đàm luận giữa
quốc sư Đàm Thiên và Linh Từ Thái Hậu nhà Đường đã cho
thấy rằng trong khi đạo Phật chưa truyền đến phía Nam Trung
Quốc, thì tại Giao Châu (tên cũ của Việt Nam) đã dựng được
mấy chục ngôi chùa và đã dịch được nhiều bộ kinh từ
tiếng Phạn sang tiếng địa phương. Những thế kỷ sau,
trong những cơn binh biến tại Hoa Lục, rất nhiều sĩ phu Trung
Quốc không chấp nhận tân triều đã sang Giao Châu tỵ nạn.
Trong số đó có Mâu Bác, một thiền sư nổi tiếng đã viết
bộ “Lý Hoặc Luận” và bắt đầu khai sáng thiền học
tại Việt Nam. Vào thế kỷ thứ tư, một thiền sư Việt
Nam Khương Tăng Hội đã rời Luy Lâu (Hà Nội) để sang Nam
Kinh hoằng dương Phật Pháp. Tại đây Ngài đã dịch
rất nhiều bộ kinh từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc,
ngày nay vẫn còn lưu truyền. Một trong những bộ kinh
đó là Kinh An Bang Thủ Ý, cuốn kinh gối đầu cho những người
tu thiền.
Khổng
học và Lão học được truyền sang Việt Nam do các quan cai
trị người Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên cũng như các
trí thức tỵ nạn người Trung Quốc. Trong tư tưởng
Trung Hoa, Khổng Giáo chủ trương hữu vi nhập thế (giúp đời
bằng hành động,) Lão Giáo chủ trương vô vi xuất thế (không
xen vào việc đời.) Hai hệ thống tư tưởng này đối nghịch
nhau như nước với lửa. Chính Lão Tử đã từng kết
tội Khổng Tử là kẻ đã làm loạn trật tự của vũ trụ
khi ông đặt ra pháp luật, cương thường.
Trong
khi đó Phật Giáo chủ trương vô ngã giải thoát (không chấp
để giải thoát). Với chủ trương không chấp của Phật
Giáo, tổ tiên chúng ta đã vượt qua những hạn hẹp của
Khổng Lão, làm một cuộc dung hóa toàn diện, hình thành một
nền tam giáo đồng nguyên (ba tư tưởng có cùng một nguồn).
Vì Phật Giáo không chấp “hữu” lẫn “vô”, với tinh
thần vô chấp đó đã dung hóa được cả hữu vi của Khổng
Giáo lẫn vô vi của Lão Giáo. Một đạo lý sống toàn
vẹn giải đáp được cả ba mặt: sinh lý, tâm lý, và tâm
linh.
Trong
tinh thần Tam Giáo đó, con người đi vào đời với tinh thần
phụng sự của Khổng Giáo, nhưng không tham cầu danh lợi.
Khi nhiệm vụ đã hoàn thành, bổn phận đã làm xong, rời
bỏ danh lợi không chút luyến tiếc trong tinh thần tiêu dao
của Lão Giáo, để di dưỡng tâm linh. Cho dầu nhập thế hay
xuất thế lúc nào cũng giữ tâm thanh tịnh, tu trì giới đức.
Thái độ nhập thế vô chấp này có thể tìm thấy qua hành
tung của thiền sư Vạn Hạnh, người đã tạo dựng triều
đại nhà Lý. Sau khi triều đình đã được thành lập,
người ta không còn thấy bóng dáng của vị thiền sư này
đâu nữa. Cũng như các vua triều Trần đã nhường ngôi
cho con để vào núi tu thiền.
Tinh
thần Tam Giáo Đồng Nguyên này là một hòa điệu nhịp nhàng
của những đối nghịch trong cuộc sống. Trong muôn mặt
của thực tế, có lúc chúng ta cần có thái độ “hữu”,
có lúc “vô”, và có lúc phải bỏ cả “hữu” lẫn “vô”.
Đó là thái độ không cực đoan quá khích.
Trong
mỗi người Việt Nam đều sống với cả ba hệ thống tư
tưởng trên, cư xử với nhau trong cương thường của Khổng
Giáo, tiêu dao nhàn nhã trong tư tưởng vô vi của Lão Giáo,
và tự tại giải thoát trong đạo lý giác ngộ của Phật
Giáo. Do đó trong đạo lý truyền thống Việt Nam, thật
khó phân biệt ai là người theo Khổng Giáo, Lão Giáo hay Phật
Giáo. Sau này khi thực dân Pháp đô hộ đã gọi những
người Việt theo tín ngưỡng truyền thống là “Lương”
để phân biệt với “Giáo” (Thiên Chúa Giáo.)
Tinh
thần Tam Giáo Đồng Nguyên này đã giúp dân tộc phát triển
về mọi mặt. Các triều đại huy hoàng nhất tiêu biểu
cho tinh thần này là các triều Lý và Trần, trong đó Phật
Giáo là một nhân tố tích cực nhất đóng góp vào giai đoạn
uy hùng cực thịnh của lịch sử dân tộc. Dưới các
triều đại này chúng ta không những mạnh về chính trị (thoát
khỏi sự đô hộ của Trung Quốc), về quân sự (phá Tống,
bình Chiêm, ba lần đánh thắng quân Mông Cổ), mà còn mạnh
về học thuật (chữ Nôm được sáng chế,thiền phái Trúc
Lâm được thành lập). Đạo lý Tam Giáo Đồng Nguyên
đã huân tập cho dân tộc tinh thần phóng khoáng, cởi mở
để mở cửa đón nhận tinh hoa của các nền văn minh khác
nhau, để sáng hóa và phong phú nền văn minh của chính mình.
Thân
Hóa Văn Minh Tây Phương
Đến
thế kỷ thứ mười sáu, đất nước chúng ta bắt đầu tiếp
xúc với văn hóa Tây Phương do các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo
mang đến. Sự tiếp xúc này đã đưa đất nước vào
vòng nô lệ nhục nhã gần một thế kỷ dưới sự đô hộ
của người Pháp vào giữa thế kỷ thứ mười chín.
Trong văn hóa của “súng đạn,” nhân nghĩa không giữ được
thành trì, đất nước chúng ta bị bắt buộc phải canh tân.
Sự hô hào sử dụng chữ quốc ngữ thay thế chữ Nho của
các nhà ái quốc đầu thế kỷ hai mươi, mở ra một chiến
lược canh tân mới: “Dùng chính vũ khí của Tây để đánh
Tây” như học giải De Francis đã kết luận trong cuốn sách
viết về chữ quốc ngữ của ông.
Chữ
Quốc ngữ lúc đầu do các giáo sĩ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Ý và Pháp phiên âm để dễ dàng cho họ trong việc học nói
tiếng Việt cho mục đích truyền giáo mà không cần phải
học chữ Nôm và chữ Nho. Do đó thứ chữ này suốt trong
ba trăm năm chỉ được các giáo sĩ ngoại quốc sử dụng
mà thôi, ngay cả giáo dân địa phương cũng không mấy người
biết. Đến năm 1862, sau khi chiếm Nam Kỳ người Pháp
bắt đầu áp đặt việc phổ biến chữ quốc ngữ để thay
thế chữ Nho. Nhân dân trong vùng bị chiếm phản kháng
mạnh mẽ. Điển hình là thái độ bất hợp tác của
các sĩ phu như Phan Đình Phùng, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình
Chiểu. Tuy dưới áp lực của người Pháp suốt mấy
chục năm chữ quốc ngữ vẫn không phổ biến. Cho đến
năm 1907, hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh hô hào canh tân
đất nước và sử dụng chữ quốc ngữ để làm lợi khí
đấu tranh giành độc lập. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục
được thành lập. Với chữ quốc ngữ dân chúng chỉ
cần học vài tháng là có thể biết đọc biết viết truyền
đơn cũng như sách cải cách. Từ đó chữ quốc ngữ
mới phổ cập rộng rãi trong dân chúng. Chỉ trong vòng
hơn mười năm chữ quốc ngữ đã đủ trưởng thành để
thay thế chữ Nho, chữ Nôm và khoa thi Hán học cuối cùng được
kết thúc vào năm 1919. Trong mục đích đó chữ quốc
ngữ đã được tổ tiên chúng ta chấp nhận, bổ sung, cải
thiện để thành chữ viết chính thức hiện nay. Tổ
tiên chúng ta với chủ trương “mở mang dân trí, đấu tranh
giành độc lập” do đó không ngần ngại trong việc tiếp
nhận văn hóa mới trong các lãnh vực khoa học, văn hóa, nghệ
thuật.
Qua
những phân tích trên chúng ta thấy rằng dân tộc chúng ta
với tinh thần phóng khoáng và uyển chuyển, sẵn sàng tiếp
nhận tất cả những nền văn hóa dị biệt của người để
làm phương tiện bồi dưỡng và cải thiện nền văn hóa của
mình. Nhưng điều này không có nghĩa là một sự chấp
nhận nô lệ văn hóa, chịu để cho một văn hóa nào thống
trị. Lấy tinh thần dung hóa của Tam Giáo Đồng Nguyên
làm nền tảng cho mọi sự kết hợp. Có như thế, chúng
ta mới duy trì được bản chất của văn hóa Việt, nếu không
chính là sự đánh mất mình để trở thành một loại cô
hồn văn hóa.
Khi
nhà cầm quyền hiểu rõ những tính chất đặc thù đó của
văn hóa Việt thì đất nước hùng cường, nhân dân an lạc.
Khi nhà cai trị đi vào con đường cực đoan, cố chấp thì
đất nước loạn ly, nhân dân đói khổ. Dưới các triều
đại Lý, Trần, tuy Phật Giáo là quốc giáo với các quốc
sư tạo dựng nhà Lý như Vạn Hạnh, Lý Khánh Vân, triều Trần
với những vị vua đạo đức sáng ngời như Thái Tông Hoàng
Đế là tác giả cuốn Thiền Tông Chỉ Nam, Nhân Tông Hoàng
Đế là tổ sư phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, với những thiền
sư tráng sĩ như thượng tướng Trần Quốc Tảng cũng là thiền
sư Tuệ Trung Thượng Sĩ. Các vị này với tinh thần phóng
khoáng, giác ngộ của nhà Phật, đã lập được thế chân
vạc vững vàng trong chủ trương Tam Giáo Đồng Nguyên.
Trong giai đoạn đó tuy thế lực Phật Giáo lớn, nhưng không
độc tôn. Nho Giáo dưới thời Lý, Trần được trọng
vọng, nhà vua đã mở các khoa thi, lập Văn Miếu thờ Khổng
Tử, xây Quốc Tử Giám dạy kinh sử.
Sang
đến nhà Lê, thế chân vạc này đã mất. Với tinh thần
Nho Giáo độc tôn, các nho sĩ bắt đầu châm biếm, chống
đối Phật Giáo và Lão Giáo. Trong lịch sử chúng ta chỉ thấy
nhà Nho chống báng nhà Phật, chứ chưa bao giờ thấy nhà Phật
chống báng nhà Nho. Tinh thần cố chập độc tôn này
đã đưa đất nước vào vòng ly loạn suốt từ thế kỷ thứ
mười sáu cho đến bây giờ. Bắt đầu với cuộc chiến
Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hàng trăm năm. Sau đó là cuộc
xưng hùng tranh bá giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Thanh
bình không bao lâu lại rơi vào vòng nô lệ của thực dân.
Sau đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ đã đưa dân tộc
đến chỗ suy thoái cùng độ. Ngày nay tuy đất nước
hòa bình nhưng lòng người vẫn ly tán, những khác biệt của
dân tộc vẫn tồn tại, những hận thù của lịch sử vẫn
còn âm ỉ.
Trong
suốt thời kỳ Nho Giáo độc tôn cũng như thời kỳ súng đạn
làm chủ, Phật Giáo đã rời bỏ triều đình để trở
về tiềm ẩn trong thôn làng. Thăng trầm với dân tộc,
đồng lao cộng khổ với nhân dân trong cuộc sống. Cho
dầu tình huống đất nước thế nào, Phật Giáo vẫn là điểm
tựa tinh thần vững chắc cho nhân dân cùng khổ, là nơi nhân
dân đặt để niềm tin lẽ sống trong những khi bức bách
cùng khốn, là tia hy vọng bám víu cuối cùng trong hoàn cảnh
đọa đày tuyệt vọng. Phật Giáo và Dân Tộc đã quyện
vào nhau. Dân Tộc đã bảo tồn Phật Giáo và Phật Giáo
đã nuôi dưỡng niềm hy vọng cho Dân Tộc.
Kết
Luận
Ôn
lại lịch sử để nuôi dưỡng niềm tin vào sức mạnh văn
hóa dân tộc. Với tinh thần không độc tôn, không cực
đoan nhưng khoan hòa độ lượng, tổ tiên chúng ta đã thành
công trong việc chuyển hóa mọi ý thức hệ đối nghịch,
mọi tư tưởng dị biệt thành những phương tiện bồi bổ
cho nền văn hóa Việt ngày càng quang rạng, làm cho nền văn
hóa cố hữu của dân tộc thêm phong phú. Chúng ta chưa
bao giờ tự hủy diệt nền văn hóa của mình để làm nô
lệ cho các nền văn hóa ngoại lai. Bài học lịch sử
chứng minh cho chúng ta thấy, khi chúng ta rời xa văn hóa dân
tộc để đem văn hóa ngoại tộc về thống trị thì đất
nước rơi vào thảm họa chinh chiến. Khi chúng ta từ
bỏ con đường bao dung để đi vào độc tôn thì dân tộc
chịu cảnh tương tàn, nhân dân lầm than. Cuộc chiến
tranh chủ nghĩa không tưởng Tây phương vẫn còn là vết thương
đau nhức cho đến ngày hôm nay.
Qua
bao thăng trầm của lịch sử, vận mạng của Phật Giáo luôn
luôn gắn liền với vận mạng của dân tộc. Khi dân
tộc quang vinh, Phật Giáo hưng thịnh. Khi dân tộc bị
nô lệ khổ nhục, Phật Giáo suy yếu. Dầu thịnh dầu
suy, lúc nào Phật Giáo cũng sát cánh cùng dân tộc, đồng
lao cộng khổ để đưa dân tộc đi lên, đưa đất nước
đến chỗ phú cường. Trong thời đại hoàng kim của
đất nước dưới triều đại Lý Trần, Phật Giáo là nhân
tố tích cực để kết nối Khổng Lão trong chủ thuyết Tam
Giáo Đồng Nguyên, thu thập nhân tâm về một mối. Trong
tinh thần đó những hội nghị dân chủ đầu tiên của đất
nước diễn ra trong ngày Hội Diên Hồng. Với quyết tâm
của cả một dân tộc thì không một bạo lực nào có thể
thắng được. Điều đó đã chứng minh trong ba lần chiến
thắng quân Mông Cổ, một đội quân chưa bao giờ chiến bại
trên toàn cầu. Dưới thời Lê khi Nho Giáo độc tôn,
Phật Giáo trở về tiềm ẩn trong thôn làng, làm chỗ nương
tựa tâm linh cho nhân dân cùng khổ để chờ ngày quang phục.
Dưới thời Pháp thuộc trong tinh thần vô chấp của Phật
Giáo tổ tiên chúng ta không ngần ngại thâu hóa văn minh của
người để làm lợi khí đấu tranh giành độc lập.
Trong văn hóa dân tộc Phật Giáo là huyết mạch, là cốt tủy,
là thực thể bất khả phân. Do đó khi nói đến văn
hóa Việt Nam không thể không nói đến văn hóa Phật Giáo.
Con
đường cứu nguy cho đất nước chỉ còn một con đường
duy nhất là trở về với văn hóa dân tộc! Mọi xung
đột mâu thuẫn chỉ giải quyết được khi người Việt nhìn
nhau trong tình tự dân tộc. Những khác biệt trong dân
tộc, những hận thù trong lịch sử chỉ tiêu tan khi nghiệp
dĩ của dân tộc được chuyển hóa. Điều đó chỉ thực
hiện được khi người Việt nhận diện được “bản lai
diện mục” (mặt mày xưa nay) của dân tộc mình. Khi
hồn nước trong mình vững mạnh thì sống ở đâu cũng không
bị mất gốc. Khi hồn nước không còn thì dân Việt
dù ở tại quê hương hay hải ngoại cũng chỉ là những cô
hồn vất vưởng.
Chúng
ta vững tin vào sinh lực của dân tộc. Những hiện tượng
về nguồn của người Việt hải ngoại, cũng như sự phục
hồi các lễ hội trong nước là những dấu hiệu biểu lộ
sức sống tiềm tàng của văn hóa dân tộc. Lũy tre xanh
là hàng rào kiên cố để bảo tồn và phát huy văn hóa dân
tộc. Ngày nào tre vẫn xanh, sinh lực dân tộc vẫn tiềm
tàng.
Chương
III. Phương Pháp Ăn Chay
Phương
Pháp Ăn Chay
Trong
truyền thống tu tập Việt Nam, vấn đề ăn chay được đặt
ngang hàng với sự giữ giới. Đối với hàng Phật tử
tại gia việc ăn chay được khuyến khích gia tăng số ngày
ăn, còn đối với người xuất gia đó là điều kiện bắt
buộc. Tại sao vấn đề ăn chay được đặt quan trọng như
vậy? Qua những phân tích sau chúng ta sẽ hiểu rõ vấn đề.
CA
DAO TỤC NGỮ
Trong
từ ngữ Phật giáo Việt Nam “ăn chay niệm Phật” đi đôi
với nhau, trình bày ngắn gọn phương pháp tu tập chú trọng
trên cả hai phương diện Thân và Tâm. Sự hành trì này
đã ăn sâu vào nếp sống của dân Việt trong các câu ca dao,
tục ngữ như:
“Đói
ăn rau, đau uống thuốc”
“Còn
ao rau muống, còn đầy chum tương”
“Anh
đi anh nhớ quê nhà
Nhớ
canh rau muống, nhớ cà dầm tương.”
