DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
CÔNG BẰNG,
DÂN CHỦ DƯỚI CON MẮT PHẬT GIÁO
Cao
Huy Thuần
 |
 |
Tác
giả bài viết là là GS. Cao Huy Thuần - GS Đại học tại Pháp.
Ông vừa là một trí thức có nhiều tác phẩm được ưa chuộng
ở trong nước, vừa là một Phật tử có uy tín lớn trong
giới Phật giáo. Với tư cách đó, ông đã đọc bài diễn
văn sau đây trong Đại Lễ Phật Đản 2008, trước hàng ngàn
người tại quảng trường Thương Bạc, TP.Huế.
Từ
hơn bốn mươi năm nay, chưa bao giờ Việt Nam đứng ra tổ
chức một lễ Phật Đản lớn về tất cả mọi mặt: tôn
giáo, văn hóa, xã hội, và về cả chính trị như lần này.
Nói lớn về cả chính trị là bởi trong ba ngày vừa qua, thủ
đô Hà Nội là thủ đô Phật giáo của thế giới.
Nhân
sự kiện này, cả thế giới đều biết Việt Nam. Nhưng Việt
Nam được biết đến chỉ là một nước đã đi qua chiến
tranh, cũng không phải chỉ là một nước đang trên đà phát
triển kinh tế: Việt Nam sáng lên như một nước có văn hiến,
có bản sắc, trong một thế giới mà nhiều người cho là
đang đi đến đồng bộ. Như vậy, chẳng phải là một thắng
lợi chính trị của Việt Nam hay sao?
Năm
ngoái, Thái Lan đã được vinh hạnh tổ chức ngày Đại Lễ
này, và ngày đó, năm ngoái, trùng hợp với ngày nhân dân
Thái ăn mừng thượng thọ Nhà Vua 80 tuổi.
Năm
nay, ngần ngại gì mà ta không nói: Ta tổ chức Phật Đản
và ăn mừng chiến thắng chính trị và văn hóa của nước
ta?
Trong
Ngày Trăng Tròn năm nay, Huế tiếp nối Hà Nội, cùng với
cả nước, là thủ đô của thế giới Phật giáo. Hà Nội
vừa biểu dương khí thế chính trị và văn hóa của nước,
nay đến lượt Huế biểu dương khí thế tôn giáo và văn
hóa của dân.
Đất
cố đô và cả nước ta bày ra cho thế giới thấy một xã
hội tôn giáo đầy chất sống, rực rỡ màu sắc, sẵn sàng
tạo hậu thuẫn cho một Nhà nước "vì dân, từ dân, lấy
dân làm gốc".
Chính
trong tinh thần đó mà tôi hân hoan chào mừng sự hiện diện
của chính quyền trong Ban tổ chức Đại Lễ Phật Đản 2008.
Tôi không xem đây như việc chính quyền xen vào nội bộ tôn
giáo. Đặc biệt, tôi xem đây như một việc làm rất có ý
thức, thể hiện điều tôi vừa nói: Nhà nước và Phật giáo
cùng tổ chức ăn mừng chung một thắng lợi chung, một ngày
rực rỡ chung.
Ngày
Phật Đản của LHQ 2008 năm nay nói lên 3 sự kiện nổi bật.
Một, là Phật giáo nói chung lớn mạnh trên thế giới. Hai,
là Việt Nam lớn mạnh trên thế giới. Ba, là Phật giáo Việt
Nam lớn mạnh trên thế giới.
1. Phật giáo
lớn mạnh trên thế giới
Lễ
khai mạc Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 tại Hà
Nội
Phật
giáo lớn mạnh, trước hết là vì bản chất của Phật giáo.
Phật giáo mang đến giải pháp cho con người, con người nói
chung, chứ không phải riêng gì cho người xứ này xứ nọ.
Không như Ấn Độ giáo chỉ liên quan đến người Ấn, Thần
giáo chỉ liên quan đến người Nhật, hoặc Do Thái giáo chỉ
liên quan đến người Do Thái... Trái lại, đã là người thì
ai cũng có thể đón nhận thông điệp của Đức Phật.
Phật
giáo lớn mạnh, thứ hai, là vì bản chất của chính thông
điệp Phật giáo. Chiến tranh, hận thù, nghèo đói, bạo lực,
áp bức, thời nào cũng có, nhưng thời nay, với phương tiện
truyền thông nhanh như chớp, bao nhiêu hiện tượng đó nằm
ngay trước mắt bất cứ ai, dù không phải là nạn nhân.
