Điều
trước nhất xin được phép thưa rằng: Phật giáo được
sáng lập trên căn bản trí tuệ, lấy trí tuệ làm nền
tảng để giải thoát con người.Cũng vì vậy Phật giáo được
xem là đáp số thích hợp và gần gũi với khoa học về
những quy luật tự nhiên của cuộc sống. Phật giáo
chủ trương công bằng, con người có quy luật nhân quả (Dhamma
niyama) tức là con người là chủ nhân của chính mình. Phật
giáo cũng lại chủ trương xóa bỏ những nỗi lo sợ vu vơ
về sự chết thường ám ảnh con người.
Phật
giáo không phải là một tôn giáo (Buddhhism is not a religion)
vì Phật giáo không phải là một tín ngưỡng có hệ thống,
lấy đức tin và tôn sùng lễ bái làm cứu cánh. Hơn nữa,
Phật giáo không trung thành với một thần linh hay siêu nhiên
nào? Đối với đa số người phương Tây thường cho rằng
Phật giáo là một tôn giáo vì họ có ý niệm bao hàm sự
tôn sùng Thượng-Đế hay Chúa là vị có quyền năng trên hết.
Chúa sinh ra con người, và Chúa cũng có quyền định đoạt
số phận con người. Hầu hết các tôn giáo độc thần trên
thế giới nầy dạy con người thờ kính thần linh, cầu xin
ân huệ …. Trái lại, Phật giáo khuyên con người tự phát
triển khả năng và trí tuệ của chính mình. Không có “ông
Thần, ông Thánh hay Thượng Đế…” nào ban ân huệ cho mình.
Van vái hay sùng bái thần linh, thượng đế để mong cầu cạnh
được che chở là điều không tưởng. Phật giáo không tin
tưởng ở một quyền lực cao siêu nào có thể quyết định
được vận mệnh của con người.
Phật
giáo không phải là một triết lý, vì triết lý có tính chất
mơ hồ. Có nhà hoạt động chính trị nổi tiếng từng
nói: “Phật học là mẹ của triết học, nghiên cứu Phật
học có thể bổ khuyết cho khoa học”. Nói cho dễ hiểu,
Phật học không những thích hợp với khoa học mà còn bổ
sung những khiếm khuyết của khoa học”. Phật giáo mang
tính chất thiết thực gần như khoa học. Phật giáo là bánh
xe, chiếc xe hay cái bè, cái thuyền để chuyển tải con người
thoát khỏi bể khổ luân hồi. Phật giáo và khoa học hổ
tương cho nhau. Vì vậy, Phật giáo không đòi hỏi nơi người
Phật tử có một đức tin mù quáng. Phật giáo khuyến khích
và chủ trương tự do bình đẳng, phù hợp với lý trí và
thời đại. Phật giáo độ sinh chứ không độ tử.
Phật
giáo không đòi hỏi lòng tin mù quáng vào những giáo điều
hay tín điều; trái lại, Phật giáo khuyến khích con người
chứng nghiệm giáo lý qua trí tuệ suy xét và qua kinh nghiệm
của chính bản thân mình. Nói một cách khác đó là “chánh
kiến” (Sammaditthi). Đức Phật dạy: “Không nên tin những
lời đồn đại”. Vì Phật giáo là một giáo lý thực tiễn,
một phương tiện giải thoát mà theo danh từ Pali gọi là:
“Dhamma”:”
Đức
Phật còn dạy rằng : việc hoài nghi là quyền của con người.
Người phật tử không làm nô lệ cho một cá nhân nào hay
một quyển sách nào; không nên nhắm mắt tin càn về những
điều mình còn hoài nghi. Phật giáo không phải là siêu hình.
Phât giáo không phải là một chủ nghĩa độc đoán, độc
thần hay hoài nghi. Phật giáo tin rằng con người có kiếp
luân hồi.
Phật
giáo là một nền giáo dục trí huệ, nhân bản vô lượng
vô biên, căn cứ vào nguyên lý và hiện tượng của vũ trụ.
Nền giáo dục mà đức Phật dẫn dắt và chỉ dạy cho chúng
sinh hài hòa âm dương, sống khiêm tốn và suy nghĩ linh hoạt.
Khuyên con người làm những điều phúc đức, tốt lành trong
xã hội và trong đời sống cá nhân hàng ngày từ những việc
nhỏ nhất cho đến việc lớn nhất, vĩ đại nhất, dựa trên
phương diện thời gian, không gian và bao hàm cả quá khứ -
hiện tại- và tương lai. Nền giáo dục đó dạy chúng
ta dùng trí tuệ để nhận xét sự việc làm chuẩn.