Có
thể nói thực phẩm chính của dân quê Việt Nam là rau đậu.
Sự ăn uống đạm bạc này đã giúp giải quyết được nạn
đói kém, giữ gìn sức khỏe, cũng như nuôi lớn dân tộc
Việt trường tồn trong lịch sử. Truyện Phù Đổng Thiên
Vương ghi lúc cậu bé ăn uống xong, lớn nhanh thành người
hùng tráng, cỡi ngựa sắt ra trận:
“Bảy
nong cơm, ba nong cà,
Uống
liền vốc nước cạn đà khúc sông.”
Những
câu ca dao, tục ngữ cũng như huyền sử Việt Nam cho thấy
việc ăn chay đóng góp tích cực trong việc nuôi sống và nuôi
lớn dân tộc Việt. Qua đó chúng ta thấy sự có mặt
của phương pháp tu tập đạo Phật Việt Nam.
Tại
Việt Nam, cho dầu không ăn chay, trong các bữa ăn của người
Việt thực phẩm chính vẫn là rau đậu. Cùng với sự
lao động chân tay làm con người ít bệnh.
Ngày
nay, sống tại Âu Mỹ, nhiều người đã thay đổi sự dinh
dưỡng bằng cách gia tăng khẩu phần thịt, trong khi đó thiếu
hoạt động thể dục chân tay. Đây chính là nguyên nhân
gây ra những chứng bệnh hiểm nghèo như: ung thư, áp huyết
cao, cholesterol, các chứng bệnh tim. Một vị bác sĩ cho
chúng tôi biết, lúc người Việt tỵ nạn mới định cư ở
Hoa Kỳ mười người chỉ có hai người bị cholesterol.
Sau mười năm, mười người hết tám người bị bệnh đó.
Đến khi ngã bệnh, bác sĩ cho biết muốn bớt bệnh chỉ còn
phương cách ăn chay.
NGUY
HẠI TRONG VIỆC ĂN THỊT
Trong
thịt chứa rất nhiều các độc tố gây ra các chứng bệnh
nguy hiểm.
1.
Chất béo (fat): Chất béo trong động vật là chất béo bão
hòa (saturated fat). Chất này có trong thịt và dầu dừa.
Nếu chúng ta tiêu thụ quá nhiều chất béo này, các chứng
bệnh như mập phì, ung thư và các chứng về tim mạch sẽ
dễ dàng phát sinh. Các chất béo này thường đông đặc
ở nhiệt độ thường. Khi vào trong máu sẽ tạo thành
cholesterol đóng ở bờ thành các mạch máu làm cho máu đông
đặc, dẫn đến hiện tượng xơ cứng động mạch, gây ra
tình trạng tắc nghẽn sự lưu thông của máu, tạo ra chứng
động tim (heart attack), và đứt mạch máu não (strokes).
2.
Chất xơ (fiber): Chất xơ không có trong thịt cá. Chất
này lấy từ thực vật và có nhiệm vụ giúp thực phẩm di
chuyển dễ dàng trong hệ thống tiêu hóa và làm giảm lượng
cholesterol trong máu. Ăn nhiều thịt sẽ gây nên bệnh
táo bón, bệnh về tiêu hóa, ung thư ruột và các chứng rối
loạn về đường ruột.
3.
Chất đạm (protein): Nhiều người nghĩ rằng, ăn nhiều thịt
cá để có đủ chất đạm. Điều này sai lầm, vì những
nghiên cứu y học gần đây cho thấy nếu ăn nhiều thịt cá
sẽ làm tổn thương đến gan thận và dễ gây ra chứng bệnh
xốp xương và ung thư. Các nghiên cứu này cho thấy sự
gia tăng lượng protein thịt dẫn đến sự mất chất vôi (calcium)
qua đường bài tiết, cũng như tăng trưởng bệnh sạn thận.
Các quốc gia có tỷ lệ gãy xương cao là Hoa Kỳ, Na Uy, Đan
Mạch.
4.
Các độc tố do sự chăn nuôi:
Ngày
nay vấn đề chăn nuôi đã được công nghiệp hóa. Người
ta đã dùng rất nhiều hóa chất để làm cho súc vật lớn
nhanh. Với chất hormone, người ta có thể làm cho con vật
lớn nhanh gấp đôi, gấp ba. Ví dụ: Thời gian cần để cho
heo lớn là hai năm. Với chất hormone, người ta chỉ cần
tám tháng là heo đã lớn bằng con hai năm. Quả thật
heo lớn như thổi. Con người tiêu thụ thịt các con vật
đó, rồi cũng lớn như thổi. Các chứng bệnh độc hại
cũng từ đó phát sinh ra.
Gà
cũng thế. Từ lúc chui ra khỏi trứng cho đến ngày vào lò
sát sinh, các con gà này được nuôi trong những chuồng hộp
chật hẹp, chỉ đủ chỗ để nằm. Do đó các con gà
này không đi đứng được, chúng bị bại liệt và suốt đời
không hề thấy ánh mặt trời. Chúng ta ăn những con vật bệnh
hoạn như thế, thì làm sao chúng ta có thể khỏe mạnh được.
Bò
cũng thế. Bò là động vật ăn cỏ. Thế nhưng với
kỹ thuật chăn nuôi hiện đại, người ta đã dùng hormone
cùng với các ruột lòng phế thải để làm thức ăn cho bò.
Việc chăn nuôi này làm đảo lộn hệ thống tiêu hóa của
con vật và là nguyên nhân gây ra chứng bệnh “bò điên (mad
cow disease).” Bệnh này đã làm mấy chục người bị
chết và cả thế giới không ai dám nhập cảng thịt bò của
Anh quốc.
Đối
với nhiều loại súc vật khác cũng thế. Người chăn
nuôi chỉ biết làm sao cho lãi nhanh, lãi nhiều. Còn chuyện
độc hại hay không là việc của người tiêu thụ.
5.
Các độc tố sinh ra lúc con vật bị giết: Các con vật cũng
có linh tính như con người. Chúng ta vẫn thưòng nghe những
chuyện kể về các con vật trước khi bị đưa vào lò sát
sinh. Nhiều con trì lại không chịu đi, nhiều con nưóc
mắt ràn rụa. Trong các phim về động vật, cũng có những
phim nói về tình cảm của súc vật. Phim quay cảnh tượng
những con voi cứ quây quần quyến luyến bên xác của voi con
suốt mấy ngày. Hoặc cảnh con vượn ôm xác con kêu la
thảm thiết cho đến lúc thây rã nát ra. Hoặc những
con chó đã nhịn ăn khi người chủ qua đời, sau đó nó cũng
chết theo. Như thế, ai bảo súc vật không có tình cảm?
Con vật cũng có những tình cảm vui buồn, sợ hãi. Sự
oán hận, sợ hãi trước khi bị giết đã tạo ra những độc
tố trong cơ thể con vật. Chúng ta ăn những độc tố
đó vào làm thế nào nội tâm chúng ta thanh thản được?
Tục
ngữ Việt Nam có câu: “Tham thực cực thân.” Chưa bao giờ
chúng ta thấm thía bài học đó như bây giờ. Ngày nay
chúng ta khổ không phải vì thiếu ăn, nhưng khổ vì sự bội
thực.
LỢI
ÍCH CỦA ĂN CHAY
Ăn
chay mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích thiết thực trên cả
hai phương diện thể xác và tinh thần. Trên phương diện
thiên nhiên, cơ thể con người được cấu tạo không phải
để ăn thịt, mà để ăn chay. Các loài động vật như
cọp, sư tử có thể tiêu hóa thịt dễ dàng. Còn cơ
thể con người không thể nào tiêu hóa được, nếu chúng
ta chỉ ăn toàn thịt mà không có ăn kèm với các loại rau
đậu ngũ cốc khác như gạo, rau cải… Bác sĩ Day so sánh
các loài động vật ăn thịt và ăn rau cỏ cho thấy ruột
của loài người dài đến 1m25, rang nhở không nanh. Điều
này cho thấy con người không phải là loài động vật ăn
thịt. Vấn đề ăn thịt có lẽ chỉ bắt đầu từ khi
con người tìm ra lửa để nấu nướng.
1.
Giữ Thân Khỏe Mạnh: Việc ăn chay giúp chúng ta không những
phòng ngừa được các chứng bệnh nan y, mà còn chữa trị
được các chứng đó nữa.
-Chất
béo: Chất béo lấy từ thực vật là chất béo không đông
đặc. Chất này không tạo ra cholesterol xấu làm nghẽn
sự lưu thông của máu. Trái lại, nó còn giúp làm giảm
lượng cholesterol xấu. Sự ăn chay có thể bảo đảm
cho chúng ta khỏi những tai biến do cholesterol xấu tạo ra.
Các chứng động tim (heart attack), đứt mạch máu não (strokes).
-Chất
xơ: Chất xơ chỉ có trong thực vật. Chất này giúp sự
tiêu hóa dễ dàng, làm giảm cholesterol trong máu. Ăn chay
không bị táo bón, không bị các chứng bệnh về tiêu hóa
cũng như ung thư ruột.
-Chất
đạm: các nghiên cứu y học cho thấy trong đậu nành có số
lượng chất đạm bằng với số lượng chất đạm có trong
thịt. Và chất đạm thực vật này không gây ra những
chứng bệnh xốp xương hay sạn thận.
Sự
ăn chay giúp cơ thể giảm thiểu các chứng bệnh về tim, chứng
đứt mạch máu não, các chứng bệnh về đường ruột, bệnh
xốp xương, các chứng ung thư bao tử, ung thư ngực, ung thư
xương (colon cancer), ung thư nhiếp hộ tuyến (prostate cancer)
và các chứng bệnh truyền nhiễm.
Các
thực phẩm có dược tính cao
-Đậu
nành: có lượng protein nhiều bằng thịt. Tàu hủ hay
các sản phẩm bằng đậu nành có khả năng thay thế thịt.
Trong đậu nành có chất isoflavone-genistein có khả năng ngăn
ngừa sự phát triển của ung thư.
-Trà:
trong trà có chất polyphenols làm chận đứng sự phát triển
tế bào ung thư và làm giảm cholesterol cũng như áp huyết cao.
-Tỏi:
có rất nhiều dược tính mạnh. Có khả năng chận đứng
sự tăng trưởng tế bào ung thư, làm giảm cholesterol và áp
huyết cao, cũng như hồi sinh các tế bào đã chết. Ngày nay
các hiệu thuốc tây chế thuốc tỏi cho những người không
ăn được tỏi tươi.
-Brocoli
(cải hoa): có chất sulforaphane. Chất này có khả năng
giúp cơ thể tạo ra kháng thể chống lại ung thư.
-Gừng:
giúp điều hòa bộ máy tiêu hóa và giúp khí huyết lưu thông.
-Rong
biển: có những dược tính có khả năng ngăn ngừa ung thư.
-Cà
chua: có chất lycopene có khả năng chống lại các chứng bệnh
ung thư.
Các
nghiên cứu y học gần đây cho thấy dân Nhật có tỷ lệ
ung thư thấp nhất, nguyên do là vì người Nhật ăn nhiều
rau cải, rong biển, tàu hủ và uống nhiều trà. Vấn
đề tỏi, có người hỏi: ăn chay có nên sử dụng tỏi hay
không? Tỏi là một thực vật có nhiều dược tính nóng không
thích hợp cho vùng nhiệt đới. Chúng ta ở xứ lạnh thì tỏi
lại rất tốt. Hơn nữa sử dụng tỏi để trị bệnh thì
không có vấn đề gì. Chỉ khi nào trì chú thì không
nên dùng tỏi, vì tỏi có mùi không tinh khiết.
2.
Giữ Tâm Thanh Thản
Trong
Phật Giáo việc ăn chay là một pháp môn tu tập. Đối
với Phật tử tại gia không bắt buộc phải ăn chay trường,
tuy nhiên đối với các vị xuất gia, ăn chay là điều kiện
tiên quyết khi vào chùa. Điều này được xem như một
giới điều. Thành ngữ “trường trai giữ giới” nói
lên điều đó. Việc ăn chay không những giữ thân khỏe
mạnh, mà còn giữ tâm thanh tịnh. Vấn đề giữ gìn sức
khỏe chúng ta đã thảo luận ở trên, bây giờ chúng ta thảo
luận về vấn đề giữ tâm thanh thản. Ăn chay có những
tác dụng sau:
-Tăng
trưởng lòng từ bi: Một trong các giới điều quan trọng
là giới không sát sanh. Việc ăn chay là sự tỏ lòng
thương đối với súc vật. Chúng ta không nỡ sống trên
mạng sống của chúng sanh khác. Có người bảo rằng: Trời
sinh muôn vật cho người hưởng thụ. Nếu thế thì cọp
cũng nghĩ rằng: Trời sinh loài người để làm thức ăn cho
cọp!
Có
người nghĩ rằng mình không tự tay sát sinh thì kể như không
phạm tội. Tuy nhiên nếu mình không ăn thì con vật không
bị giết. Ngày nay xã hội văn minh, chúng ta không tự
tay giết, nhưng đã có các siêu thị, McDonald giết súc vật
thế chúng ta. Kinh Hồng Danh: “Không tự mình giết, không
bảo người giết, không tán đồng việc giết chóc.” Nhìn
kỹ vào trong một miếng thịt chúng ta sẽ thấy máu me tràn
đầy. Nhìn kỹ vào một bữa ăn chúng ta thấy đầy dẫy
sự đau khổ!
Trong
quan niệm bình đẳng của Phật Giáo, sự sống nào cũng là
sự sống, cũng có giá trị ngang nhau. Cho dầu đó là
sự sống của một con vật hay một con người. Khi dòng
máu cùng đỏ thì mọi sự sống đều linh thiêng, đều phải
được bảo vệ vì “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.”
Với quan niệm luân hồi, các thú vật đó có khi là người
thân của chúng ta.
-Làm
giảm nạn đói: Tình trạng thiếu ăn trên thế giới không
phải vì thiếu thực phẩm nhưng vì sự ăn thịt của loài
người. Thống kê cho thấy muốn sản xuất một ký lô
thịt bò người ta cần đến mười lăm ký ngũ cốc. Kỹ nghệ
thịt bò của Hoa Kỳ tiêu thụ số lượng ngũ cốc nhiều
hơn tổng số lượng ngũ cốc tiêu thụ của hai nước Ấn
Độ và Trung Hoa. Mỗi năm trên thế giới có mười một
triệu trẻ em bị chết vì thiếu dinh dưỡng. Các nhà
dinh dưỡng học ước lượng rằng nếu mỗi năm Hoa Kỳ chỉ
cần giảm một phần trăm số lượng tiêu thụ, thì số ngũ
cốc đó đủ để cứu sống hằng triệu người bị đói
trên thế giới.
-Giữ
môi trường trong sạch: Kỹ nghệ chăn nuôi đã phá hủy
rừng để lấy đất nuôi súc vật. Các nước Trung Mỹ
phá hủy cả trăm triệu mẫu rừng để lấy đất nuôi bò.
Chất phế thải do các kỹ nghệ này thải ra nhiều không tưởng
tượng được. Người ta ước tính cứ mỗi quarter pound (phần
tư cân) thịt bò người ta phá hủy 55 square feet (bộ vuông)
rừng nhiệt đới Trung Mỹ và thải ra 500 pounds (cân) khí carbondioxide
vào khí quyển. Để trồng một pound (cân) lúa mì người
ta cần 25 gallons nước, trong khi sản xuất một pound (cân)
thịt phải cần tới 2500 gallons nước. Ngoài nước uống và
không khí bị ô nhiễm, quả địa cầu cũng bị nóng dần
vì hàng triệu tấn khí bị ô nhiễm, quả địa cầu cũng
bị nóng dần vì hàng triệu tấn khí methane thải ra từ các
trại chăn nuôi. Nếu chúng ta không thay đổi cách ăn
uống thì đến một ngày nào đó chúng ta sẽ hủy hoại chính
mình và trái đất sẽ trở thành một hành tinh chết.
Con
Đường Trước Mặt
Qua
những phân tích trên, chúng ta thấy ngày nay vấn đề ăn chay
là một nhu cầu bức thiết để tự cứu mình, cứu các thế
hệ con cháu cũng như cứu lấy hành tinh của chúng ta đang
ở. Việc ăn chay không những giúp chúng ta giữ thân khỏe
mạnh, mà còn giữ tâm thanh thản và giữ môi trường trong
sạch. Thực tập ăn chay chúng ta có thể đi từng bước.
Bắt đầu bằng mỗi tuần một ngày, bất kỳ ngày nào, sau
đó gia tăng dần. Điều quan trọng là phải ý thức rằng
việc ăn chay là để giữ gìn sức khỏe cá nhân, gia đình
và đoàn thể trong một xã hội đầy ô nhiễm từ vật chất
đến tinh thần.
Như
trên chúng ta nhận thấy cơ thể con người không được cấu
tạo để ăn thịt. Do đó việc ăn chay là bẩm tính tự
nhiên. Nếu chúng ta sống ngược với thiên nhiên thì
hậu quả chỉ chuốc lấy đau khổ. Những bệnh tật mà con
người chịu đựng hôm nay chính là hậu quả của việc
đi ngược lại với lẽ sống tự nhiên. Bệnh “Bò Điên”
ở trên là một bằng chứng hùng hồn. Và ở con người
những bệnh khùng điên này cũng đang gây đau khổ từ thể
xác đến tinh thần trong các chứng bệnh nan y như ung thư,
động tim, đứt mạch máu não, cholesterol, cũng như những chứng
căng thẳng thần kinh (stress). Tất cả chỉ vì miếng
ăn: “Tham thực cực thân.” Đạo Đức Kinh dạy” “Nhân
pháp Đạo, Đạo pháp Tự Nhiên” (nghĩa là: Con người sống
theo lẽ Đạo và Đạo sống theo Tự Nhiên). Việc ăn chay cần
kết hợp với việc lạy Phật để dễ dàng phát huy khả
năng an lạc giải thoát tiềm tàng trong mỗi người. Phương
pháp tu này đáp ứng được nhiều phương diện từ thể xác
đến tâm linh, mang lại cho chúng ta an lạc, giải thoát ngay
trong đời sống hiện tại. Truyền thống tu tập Việt
Nam cung cấp cho chúng ta những phương tiện cần thiết để
duy trì thân tâm an lạc để sống khỏe, sống vui và sống
lâu trong phương pháp “Ăn Chay, Lạy Phật.”