Nạn
nhân khổ đã đành, người xem cảnh khổ trên màn ảnh cũng
không thể không suy tư về cái khổ. Cái khổ diễn ra muôn
hình vạn trạng. Ở xứ nghèo, khổ vì đói. Ở xứ giàu,
khổ vì cô đơn, vì bất an trong nghề nghiệp, vì lạnh lẽo
trong gia đình, vì mất an ninh trong xã hội, vì bị đe dọa
ngay cả trong thức ăn và không khí, vì mất phương hướng
trong cuộc sống.
Và
dù giàu hay nghèo, ở đây hay ở đó, nhân loại nói chung,
không trừ ai, đều là nạn nhân của một phi lý khiếp đảm,
phi lý của cạnh tranh bất chính, bất lương, đưa cạnh tranh
lên mức tận diệt môi trường, hủy hoại trái đất, đe
dọa đời sống của thế hệ tương lai.
Và
như thế để làm gì? Để đè bẹp kẻ khác, để thống trị,
để làm bá chủ.
Trước
một thế giới bạo lực như vậy, ai có tư duy mà không nghĩ
đến hình ảnh ngọn lửa trong kinh, lửa tham, lửa sân, lửa
si? Hiển nhiên, đức Phật nói đến ngọn lửa thiêu đốt
trong tâm con người, nhưng lửa đang thiêu đốt thế giới
có xa lạ gì với lửa thiêu đốt con người?
Tìm
ở đâu cho thế giới hôm nay tiếng nói hòa bình đích thực,
thuần khiết, tiếng nói từ bi thuần khiết, đích thực, nếu
không phải nơi thông điệp của đức Phật?
Cho
nên các tổng thư ký LHQ không ngừng nhắc nhở điều đó
mỗi mùa Phật Đản. Họ nói: "Thông điệp đó ngày nay còn
quan trọng hơn bao giờ hết".
Phật
giáo lớn mạnh, thứ ba, là vì con người ngày nay, trong thời
hiện đại, gặp nhiều vấn đề tâm linh và tâm lý khó giải
quyết và họ tìm được nơi Phật giáo giải pháp thích hợp
nhất.
Đó
là lý do giải thích tại sao Phật giáo không ngừng lớn mạnh
tại Âu Mỹ trong vòng phần tư thế kỷ vừa qua. Khoa
học, kỹ thuật đã mang lại cho con người nói chung bao nhiêu
lợi ích vật chất, và đã mang lại cho Âu Mỹ trù phú về
vật chất, tự do về tư tưởng.
Thế
nhưng con người vẫn là con người, nghĩa là vẫn ham muốn
vô cùng tận, bao giờ cũng thấy thiếu. Ngày xưa, cái cảm
giác thiếu ấy đã khiến con người ở các xứ đó tạo ra
thượng đế để lấp vào chỗ thiếu.
Ngày
nay, thượng đế ở trên trời không đóng nổi vai trò ấy
nữa, một thượng đế khác ở dưới đất thay thế ngay,
và một tôn giáo khác điền chỗ vào: ấy là tôn giáo tiêu
thụ. Ông thần ấy đánh đúng vào tâm lý thiếu của con người:
một nhu cầu được thỏa mãn lập tức biến ngay thành thiếu.
Từ nhu cầu căn bản đến nhu cầu hưởng thụ, con người
hiện đại chạy theo cái thiếu hụt hơi.
"Cuộc đời
là khổ" - Phải hiểu chữ khổ thế nào?
Các
bạn trẻ đang nghe tôi nói, một trong những vấn đề làm
các bạn khó hiểu nhất khi đến với đạo Phật lại chính
là vấn đề căn bản nhất mà nếu hiểu thì cái gì cũng
hiểu.
Sau
khi chứng ngộ dưới cây bồ đề, đức Phật tuyên bố chân
lý đầu tiên: Cuộc đời là khổ. Các bạn đừng hiểu chữ
khổ một cách nông nổi, cạn hẹp. Đức Phật đã phân tích
trạng thái khổ dưới nhiều dạng khác nhau.
Khổ
vì thân xác: đau yếu, bệnh tật, già chết. Khổ vì tinh thần:
yêu mà không được yêu, yêu mà phải xa cách, ghét mà phải
gần gũi, muốn mà không có được, có mà không giữ được,
có mà hóa ra lầm, tưởng thế mà không phải thế ...
Các
bạn sẽ nói: Thiếu gì giây phút hạnh phúc! Quả vậy, nhưng
hãy chiêm nghiệm mà xem: Hạnh phúc có đấy nhưng đã qua vèo,
không có cái gì thường còn trong đời sống này.
Các
bạn lại sẽ hỏi: Vậy thì đạo Phật bi quan rồi? Không!
Vậy thì đạo Phật lạc quan? Cũng không! Đạo Phật chỉ
thấy sao nói vậy. Đạo Phật chỉ vào sự thật mà bất cứ
ai biết nhìn, biết chứng nghiệm với chính kinh nghiệm bản
thân, đều thấy.