Phật
Giáo là nền giáo dục của Phật Ðà, là nền giáo dục chí
thiện viên mãn đối với chúng sanh. Nội dung của nền
giáo dục này bao gồm sự kiện và trí tuệ vô tận vô biên,
so với nội dung quá trình Ðại Học hiện đại còn nhiều
hơn. Về mặt thời gian nó nói đến quá khứ, hiện tại và
tương lai. Về mặt không gian, nó nói đến cuộc sống trước
mắt của chúng ta, suy diễn đến cái thế giới vô tận. Cho
nên, nó là giáo học, là giáo dục chẳng phải là tôn giáo.
Nó là nền giáo dục giác ngộ vũ trụ nhân sinh. Học Phật
là sự thụ hưởng tối cao của đời người.
Trong
kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy rằng:
Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta làm ta tránh được điều tội lỗi, chì có ta gội
rửa cho ta.
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”.
Đức
Phật đã chỉ cho chúng ta con đường đi tìm sự thực là
chân lý xuyên qua tu tập của người Phật tử chân chính dùng
Trí Tuệ -- Giới Hạnh – Chế Ngự nhất là phải dùng
tâm trí và cương quyết để thắng dục vọng. Từ vô minh
dần dà làm nghiệp lực hao mòn dẫn đến tham dục.
Muốn
thắng vô minh – dục vọng,chúng ta cần phải luyện
tập một cách công phu và thực hành đúng . Phương pháp đó
không ngoài Phật pháp, bằng cách có một tư duy chân chính
theo gương đức Thế Tôn, trải qua chặng đường giác ngộ
với tinh thần tự lực và quyết tâm sống đạo đức, luôn
luôn dùng trí tuệ để cân nhắc và giải quyết mọi
sự việc. Ngoài ra, người Phật tử phải có từ tâm (metta)
và bao dung (karuna). Chính từ tâm và lòng bao dung của
đạo Phật là nền tảng của một xã hội tiến bộ, trong
đó con người được đối xử bình đẳng với nhau, giải
tỏa được nỗi khổ đau khắc khoải của đời người như
những lời dạy của đức Phật trong “Tam Tạng Kinh” (Tipitaka)
gồm cả tri thức- đạo đức và tinh thần. Chúng ta, những
người xuất gia hay tại gia luôn luôn nhớ lời đức Phật
dạy là ánh sáng, là đuốc soi đường để chúng ta hành trì.
Có như thế mới là người con Phật giác ngộ.
Chúng
ta còn có bổn phận làm theo lời đức Phật dạy là luôn
làm công viêc bố thí, pháp thí, vô úy thí. Vì không có công
đức nào lớn nhất và cũng không có công đức nào sánh bằng.
Giảng kinh, thuyết pháp, viết bài, viết sách nói về Phật
hay in kinh sách đem phân phát cho mọi người. Bố thí tiền
bạc, vật dụng cho những người nghèo khó, túng quẫn, sa
cơ lở bước …. là một hạnh phúc tuyệt vời.Việc làm
nầy có giá trị và có lợi ích vô biên không có gì sánh
bằng vì đó là hoài bão và tâm nguyện của chúng ta.
Những
lời chỉ dạy của đức Phật tuy không đi sâu vào khoa học,
triết học nhưng những luận lý cao siêu về vũ trụ,
xã hội, nhân sinh và con người Ngài đã đi trước các học
già và các nhà khoa học hiện đại (*).
Tóm
lại, có nhiều cách định nghĩa Phật giáo là gì ? Nhưng định
nghĩa cách nào chung ta cũng nên nhớ câu: “Tất cả vì
Phật pháp, tất cả vì chúng sinh!”. Những lời dạy của
đức Phật cách đây đã trên 2500 năm- nhưng đến ngày nay
và hiện tại bây giờ- bước qua thế kỷ 21vẫn còn hiệu
lực thuc dung. Và những điều nầy đã được các nhà hiền
triết và các nhà tri thức đếu phải công nhận đó là chân
lý. Nói một cách khác Phật giáo là một chân lý trường
tồn không có gì có thể đổi thay được./.
Thích
Đức Tĩnh.
Email:
thich.ductinh@yahoo.com
(*)
1-
Descarte (1596-1650): Cần phải quan sát mọi hiện tượng trên
nền tảng của sự hoài nghi.
2-
Spinoza (1631-1677): Chấp nhận thực thể trường tồn.Vừa lập
luận rằng tất cả những hiình thức tồn tại đều tạm
bợ nhất thời.
3-
Hume (1711-1776): Phân tích phần tâm linh của con người và kết
luận rằngđó chỉ là những trạng thái luôn luôn biến chuyển.
04-30-2008
03:34:12