Tài
Liệu Tham Khảo:
Tâm
Diệu, Quan Điểm Về Ăn Chay Của Đạo Phật, Hoa Sen (California),
1998.
“Fơd
in a Pill” in Health, Mach 1998, pp. 87-92
“Soy
Monograph” by C.Grauds, Pharmacy Times, 1999.
“Phương
Pháp Dinh Dưỡng..” Lá Thư Kim Sơn, số 2, 1998, tr.12.
Chương
IV. Pháp Môn Lạy Phật
Pháp
Môn Lạy Phật
Trong
truyền thống tu tập Việt Nam, pháp môn Lạy Phật là một
pháp môn rất phổ biến được thực tập trong hàng xuất
gia cũng như tại gia. Các chùa cứ vào những ngày mười
bốn và ba mươi âm lịch đều có các buổi lạy Hồng Danh
Sám Hối. Bây giờ tại hải ngoại chúng ta cũng vẫn
tiếp tục tu tập theo truyền thống đó. Như thế đủ
chứng minh tính mầu nhiệm của pháp môn này. Tuy nhiên,
lâu nay chúng ta thực tập thấy có an lạc và lợi ích thiết
thực cho thân và tâm, nhưng không hiểu rõ nguyên nhân tại
sao? Lý do nào khiến pháp môn này mang đến những lợi lạc
mầu nhiệm đó.
Sau
thời gian dài sống tại Bắc Âu cũng như Đông Bắc Hoa Kỳ
là những vùng rất lạnh của thế giới, chúng tôi nghiệm
ra tại đây có rất nhiều người mắc phải những chứng
bệnh thuộc về phong thấp như đau nhức khớp xương.
Nhất là những người lớn tuổi đến từ các nước thuộc
khu vực nhiệt đới. Bác sĩ khuyên mọi người nên tập
thể dục. Ai cũng thấy lời khuyên đó đúng. Vì
sang đây chúng ta ít khi có cơ hội để vận động thân thể
cho khí huyết lưu thông. Chúng ta ngồi quá nhiều, vừa
bước ra khỏi nhà đã leo lên xe, đến sở làm phải ngồi
suốt buổi. Ngày này sang ngày nọ cứ như thế.
Thêm vào đó, qua sự ăn uống cơ thể chúng ta tiêu thụ quá
nhiều độc tố. Từ đó đủ các chứng bệnh về tim
cũng như ung thư phát sinh. Tuy thế việc tập thể dục vẫn
là vấn đề nan giải. Với những người trẻ tuổi ít
gặp khó khăn. Còn đối với những người lớn tuổi,
đây quả thật là một khó khăn lớn. Vì văn hóa khác
biệt, các cụ ta thấy ngại ngùng trong việc đi bơi đi lội,
đi đến nhà tập thể dục để luyện tập thân thể.
Đó là chưa kể vấn đề di chuyển cũng như ngôn ngữ, vì
phần lớn các cụ không biết lái xe và tiếng tăm không thông.
Còn việc đi bộ cũng không dễ dàng thực hiện được, vì
vào mùa ấm còn đi lại chút đỉnh, chứ những ngày lạnh
chẳng dám hé cửa, đừng nói chuyện ra ngoài đường.
Nếu đi không khéo, trợt tuyết ngã thì khổ thân. Nói
tóm lại là đành chịu chết. Các vị than phiền và không
biết phải giải quyết vấn đề như thế nào. Chúng
tôi chỉ khuyên các cụ hãy cố gắng thực tập pháp môn lạy
Phật mỗi ngày, sáng cũng như tối.
Các
cụ theo đó thực tập vài tuần lễ sau đã có người đến
chùa cám ơn, nhờ thực tập pháp môn lạy Phật đã khỏi
bệnh. Có vị cho chúng tôi hay sau mấy tuần lạy Phật,
bây giờ đã hết luôn chứng đau lưng. Chứng bệnh mà
vị đó đã bị từ nhiều năm nay, uống thuốc gì cũng không
khỏi. Các vị khác cho hay bây giờ ngủ ngon giấc không
mộng mị, các chứng tê nhức cũng đã hết. Còn những
người trung niên cũng cho biết họ đã bán các dụng cụ tập
thể dục, vì cứ mỗi sáng sau khi lạy hai mươi phút mồ hôi
toát ra như tắm, như thế thì hơn thể dục nhiều.
Trong
Các Truyền Thống Phật Giáo
Pháp
môn lạy Phật không phải chỉ có các Phật tử thuộc truyền
thống Tịnh Độ thực hành, nhưng phương pháp này cũng được
các truyền thống khác tu tập.
Với
Phật Giáo Tây Tạng vấn đề lạy Phật là một phương pháp
tu căn bản. Trong truyền thống này, khi bắt đầu những
kỳ nhập thất dài hạn, thông thường kéo dài ba năm ba tháng
ba ngày, các vị lạt-ma lạy một trăm ngàn lạy. Mỗi
ngày từ sáng đến tối chỉ thực hành lạy Phật. Trung
bình mỗi ngày lạy được một ngàn lạy, và cứ lạy liên
tục như thế trong ba tháng mười ngày thì đủ một trăm ngàn.
Có
người thắc mắc không hiểu lạy như thế có lợi ích gì?
Vấn đề này chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ trong phần sau.
Đại khái chúng ta có thể hiểu đây là giai đoạn chuẩn
bị cho thời gian “hạ thủ công phu” để nỗ lực tinh tấn
trên con đường khai triển tuệ giác. Sự chuẩn bị này
được chú trọng trên cả hai phương diện thân và tâm.
Sau
giai đoạn lễ lạy đó, tâm hồn hành giả thơi thới, thân
thể tráng kiện. Khi đó vị hành giả cảm thấy như
mình được tái sinh từ thể xác đến tinh thần. Cần
hội đủ những điều kiện cần thiết đó thì công cuộc
khổ tu của những tháng năm đến mới thành tựu viên mãn.
Chúng ta cũng nên biết rằng, Tây Tạng là một nước ở trên
núi Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi cao nhất thế giới, tuyết
phủ quanh năm. Trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt
như thế, nếu không có một thân thể cường tráng một ý
chí mãnh liệt thì khó có thể tiếp tục công việc tiến
tu.
Do
đó sự hành trì lễ lạy là một phương pháp tốt để đạt
những mục tiêu ban đầu. Ngoài ra các Phật tử Tây Tạng
cũng thực hành phương pháp “nhất bộ nhất bái” (nghĩa
là đi một bước lạy một lạy) trong các cuộc hành hương
chiêm bái các thánh tích như: Cung Potala nơi Đức Đạt Lai
Lạt Ma ngự, các tu viện nổi tiếng nơi có bảo tháp có các
vị tổ sư…
Quang
cảnh rất cảm động chung quanh Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức
Phật Thành Đạo, là hàng trăm vị Lạt Ma cùng các Phật tử
Âu Mỹ thực hành pháp môn lễ lạy. Họ cứ lạy từ
sáng đến chiều và từ ngày này sang ngày nọ. Cách lạy
của người Tây Tạng cũng khác hơn chúng ta là họ lạy nằm
dài hết cả người xuống đất. Tấm án dùng để lạy
trở nên bóng loáng và chỗ hai bàn tay chống xuống để đẩy
dài người ra bọ lõm sâu xuống. Điều đó chứng tỏ
họ đã lạy không biết bao nhiêu ngàn vạn lạy rồi.
Qua
những khảo sát đó, chúng ta hiểu được: Tại sao dân Tây
Tạng có thể sống khỏe mạnh trên đỉnh núi tuyết, nơi
lạnh lẽo và thiếu dưỡng khí? Làm thế nào để có được
tín tâm vững chãi nơi Tam Bảo? Làm sao để thành đạt kết
quả tu tập? Những thành tựu đó có thể nói phần lớn nhờ
bởi công phu lễ bái. Chính việc Lạy Phật đã giúp cho dân
Tây Tạng sống khỏe mạnh từ thể chất đến tinh thần,
có tín tâm kiên cố nơi Tam Bảo, và thành tựu sự nghiệp
tu chứng. Ngày nay dân tộc nhỏ bé yếu kém đó đã mang
Phật pháp truyền bá khắp nơi.
Tại
Trung Quốc, các Tông phái Phật Giáo từ Tịnh Độ, Thiền,
Thiên Thai, đến Luật Tông, Mật Tông v.v… đều chú trọng
vào việc lạy Phật như một hành trì căn bản. Tịnh Độ
Tông có những cuốn kinh dành riêng cho việc lễ lạy như:
-Kinh
Hồng Danh: 108 lạy, kinh sám hối căn bản.
-Kinh
Ngũ Bách Danh: 500 lạy, gồm tên của 500 vị Phật hay Bồ Tát.
-Kinh
Thiên Phật: 1.000 lạy, danh hiệu của một ngàn vị Phật.
-Kinh
Ngũ Thiên Phật: 5.000 lạy, danh hiệu của năm ngàn vị Phật.
-Kinh
Vạn Phật: 10.000 lạy, danh hiệu của mười ngàn vị Phật.
-Thủy
Sám: sách sám hối, vừa tụng vừa lạy, do ngài Ngộ Đạt
soạn.
-Lương
Hoàng Sám: bộ sách sám hối, do hòa thượng Chí Công đời
vua Lương Võ Đế soạn để sám hối cho hoàng hậu Hy Thị.
Qua
các kinh đó chúng ta thấy Phật Giáo Trung Quốc đã hành trì
pháp môn lạy Phật nghiêm túc như thế nào.
Ngày
xưa các chùa đều được xây dựng nơi núi cao rừng sâu,
tránh cảnh thị thành náo nhiệt để các hành giả chuyên
chú quán chuyến nội tâm. Các ngôi chùa như Thiếu Lâm
Tự được xây dựng trên núi Thiếu Thất, Tổ Đình Thiên
Thai Tông xây trên núi Thiên Thai, Tổ Đình Trúc Lâm xây trên
núi Yên Tử. Để có đủ sức khỏe chống lại sơn lam
chướng khí thú dữ, các thiền sinh phải luyện tập võ thuật
và khí công kèm với sự tu tập phát huy tuệ giác. Tổ
Sư Bồ Đề Đạt Ma là người đã khai sáng Thiền Tông tại
Trung Quốc, cũng là tổ sư sáng lập võ thuật tại đây.
Các tổ sư đã ý thức rõ ràng sự quan hệ giữa thân và
tâm. Sự thành tựu tuệ giác phải song hành với sự
tráng kiện của thân thể. Khí công và nội lực là những
yếu tố quan trọng trong việc phát triển tâm linh. Không
thể nào có được ý chí dũng mãnh trong một thân thể bệnh
hoạn. Từ đó các tổ đã kết hợp hai truyền thống
tu luyện của Ấn Độ và Trung Quốc, truyền thống yoga cũng
như các phương pháp luyện công luyện khí của võ thuật được
kết hợp nhuần nhuyễn để chế tác pháp môn Lạy Phật.
Như thế chúng ta thấy Lạy Phật là kết quả tiêu biểu cho
những kinh nghiệm tu tập thoát thai từ sự dung hợp sâu sắc
tinh hoa của các nền đạo học đông phương. Một vị thánh
tăng trong thời đại chúng ta là ngài Hư Vân (1840-1959), ngài
đã hành trì “tam bộ nhất bái” (ba bước một lạy) từ
Phổ Đà Sơn về Ngũ Đài Sơn, quãng đường dài bằng đoạn
đường từ New York về Seattle. Trong cuốn Tự Truyện ngài
đã kể lại những kinh nghiệm tu chứng của ngài trong thời
gian lễ bái đó. Ngài có được những khả năng phi thường
như nhìn xuyên qua vách, nghe được tiếng từ xa, biết việc
vị lai v.v… Lúc bị chính quyền cộng sản tra khảo dã man,
người cai ngục tưởng ngài chết rồi. Nhưng sáng hôm
sau thấy ngài ngồi dậy khỏe mạnh như trước đó chẳng
có chuyện gì xảy ra. Ngài thọ 120 tuổi.
Ngày
nay tại Tổ Đình Vân Môn ở Quảng Đông Trung Quốc, mỗi
sáng chư tăng sau thời công phu bắt đầu lạy ba trăm lạy.
Phật
Giáo Việt Nam cũng như Nhật Bản và Đại Hàn chịu ảnh hưởng
sâu đậm Phật Giáo Trung Quốc. Do đó trong phương pháp
hành trì rất chú trọng về lễ lạy. Phật tử Việt
Nam đến ngày nay vẫn duy trì mạnh mẽ phương pháp tu tập
đó. Vào những ngày mười bốn và ba mươi âm lịch,
chúng ta có những thời Hồng Danh Sám Hối. Chúng ta cũng
lạy Ngũ Bách Danh, Thiên Phật, Vạn Phật… Ngoài ra, có người
cũng phát nguyện lạy từng chữ trong các bộ kinh lớn như
Pháp Hoa, Bát Nhã, Niết Bàn, Hoa Nghiêm…
Trước
năm 1975, lúc tôi còn ở Chùa Già Lam, Gia Định, mỗi sáng
sau thời công phu, được nghe hòa thượng Trí Thủ xướng
hồng danh chư Phật chư Tổ để mọi người lễ lạy.
Giọng Ôn sang sảng vang dội khắp chùa. Thỉnh thoảng
Ôn nhập thất. Trong suốt thời gian đó Ôn trì niệm
và lễ bái hồng danh Đức Phật A Di Đà. Những năm cuối
đời Ôn vẫn kiên trì tu tập pháp môn đó. Qua cuộn băng
cassette thu tại Chùa Già Lam vào khoảng năm 1982, chúng tôi
vẫn còn nghe giọng xướng trầm hùng của Ôn và Đại Chúng.
Tại Hoa Kỳ, chúng tôi được biết Tu Viện Kim Sơn tại Bắc
Ca-li thực hành chuyên cần công phu bái sám. Đại Chúng
lạy mỗi ngày hai thời và mỗi thời khoảng hai trăm lạy.
Pháp môn này vẫn là pháp môn tu tập chính yếu cho hầu hết
các chùa Việt Nam tại hải ngoại.
Tác
phẩm nổi tiếng về sự hành trì pháp môn lạy Phật này
là cuốn Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tôn soạn. Nhà
vua soạn bộ sách sám hối này cũng trong tâm trạng thành khẩn
như ngài Ngộ Đạt sám hối nghiệp chướng nhiều đời, như
vua Lương Võ Đế sám hối quả báo của hoàng hậu.
Như
chúng ta biết vua Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của
triều Trần. Dưới áp lực của thái sư Trần Thủ Độ,
cũng là chú của vua, bắt vua phải làm những việc loạn luân,
thất nhân tâm như ruồng bỏ vợ, lấy chị dâu đang mang thai,
cùng chứng kiến những cảnh tàn sát tôn thất nhà Lý.
Không chịu nổi những cảnh tàn ác đó, nhà vua bỏ kinh thành
vào núi để xin xuất gia.
Phù
Vân quốc sư đã khuyên nhà vua hãy trở về gánh lấy trọng
trách để tìm cách chuyển đổi chính sách bạo tàn thành
chính sách khoan hòa nhân đạo, cũng như theo đuổi con đường
tu tại gia. Nhà vua đã trở về. Sách Khóa Hư Lục
đã được soạn ra trong hoàn cảnh đó. Trong đó nhà
vua đã soạn những bài văn thống thiết để ngày đêm sáu
thời lễ bái sám hối cho nghiệp chướng tiêu trừ, cho quốc
thái dân an. Với ảnh hưởng đạo đức của vua Thái
Tông, triều Trần đã trở thành một triều đại quân chủ
Phật Giáo hùng mạnh trong lịch sử với những chiến thắng
Mông Cổ oanh liệt. Mông Cổ là đoàn quân bách chiến
bách thắng, xây dựng một đế quốc trải dài từ Âu sang
Á, chưa bao giờ bị thua trận.
Sự
Lợi Ích
Phương
pháp Lạy Phật là kết tinh của những kinh ngiệm tu tập sâu
sắc từ những truyền thống đạo học đông phương.
Do đó những lợi ích mang lại từ sự hành trì pháp môn này
vô cùng lớn lao. Sự lợi ích đó đạt được cả trên
hai phương diện thân xác cũng như tinh thần.
Về
Thân: phương pháp Lạy Phật mang lại những hiệu quả
sau:
1.
Trước hết, động tác lạy Phật là một phương pháp thể
dục tốt. Với những cử động nhẹ nhàng, nhưng tất
cả các bắp thịt trên toàn thân đều được vận động
tối đa. Khác với lúc tập thể dục, vì thông thường
khi thể dục chúng ta không vận động tất cả các bắp thịt
đồng đều cùng một lúc. Ví dụ: khi đi bộ, chúng ta vận
động nhiều bắp thịt ở chân. Chỉ có bơi lội chúng
ta mới cử động toàn thân. Trong lúc lạy Phật, tất cả
các bắp thịt trên cơ thể đều hoạt động làm khí huyết
toàn thân lưu chuyển giúp chúng ta chữa trị các chứng thấp
khớp, cũng như phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo khác..
2.
Các huyệt đạo quan trọng trên cơ thể được tác động.