Các
bạn lại hỏi nữa: Như vậy đạo Phật không biết đến
hạnh phúc hay sao? Đâu phải! Hạnh phúc chính là chuyện mà
đạo Phật nhắm đến. Đức Phật nói khổ là để tìm nguyên
nhân của khổ, rồi con đường dẫn ra khỏi khổ.
Và
tận cùng là gì? Là hạnh phúc! Hạnh phúc thực sự chứ không
phải là những thú vui mà ta cứ tưởng lầm là hạnh phúc.
Khi ta biết rằng những thú vui rồi sẽ đi qua, đừng chạy
theo nó hụt hơi nữa, thì đồng thời ta cũng sẽ thấy cái
gì ở lại với ta: Cái đó là hạnh phúc, hạnh phúc thực
sự.
Bây
giờ, tôi trở lại với con người hiện đại, nhất là tại
Âu Mỹ. Ở thành phần trung lưu, thật sự họ có thiếu cái
gì đâu! Vậy mà họ cảm thấy thiếu thường xuyên, càng
có càng thiếu. Y hệt như người khát nước cứ uống nước
mặn, càng uống càng khát.
Cái
tâm lý ấy, tình trạng ấy, là tâm lý gì, tình trạng gì?
Là thất vọng. Là không thỏa mãn. Bao giờ cũng không thỏa
mãn. Có rồi vẫn thất vọng. Đó là cái tâm lý, cái tình
trạng mà đức Phật diễn tả trong chữ "khổ".
Khổ
ấy mênh mông, mà bây giờ người trung lưu phương Tây thấy
rõ hơn ai hết. Các bạn trẻ đừng sợ khi nghe nói: Con người
trầm luân trong biển khổ. Cái biển khổ ấy, người phương
Tây thấy mình ngụp lặn trong đó, rồi từ đó họ chứng
nghiệm thông điệp của đức Phật. Không ai cải đạo họ
cả, chính họ tìm đến đức Phật.
Vậy,
Phật giáo là đạo của giải thoát, đạo của từ bi, đạo
của hòa bình. LHQ tuyên bố như lời Tổng thư ký Perez de Cuellar
nói trong ngày Phật Đản 1986: "Triết lý ấy nằm chính trong
tim của Hiến chương LHQ và phải được biểu dương trong
mọi suy nghĩ của chúng ta".
Với
sự lớn mạnh của ảnh hưởng Phật giáo trên thế giới,
LHQ bước thêm bước nữa: Năm 1999, Đại hội đồng LHQ biểu
quyết công nhận ngày Phật Đản là ngày của quốc tế, được
làm lễ kỷ niệm tại trụ sở LHQ và tại tất cả các cơ
quan của LHQ.
Từ
năm 2000, lễ Phật Đản mỗi năm đều được cử hành trong
khung cảnh đó. Năm 2007, đặc biệt lễ Phật Đản trùng hợp
với ngày đăng quang thứ 60 và ngày sinh nhật thứ 80 của
Nhà Vua, Thái Lan tổ chức "Ngày Phật Đản của LHQ" một cách
trọng thể chưa hề thấy. Việt Nam là nước thứ hai sau Thái
Lan lãnh vinh dự này năm nay, và Hà Nội, sau Bangkok, trở thành
thủ đô Phật giáo của thế giới trong mùa Phật Đản năm
2008. Điều đó thể hiện Phật giáo đang lớn mạnh trên thế
giới.
2. Việt Nam
lớn mạnh trên thế giới
Lễ
đài Chùa Từ Đàm, đêm khai kinh mở lễ Phật đản tại Huế
Không
phải tôi bênh gì nước tôi, nhưng tôi phải nói ngay: Việt
Nam hơn Thái Lan. Hơn chỗ nào? Ở chỗ Việt Nam là nước đầu
tiên, chứ không phải nước thứ hai như tôi vừa nói.
Lý
do là thế này: Bắt đầu từ 2005, "Ngày Phật Đản của LHQ"
được tổ chức tại Cơ quan châu Á - Thái Bình Dương của
LHQ, mà trụ sở đặt tại Bangkok. Như vậy, Phật Đản 2007,
tuy trọng thể, vẫn không có ý nghĩa gì đặc biệt đứng
về mặt quốc gia đăng cai. Thái Lan vì có trụ sở của LHQ
tại kinh đô, nên đương nhiên được hưởng lộc Phật Đản.
Việt
Nam, không có trụ sở của LHQ, mà được LHQ trao lộc cho,
thế mới đáng nói. Như vậy mà không phải là nước đầu
tiên thì là gì?