Từ huyệt bách hội trên đỉnh đầu xuống đến huyệt đan
điền, các huyệt dọc theo xương sống và các huyệt ở tay
chân. Chúng ta cảm thấy có một luồng khí nóng chạy
đều khắp cơ thể và mồ hôi theo các lỗ chân lông tuôn
ra. Theo y học đông phương, một khi các huyệt đạo trên
cơ thể được tác động, khí huyết sẽ lưu chuyển và bệnh
tật sẽ tiêu trừ.
3.
Sau khi lạy Phật xong, hãy ngồi xuống chừng mười lăm phút,
chúng ta sẽ có cảm giác an lạc thư thái ngay vì các huyệt
đạo được tác động. Sự an lạc này rất sâu sắc,
một kinh nghiệm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ đạt được
trong lúc thiền định. Sự an lạc này mang lại cho chúng
ta niềm hoan lạc suốt ngày. Từ đó những phiền não, những
ưu tư, những đau buồn… cũng nhanh chóng tan biến.
4.
Các trọng huyệt này tương ứng với các luân xa trong
truyền thống yoga Ấn Độ. Các luân xa này nằm dọc
theo xương sống từ đỉnh đầu xuống đến bàn tọa gồm
bảy luân xa. Một khi được tác động, các luân xa này
giúp chúng ta khai triển được những năng lực mầu nhiệm
tiềm tàng trong mỗi người, tạo điều kiện thuận tiện
cho việc phát triển tâm linh.
Về
Tâm: phương pháp Lạy Phật là phương pháp điều tâm để
thanh tịnh ba nghiệp: thân, khẩu và ý (tư tưởng, ngôn ngữ
và hành động). Phương pháp này giúp ta:
1.
Tiêu trừ nghiệp chướng: Trong sự sám hối, thành tâm đảnh
lễ mười phương chư Phật bằng cả thân tâm của mình. Quán
chiếu sâu xa nguồn gốc tội lỗi, cùng bản tánh của tội
lỗi. Quán tưởng hào quang chư Phật mười phương hiển
hiện trước mắt, cũng như Phật tánh trong tự tâm tỏa rạng.
Nhờ Phật lực hộ trì cùng nỗ lực tu tâm để thanh tịnh
ba nghiệp. Với sự sám hối đó các ác nghiệp và chướng
duyên đều được chuyển hóa.
2.
Thiện căn tăng trưởng: trong khi lễ lạy, hồi hướng cho
kẻ thân người thù đều được lợi lạc, đều được thành
tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát. Như thế Bồ Đề
Tâm (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh) được nuôi
dưỡng, lòng từ bi được phát triển. Sự lễ bái hàng
ngày đem lại cho chúng ta nguồn an lạc vô biên. Sự an
lạc này giúp cho phiền não tiêu tan, sự trầm tĩnh trở lại
trong tâm hồn và lòng thương cũng phát sinh đối với người
ghét.
3.
Đức khiêm cung phát sinh: trong khi hạ mình xuống sát đất
để lạy Phật, để thấy những thành đạt của mình chỉ
là những giọt nước trong đại dương bao la. Bác Vũ Xuân
Hoài phát biểu trong buổi thảo luận Phật pháp, để chuyển
hóa tâm kiêu mạn của mình, mỗi ngày bác lạy Phật để
hồi hướng công đức về thiên, về địa, về sư trưởng,
về ông bà cha mẹ… để cảm nhận trùng trùng ân nghĩa.
Để thấy sự thành tựu của mình hôm nay là công ơn của
nhiều người. Để từ đó tâm khiêm nhường phát sinh.
Trong Kinh Đức Phật thường dạy, tâm khiêm nhường là cửa
ngõ của trí tuệ và là con đường đưa đến giải thoát.
Sự
Hành Trì
Trong
truyền thống Việt Nam, chúng ta có lạy Hồng Danh, Ngũ Bách
Danh, Thiên Phật, Vạn Phật… Tùy theo hoàn cảnh và khả năng
để áp dụng lễ lạy cho thích hợp. Điều quan trọng
là sự hành trì đều đặn. Nếu chưa quen chúng ta có
thể bắt đầu bằng ba mươi lạy, rồi sau đó tăng dần cho
đến một trăm lẻ tám lạy (để trừ một trăm lẻ tám phiền
não). Nếu có băng Hồng Danh thì mở băng và theo lời xướng
danh hiệu Phật trong băng để lạy. Chúng ta có thể lạy
mỗi ngày một hay hai lần.
Cách
đơn giản nhất, chúng ta lạy theo hơi thở. Cứ hít vào
chúng ta đứng lên và thở ra chúng ta lạy xuống. Cứ
lạy chậm rãi. Mỗi lạy chúng ta niệm một danh hiệu
Phật và đếm một, cứ như thế cho đến đủ số. Hoặc
chúng ta có thể theo dõi đồng hồ và lạy đủ thời gian
ấn định thì ngưng. Hoặc mười lăm phút, hai mươi phút
hay nửa giờ. Đó là những phương cách đề nghị để
chúng ta tùy nghi thực hành.
Sự
lễ lạy có thể thực hiện bất kỳ chỗ nào. Miễn là chúng
ta có được khoảng không gian bằng chừng chiếc chiếu là
đủ để lạy rồi. Tốt nhất là trước bàn Phật, nếu
không thì ở chỗ nào cũng được, miễn tâm thành là được.
Ngay cả trong phòng ngủ, mỗi sáng lúc thức dậy hay mỗi tối
khi đi ngủ chúng ta có thể thực tập.
Khi
lạy hai tay chắp ngang trán, đưa xuống ngực rồi lạy xuống
sát đất. Điều này biểu tượng cho “thân tâm cung
kính lễ” (đem thân đoan nghiêm và tâm thành kính để lễ
lạy). Lúc lạy xuống hay tay, hai đầu gối và trán phải chấm
đất). Chúng ta nên đứng thẳng người rồi lạy xuống, sau
đó đứng thẳng lên. Như thế các bắp thịt khắp châu thân
được vận động tốt hơn (trừ khi yếu chân, có thể quỳ
lạy).
Trong
khi lạy cố gắng kết hợp cả ba phương diện:
Thân:
đứng nghiêm chỉnh cử động nhịp nhàng hòa hợp, hơi thở
đều đặn
Miệng:
niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát
Tâm:
quán tưởng đến Phật, Bồ Tát hay cảnh giới của chư Phật
và Bồ Tát. Ví dụ: có thể quán tưởng đến Đức Phật
A Di Đà đang ở trước mắt, hay cảnh Tịnh Độ chung quanh
ta.
Kết
Luận:
Phương
pháp lạy Phật là một phương pháp rất đơn giản, nhưng
mang lại những lợi ích rất lớn. Ai tập cũng được,
bất kỳ nơi đâu và không cần phải sắm dụng cụ gì cả.
Đây là kết tinh của những kinh nghiệm tu luyện quý báu của
chư tổ, đã kết hợp các phương pháp tu tập của Thiền
gia và vũ thuật gia để chế tác thành. Sự thực hành
pháp môn này mang lại lợi ích rõ rệt cho cả thân lẫn tâm.
Thân thể cường tráng chữa trị và phòng ngừa các chứng
bệnh hiểm nghèo như bệnh tim, áp huyết cao, ung thư… Tinh
thần an lạc thư thái. Sống an vui hạnh phúc trong hiện
tại. Tạo điều kiện thuận tiện khai triển khả năng
tâm linh vô biên để tiến tới giải thoát hoàn toàn.
Đây là một pháp môn mầu nhiệm, những niềm hoan lạc sâu
sắc chúng ta kinh nghiệm được trong lúc hành trì là những
bước tiến vững chắc trên bước đường tu tập. Qua
những thành tựu đó giúp chúng ta tăng trưởng tín tâm đối
với những pháp môn chư tổ truyền lại.
Chương
V. Thiền Âm Thanh
Thiền
Âm Thanh
Thông
thường khi nghĩ đến thiền chúng ta nghĩ đến sự tĩnh lặng,
sự tọa thiền v.v… nghĩa là một pháp môn tu của Phật Giáo
trong tiếng Việt gọi là Thiền, Trung Quốc gọi là Ch’an
và Nhật gọi là Zen, pháp môn này dùng sự tĩnh lặng để
tĩnh tâm. Chữ Thiền chúng ta đề cập ở đây không
phải để chỉ một tông phái, nhưng là phương pháp tĩnh tâm
của Phật Giáo nói chung. Đó là thiền định.
Thiền,
tiếng Phạn là dhyàna có nghĩa là tĩnh lặng, tư duy và chuyển
hóa để lắng dừng các tư tưởng loạn động, để tập
trung vào một cảnh giới, một đối tượng và để chuyển
hóa các ác nghiệp thành thiện nghiệp, để đạt tới giác
ngộ giải thoát. Đây là con đường tu tập và mục tiêu
chung của tất cả các tông phái trong Phật Giáo, không riêng
gì Thiền Tông mới thiền định. Để đạt đến sự
định tâm đó mỗi tông phái sử dụng các phương thức khác
nhau. Thiền Tông dùng sự tĩnh tọa để đạt đến sự tĩnh
tâm, còn các tông phái khác như Mật Tông có khi dùng màu sắc,
có khi dùng âm thành làm phương thức hành trì. Trong bài
này chúng ta đi vào các tông phái dùng âm thanh làm phương
thức tu tập, nhất là trong Tịnh Độ Tông.
Pháp
Âm
“Chúng
ta vẫn nghe truyền lại sự ca ngợi về âm thanh của Đức
Phật vô cùng vi diệu. Những âm thanh của Đức Phật
phát ra thanh tao ngân như chuông, vang như sóng biển, trầm ấm
như tiếng đồng, bừng sáng tươi mát như rạng đông, dịu
dàng mà xác quyết, khiến cho những người chỉ nghe âm thanh
của Đức Phật, lòng tràn ngập hân hoan an ổn thanh thoát.”
(Kinh Đức Phật Độ Magandiya).
Trong
các kinh khác tán thán pháp âm của Phật mạnh mẽ như tiếng
sấm sét (lôi âm) có khả năng phá vỡ vô minh vọng tưởng
để đạt Niết Bàn giải thoát, hoặc hùng dũng như tiếng
sư tử gầm (sư tử hống) vang dội khắp cả tam thiên đại
thiên thế giới, từ những từng trời cao ngất đến tận
địa ngục A Tỳ. Oai thần của chư Phật và Bồ Tát
khi thuyết pháp tiếng vang rền chấn động khắp nơi. Tiếng
thuyết pháp đó phát ra phá tan trăm pháp, các thiên ma đều
phải hàng phục, các tà kiến ngoại đạo đều bị bẻ gãy
và trở thành suy nhược, các phiền não đều bị thu phục
và đoạn diệt. Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn tán thán pháp
âm của Bồ Tát Quán Thế Âm: “Diệu âm, quán thế âm, Phạm
âm, hải triều âm, thắng bỉ thế gian âm, thị cố tu thường
niệm.” Nghĩa là: tiếng vi diệu, tiếng thương đời, tiếng
như Phạm Thiên, tiếng như sóng biển, tiếng siêu việt trong
thế gian, vì thế phải nên thường xuyên trì niệm danh hiệu
của Ngài.
Pháp
Môn
Từ
sự ca tụng âm thanh vi diệu của Đức Phật trong kinh điển
Pali đến sự tán thán pháp âm của Chư Phật và Bồ Tát trong
kinh điển Đại Thừa, từ khởi thủy Phật Giáo đã ý thức
vai trò quan trọng của âm nhạc trong vấn đề tu trì.
Âm thanh trong sáng hào hùng của Chư Phật và Bồ Tát là những
phương thức cứu độ, khiến người nghe ưu sầu tiêu tán,
phiền não đoạn trừ, tâm thiện phát sinh, tiến tu giải thoát.
Đến khi Đại Thừa phát triển vấn đề âm nhạc đã phát
triển thành pháp môn tu tập. Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm
Diệu Âm Bồ Tát, vị Bồ Tát này đã dùng mười vạn các
loại nhạc khí làm phương tiện tu tập và tấu lên những
âm nhạc vi diệu thanh thoát để cúng dường chư Phật.
Các kinh Đại Thừa khác đều thấy có sự hiện diện của
âm nhạc thanh thoát từ thiên cung (thiên nhạc) trong các buổi
thuyết pháp của Chư Phật. Điển hình là trong Kinh A
Di Đà: “Trong cõi nước của Đức Phật A Di Đà nhạc trời
thanh thoát thường trỗi lên.” “Cõi nước kia thường có
các giống chim với màu sắc sặc sỡ đẹp lạ thường như
chim bạch hạc, chim khổng tước, chim anh vũ, chim xá-lợi,
chim ca-lăng-tần-già, chim cọng mạng.. các loài chim ấy ngày
đêm sáu thời hót lên những âm thanh hòa nhã. Những âm thanh
ấy diễn thuyết những giáo pháp vi diệu như Ngũ Căn, Ngũ
Lục, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần… Những diệu
pháp như thế khiến chúng sanh trong quốc độ đó khi nghe xong
liền phát tâm niệm tưởng đến Phật, Pháp, Tăng.” “Quốc
độ của vị Phật đó khi làn gió nhẹ thổi đến làm rung
các hàng cây trân báu cùng những mạng lưới châu báu, phát
ra những âm thanh vi diệu, ví như trăm nghìn các loại âm nhạc
đồng thời trỗi lên. Ai nghe được các âm thanh đó
đều tự nhiên phát sinh tâm niệm tưởng Phật, Pháp, Tăng.”
Đến đây âm nhạc đã được tận dụng trong việc tu trì
và hóa độ. Các loài chim đã hót lên những âm thanh vi diệu,
những tiếng thanh thoát đó phát khởi từ sự giác ngộ, những
tiếng hót đó không phải chuyên chở một nội dung Phật Pháp
như những bài hát thông thường của thế gian, mà chính là
những bài thuyết pháp không lời. Người nghe dùng cảm
quan trực giác của mình để cảm nhận những giáo pháp vi
diệu của Đức Phật qua phương tiện âm nhạc vì ngôn ngữ
thế gian không còn đủ khả năng chuyển tải nội dung thâm
diệu của Phật Pháp. Trong đoạn tiếp sau đó nhạc khí
đã được sử dụng qua âm thanh cao quý của các loại châu
báu để tấu lên những bản nhạc hào hùng như trăm ngàn
các loại nhạc khí đồng thời tấu lên vang lừng khắp tam
thiên đại thiên thế giới khiến người nghe phản tỉnh trở
về với tự tánh giác ngộ của mình. Trong quá trình
tu chứng, có những vị La Hán, Bồ Tát giác ngộ bằng âm
thanh. Những thời kỳ đầu của Phật Giáo có những
vị nghe pháp âm vi diệu của Phật chứng quả giải thoát,
đó là những bậc Thanh Văn. Bồ Tát Quán Thế Âm lắng
nghe tiếng kêu đau thương của thế gian để thực hành từ
bi hóa độ và thực hành pháp môn “phản văn văn tự tánh”
nghĩa là trở về tự tâm để lắng nghe tiếng giác ngộ từ
bản tánh thanh tịnh của mình. Trong Thiền Tông cũng có
những hành giả giác ngộ qua sự lắng nghe tiếng kêu khô
khan của viên sỏi ném vào bụi trúc, hay nghe tiếng thác đổ,
nước chảy, mưa rơi… trong tâm thức giác ngộ tất cả đều
trở thành những pháp âm vi diệu.
Từ
những kinh điển trên đã phát khởi một pháp môn tu tập
dùng âm thanh vi diệu của âm nhạc để tu tập. Pháp
môn này đã phổ biến trong các truyền thống. Tại các Chùa
thuộc truyền thống Nguyên Thủy, các sư có giọng tụng đọc
rất hay, tuy không sử dụng nhạc khí nhưng âm điệu rất
hùng mạnh và nhịp nhàng. Có khi các vị tụng các bản
kinh Pali hàng giờ mà không bị vấp váp. Qua những thời tụng
kinh như vậy chúng ta có cảm tưởng như đang được nghe thuyết
pháp chính từ kim khẩu của Đức Phật. Trong truyền
thống Đại Thừa, âm nhạc đã được khai triển đến mức
triệt để, nhất là trong Mật Tông và Tịnh Độ Tông.
Với
Mật Tông, âm nhạc được sử dụng rất phong phú. Những
buổi lễ trì niệm hàng giờ, có khi kéo dài từ ngày này
sang ngày khác, các vị Lạt Ma sử dụng rất nhiều các loại
khí như chuông, trống, thanh la, não bạt, ốc, linh… Kèm vào
đó là các hình ảnh đầy màu sắc của các bức tranh Phật,
Bồ Tát, Mạn Đà La cùng các y phục sặc sỡ thay đổi theo
từng nghi thức. Các giọng tán tụng trầm hùng của các thầy
tạo cho buổi lễ trang nghiêm và linh thiêng.
Trong
Tịnh Độ Tông và Thiền Tông, âm nhạc chiếm một địa vị
quan trọng trong phương thức hành trì. Riêng trong Tịnh
Độ Tông, nhạc khí rất phong phú như chuông, mõ, trống, tang,
linh, khánh, mộc bảng, ốc, thanh la, náo bạt, phách, chén v.v…
Ngoài ra còn sử dụng thêm nhạc bát âm (gồm có đàn nhị,
đàn nguyệt, sáo, trống, kèn, sanh tiền, mõ, phách) trong các
đại lễ. Nghi lễ Phật Giáo Việt Nam ảnh hưởng sâu
đậm lễ nhạc của Khổng Giáo, do đó chúng ta thấy ngoài
những nhạc cụ gõ thuần túy của chùa như chuông, mõ, tang,
linh… còn sử dụng thêm các nhạc khí bên ngoài và cả nhạc
cung đình. Từ đó hình thành một nền âm nhạc Phật
Giáo Việt Nam vô cùng phong phú. Các nghi thức cũng được
cử hành trong tiết nhịp hài hòa tạo nên một không khí trang
nghiêm và giải thoát. Các điệu tán tụng cũng thay đổi
tùy theo từng vùng của đất nước, âm hưởng sâu đậm dân
nhạc Việt Nam tạo nên những sắc thái riêng biệt của từng
miền.
Âm
Điệu Cung Bậc
Trong
các truyền thống Phật Giáo, sự đọc tụng chú trọng vào
sự thành tâm. Do đó âm điệu mang tính chất trầm hùng và
tha thiết. Các thanh âm trầm thấp này có tác dụng làm dịu
thần kinh, bớt căng thẳng và vơi phiền não; tác động vào
não bộ làm êm dịu các thần kinh cảm giác cũng như ảnh
hưởng vào các huyệt đạo quan trọng trên đầu. Khi
các âm thanh trầm ấm xướng lên, người nghe cảm thấy an
lạc. Đức Phật có âm thanh tuyệt hảo, trầm ấm và hùng
mạnh như đoạn kinh trên đã diễn tả, do đó không những
giúp cho người nghe được an lạc mà còn giúp khai mở tuệ
giác để đưa đến giác ngộ giải thoát. Trong những lúc
tang tóc đau buồn, được nghe một thời tụng kinh mọi người
cảm thấy tâm tư nhẹ nhõm, hầu như những đau buồn tan biến
đi. Âm thanh trầm phát ra khi tâm hồn an tĩnh, thông thường
chúng ta hay dùng chữ “trầm tĩnh” là trong ý nghĩa đó.
Khi chúng ta giận dữ thì không thể nào có được âm thanh
trầm ấm, trái lại âm thanh lúc đó “the thé” là âm thanh
cao sắc và lạnh lùng, khiến người nghe nổi điên. Trong lúc
giận tất cả những thần kinh cảm giác bị căng thẳng, não
bộ tiết ra những độc tố làm người ta tái mặt, sự giận
dữ bộc phát, tất cả lý trí bị đẩy lùi và con người
chỉ còn hành động theo bản năng bạo động. Vì thế để
chuyển hóa sân hận, si mê, âm nhạc sử dụng trong chùa theo
cung bậc trầm thấp để làm thần kinh êm dịu, để chuyển
hóa những độc tố trong não bộ thành những tinh chất tốt
thuận tiện cho việc phát triển tâm linh. Trên căn bản đó
các pháp khí (nhạc cụ) đến các giọng đọc tụng đều
theo đó làm tiêu chuẩn.
Pháp
Khí
Pháp
Khí là các khí cụ, nhạc cụ để diễn tả diệu pháp của
Đức Như Lai. Các pháp khí như chuông được pha chế đồng
với các kim loại khác cho âm thanh trầm ấm, vang dội. Khi
từng tiếng chuông gióng lên tan loãng vào không gian, chìm lắng
trong vô tận, đưa người về cảnh giới tịch mặc của nội
tâm. Âm ba của chuông xoáy sâu vào tâm thức con người, không
những xoa dịu thần kinh mà còn giúp con người khai mở những
linh giác khác, chuyển hóa các phiền não tạo điều kiện
thuận tiện cho việc phát triển tâm linh. Sau khi nghe chuông
mọi người cảm nhận tinh thần an lạc thư thái vì chuông
có năng lực làm cho người sống được an vui, kẻ khuất
được siêu thoát. Từ đó chuông được mệnh danh là “tiếng
chuông cảnh tỉnh.” Như cụ Chu Mạnh Trinh đã tán thán: “Thoảng
bên tai một tiếng chày kình. Khách tang hải giật mình trong
giấc mộng.” Chuông chùa được thỉnh từng tiếng thong thả,
khi tiếng đầu dứt mới tiếp tiếng sau, chúng ta có thì giờ
để chiêm nghiệm nội tâm. Chuông chùa không bao giờ được
kéo dồn dập. Khi chuông phát ra những âm thanh dồn dập thì
làm cho tâm con người loạn động. Nếu chuông không có âm
thanh trầm ấm thì không phải là chuông chùa.
Trống
là một pháp khí quan trọng. Tiếng trống biểu lộ sự hào
hùng dũng mãnh của Phật pháp. Giáo pháp của Đức Phật
được ví như tiếng sấm sét phá tan vô minh vọng tưởng,
như tiếng sóng biển, miên man bất tận, vang dội suốt chín
từng cao và xuống đến tận ngục A Tỳ. Sau ba hồi chuông
trống Bát Nhã chúng ta cảm thấy như mọi ưu tư phiền muộn
đều được đánh bạt đi, trong tận cùng cái động như sấm
sét đó chúng ta cảm nhận nguồn an tĩnh vô biên, tâm tư rộng
mở thênh thang để chuẩn bị tiếp nhận những lời kinh giải
thoát. Âm tính của trống là trầm hùng giúp con người khai
phát hùng tâm tráng chí. Trong truyền thống Tây Tạng, trống
được dùng để giữ nhịp trong lúc tụng kinh.
Mõ
là một pháp khí với âm sắc trầm ấm khô khan được sử
dụng trong các chùa thuộc truyền thống Tịnh Độ và Thiền
để giữ nhịp tụng kinh. Tiếng mõ trầm ấm vang lên theo
nhịp đập của tim hòa theo tiếng tụng kinh đều đều hùng
tráng. Tiếng kinh hòa theo tiếng lòng để lắng dừng
các si mê vọng tưởng, mở rộng đôi mắt tuệ nhìn thẳng
vào nội tâm của mình để chuyển ác nghiệp thành thiện
nghiệp, để biến khổ đau thành an lạc, biến thế gian thành
Niết Bàn. Chúng ta đã sơ lược một vài pháp khí quan trọng
được sử dụng trong các truyền thống. Ngoài ra các pháp
khí nhỏ khác như tang, linh, tù và, thanh la, náo bạt…
cũng đều mang chung một tính chất là phương tiện để diễn
tả Pháp âm, để giúp hành giả phát triển tâm linh hướng
về giải thoát.
Thanh
Giọng
Thanh
giọng chính của việc tụng kinh là thanh giọng trầm. Chúng
ta có thể nói tất cả các truyền thống đều đặt trên
căn bản đó. Trong cách hành trì, truyền thống Mật Tông,
Tịnh Độ Tông và Thiền Tông đã khai triển triệt để các
phương cách tán tụng và hình thành một nền lễ nhạc Phật
Giáo phong phú. Trong Mật Tông, các vị Lạt Ma Tây Tạng đã
phát triển được những giọng đọc tụng trầm thấp tới
mức độ không còn có thể nào xuống thấp hơn được nữa
với thanh giọng con người. Với giọng trầm thấp đó, các
thầy đã khai phát được những năng lực tiềm ẩn trong con
người và khiến người nghe cảm nhận nguồn an lạc thanh
thoát. Khi tham dự một buổi lễ của Tây Tạng, mọi người
như cảm thấy như hòa mình vào trong không khí linh thiêng đó
và cảm nhận một nguồn năng lực an vui tràn ngập tâm hồn.
Trong
Tịnh Độ Tông cũng như Thiền Tông các điệu tán tụng rất
đa dạng và phong phú. Căn bản của các điệu tán tụng vẫn
lấy thanh âm trầm thấp làm âm căn bản và nhịp điệu đều
đặn theo nhịp của tim và của hơi thở trong mục đích an
tâm. Thỉnh thoảng cũng có khi vị chủ lễ xướng giọng cao
nhưng việc đó chỉ để gia tăng hùng lực của buổi lễ.
Khi lên cao cũng không cao đến mức động tâm, loạn tưởng.
Tựu trung có một làn điệu căn bản trong các cách tán tụng
của Phật Giáo Việt Nam mà thuật ngữ chuyên môn gọi là
“Hơi Thiền” hay “Thiền Vị.” Nghĩa là một làn hơi trầm
ấm, nhịp nhàng với âm điệu giải thoát, khiến người nghe
tỉnh ngộ, phát tâm hướng thiện. Sau đây chúng ta sẽ đi
sâu vào các thể điệu tán tụng hành trì trong các chùa thuộc
truyền thống Đại Thừa. Phật Giáo Việt Nam là một kết
hợp của nhiều truyền thống như Tịnh Độ Tông, Thiền Tông
và Mật Tông cũng như phối hợp với các lễ nhạc của Khổng
Giáo, Lão Giáo và nhạc dân tộc để hình thành một nền
lễ nhạc Phật Giáo Việt Nam rất đa diện và phong phú.
Lễ
Nhạc Phật Giáo Việt Nam
Các
thể điệu hành trì của lễ nhạc Phật Giáo Việt Nam rất
phong phú, ở đây chúng ta chỉ lược qua các thể điệu chính
như xướng, hô, kệ, thán, độc, tán, tụng, trì, niệm.
Xướng
Hô Kệ Thán Độc:
-Xướng
là cách đọc lớn chậm rãi những bài kệ, đoạn kinh ca ngợi
Tam Bảo bằng giọng trang nghiêm thành kính.
-Hô
là một điệu ngâm mạnh mẽ đầy hùng lực với mục đích
“chuyển mê khai ngộ” đưa hành giả vào sự định tâm.
Ví dụ: Hô Thiền hay Hô Canh được thực hiện vào trước
các buổi tọa thiền sáng sớm hay chiều tối.
-Kệ
cũng là một điệu ngâm với âm điệu dịu dàng ngân nga để
phát triển lòng từ bi và trí tuệ. Kệ chuông Đại Hồng
mỗi sáng và tối cũng như kệ trống vào lúc sáng tinh sương
để thức tỉnh người nghe.
-Thán
là một điệu ngâm sử dụng làn hơi dài và có tính chất
“ai” (bi ai) để diễn tả cảnh vô thường, sớm còn tối
mất. Hơi “ai” ở đây cũng chừng mực không bi lụy, âm
điệu có hơi buồn để giúp người phản tỉnh, đi vào nội
quán.
-Độc
hay tuyên độc là cách đọc chậm rãi, rõ ràng, ngân nga ở
những chỗ cuối câu như đọc sớ, đọc văn tế…
Năm
điệu trên chỉ do một người thực hiện còn các thể điệu
dưới do đại chúng hành trì.
Tán
Tụng Trì Niệm
-Tán
là một điệu hát ca ngợi Phật Pháp, âm hưởng nhiều của
dân nhạc từng miền. Các điệu tán của miền Trung khác với
các điệu của Nam và Bắc. Tại miền Bắc lễ nhạc
Phật Giáo chịu ảnh hưởng sâu đậm dân nhạc địa phương
như hát chèo, quan họ v.v.. Tại miền Nam cũng thế chúng ta
tìm thấy hơi hướng các điệu hò, điệu ru của dân nhạc
đồng bằng sông Cửu Long. Còn lễ nhạc tại các Chùa ở
miền Trung chịu ảnh hưởng sâu đậm dân nhạc xứ Huế và
nhạc cung đình. Cũng như lễ nhạc tại các Chùa ở Bắc và
Nam, lễ nhạc Phật Giáo Huế có rất nhiều điệu tán:
-Tán
rơi là điệu tán dùng làn hơi dài với nhịp lơi, ngân nga
trầm bổng để diễn tả các bài kệ hay một đoạn kinh.
-Tán
xắp dùng làn hơi ngắn hơn sử dụng nhịp ngắn để diễn
tả các bài kệ tán thán chư Phật.
-Tán
trạo cũng dùng làn hơi ngắn như tán xắp nhưng nhịp mõ đánh
“trường canh” đều đặn. Âm điệu có hơi “ai” và chịu
ảnh hưởng sâu đậm của các điệu hò Huế.
-Tụng
là cách đọc lớn tiếng, trang nghiêm thành kính, âm điệu
trầm thấp, nhịp điệu đều đặn theo sự hướng dẫn của
tiếng mõ. Có thể tụng theo hai cách: tụng theo hơi “thiền”
và hơi “ai.” Hơi “thiền” là tụng đều đặn không lên
xuống trầm bổng, âm điệu hùng mạnh, nhịp mõ đánh đều
và hơi nhanh, khiến hành giả chú tâm vào lời kinh tiếng kệ,
tập trung tư tưởng vào dòng âm thanh liên tục để phát triển
tuệ giác. Còn tụng theo hơi “ai” là tụng lên xuống trầm
bổng, ngân nga chậm rãi, hành giả quán tưởng đến vô thường,
khổ, vô ngã để phát triển tâm từ bi cứu độ. Các Phật
tử Việt Nam thường hay tụng các bộ kinh như Pháp Hoa, Địa
Tạng, Phổ Môn, Di Đà, Lương Hoàng Sám, Thủy Sám, Hồng Danh…
ở đây chúng ta cần phân biệt giữa Tụng và Đọc. Tụng
Kinh là phương pháp Thiền dùng âm thanh để phát triển trí
tuệ giải thoát. Còn Đọc Kinh để nghiên cứu nghĩa lý thâm
diệu của Phật pháp. Do đó trong khi Tụng Kinh vấn đề hiểu
không phải là vấn đề quan trọng, nhưng vấn đề chính yếu
là ở tâm thành, tập trung hết tư tưởng vào lời kinh tiếng
kệ, qua những âm điệu trầm bổng giúp chúng ta tìm được
sự định tâm là nguồn an lạc giải thoát. Các bản kinh chúng
ta sử dụng phần nhiều bằng Hán Văn. Các bản dịch này
do các đại sư uyên thâm Phật Pháp và văn tài quán thế chuyển
âm. Do đó lời kinh trang trọng, âm điệu dồi dào, ý tứ
sâu sắc. Các bản văn này cũng được viết theo thể biền
văn, tuy là văn vần nhưng khi đọc lên có âm điệu trầm
bổng. Do đó có người cho rằng đọc kinh Hán văn dễ cảm
hơn. Còn các bản dịch ra quốc ngữ phần lớn thì dễ đọc,
dễ hiểu nhưng không giữ được âm điệu của nguyên văn.
Nếu chúng ta có được một bản dịch không những lời hay,
nghĩa đúng mà còn giữ được âm vận của nguyên tác, thì
đó là một sự chuyển âm hoàn hảo.
-Trì
là cách đọc liên tục đều đặn các câu thần chú. Có khi
đọc ra tiếng, nhưng cũng có lúc đọc thầm. Các câu thần
chú là các danh hiệu của các vị Phật, Bồ Tát. Do đó vấn
đề dịch nghĩa là điều không cần thiết. Trì Chú là phương
pháp dùng trực giác để cảm nhận các thanh âm linh thiêng
của nội tâm và của vũ trụ. Con đường này vượt qua lý
trí, tâm tư chỉ tập trung vào các thanh âm mà không cần đến
ngữ nghĩa. Các câu chú này kết hợp kỳ diệu các âm thanh
lại với nhau để khi đọc lên âm ba của các thanh âm này
tác động vào các huyệt chính trên đầu mang lại cho hành
giả những cảm giác sảng khoái, sự kính tín và sự định
tâm. Những âm ba này như tiếng sóng dạt dào, miên man bất
tận, hết đợt sóng này đến đợt sóng khác tiếp tục vỗ
mạnh vào tâm thức của hành giả, cho đến lúc tâm thức
si ám vỡ ra để ánh dương quang của sự giác ngộ chói sáng,
như chú gà con phá vỡ vỏ trứng để bước vào thế giới
mênh mông của sự sống. Các thiền sinh Mỹ tu tập tại Chùa
Hải Ấn (Connecticut) trì tụng câu thần chú “Om Mani Padme
Hum” (Án Ma Ni Bát Di Hồng) rất chuyên tâm. Trước khi tọa
thiền, mọi người trì tụng chậm rãi câu thần chú trên,
mỗi một hơi thở cho một thanh âm. Tiếng thần chú vang rền,
trầm hùng, uy lực của thần chú dũng mãnh, khiến mọi người
cảm nhận một sự an lạc vô biên và sự tĩnh lặng sâu sắc.
Chỉ sau năm lần trì tụng như thế tâm tư mọi người đã
lắng đọng và sẵn sàng để đi vào những giây phút nhập
định sảng khoái. Đây chúng ta có thể nói họ đã kinh nghiệm
được phần nào sự an lạc của sơ định “ly sinh hỷ lạc”,
nghĩa là đã bỏ lại bên ngoài Chùa những ưu tư phiền muộn
của cuộc sống để tìm thấy lại nguồn hạnh phúc vô biên
của tự tâm. Uy lực của thần chú vô cùng lớn lao, có thể
dứt trừ nghiệp chướng, tiêu tai giải nạn, tăng trưởng
khả năng giác ngộ giải thoát.
-Niệm
có nhiều nghĩa: tụng niệm và niệm tưởng. Tụng niệm là
đọc danh hiệu của các vị Phật, Bồ Tát thành tiếng hoặc
niệm thầm (mặc niệm)… Còn niệm tưởng là đọc danh hiệu
lên đồng thời quán tưởng đến hình tướng của vị Phật
hay Bồ Tát đó. Các chùa Việt Nam đều hành trì phương pháp
“trì danh niệm Phật” nghĩa là niệm tụng danh hiệu. Mỗi
miền có một hay nhiều lối trì tụng khác nhau. Có khi niệm
đều với âm điệu trầm hùng, nhưng cũng có khi niệm theo
âm điệu trầm bổng. Các Chùa Trung Quốc có lối “ngũ hội
niệm Phật” rất hay. Các niệm này khi nhanh khi chậm, khi
trầm khi bổng… âm thanh ngân nga, dìu dặt… khiến người
nghe tưởng chừng như đang thưởng thức thiên nhạc tại thế
giới Cực Lạc. Sự hành trì về Niệm Phật cũng gần như
lối trì chú, nghĩa là trì niệm đến chỗ “nhất tâm bấn
loạn,” các thanh âm của danh hiệu Phật, Bồ Tát vang lên
cùng với sự hiển hiện của các Ngài trước mắt. Hành giả
không còn thấy người niệm cũng như đối tượng được
niệm, tất cả hòa tan vào nhau trong một nguồn sáng vô biên,
những âm thanh trầm hùng bất diệt như tiếng sóng biển,
vang dội đến tận cùng tâm thức, phá tan đi những vọng
tưởng điên đảo để hiển lộ mặt trời giác ngộ.