Chúng
ta nên hãnh diện cho đất nước của chúng ta về sự kiện
lịch sử này. Bởi trước hết, uy tín của Việt Nam trên
thế giới lên cao. Năm qua, Việt Nam là thành viên của Hội
đồng bảo an LHQ. Việt Nam đã tổ chức thành công những
hội nghị quốc tế quan trọng.
Thứ
hai, Việt Nam nhận ra được gốc gác của mình mà ngôn ngữ
nhà Phật gọi là bản lai diện mục. Như một người trở
về lại nhà mình, Việt Nam tìm lại được bộ mặt thật
của Việt Nam. Phật giáo không muốn chiếm độc quyền trong
bản lai diện mục đó.
Nhưng
hãy xem: ai đã tạo ra văn hóa, ai đã tạo ra đạo đức, ai
đã tạo ra tâm hồn cho dân tộc ngày hôm nay? Nhờ đâu mà
chúng ta đã không rơi hẳn vào quỹ đạo văn hóa của Trung
Hoa, với thầy Khổng, thầy Mạnh, tứ thư, ngũ kinh thuộc
lòng như húp cháo của cả tầng lớp nho sĩ nắm quyền?
Nhờ
đâu mà chúng ta đã không hướng về phương Bắc để lạy
như một thánh địa? Tất nhiên có người sẽ nói: Tại vì
chúng ta có văn hóa bản địa. Nhưng văn hóa bản địa thì
khó thấy, văn hóa Phật giáo thì sờ sờ trước mắt.
Như
một chất xúc tác, Phật giáo đã dung hóa tất cả, góp phần
tạo ra bộ mặt văn hiến mà Nguyễn Trải, một người uyên
thâm Phật giáo, đã xác quyết ngay trong những câu đầu của
Bình Ngô Đại Cáo: "Nước ta là một nước văn hiến".
Để
tuyên ngôn độc lập với phương Bắc, Nguyễn Trãi tôn văn
hiến lên hàng đầu, văn hóa là linh hồn của một dân tộc.
Bây
giờ đây, nước ta đã hết Bắc thuộc, đã hết Tây thuộc,
hết chiến tranh, hết ngoại thuộc, bây giờ đây, chủ quyền
đã được củng cố, phần xác đã tạm ổn, hãy lo phần
hồn cho dân tộc, bởi vì đó mới chính là sức mạnh trường
tồn.
Làm
nước đầu tiên không có trụ sở của một cơ quan LHQ đăng
cai tổ chức Phật Đản, Việt Nam xác nhận long trọng trước
thế giới gốc gác của mình và cả hướng đi của mình.
Hướng đi đó mở ra một chân trời ngoại giao đầy thiện
cảm với thế giới và nhất là với lân bang.
Thứ
ba, và đây là điểm quan trọng nhất, Việt Nam lớn mạnh
cho nên không ngần ngại đối mặt với những vấn đề nhạy
cảm nhất của thời đại. Đó là những vấn đề đặt ra
cho Việt Nam trong chính chủ đề của "Ngày Phật Đản của
LHQ 2008". Chủ đề của LHQ ghi rõ: "Đóng góp của Phật giáo
vào việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và dân
sự".
Vấn
đề đặt ra trong ngày lễ trọng đại như thế này, trên
đà tiến như thế này của đất nước, chúng ta có bổn phận
phải trả lời như một người trưởng thành.
Cái
nhìn của đức Phật về sự công bằng của con người
Muốn
trả lời câu hỏi "Thế nào là công bằng trước mắt Phật
giáo?" một cách cụ thể, không gì bằng nhìn hình ảnh của
chính đức Phật và xã hội chung quanh Ngài.
Thầy
và trò sống như nhau, không khác: một bình bát, ba tấm y.
Trò đi khất thực, Thầy cũng đi khất thực, Thầy cũng bưng
bình bát đứng trước cửa nhà dân, không phân biệt giàu
nghèo sang hèn. Thầy không bắt trò mang thức ăn về cho mình,
Thầy đội chung giờ ngọ và mặt trời trên đầu cùng với
trò.
Hành
động khất thực cũng là một hành động công bằng: ở đây
không có kẻ xin người cho, ở đây ai cũng cho, một bên cho
thực phẩm, một bên cho phước đức. Đức Phật tự mình
đi khất thực, chính cũng vì muốn cho, tự mình cho, và đức
Phật mà cho thì phước đức lớn không lường được. Công
bằng là như vậy: không phải chỉ biết đòi mà còn biết
cho.
Trong
một xã hội mà ai cũng chỉ đòi, không ai biết cho, thì dù
xã hội đó có thực hiện được công bằng đi nữa, trước
sau gì cũng mất tự do.
Công
bằng nằm trong cái nhìn của đức Phật về con người: con
người ai cũng có Phật tính như ai, cho nên mọi sự phân biệt
giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, giai cấp, đều không có nghĩa.