Vấn
Đề Hiện Đại
Qua
bao biến thiên, Phật Giáo Việt Nam luôn cùng chung số phận
với đất nước. Trong các cuộc vận động canh tân đổi
mới, Phật Giáo cùng đất nước đứng lên trong phong trào
đấu tranh cho xứ sở. Đau xót trước cảnh nước mất nhà
tan, các thế hệ sĩ phu Việt Nam bằng mọi cách phải giành
lại độc lập cho dân tộc. Sau các cuộc nổi dậy của Cần
Vương và Văn Thân thất bại, từ đầu thế kỷ các nhà cách
mạng tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã ý thức
vấn đề nâng cao dân trí là phương tiện đấu tranh hữu
hiệu, từ đó phát động phong trào đổi mới và vận động
lấy chữ Quốc Ngữ làm chữ viết chính thức. Nhờ công cuộc
canh tân đó, cách mạng đã thành công, đất nước được
độc lập. Nhưng dân tộc phải trả một giá quá đắt, không
những về nhân mạng, tài sản mà cả đến những giá trị
văn hóa. Hậu quả là ngày nay trên phương diện học thuật
không còn mấy người đọc được Hán Văn hay chữ Nôm, một
gia sản văn hóa đồ sộ mà tổ tiên đã hơn hai ngàn năm
gây dựng. Chúng ta như bị cắt đứt với quá khứ, các văn
bản, các cổ thư trong các thư viện bị mối mọt gặm nhấm,
bị thời gian tàn phá dần. Đối với Phật Giáo cũng thế,
ngoài cái đau lòng vì đất nước bị đô hộ, dân tộc bị
nô lệ, đạo lý truyền thống cũng đang trước nguy cơ tiêu
diệt do thực dân cấu kết với các thế lực tôn giáo vô
minh quốc tế. Do đó các bậc tôn túc tiền bối đã phát
động phong trào chấn hưng Phật Giáo từ đầu thế kỷ. Nhờ
phong trào này Phật Giáo đã cứu nguy cho đạo pháp và dân
tộc khỏi đi vào con đường nô lệ vong bản. Trong công cuộc
chấn hưng đó, không phải Phật Giáo không có sự hy sinh.
Ở đây chúng ta cố nhìn lại những mất mát đó để tìm
cách cứu vãn những giá trị truyền thống cao quý khỏi bị
chôn vùi trong tro tàn của lịch sử.
Vấn
đề canh tân ảnh hưởng trên nhiều sinh hoạt của Phật Giáo,
ở đây chúng ta chỉ xét trên phương diện tu tập. Vấn đề
hành trì các nghi thức tán tụng tại các chùa giảm thiểu
rất nhiều. Chúng tôi thuộc thế hệ học tăng của những
năm sáu mươi. Chương trình đào tạo đặt nặng về kinh điển
giáo lý và nhất là thế học. Còn các nghi thức tán tụng
không đặt vào chương trình đào luyện. Vấn đề này do các
chùa tự dạy và theo sở thích cá nhân của từng người.
Nghi lễ đã được giản lược đến mức tối đa, các khoa
nghi, đàn tràng, chẩn tế, bạt độ… chỉ còn một ít các
vị thuộc thế hệ trước biết được mà thôi. Các nghi thức
cũng ngắn gọn và bằng quốc ngữ. Các bản kinh Hán Văn lần
lần được chuyển ngữ. Do đó từ hình thức thờ tự cho
đến nghi thức tụng niệm đều được đơn giản hóa, mới
mẻ và trẻ trung cho thích hợp với trào lưu canh tân. Và chúng
ta đã canh tân trong một “tự ty mặc cảm lớn” với sự
tủi nhục của một dân tộc nhược tiểu mất nước.
Trong
chiều hướng đó, ngày nay cũng có vài vị cố gắng thay đổi
danh hiệu các vị Phật và Bồ Tát với ý nghĩ làm như thế
nghi lễ có tính cách Việt Nam hơn. Ví dụ sự thay đổi cách
niệm Phật: Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni hay Nam Mô Bụt
Thích Ca Mâu Ni, hoặc là Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm v.v… thay
vì niệm theo lối cũ: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu ni Phật hay
là Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát.. Đây là một nỗ lực đáng
quý trong ý hướng làm mới đạo Phật. Trên phương diện
ý hướng là thế, nhưng trên thực tế sự thay đổi này tạo
nhiều trở ngại cho sự hành trì. Vì cả trên phương diện
lý thuyết cũng như thực hành các luận cứ này không có cơ
sở chắc chắn. Vì ngày nay các tiêu chuẩn ấn định cho nhân
danh và địa danh vẫn đặt căn bản trên ngôn ngữ gốc. Những
thay đổi này chỉ là những thay đổi trên hình thức, trên
danh từ do đó đã trở ngại rất nhiều cho sự tu tập. Có
cần thiết chăng là sự thay đổi pháp môn tu tập cho hợp
với căn cơ của mình.
Trong
khi chúng ta niệm một danh hiệu hay gọi một danh xưng, lâu
ngày danh hiệu đó quan hệ mật thiết với chúng ta không những
trên phương diện lý trí mà cả trên phương diện tình cảm.
Mỗi âm thanh phát lên là cả một thế giới hiển hiện. Ví
dụ danh từ “cha mẹ” thay đổi theo từng vùng: ba má, bố
đẻ, thầy mợ, cha mạ, ba mẹ v.v… Tuy nhiên đứa con thuộc
vùng nào thì dùng tiếng vùng đó, tiếng địa phương đó
đã thấm thía vào máu thịt cho nên khi gọi lên danh từ đó
cũng gọi lên tất cả nghĩa tình thắm thiết. Vì thế khi
thay đổi tên gọi chúng ta sẽ cảm thấy xa lạ ngay. Ví dụ
bắt người miền Nam phải gọi cha mẹ là “bố đẻ” thì
quả là khó khăn vô cùng, và ngược lại người Bắc phải
gọi cha mẹ bằng “ba má” thì khó khăn cũng không kém. Hoặc
có người nhân danh chính thống để bắt mọi người phải
gọi cha mẹ bằng “bố cái” theo danh xưng cổ “Bố Cái
Đại Vương” thì quả là một khó khăn lớn cho nhân dân
cả nước.
Đối
với việc niệm Phật cũng thế, nếu chúng ta thay đổi tên
gọi của Phật chúng ta đã đánh mất đi cả thế giới tình
cảm tâm linh gắn bó với danh xưng đó. Hơn nữa tại ba miền
vấn đề danh xưng đã thống nhất rồi, đều dùng danh từ
Phật, còn chữ Bụt chỉ là tiếng cổ còn sót lại trong văn
chương bình dân mà thôi. Có những danh từ cổ ngày nay chúng
ta không còn dùng nữa. Nếu có những cảm hứng cá nhân trong
việc sử dụng một vài danh từ cổ, thì đó chỉ là trường
hợp riêng tư. Ví dụ: có người vẫn thích dùng từ “Thăng
Long” thay vì Hà Nội, không phải vì thế danh xưng Hà Nội
trở thành sai lầm và bị thay đổi đi. Chúng ta không thể
lấy cảm hứng cá nhân làm tiêu chuẩn chung cho mọi người.
Thiết
tưởng cứu cánh của sự tu tập đặt ở sự chuyển hóa
nội tâm. Còn tất cả những danh xưng, hình tướng chỉ
là phương tiện. Phương tiện nào đạt đuợc sự tinh hóa
nội tâm đều là phương tiện tốt. Chúng ta không nên quá
câu
nệ vào phương tiện mà quên cứu cánh.
Đối
với đức Phật chúng ta gọi Ngài thế nào cũng được, miễn
là chúng ta có sự tôn kính. Cũng như đối với cha mẹ, chúng
ta gọi bằng danh xưng gì cũng được, miễn là có lòng hiếu
nghĩa. Trước khi đức Thích Ca giáng trần, trong quá khứ có
rất nhiều vị giác ngộ, mà không hề biết đến tên đức
Phật.
Do
đó “Sư nói sư phải, vải nói vải hay” nếu cứ mãi chấp
nê vào vấn đề danh từ, chúng ta sẽ rơi vào mê hồn trận
của thế giới chữ nghĩa, đây là một chướng ngại lớn
trong việc tu tập. Đức Phật gọi đó là “sở trí chướng”
(chướng ngại do kiến thức). Chính vì thế, chủ trương của
Thiền Tông là: “Bất lập ngôn ngữ văn tự, trực chỉ minh
tâm kiến tánh lập địa thành Phật” (không thiết lập giáo
thuyết trên căn bản văn tự chữ nghĩa, đi thẳng vào sự
soi sáng nội tâm, nhìn rõ bản tánh để giác ngộ thành Phật
tại chỗ). Các tông phái Phật Giáo khi dùng âm thanh ngôn ngữ
trong việc hành trì đều ý thức rõ rằng đó chỉ là phương
tiện chứ không phải cứu cánh.
Tân
Nhạc Phật Giáo
Khi
văn hóa Tây Phương tràn ngập phương Đông, các nghệ sĩ Phật
tử tại gia cũng như xuất gia biết sử dụng thông minh các
phương tiện âm nhạc Tây Phương để sáng tác nhạc Phật
Giáo. Từ những bài nhạc sinh hoạt Gia Đình Phật Tử của
các huynh trưởng Phạm Mạnh Cương, Lê Cao Phan, Bửu Bác, Lê
Mộng Nguyên, Phạm Thế Mỹ, Ngô Mạnh Thu v.v… cho đến những
bài Tâm Cao, Đạo Ca, Thiền Ca… của Phạm Duy; cũng những
ca khúc của Võ Tá Hân, Hoàng Quang Huế… cũng như của các
văn nghệ sĩ khác, qua sự diễn xuất tuyệt vời của các
nghệ sĩ như Thanh Thúy, Hà Thanh… đã đưa nền tân nhạc
Phật Giáo đến đỉnh cao của nghệ thuật. Khởi hứng từ
suối nguồn tâm linh tịch mặc của đạo học phương Đông,
các nhạc sĩ Việt Nam đã sử dụng nhuần nhuyễn phương tiện
kỹ thuật của âm nhạc Tây Phương để diễn đạt những
cảm ứng tâm linh, những tình cảm tôn giáo cùng những kinh
nghiệm giải thoát bản thân để sáng tác những bài chứng
đạo ca, ca ngợi sự sống, ca ngợi con người, ca ngợi thiên
nhiên, ca ngợi lòng thương, ca ngợi giải thoát… mở ra một
hướng sáng tác mới đi sâu vào thế giới tâm linh huyền
nhiệm, với mong ước mang lại hạnh phúc cho mình cho người
và làm vơi đi những khổ đau của con người. Vì không chuyên
môn trong lãnh vực tân nhạc, người viết chỉ xin ghi lại
vài dòng vắn tắt để ca ngợi hạnh nguyện Bồ Tát của
các nghệ sĩ Phật tử.
Tóm
lại, Thiền Âm Thanh là một pháp môn dùng âm thanh để tu
tập, trong đó âm thanh là phương tiện để định tâm, để
khai mở những khả năng tâm linh mầu nhiệm tiềm tàng trong
mỗi người. Từ pháp âm vi diệu của Đức Phật, làm an định
lòng người, mở đường giải thoát. Để từ đó pháp môn
dùng âm thanh triển khai tuệ giác được hình thành. Từ Nguyên
Thủy cho đến Đại Thừa âm thanh giữ vị trí quan trọng,
nhất là trong các truyền thống Thiền, Tịnh Độ và Mật
Tông. Với sự hỗ trợ của kinh Pháp Hoa, âm nhạc đã trở
thành con đường tu tập. Phật Giáo Việt Nam đã tiếp thu
và phát triển cùng cực trong việc sử dụng âm nhạc cho việc
tu tập qua các làn điệu tán tụng trong nhà Thiền. Từ các
pháp khí đến thanh giọng âm nhạc thiền chú trọng vào sự
định tâm. Các âm điệu trầm hùng giúp con người lắng đọng
tâm tư, tư duy nội hướng và khai mở nguồn tuệ giác vô
biên. Qua bao biến thiên, nhạc Thiền vẫn còn được duy trì.
Ngày
nay với những cố gắng riêng tư, với những kinh nghiệm cá
biệt, rất nhiều các Phật tử Việt Nam tại gia cũng như
xuất gia đã dùng phương tiện nhạc cụ, nhạc lý Tây phương
để đóng góp tích cực vào việc phong phú hóa nền nhạc
Thiền đó. Hy vọng trong tương lai âm nhạc Phật Giáo đạt
được nhiều thành tựu cao hơn và phục hồi lại được
phong độ của nền âm nhạc tâm linh giải thoát này.
Chương
VI. Phát Huy Phật Tính
Phát
Huy Phật Tính
Sau
khi thành đạo dưới cội cây bồ đề, Đức Phật lưỡng
lự trong vấn đề giảng dạy giáo pháp cho chúng sinh. Vì căn
tánh u mê, vì sân hận tràn đầy và vì tham chấp quá lớn
của chúng sinh, Ngài do dự Phật pháp không có cơ hội thấm
nhuần vào lớp đất quá dày của mê tín, của tham chấp vào
thần quyền, đặc quyền mà chế độ giai cấp đang thống
trị xã hội Ấn Độ. Sau những ngày thiền định để tìm
phương cứu độ, cùng sự cầu thỉnh của chư thiên, một
sáng tham thiền bên hồ, Ngài nhìn vào những đóa hoa sen. Có
những hoa đã nở, có những nụ sắp nở, có những nụ còn
đang chìm dưới mặt nước. Sau đó, Ngài quán chiếu vào tâm
của chúng sanh để thấy rằng có những chúng sinh đã triển
khai Phật tính, có chúng sinh sắp triển khai và có chúng sinh
sẽ triển khai. Cho dầu chúng sanh tâm trí u ám đến mức độ
nào, tất cả đều có Phật tính và một ngày nào đó Phật
tính sẽ hiển lộ như những đóa sen sẽ tuần tự vươn lên
khỏi bùn lầy để nở ra những đóa hoa tươi đẹp và thơm
ngát. Ngài rời cội cây bồ đề để bắt đầu công cuộc
giáo hóa.
Giáo
pháp của Đức Phật chỉ có một mục đích là giải thoát
chúng sinh ra khỏi biển khổ: “Như nước trong bốn biển
chỉ có một vị mặn, đạo của ta chỉ có một vị đó là
vị giải thoát.” Điều này được nhìn thấy rõ ràng trong
các kinh điển Phật Giáo. Tam Tạng Kinh kết tập tất cả
những lời dạy của đức Phật với một nội dung duy nhất
là dạy cho chúng sinh con đường giải thoát. Tùy theo căn cơ,
hoàn cảnh, Ngài chỉ dạy những phương pháp khác nhau. Thuật
ngữ Phật Giáo gọi những phương pháp hành trì khác nhau bằng
danh từ “tám vạn bốn ngàn pháp môn,” có nghĩa là có đến
tám mươi bốn ngàn cửa ngõ dẫn đến Phật Pháp hay vô số
con đường tu tập.
Trong
vô số những con đường đó, có một con đường đã đưa
đạo Phật Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên vượt
qua những cơn pháp nạn nguy khốc, tiềm ẩn trong dân gian để
chờ ngày khôi phục. Có một con đường linh động uyển chuyển,
hợp thời hợp cảnh, giản hóa sự hành trì đến mức tối
đa để đưa hành giả tiếp xúc trực tiếp hằng ngày với
Phật tính của mình. Có một con đường đã đưa đạo Phật
đi vào dân gian, đi vào lòng người và đã tương sinh cộng
tồn với dân tộc suốt chiều dài lịch sử. Trải qua bao
nguy khốn, pháp môn này đã thăng trầm cùng dân tộc để
đưa dân tộc đến bến bờ an vui. Con đường này chính là
Pháp Môn Tịnh Độ.
Đôi
Dòng Lịch Sử
Tại
Ấn Độ, sau khi đức Phật nhập Niết Bàn vài ba trăm năm,
sự phân phái bắt đầu thành hình. Trong sự tranh luận để
xiển dương giáo nghĩa của tông môn mình, các bộ phái đã
đi sâu vào con đường triết lý. Trong truyền thống Phật
Giáo Nguyên Thủy, sự tu tập hành trì chỉ giới hạn trong
phạm vi tu viện cho chư tăng xuất gia mà thôi. Còn hàng Phật
tử tại gia chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Do đó Phật Giáo đóng
khung trong bốn bức tường của tu viện và sự học hỏi hành
trì giáo pháp hầu như độc quyền của giới tu sĩ. Thêm vào
đó sự say mê trong vấn đề luận giải kiến thức của hàng
tăng sĩ trí thức đã đưa Phật Giáo xa rời quần chúng. Từ
thời vua A Dục, khoảng thế kỷ thứ ba trước công nguyên,
cho đến thế kỷ thứ nhất sau công nguyên là giai đoạn hình
thành và phát triển của Phật Giáo Đại Thừa. Phong trào
này đã đại chúng hóa Phật Giáo và đưa Phật Giáo về với
cộng đồng nhân dân. Các luận sư nổi tiếng của Phật giáo
đương thời là Mã Minh, Long Thọ và Thế Thân đã tích cực
xiển dương Tịnh Độ. Từ đó vai trò của cư sĩ được
đề cao, các kinh như Duy Ma Cật, Pháp Hoa được quảng bá.