Ngài
A Nan, đại đệ tử của Phật, đã nói một câu nhẹ nhàng
mà triệt để cách mạng với cô thiếu nữ hạ tiện không
dám múc nước giếng dâng ngài, sợ bàn tay hạ tiện làm bẩn
nước: "Tôi xin nước chứ không xin giai cấp".
Tôi
kể thêm: ai cạo tóc cho đức Phật? Bác thợ cạo Upali, giai
cấp hạ tiện! Vậy mà bác cũng đã trở thành đại đệ
tử, bác đã chứng A-la-hán!
Nhưng
công bằng có phải là ai cũng ngang nhau, bằng nhau tuyệt đối
hay không? Chắc chắn là không, không bao giờ có tình trạng
đó. Đức Phật thấy ai cũng có Phật tính như ai, nhưng Ngài
cũng thấy ai giác ngộ sớm hơn ai. Gặp người đã chín muồi
giác ngộ, dù người đó là tướng cướp, Ngài chỉ dạy
thêm một lời là người đó chứng A-la-hán.
Trong
hàng đệ tử của Ngài, đâu có phải ai cũng là A-la-hán?
Ngang nhau nhưng không giống nhau, bình đẳng nhưng không
đồng đẳng, đó là căn bản của công bằng.
Bởi
vậy, sự phân biệt duy nhất trong Phật giáo giữa người
với nhau là sự phân biệt dựa trên khả năng giải thoát,
dựa trên đức hạnh.
Ngang
nhau nhưng không giống nhau
Luật
của nhà chùa y theo quan niệm công bằng như thế mà xử. Người
có đức hạnh lớn không bị xử ngang hàng như người có
đức hạnh nhỏ. Tỷ như bỏ một nắm muối vào chén nước,
nước mặn uống không được; bỏ nắm muối vào chum nước,
nước uống được, chẳng sao.
Người
ít đức thiện ví như chén nước: nếu người ấy làm thêm
một điều bất thiện nữa, nào có khác gì bỏ muối vào
chén. Người có nhiều đức thiện, ví như nước trong chum,
lỡ lầm làm một điều bất thiện, muối ấy đâu có làm
mặn nước.
Đó
là phẩm "Hạt Muối", áp dụng trong luật nhà chùa. Ngang nhau
nhưng không giống nhau. Tất nhiên, đây là tội về đức hạnh,
không phải tội ngoài đời.
Áp
dụng quan niệm ấy vào đời trong tình trạng bất bình đẳng
giàu nghèo tàn nhẫn hiện nay, tất nhiên Phật tử chúng tôi
đau xót cho tình trạng bất nhẫn này và mong được cải thiện,
nhưng chúng tôi cũng đi đến cùng một kết luận với nguyên
thủ tướng Võ Văn Kiệt khi ông viết gần đây: "Kinh nghiệm
sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy, không thể có "công
bằng" đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo.
Cũng không thể "cào bằng" bằng cách "điều tiết" hết lợi
ích của người giàu để chia cho người nghèo. Xã hội sẽ
không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ
phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng"
Công
bằng là như thế. Là Nhà nước phải giải phóng những lực
lượng nào có khả năng làm phát triển đất nước, đừng
kìm hãm họ lại.
Những
lực lượng đó, hiện nay có hai: Một là doanh nhân tư nhân
độc lập, hai là trí thức. Một bên là của cải lương thiện,
một bên là cái đầu sáng tạo. Không có hai lực lượng đó,
Âu châu đã chẳng bao giờ làm được cách mạng kỹ nghệ
và thế kỷ Khai Sáng, đưa họ lên địa vị hàng đầu thế
giới.
Lãnh
đạo: Càng đo càng cao
Tôi
chỉ xin mượn câu viết của ông Võ Văn Kiệt để nói thêm
một lời về lãnh đạo. Dân thường nghe nói: lãnh đạo phải
cao hơn người khác một cái đầu. Quá đúng!
Thế
nhưng, cao hơn một cái đầu không có nghĩa là mình cứ lùn
và đè đầu mọi người khác xuống để mình cứ cao hơn.
Thế nào là lãnh đạo cao hơn một cái đầu?
Tôi
lại kể chuyện Phật. Có một người Bà la môn nghe nói thân
Phật cao 1 trượng 6 thì không tin, bèn vào rừng chặt một
cây trúc dài để đem đến đo Phật. Ông càng đo thì Phật
càng cao. Vác cái thang đến, leo lên thang để đo, vẫn thế,
sào cao đến đâu, Phật cao hơn sào đến đó. Lãnh đạo là
như vậy, là tự mình cao mãi hơn, cao hơn cả chính mình, cao
về tài năng, cao về đạo đức. Đó là công bằng.
Dân
chủ là "tự tứ"
Bây
giờ là dân chủ. Tôi lại kể chuyện đức Phật. Luật của
nhà chùa buộc tăng ni phải họp nhau có định kỳ để chỉ
lỗi cho nhau và để sửa lỗi. Luật đó có từ lúc nào? Có
từ đời đức Phật.
Cứ
sau ba tháng an cư, Phật lại họp tăng chúng để "tự tứ",
nghĩa là để sửa lỗi cho nhau và cùng sám hối lỗi.
Phật
trải tọa cụ ngồi giữa khoảng đất trống, tỷ kheo ngồi
chung quanh. Phật hỏi tăng chúng : « Hôm nay tôi tự tứ: Tôi
có lỗi với ai không? Thân, miệng, ý của tôi có phạm lỗi
gì không?"
Phật
hỏi ba lần như vậy. Đã ai thấy một vị giáo chủ của
một tôn giáo nào có tư tưởng, hành động và tập quán như
vậy chưa? Lãnh đạo mà cư xử như thế, thế gian cũng không
thấy.
Từ
đó suy ra: Dân chủ là lãnh đạo không phải chỉ thường
xuyên biết nghe ý kiến của dân, mà còn tổ chức, thành lập,
áp dụng định chế để dân chỉ lỗi, sửa lỗi. Phát triển
ý đó, thiếu gì biện pháp để thực hiện dân chủ!
"Vua
đừng chống lại ý của dân" - ấy mới là dân chủ
Tôi
lại kể thêm chuyện đức Phật. Trong "Mười bổn phận của
vua" mà Ngài khuyên, điều thứ 8 nguyên văn như sau: "Kiên nhẫn,
biết tha lỗi, khoan dung, hiểu biết. Vua phải có khả năng
chịu đựng những thử thách, những khó khăn, và những lời
nhục mạ mà không giận".
Nhục
mạ mà còn không giận, huống hồ chỉ là phê bình, chỉ trích!
Chỉ là phê bình, chỉ trích xây dựng!
Điều
thứ 10 nói tiếp theo: "Không chống lại, không làm bế tắc.
Nghĩa là vua không được chống lại ý muốn của dân, không
ngăn cản một biện pháp nào có lợi cho hạnh phúc của dân
chúng. Nói một cách khác, vua phải hòa hợp với dân". Đó
là nguyên văn điều 10.
Từ
đó mà suy ra, cũng không thiếu gì biện pháp để cụ thể
hóa lời khuyên "đừng chống lại ý muốn của dân". Chỉ
chừng đó thôi, chừng đó thôi, quá đủ để thực hiện
dân chủ mà không cần phải vay mượn lý thuyết của ai, dưới
áp lực của ai, từ chân trời nào khác.
Tinh
hoa của đạo Phật là chống giáo điều
Nhưng
muốn nói thêm nữa thì tôi kể thêm. Lúc nhập diệt, Phật
không chỉ định ai để thay thế Ngài thống lĩnh tăng chúng.
Ngài nói: "Sau khi ta nhập diệt, hãy lấy Pháp và Luật làm
Thầy". Pháp là lời Phật dạy.
Giới
luật là đạo đức và luật áp dụng trong đời sống của
tăng ni. Ai nghiên cứu giới luật của Phật giáo đều ngạc
nhiên về tính cách dân chủ trong đó.
Ở
đây, tôi chỉ muốn nhấn mạnh một điểm này thôi: lấy
Pháp và Giới Luật làm thầy nghĩa là gì? Nghĩa là bản thân
của lãnh đạo cũng chịu ở dưới Pháp và dưới Luật như
tất cả mọi người. Ngôn ngữ ngày nay gọi đó là "Nhà nước
pháp quyền", điều kiện tất yếu của dân chủ.
Tôi
nói thêm nữa. Tinh hoa của đạo Phật là gì? Là chống giáo
điều. Tinh hoa ấy toát ra từ mỗi lời dạy của đức Phật.
Bài
kinh Kalama chẳng hạn đã làm thế giới kinh ngạc về tư tưởng
chống giáo điều, chống việc tin mà không hiểu. Phật dạy:
Đừng tin bất cứ ai, bất cứ điều gì mà tự mình không
hiểu rõ. Thậm chí Phật còn dạy một vị tăng phải quan
sát, xem xét chính Ngài thật kỹ cho đến khi nào hoàn toàn
được thuyết phục. Hiểu cho rõ rồi mới tin.
Cho
đến phút cuối, trước khi nhập diệt, Phật còn khuyến khích
đệ tử hỏi những chỗ nào chưa hiểu rõ trong giáo lý của
Ngài để Ngài giảng lại lần cuối. Không ai hỏi, Ngài thúc:
"Nếu vì kính trọng ta mà không ai tự mình đặt câu hỏi,
cứ nhờ người khác hỏi thế cho".