Trong việc đơn giản hóa cách hành trì các kinh như Di Đà,
Quán Vô Lượng Thọ… được trì tụng và pháp môn Tịnh
Độ được phổ cập trong quần chúng. Kinh Quán Vô Lượng
Thọ (kinh quán tưởng Đức Phật A Di Đà) là cuốn kinh được
đức Phật thuyết pháp để độ cho hoàng thái hậu Vi Đề
Hy đang bị con là vua A Xà Thế giam cầm trong ngục tối. Nhờ
phương pháp niệm Phật hoàng thái hậu đã thoát khỏi tất
cả những khổ não, thể hiện tịnh độ trong lao tù và lúc
lâm chung được vãng sanh về thế giới cực lạc.
Tại
Trung Quốc, Kinh A Di Đà được phiên dịch rất sớm vào thế
kỷ thứ hai. Nhưng Tịnh Độ Tông chưa phát triển thành tông
phái. Mãi đến thế kỷ thứ năm Huệ Viễn Đại Sư mới
lập thành tông phái. Sau loạn An Lộc Sơn (thế kỷ thứ tám)
lòng người ly tán, trong thời điểm này Tịnh Độ Tông phát
triển mạnh mẽ. Đại Sư Pháp Chiếu đã sáng tạo phương
pháp “ngũ hội niệm Phật” với âm điệu du dương trầm
bổng nghe như thiên nhạc cõi cực lạc. Phương pháp này cho
đến ngày nay vẫn còn trì niệm. Qua những cơn pháp nạn,
chùa chiền bị phá hủy, tăng chúng bị cưỡng bách hoàn tục,
Phật Giáo tưởng chừng như mất tích trên lục địa Trung
Quốc. Lúc đó hầu hết các tông phái như Hoa Nghiêm, Thiên
Thai… đều bị tiêu diệt, chỉ còn hai tông phái sống sót
và quang phục được, đó là Thiền Tông và Tịnh Độ Tông.
Thiền Tông nhờ không nương vào giáo lý kinh điển, còn Tịnh
Độ Tông nhờ phương pháp hành trì đơn giản của Niệm Phật
với “Lục Tự Di Đà” (sáu chữ: Nam Mô A Di Đà Phật).
Còn những tôn phái khác đòi hỏi sự học tập nghiên cứu
sâu sắc kinh điển không có cơ hội để phục hồi.
Tại
Nhật, Tịnh Độ Tông phát khởi từ thế kỷ thứ 12. Đại
sư Hònen (1133-1212) và Shinran (1173-1262) là những người đã
xiển dương giáo lý tịnh độ. Xã hội Nhật cuối thời Heian
và khởi đầu của thời Kamakura là thời kỳ nội chiến nhiễu
nhương, thiên tai địch họa. Tâm trạng dân chúng hoang mang
và bi quan. Chính trong thời kỳ này Tịnh Độ Tông đã mang
lại niềm hy vọng cho quảng đại quần chúng trong đức tin
vào sự hộ trì và cứu độ của Đức Phật A Di Đà. Trong
thời kỳ này, Phật giáo tại Nhật cũng rơi vào tình trạng
bị cô lập trong bốn bức tường tu viện và trong hàng rào
của giai cấp quý tộc. Những buổi thuyết pháp đàm
kinh là những sinh hoạt của giới tu sĩ và thượng lưu trí
thức. Còn đại đa số quần chúng không có cơ hội tham dự.
Hai đại sư Hònen và Shinran đã mang đạo Phật đến quần
chúng bình dân bằng sự hành trì đơn giản của phương pháp
Niệm Phật.
Tại
Việt Nam, Tịnh Độ Tông truyền vào rất sớm, có lẽ sau
Trung Quốc không lâu, vì nước ta trong giai đoạn trước thế
kỷ thứ 10 là thời kỳ nội thuộc. Từ sau thời độc lập,
dưới các triều đại quân chủ Phật Giáo như Lý, Trần,
Tịnh Độ Tông cũng được trọng vọng. Tuy triều Lý chịu
ảnh hưởng lớn của Mật Tông, và triều Trần ảnh hưởng
của Thiền Tông nhưng Tịnh Độ Tông vẫn tồn tại song hành.
Pho tượng Phật A Di Đà của chùa Phật Tích, Bắc Ninh được
tạc vào đời vua Lý Thánh Tôn, 1057 là vết tích sớm nhất
của Tịnh Độ Tông tại Việt Nam. Sách Thiền Uyển Tập Anh
nhắc đến sự tích Ngài Không Lộ đời Lý đúc tượng Phật
A Di Đà bằng đồng, ngài Tịnh Lực đắc pháp “Niệm Phật
Tam Muội” và dạy đệ tử: “nếu muốn diệt trừ các ác
nghiệp thì nên trì niệm bằng cả tâm lẫn khẩu.” Sang đến
triều Trần, Tịnh Độ Tông vẫn còn ảnh hưởng lớn trong
sự hành trì. Vua Trần Thái Tông trong tác phẩm Khóa Hư Lục
viết: “Đối với bậc hạ trí, miệng phải chuyên lời niệm
Phật, tâm phải mong thấy tướng Phật, thân phải nguyện
sinh nước Phật, ngày đêm siêng năng tu hành không thối chuyển,
sau khi mạng chung sẽ tùy thiện niệm của mình mà được
sinh về nước Phật, sau đó được nghe Chánh pháp do chư Phật
giảng dạy mà chứng được quả vị bồ đề.” Tuệ Trung
Thượng Sĩ cũng quan niệm đức Phật A Di Đà là pháp thân
có mặt khắp nơi và có mặt trong tự tâm của mỗi người
như mặt trăng soi bóng trên mặt nước:
Di
Đà vốn thực pháp thân ta
Nam
Bắc Đông Tây khắp chói lòa
Trăng
thu ngự giữa trời cao rộng
Đêm
lặng trùng dương rạng chiếu xa.
Sang
đến đời Hậu Lê, triều đình sùng thượng Khổng Giáo,
các nhà Nho bắt đầu hủy báng Phật Giáo. Đạo Phật lúc
đó đã rời cung đình, trở về làng mạc, tiềm ẩn trong
dân gian. Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, trong niềm đau
chia cắt đất nước, trong nỗi thống khổ của cuộc chiến
tương tàn, Tịnh Độ Tông vẫn là giọt nước cam lồ rưới
vào những vết thương đau nhức, vẫn là niềm tin và nguồn
hy vọng cho nhân dân cùng khổ. Sức mạnh đó vẫn tiếp tục
qua đến triều Nguyễn, rồi Pháp thuộc, rồi thời quốc cộng,
rồi thời cộng sản. Với niềm tin vững chãi, với sự hành
trì đơn giản, Tịnh Độ Tông đã là sức sống tiềm tàng
để đưa dân tộc vượt qua bao thăng trầm, nguy biến. Qua
cuộc thử lửa đó, những pháp môn đặt căn bản trên kinh
điển giáo lý thâm áo như Mật Tông, hay trên công phu tĩnh
tọa như Thiền Tông đã không tồn tại trước những khắc
nghiệt của hoàn cảnh. Duy Tịnh Độ Tông với pháp môn Niệm
Phật đã linh động hóa thân tiềm ẩn trong thôn làng, làm
điểm tựa tâm linh cho nhân dân, làm niềm hy vọng cuối cùng
để đưa dân tộc vượt thoát biển khổ của hận thù tranh
chấp. Từ đó tiếng “Mô Phật” trở thành tiếng kêu cứu,
tiếng cảnh tỉnh trong những lúc khó khăn hoạn nạn và là
thuật ngữ quen thuộc sử dụng hàng ngày trong cuộc sống.
Do đó chúng ta hiểu được tại sao Phật Giáo Việt Nam vốn
có gốc rễ trong Mật Tông và Thiền Tông, nhưng pháp môn hành
trì chính yếu lại là Tịnh Độ Tông.
Đức
Phật A Di Đà
Tiếng
Phạn là Amita Buddha. Amita có nghĩa là nguồn sáng vô biên,
là sự sống vô cùng. Về sự tích của Đức Phật A Di Đà,
Đức Phật Thích Ca đã thuật lại trong nhiều bộ kinh. Theo
Kinh Đại A Di Đà, tiền thân của Ngài là quốc vương Kiều
Thi La trong thời quá khứ xuất gia làm tỳ kheo hiệu Pháp
Tạng. Trong lúc tu tập ngài đã phát 48 lời nguyện độ tất
cả chúng sanh. Với lòng từ bi vô lượng đó, sau khi thành
Phật Ngài đã thiết lập thế giới Tây Phương Cực Lạc
làm đạo tràng cho những chúng sanh cầu giải thoát, đến
đó tu tập cho đến ngày giác ngộ hoàn toàn.
Ngài
là Nguồn Sáng Vô Biên: tự thân ngài hào quang sáng suốt,
chiếu khắp mười phương, không vật gì có thể ngăn che được.
Ánh sáng đó soi chiếu đến đâu chúng sanh được giác ngộ
giải thoát. Trong Kinh Vô Lượng Thọ Phật nói đến tính chất
của nguồn sáng đó:
-Vô
Lượng Quang: ánh sáng trí tuệ đó không đo lường được.
-Vô
Biên Quang: nguồn sáng đó vô cùng, chiếu đến đâu chúng
sanh giác ngộ đến đó.
-Vô
Ngại Quang: ánh sáng đó tự tại như hư không, không bị vật
gì ngăn che.
-Vô
Đối Quang: ánh sáng đó thanh tịnh, không gì có thể so sánh
được.
-Viêm
Vương Quang: là vua của tất cả các nguồn sáng.
-Thanh
Tịnh Quang: nguồn sáng đó trong suốt, không một vết bụi.
-Hoan
Hỷ Quang: nguồn sáng của sự giải thoát, ai nhìn thấy đều
được an lạc.
-Trí
Huệ Quang: hào quang của trí tuệ, chiếu đến đâu xua tan
những bóng đen của tham dục, u minh.
-Bất
Đoạn Quang: nguồn sáng đó không bao giờ đứt đoạn.
-Nan
Tư Quang: nguồn sáng này không thể dùng trí óc thông thường
để suy xét được.
-Vô
Xưng Quang: nguồn sáng đó không thể dùng danh tướng hình
thức để biết được.
-Siêu
Nhật Nguyệt Quang: nguồn sáng đó sáng hơn cả mặt trời,
mặt trăng.
Đó
là một số những tính chất của nguồn sáng giác ngộ của
Đức Phật A Di Đà. Hào quang đó có thể soi chiếu khắp cùng
vũ trụ, không một vật gì có thể ngăn cản được. Từ
những từng trời cao ngất đến những địa ngục tối tăm,
khắp nơi nơi chúng sanh đều cảm nhận được nguồn sáng
từ bi giác ngộ đó của Đức Phật A Di Đà, đều cảm nhận
được sự tiếp độ vô cùng của Ngài.
Ngài
là Sự Sống Vô Cùng: về sự sống của Đức Phật Di Đà
cùng chư Phật và thánh chúng trong thế giới cực lạc là
vô cùng. Chúng ta không thể lấy đơn vị thời gian của thế
gian để đo lường được.
-Sự
sống đó là vĩnh cửu, là biểu hiện của sự giác ngộ.
Khi đã giác ngộ không còn bị đày đọa trở lại trong luân
hồi lục đạo. Cũng như vàng khi đã đãi lọc không bao giờ
trở lại thành quặng đất.
-Sự
sống đó biểu hiện sự thường xuyên có mặt khắp nơi và
bất cứ lúc nào. Chúng ta có thể luân hồi trong ngàn vạn
ức kiếp thì trong ngàn vạn ức kiếp đó lúc nào Đức Phật
A Di Đà cũng có mặt để tiếp độ.
-Sự
sống đó biểu hiện nguồn sống linh động của chân tâm,
là bản chất thường tại của tuệ giác. Cho dầu chúng ta
bị vô minh che lấp, nhưng bản tánh trong sáng của chân tâm
lúc nào cũng hiển hiện, như viên kim cương bị bụi che mờ
nhưng khả năng chiếu sáng của kim cương lúc nào cũng hiện
diện, khi lau bụi đi sự trong sáng đó hiển lộ toàn diện.
-Sự
sống đó là nguồn sinh lực vô biên, biểu hiện lòng từ
bi vô lượng của Đức Phật A Di Đà.
-Sự
sống đó là năng lực vô tận, biểu hiện đại nguyện cứu
độ vô cùng của Đức Phật A Di Đà.
-Sự
sống có nghĩa là sự tăng trưởng, sự lớn mạnh. Điều
đó biểu hiện sự chuyển hóa không ngừng, sự tiến bộ
liên tục của sự tu tập và sự lớn mạnh của bản tâm
từ tâm nguyện tu tập giải thoát cho chính mình đến tâm
vị tha giúp người thoát khổ. Sự sống đó biểu hiện năng
lực chuyển hóa của Đức Phật A Di Đà.
Đó
là những ý nghĩa thâm sâu biểu hiện trong sự sống vô cùng
của Đức Phật A Di Đà. Nguồn sống vô tận của Ngài là
nguồn cảm hứng bất tuyệt cho những rung cảm tâm linh, là
chỗ hướng đến cho những con thuyền lênh đênh trên biển
khổ.
Ngài
là Lòng Từ Bi Vô Lượng: từ khi còn là tỳ kheo Pháp Tạng,
Ngài đã phát những nguyện lớn để cứu độ tất cả chúng
sanh. Đó là bốn mươi tám lời nguyện. Trong những lời nguyện
đó, Ngài phát tâm dũng mãnh dùng mọi phương tiện để giúp
chúng sanh thoát mọi khổ não. Từ cái khổ vật chất như
thiếu ăn mặc, thuốc thang, cho đến những cái khổ về tinh
thần như tham vọng, hận thù và mê muội. Cũng như những
thống khổ luân lạc trong ba đường ác như địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh. Những nỗi khổ do sự phân biệt nam nữ, giàu
nghèo… Trong nước của Ngài mọi sự đều đầy đủ, đều
thanh tịnh từ nơi ở đến tâm địa của chúng sanh. Mọi
người đều trang nghiêm thân tâm bằng giới đức và đều
tinh tấn cho đến ngày giác ngộ.
Quán
chiếu sâu sắc nỗi khổ trong lục đạo luân hồi và thấu
hiểu tinh thần yếu đuối của chúng sanh, vì lòng từ bi vô
lượng muốn cứu vớt chúng sanh, Đức Phật A Di Đà đã phương
tiện thiết lập ra cõi Tây Phương Cực Lạc là cõi trung gian
giữa thế giới luân hồi và cõi Niết Bàn. Tất cả chúng
sanh niệm tưởng đến Ngài, cho dầu với khả năng nhỏ nhoi
chỉ đủ sức để niệm Phật trong một thời gian ngắn, cho
dầu những chúng sanh đó vẫn còn nặng nghiệp, Ngài cũng
nguyện cứu độ tất cả những chúng sanh đó về thế giới
cực lạc. Đó là “đới nghiệp vãng sanh” (lúc vãng sanh
mang nghiệp theo). Tại Tây Phương Cực Lạc các chúng sanh đó
tiếp tục tu tập cho đến ngày giải thoát hoàn toàn. Sự
tu tập ở cõi Tịnh Độ chỉ có sự tiến bộ chứ không
có thoái bộ.
Vì
chúng sanh ở đây được nghe chư Phật, chư Bồ Tát thuyết
pháp hàng ngày. Với khung cảnh thanh tịnh trang nghiêm của
thế giới cực lạc, với sự sách tấn của thánh chúng, thì
sự giác ngộ chắc chắn sẽ hoàn thành trong tương lai.
Ngài
là Đóa Sen Trong Ngần: Biểu tượng của Đức Phật A Di Đà
là đóa sen thơm ngát. Ngài đã xuất hiện trong cõi đời uế
trược để quyết tâm tu tập cho đến giác ngộ hoàn toàn,
như hoa sen sinh ra trong bùn lầy nhưng vươn lên khỏi bùn lầy
và chuyển hóa chất liệu bùn lầy thành những đóa hoa sen
tinh khiết. Ngài cũng vì sự khổ não của thế giới Ta Bà
mà thiết lập cõi Tịnh Độ, vì sự đau khổ của chúng sinh
mà đi vào cõi đời uế trược để thị hiện cứu độ.
Trong
Tứ Thập Nhị Chương Kinh, Đức Phật Thích Ca dạy: “Bực
sa môn dấn thân vào đời ô trược này, phải giữ gìn như
hoa sen mọc dưới bùn mà không nhiễm dơ.” Trong ao thất bảo
ở cõi cực lạc có bốn loại sen: xanh vàng đỏ trắng. Hoa
màu nào chiếu hào quang màu ấy tỏa hương thơm tinh khiết.
Những người tu hành khi về cõi ấy nương theo hoa sen mà sanh
ra, chuyển hóa con người tham sân của mình thành con người
thanh khiết trong “cửu phẩm liên hoa.” Đó là hình ảnh
tuyệt đẹp diễn tả sự kết tinh của công đức tu tập.
Sự tinh tấn như những chất liệu chuyển hóa khổ đau thành
tịnh độ như sen chuyển bùn thành hoa. Từ đó Tịnh Độ
Tông cũng có tên là Liên Tông.
Tự
Tánh Di Đà: Trong giáo nghĩa Tịnh Độ Tông, Đức Phật A Di
Đà là giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc và cũng là
pháp thân, là nguồn sáng của giác ngộ. Pháp thân đó có
mặt cùng khắp trong vũ trụ và cũng có mặt trong tự tâm
của mỗi chúng sanh. Như mặt trăng vằng vặc trên không và
hiển hiện trong khắp ao hồ.. Đức Phật A Di Đà có mặt
khắp nơi và trong tự tâm mỗi chúng sanh đều có Phật tánh
Di Đà. Tự Tánh Di Đà là sự biểu hiện của Phật Tánh để
mỗi chúng sanh cảm nhận rằng trong tự tâm của chính mình
tiềm ẩn Đức Phật A Di Đà. Tự Tánh đó chính là khả năng
giác ngộ của mỗi người. Sự giác ngộ là nguồn sáng vô
biên, là sự sống vô cùng, là lòng từ bi vô lượng và là
đóa sen tinh khiết giữa thế giới ô nhiễm. Khả năng đó
có mặt trong mỗi chúng sanh với đầy đủ những đức tính
của Đức Phật A Di Đà. Cho nên hình ảnh Đức Phật A Di
Đà chính là sự biểu hiện của bản tánh giác ngộ của
chư Phật và chúng sanh trong khắp không gian và thời gian.