Cái
gì chứa đựng trong những câu nói đó? Không phải chỉ là
tự do tư tưởng mà còn là tư tưởng rốt ráo về tự do,
tư duy rốt ráo về tự do: Đó là tự do căn bản, tự do nằm
trong tinh túy của mọi nền dân chủ. Không thể có dân chủ
nếu ta bị bắt buộc phải nghe mà không tin, nghe những điều
mà ta thấy là không đúng, là trái với sự thực trước mắt.
Cũng không thể có dân chủ nếu ta buộc người khác không
được nói.
Đức
Phật căn dặn trước khi nhập diệt: "Hãy đặt câu hỏi!".
Đặt câu hỏi, tức là thúc dục người khác nói. Và người
khác dám nói là vì ta biết nghe. Nghe và nói trong tinh thần
đó tức là khoan dung, và cả thế giới đều xưng tụng tinh
túy khoan dung trong giáo lý của Phật. Tinh thần khoan dung đó,
văn hóa khoan dung đó, vua A Dục ngày xưa đã cho khắc vào
trụ đá vá áp dụng triệt để.
Vua
A Dục là Phật tử thuần khiết, vậy mà dưới triều đại
A Dục, mọi tôn giáo đều được tôn trọng trong vương quốc
rộng lớn của vua. Ông không tuyên truyền. Ông không nhồi
sọ. Đức Phật không bao giờ phán. Bất cứ ai đến chất
vấn, Ngài đều dùng đối thoại để thuyết phục. Phật
là ông thầy giảng bài một cách khoa học.
Chừng
mực, vừa phải cũng là căn bản của đạo Phật
Tôi
lại xin nói thêm nữa, và đây cũng là căn bản của đạo
Phật. Giáo lý của đức Phật dạy sự chừng mực, vừa phải.
Mà vừa phải, chừng mực, là căn bản của dân chủ. Bất
cứ sự thái quá nào đều làm hỏng dân chủ.
Tự
do thái quá thì hỗn loạn. Tập trung quyền lực thái quá thì
chuyên chế. Dân chủ là tránh cả hai thái cực, và tránh như
thế nào là tùy óc sáng tạo của mỗi dân tộc. Dân tộc
ta có văn hóa Phật giáo, văn hóa ấy phản ánh hình ảnh của
đức Phật trước giờ chứng ngộ.
Phật
từ bỏ lối tu ép xác, nhận bát sữa cúng dường của cô
gái chăn cừu, xuống sông tắm, rồi lên ngồi dưới cây bồ
đề. Bát sữa đã giúp Ngài tĩnh tọa cho đến khi Ngài chứng
ngộ chân lý. Sau này, có lần Phật nói với một người đang
đói hãy đi ăn cho hết đói rồi Ngài mới giảng cho.
Trong
lý thuyết, cũng như trong tu tập, đạo Phật không bao giờ
cực đoan, trung đạo là con đường Phật dạy do chính kinh
nghiệm chứng ngộ của Ngài. Trung đạo của Phật giáo, đó
cũng chính là nền tảng của dân chủ.
3. Phật giáo
Việt Nam lớn mạnh

Chúng
ta đang lớn mạnh, không phải chỉ vì số chùa chiền được
xây nhiều, xây to hơn. Nếu như vậy mà lớn, thì đó là lớn
vỏ, lớn xác, không lớn cái hồn. Chúng ta đang lớn, kể
cả phần hồn, và khí thế ngày hôm nay chứng minh sự xác
quyết đó.
Phật
Giáo chúng ta lớn trong xã hội nào? Không phải trong xã hội
chính trị mà ta không ham. Chúng ta lớn trong xã hội dân sự.
Xã hội chính trị là xã hội quyền lực. Xã hội dân sự
là xã hội của dân gian.
Phật
giáo không làm chính trị và không bao giờ muốn dính dáng
đến chính trị với nghĩa quyền lực. Phật giáo chỉ muốn
sống với dân. Giữa xã hội chính trị và xã hội dân sự,
đường phân chia rạch ròi hay không là tùy theo chế độ chính
trị của mỗi nước.
Ở
nước ta, đường phân chia đó không rạch ròi, nhưng chắc
chắn càng ngày càng sẽ rạch ròi hơn. Mặt Trận Tổ Quốc
*MTTQ) chẳng hạn là cơ quan của xã hội chính trị, nhưng
có trách nhiệm quan hệ với xã hội dân sự. Ở đây, chúng
ta không đề cập đến vấn đề trọng đại này.
Ở
đây, chúng ta chỉ muốn nói: Dù có MTTQ hay không, Phật giáo
chỉ có một con đường duy nhất thôi là trung thành với Nhà
nước Việt Nam, phụng sự dân chúng. Có hay không có MTTQ,
nhiệm vụ của Phật giáo bao giờ cũng vẫn thế: Phát triển
văn hóa dân tộc, chấn hưng đạo đức, làm nhẹ nỗi khổ
của cô quả, nghèo đói, bệnh tật.
Thế
nào là văn hóa dân tộc? Thế nào là đạo đức dân tộc
? Để cho các nhà học giả thông thái tranh luận với nhau,
chúng ta chỉ cần nói với họ thế này: điều gì mà chỉ
cần bật ra một tiếng là dân gian hiểu ngay và nhận ra ngay
rằng đó là tư tưởng của chính mình, dù là người dân
ít học nhất, điều ấy nằm trong văn hóa của dân tộc,
đạo đức của dân tộc.
Điều
gì vậy? Một ví dụ thôi: Ba chữ tham sân si. Nói ra, ai cũng
hiểu, ai cũng nhận, ai cũng nghĩ là chân lý. Lúc trước, tôi
có nhắc đến bài kinh "Ngọn lửa". Lửa gì đang đốt cháy
thế giới ? Lửa chiến tranh, lửa hận thù, lửa bạo lực,
lửa cuồng tín, lửa tiêu thụ chủ nghĩa. Dân ta nói gọn
: lửa tham sân si. Là vì tư tưởng ấy của Phật giáo đã
thấm sâu vào đầu của dân ! Cái gì cắt nghĩa tham nhũng,
cái gì cắt nghĩa tình trạng giàu nghèo chênh lệch tàn bạo
hiện nay, cái gì cắt nghĩa những cản trở trong phát triển?
Dân ta nói gọn: Tham Sân Si.
Vậy
thì Phật giáo làm gì? Đời đời kiếp kiếp làm mỗi cái
chuyện dẹp lửa ấy mà thôi. Dẹp lửa ấy trong lòng chính
mình. Dẹp lửa ấy trong vòng nội bộ. Dẹp lửa ấy trong
lòng xã hội.
Chúng
ta làm công việc ấy càng độc lập càng tốt. Chính quyền
càng nên ủng hộ chúng tôi độc lập. Bởi vì chúng tôi không
có tham vọng chính trị. Bởi vì chúng tôi không nhận lệnh
từ một thánh địa quyền lực nào.
Độc
lập, chúng tôi sẽ giải quyết được những mâu thuẫn nội
bộ. Can thiệp, lửa tham sân si từ bên ngoài càng bén vào
mâu thuẫn giữa chúng tôi, không có lợi cho chính quyền, cũng
không có lợi cho xã hội. Chúng tôi tốt thì chính quyền tốt,
xã hội tốt. Chúng tôi xấu thì cả đất nước này sẽ mất
phần hồn.
Trong
Phật giáo có một tín ngưỡng cũng đã thấm vào ngôn ngữ
và tư tưởng của dân gian: tin có hộ pháp. Hộ pháp bảo
vệ cho chùa. Hộ pháp bảo vệ cho chánh pháp. Hộ pháp bảo
vệ cho những nơi chốn linh thiêng.
Đứng
trong xã hội dân sự, Phật giáo là hộ pháp của Nhà nước
để Nhà nước thực sự xứng đáng là Nhà nước của dân.
Trong lịch sử đã thế, ngày nay lại càng phải thế. Một
nhà lãnh đạo có tầm cỡ lớn sẽ không nhìn Phật giáo như
bất cứ đoàn thể quần chúng nào.
Phật
giáo không phải là một đoàn thể, lại càng không phải là
một phong trào. Phật giáo là hộ pháp của Nhà nước, một
Nhà nước hết lòng lo cho dân. Phật giáo làm nhiệm vụ mà
Bình Ngô Đại Cáo đặt ngay nơi câu đầu tiên: Nhiệm vụ
an dân, "việc nhân nghĩa cốt ở an dân". "Quốc thái dân an"
là nhiệm vụ của Phật giáo từ những bước đầu của lịch
sử.
Hôm
nay, chúng ta đi trong ánh nến từ Diệu Đế đến Từ Đàm
là để nhắc nhở cho tất cả và cho chính chúng ta nhiệm
vụ thiêng liêng đó. Chúng ta là hộ pháp. Chúng ta phải hiểu
chúng ta là như thế để đừng làm nhục vai trò đó của
tổ tiên.
Và
như vậy, chúng ta, hôm nay, hãy cùng với chính quyền, tay trong
tay, ăn mừng "Ngày Phật Đản của LHQ 2008".
Cao
Huy Thuần
(http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/3809/index.aspx)
06-02-2008
04:23:12
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.