Thế
Giới Tịnh Độ
Trong
Kinh A Di Đà, Đức Phật Thích Ca diễn tả cảnh Tây Phương
Cực Lạc:
-Dân
chúng trong nước đó không còn biết đến các điều khổ,
chỉ tận hưởng các niềm vui.
-Nước
Cực Lạc có hồ thất bảo chứa đựng nước của tám thứ
công đức, dưới đáy hồ cát là vàng, bốn phía có lối
đi trang sức bằng vàng, bạc, lưu ly, phía có lối đi trang
sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lệ. Có nhiều đền đài
xây bằng châu báu như vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích
châu, mã não, san hô, hổ phách, trân châu. Có những hoa sen
lớn đủ các màu xanh, đỏ, trắng, vàng. Sen màu nào chiếu
hào quang màu đó và tỏa hương thơm vi diệu thanh khiết.
-Mỗi
ngày có sáu lần mưa hoa Mạn Đà La.
-Có
những loài chim đủ màu như bạch hạc, khổng tước, oanh
vũ, xá lợi, ca lăng tần già, cọng mạng… suốt ngày đêm
hót lên những âm thanh vi diệu ca ngợi các pháp ngũ căn, ngũ
lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần.. Dân
chúng nghe những pháp âm đó đều hướng tâm tôn kính Phật,
Pháp, Tăng.
-Mỗi
khi có gió nhẹ lay động các hàng cây thất bảo phát lên
những âm thanh vi diệu như trăm ngàn nhạc khí đồng thời
tấu lên. Dân trong nước ấy khi nghe các âm thanh đó đều
nhất tâm niệm Phật, Pháp, Tăng.
-Chúng
sanh nên phát nguyện sinh về cõi ấy, vì thường xuyên được
gặp chư Phật, Bồ Tát và nghe các Ngài giáo hóa.
-Chúng
sanh khi nghe đến danh hiệu Đức Phật A Di Đà nên phát tâm
trì niệm nhất tâm bấn loạn từ một ngày cho đến bảy
ngày, khi lâm chung người đó tâm không điên đảo sẽ được
Đức Phật A Di Đà cùng Thánh Chúng tiếp dẫn về cõi Tây
Phương Tịnh Độ.
-Nếu
có người phát nguyện sanh về cõi Tịnh Độ, thì người
đó trong lúc phát nguyện đã đạt quả vị giác ngộ
cao tột không thối chuyển và đã có mặt tại Tây Phương
Cực Lạc, tuy thân xác vẫn còn tại cõi Ta Bà.
Đó
là đại cương những điểm căn bản về cảnh giới Tây Phương
Cực Lạc. Đây là một cõi thuần khiết từ đất đai nhà
cửa đều được xây dựng bằng nhũung màu sắc rực rỡ
quý báu của các loại châu ngọc. Chúng sanh trong đó tâm đã
thuần thiện, không còn các khổ não từ vật chất đến tinh
thần. Những âm thanh của cây lá, chim chóc đều là những
lời thuyết pháp vi diệu để trợ duyên cho chúng sanh trên
con đường tu tập. Do đó khi đã vãng sanh về thế giới đó
sự tu tập chóng thành tựu và sự chứng ngộ là điều hiển
nhiên.
Về
Kinh Di Đà, tôi còn nhớ câu chuyện do hòa thượng Thiện Siêu
kể cho đại chúng trong trường hạ tại chùa Già Lam khoảng
năm 1970. Hòa Thượng kể: vào trước thời kháng chiến, hòa
thượng Trí Thủ là giám viện Phật Học Đường Báo Quốc.
Trong Chùa chư Tăng rất đông gồm phần lớn quý thầy mà
bây giờ là các vị lãnh đạo của giáo hội. Lúc đó ảnh
hưởng tinh thần cách mạng của Thái Hư Đại Sư, quý thầy
cũng muốn cải cách. Có hôm đại chúng quyết định không
tụng kinh Di Đà. Hòa Thượng gọi lên hỏi. Quý thầy thưa
Kinh Di Đà chỉ là bài văn tả cảnh Tây Phương, không ích
lợi cho sự tu tập. Hòa Thượng vừa tức cười vừa giảng
giải. Kinh Di Đà chính là một bài kinh quan trọng trong việc
chuyển hóa nội tâm. Khi tâm hướng về cảnh giới thanh tịnh
thuần khiết thì những phiền não không nổi lên và các thiện
căn được phát triển. Khi tâm tư duy thế giới cực lạc
thì cảnh giới mình đang sống cũng là cõi Tịnh Độ. Sự
tu tập chính là sự huân tập dần dần để chuyển phiền
não thành Bồ Đề, chuyển Ta Bà thành Tịnh Độ.
Duy
Tâm Tịnh Độ
Cõi
Tịnh Độ không phải chỉ có mặt tại Tây Phương Cực Lạc,
nhưng cũng có mặt tại đây trong giờ phút này ở ngay trong
tự tâm của mình. Khi tâm an tịnh thì thế giới mình đang
sống là Niết Bàn, Cực Lạc, khi tâm loạn động thì cảnh
giới địa ngục hiển bày. Trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du
đã bày tỏ triết lý này qua các vần thơ:
Người
vui thì cảnh cũng vui
Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Tịnh
Độ là Đây: Người tu Tịnh Độ cũng có thể kinh nghiệm
được cảnh giới Cực Lạc ngay tại thế giới này. Đó cũng
là ý nghĩa của điều dạy trong Kinh A Di Đà: Nếu có người
phát nguyện sanh về cõi Tịnh Độ, thì người đó trong lúc
phát nguyện đã đạt quả vị giác ngộ cao tột không thối
chuyển và đã có mặt tại Tây Phương Cực Lạc, tuy thân
xác vẫn còn tại cõi Ta Bà.
Điều
này chúng ta có thể hiểu được. Nếu trong một ngày đẹp
trời, chúng ta vào công viên đi kinh hành niệm Phật cho đến
lúc tâm an tịnh, các phiền não đã lắng. Lúc đó các giác
quan của chúng ta sẽ nhạy bén hơn để thấy bầu trời trong
hơn, cây lá xanh hơn, hoa cỏ rực rỡ hơn, hương thơm ngát
hơn, chim hót hay hơn… cảnh tượng chung quanh chúng ta tự
nhiên rực rỡ, trong sáng hẳn lên. Tất cả màu sắc đẹp
như những màu của các loại châu báu, vàng ngọc. Lúc đó
chúng ta cảm thấy như đang ở trong một thế giới thần tiên,
cảnh giới đó tương tự như cảnh giới diễn tả trong Kinh
A Di Đà với đất bằng vàng, ao thất bảo, cây bằng ngọc…
và tiếng thông reo, chim hót nghe thanh thoát như những pháp
âm vi diệu. Kinh nghiệm này cũng được cụ Nguyễn Du diễn
tả trong Truyện Kiều, lúc cô Kiều trông thấy Kim Trọng xuất
hiện: “Một vùng như thể cây Quỳnh cành Giao.” Nghĩa là
khu vực nơi Kim Trọng xuất hiện, cây cối đột nhiên biến
đổi thành xinh đẹp lạ thường, tất cả trong sáng, lấp
lánh, rực rỡ như làm bằng ngọc Quỳnh và ngọc Giao.
Tịnh
Độ là Bây Giờ: Người tu Tịnh Độ có thể cảm nghiệm
thế giới cực lạc ngay tức khắc, trong lúc còn đang sống
chứ không phải đến lúc lâm chung mới vãng sanh cực lạc.
Như trong đoạn kinh trên đã dẫn, khi người phát nguyện vãgn
sanh họ đã có mặt ngay tại Tây Phương Cực Lạc rồi. Hay
nói cách khác lúc đó tâm của họ đã an trú trong cảnh giới
Tịnh Độ rồi. Khi tâm đã an tịnh, những phiền não đã
lắng đọng, thế giới chung quanh cũng thanh tịnh. Lúc đó
hành giả đã thực sự sống trong thế giới tịnh độ. Trong
Kinh A Di Đà cho biết cõi Cực Lạc cách đây hàng muôn ức
cõi Phật, tuy nhiên với người thâm tính nơi Đức Phật A
Di Đà thì cõi Cực Lạc hiện ra trong khoảnh khắc.
Lý
tưởng cao tột của người tu Tịnh Độ là sự chuyển hóa:
Chuyển Ta Bà Thành Tịnh Độ, Chuyển Phiền Não Thành Bồ
Đề. Cảnh giới Tịnh Độ có thể thực hiện ngay trong kiếp
sống này, có thể cảm nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.
Khi phiền não đã được chuyển hóa, nội tâm thanh tịnh thì
đó là Tịnh Độ. Tuy nhiên nỗ lực tu tập không ngừng ở
đây, với hạnh nguyện Bồ Tát, sự chuyển hóa không những
chỉ cho cá nhân, nhưng còn mang lại lợi ích cho tất cả chúng
sanh. Do đó sứ mạng chuyển hóa thế giới khổ đau thành
thế giới an lạc là con đường tu tập. Trong lý tưởng đó
người tu Tịnh Độ muốn thể hiện thế giới cực lạc của
Đức Phật A Di Đà ngay trong lòng thế gian đau khổ. Từ đó
những hình thức dấn thân cứu thế ra đời trong các hoạt
động từ thiện như dưỡng lão, tế bần, cô nhi, bệnh xá…
Con
Đường Tu Tập
Phương
pháp tu tập của Tịnh Độ rất đơn giản. Chỉ tập trung
vào sự trì niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà: Nam Mô
A Di Đà Phật. Sự hành trì này đặt trên những căn bản
sau:
Đức
Tin:tin tưởng sâu xa vào sự cứu độ của Đức Phật A Di
Đà. Đó cũng chính là niềm tin sâu sắc vào bản tâm thanh
tịnh của chính mình. Chỉ có nỗ lực phát huy toàn diện
Đức Phật Di Đà trong tự tâm mới đưa mình ra khỏi khổ
đau. Tín tâm đây cũng có nghĩa là tự tin vào khả năng giác
ngộ của chính mình. Yếu tố tha lực cũng được nhấn mạnh
trong sự hành trì. Tuy nhiên tha lực ở đây chính là phương
tiện thiện xảo để phát triển tự lực. Khi chúng ta có
đức tin thì chúng ta nỗ lực dễ dàng, từ đó dễ thành
đạt.
Phát
Nguyện: phát nguyện vãng sanh về thế giới cực lạc. Phát
nguyện vãng sanh là sự chuyển hóa nội tâm phiền não của
mình thành giác ngộ, là sự chuyển sinh con người tham sân
của mình vào đóa sen thanh tịnh trong cõi tịnh độ. Sự phát
nguyện đây chính là sự tự nguyện chuyển hóa, hướng về
con đường sáng, con đường giác ngộ giải thoát.
Hành
Trì:Trì niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà. Sự trì niệm
này có mục đích chuyển hóa ba nghiệp thân (hành động),
khẩu (ngôn ngữ), ý (tư tưởng). Do đó trong khi trì niệm
cả ba phương diện trên đều được thực hành cùng một
lúc:
-Thân:
ngồi tĩnh tọa, hoặc lần chuỗi, hoặc kinh hành… theo dõi
các động tác đi, đứng, nằm, ngồi cho đoan nghiêm chánh
niệm. Với ý thức sáng suốt về những cử động của thân
như thế thì những hành động tiêu cực sẽ được loại
trừ.
-Khẩu:
miệng niệm Phật liên tục. Niệm thành tiếng hoặc niệm
thầm. Niệm theo hơi thở. Khi ngôn ngữ đã được tập trung
vào việc niệm Phật thì những lời tiếng xấu ác không có
cơ hội trỗi dậy.
-Ý:
quán tưởng về đức tướng trang nghiêm của Đức Phật A
Di Đà và sự thanh tịnh của thế giới Tây Phương Cực Lạc.
Khi ý tưởng đã tập trung về phương diện tích cực thì
những điều tiêu cực sẽ được chuyển hóa và nội tâm
sẽ thanh tịnh sáng suốt.
Sự
hành trì như thế cho đến lúc “nhất tâm bất loạn” nghĩa
là thân tâm hợp nhất trong việc niệm Phật. Lúc đó tự
thân chính là Đức Phật A Di Đà, thế giới đang sống chính
là cõi Tịnh Độ.
Niệm
Phật Tức Niệm Tâm: Niệm tưởng đến đức Phật, tức
là niệm tưởng đến đức Phật trong tự tâm của chính mình.
Qua những phân tích trên chúng ta nhận thấy phương pháp niệm
Phật có những chủ đích:
-ý
thức rằng mỗi người có một Đức Phật A Di Đà trong tự
tâm.
-đánh
động Phật tính tiềm tàng trong mỗi người.
-khai
triển khả năng chuyển hóa giác ngộ trong mỗi người.
-thể
nghiệm tịnh độ bây giờ và tại đây.
-thực
hiện thế giới cực lạc ngay trong lòng thế gian đau khổ.
Với
những chủ đích trên, những người tu tịnh độ khi gặp
nhau thường chắp tay chào miệng niệm “ A Di Đà Phật”
với ý nghĩa kính lễ Đức Phật A Di Đà là vị đang đứng
trước mặt mình. Trong quá trình tu tập sự nhận diện Phật
tính có mặt trong tự tâm cũng như trong người khác là điều
quan trọng.
Tóm
lại, pháp môn tịnh độ là con đường tu tập đơn giản
dễ dàng phổ cập trong quảng đại quần chúng. Mọi người
già trẻ, nam nữ, sang hèn, trí thức bình dân ai ai cũng có
thể tu tập được bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào.
Nhờ tính cách đơn giản này đạo Phật đã đại chúng hóa,
là pháp môn tu tập cho quảng đại quần chúng chứ không phải
chỉ dành riêng cho giới tu sĩ, quý tộc, hay thượng lưu trí
thức.
Pháp
môn tịnh độ là sức sống mãnh liệt đã tồn tại sau những
cơn pháp nạn tàn khốc. Trong khi các tông phái khác không đủ
điều kiện để hồi sinh thì Tịnh Độ Tông với đức tin
vững chãi, với sự hành trì đơn giản đã mang đạo Phật
đi vào lòng người và tiềm ẩn trong dân gian cho đến ngày
quang phục.
Pháp
môn tịnh độ là sự linh động uyển chuyển thích hợp với
từng hoàn cảnh từng địa phương. Tiếng niệm Phật từ
đó cũng thay đổi theo từng quốc độ. Tịnh Độ tông đã
vượt khỏi hàng rào tu viện để đi vào xóm làng. Từ đó
mọi người ai cũng có thể cùng nhau hướng dẫn tu tập qua
những nhóm liên xã.
Pháp
môn tịnh độ là con đường tu tập trực diện tiếp xúc
với Phật tánh của chính mình hàng ngày trong nỗ lực phát
huy tuệ giác vô biên trong tự tâm, con đường đơn giản đưa
hành giả trực diện với chân tâm, trực ngộ chân lý bằng
sự thể nghiệm; là sự tự tin vào khả tính giác ngộ của
tự tâm; là quyết tâm hướng về con đường tu tập giải
thoát.
Pháp
môn tịnh độ là con đường chuyển hóa nội tâm tham sân
thành giác ngộ, chuyển sinh con người phiền não vào những
đóa sen “cửu phẩm liên hoa” thanh khiết của sự giải
thoát; là phương tiện tuyệt hảo để khai triển Phật tính.
Pháp
môn tịnh độ là sự thể hiện lòng từ bi vô lượng trong
những hoạt động cứu tế. Đưa đạo Phật đến với nhân
dân cùng khổ; là lý tưởng cải cách xã hội trong ước nguyện
thể hiện cực lạc thế giới trong lòng thế gian đau khổ.
Pháp
môn tịnh độ là niềm hy vọng của tầng lớp nhân dân cùng
khổ; là ánh sáng trong đêm tối hãi hùng của thời cuộc
nhiễu nhương. Trong hoàn cảnh cùng khốn đó Tịnh Độ Tông
như ngọn đuốc soi đường đưa dân tộc vượt qua những
cơn hiểm nạn và sự tu tập đã đem lại cho dân tộc nghị
lực để phấn đấu cải thiện hoàn cảnh sống để đưa
đất nước vượt khỏi lầm than, chuyển thế giới khổ đau
thành cõi Tịnh Độ.
Trong
lý tưởng đó ngày nay Đạo Phật đã có những đóng góp
tích cực vào những giải quyết khổ đau tại xã hội Tây
phương. Một xã hội tiêu thụ thừa thãi về vật chất, căng
thẳng về tâm trí và băng hoại về tâm linh. Trước nỗi
khổ đau đa diện đó, Đạo Phật với những pháp môn tu tập
thiết thực đã giúp con người thoát khổ. Với phương pháp
ăn chay giúp con người tránh khỏi những bệnh tật hiểm nghèo.
Với các phương pháp tu tập giúp con người bớt căng thẳng
về tâm trí và phát triển tâm linh. Đó là lý do tại sao Đạo
Phật càng ngày càng phát triển mạnh tại Tây phương. Tịnh
Độ Tông với phương pháp hành trì đơn giản, thiết thực
và trực tiếp sẽ là những đóng góp lớn cho công cuộc hoằng
pháp tại phương Tây.