DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
NHẬP THẾ
- HIỆN THỰC HAY MỘT GIẢ THIẾT CHO NGÀY MAI
Nguyễn
Mai Sơn
 |
 |
Những
cơ sở nhận thức thực tế, cụ thể từ phía nhà nước
trong một vài năm gần đây đối với Phật giáo có nhiều
tiến triển song mới chỉ là những điều kiện mang tính tiền
đề để Phật giáo Việt Nam phát huy tinh thần nhập thế,
chứ chưa phải là hiện thực phổ biến trong đời sống xã
hội.
Trong
sự vận động và điều chỉnh, Phật giáo cũng như các tôn
giáo khác đang có nhiều chủ trương tiến gần hơn đến đời
sống xã hội, chia sẻ những kinh nghiệm tri thức thế tục,
dùng đó làm phương tiện để hội nhập tích cực hơn, song
nguy cơ bị thế tục hóa cũng là một thách thức không nhỏ
trong quá trình “hội nhập” này.
Trong
khi đó, những tri thức tôn giáo mới chỉ nằm ở “khuôn
viên” tôn giáo, chưa có nhiều điều kiện chủ quan, khách
quan để tôn giáo có thể được hiểu đúng trong nhận thức
chính trị nói riêng cũng như trong đời sống xã hội nói
chung.
Thực
tế cho thấy, nếu tôn giáo can thiệp quá sâu vào thể chế
bằng ý đồ chính trị, lực cản xã hội nhất định sẽ
gia tăng, vì vốn dĩ những cơ sở xây dựng xã hội của tôn
giáo có nhiều khác biệt những cơ sở xây dựng xã hội của
một thể chế chính trị cụ thể như Tư bản chủ nghĩa và
Xã hội chủ nghĩa. Nhưng tôn giáo có những vai trò đặc thù
trong việc giữ gìn giềng mối đạo đức, tinh thần, tâm
linh xã hội.
Tuy
nhiên, vấn đề đạo đức tôn giáo mới chỉ được tiếp
thu một cách nhỏ giọt và có chủ trương, điều này có thể
thấy ngay trong hệ thống giáo dục đào tạo tại Việt Nam
– tôn giáo chỉ được nhắc đến một cách sơ sài và có
phần méo mó.
Chẳng
hạn Phật giáo từng có 2000 năm hiện diện trên Việt Nam,
với lực lượng trí thức Phật tử đông đảo nhưng chưa
một trường đại học nào của nhà nước có phân khoa Phật
học. Nếu có những môn học tôn giáo thì chủ yếu do các
giảng viên “chính ngạch” phụ trách không phải do những
trí thức tôn giáo có đủ tư cách và chuyên môn giảng dạy.
Trong
khi đó, tại các nước như Mỹ, Pháp... vốn dĩ Phật giáo
chỉ là một tôn giáo “mới” ở những nước này thì lại
có phân khoa Phật học và các tu sĩ được thỉnh giảng trong
nhiều trường đại học.
Có
thể nói, hệ thống giáo dục đào tạo của tôn giáo tại
Việt Nam là khép kín, chủ yếu phục vụ cho các tu sĩ. Nên
những giá trị đạo đức tôn giáo cũng chỉ phục vụ cho
các tín đồ của mình, chưa có một tác động đáng kể nào
vào nhận thức xã hội. Nhà nước Việt Nam từng hãnh diện
tuyên bố Việt Nam chỉ có hơn 20% dân số là người có đạo,
còn lại là không có đạo.
Tuy
nhiên thực tế xã hội cho thấy, những người có đạo, có
tín ngưỡng tôn giáo phải chiếm tỷ lệ gần 90%, nhưng họ
vì lý do nào đó (ám ảnh từ quá khứ) người ta thường
rất e dè nhận mình là có đạo khi đi tìm việc và giao tiếp
xã hội, nên với tâm lý e ngại đó nhiều gia đình có tôn
giáo, tín ngưỡng tôn giáo nhưng lý lịch, hộ khẩu, chứng
minh thư vẫn ghi “tôn giáo: không”.
Như
vậy, với thực tế tôn giáo và những diễn biến tôn giáo
gần đây tại Việt Nam, cụ thể là việc công nhận sinh hoạt
chính thức của một số tôn giáo, đăng cai tổ chức Đại
lễ Phật đản Liên hợp quốc, hay sắp tới là việc thúc
đẩy bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Vatican, tất
cả mới chỉ ở tầm “nâng cao nhận thức tôn giáo” lên
một bậc “cởi mở” sau những ngày tháng dài đằng đẵng
của việc hạ thấp vai trò của tôn giáo, cụ thể trong chiến
dịch bài “thực”, bài “phong”.
Tôn
giáo đang có những cái “cớ” để thức dậy, nhưng cái
“cớ” này sẽ là con dao hai lưỡi khi tôn giáo xem sự thức
dậy đó như một sự thách thức “phản đòn”. Bởi chừng
nào tôn giáo còn hiện diện như là một “thách thức” với
thể chế thì mọi “phòng bị” cũng như mọi biến động
xã hội tiêu cực đều có thể xảy ra...
Trước
một vài thực tế tôn giáo như vậy, phải chăng khái niệm
“Phật giáo nhập thế” (từng tạo dấu ấn trong lịch sử)
hiện nay mới chỉ là một giả thiết cho ngày mai?
Phật
giáo Việt Nam đang có những điều chỉnh tích cực để “nhập
thế” song với những hiện trạng còn nhiều phân mảnh này,
có thể đi đến một nhận định: Phật giáo Việt Nam đang
phục hưng tinh thần nhập thế, nhưng đó là sự nhập thế
của một nhóm người “đặc biệt”, tức là đơn giản
từ những “lực lượng” chính trị, tôn giáo đã vượt
qua và chiếm lĩnh trên cái tổng thể nhập thế (toàn diện)
nói chung, chi phối những nỗ lực nhập thế khác của người
Phật tử.
Có
nghĩa rằng, đang có một chiếc bánh vẽ khổng lồ “nhập
thế” tồn tại, còn hướng đến chiếc bánh vẽ ấy bằng
động thái nào thì đang là nỗ lực của mỗi người.
“Nhập
thế” là một xu hướng tôn giáo buộc phải diễn ra nếu
người Phật tử không muốn mình bị đứng ngoài lề xã hội.
Nhưng nhập thế bằng cách nào trước những rào cản tôn
giáo còn chằng chịt trong xã hội, khi mà đa số mọi người
vẫn phải e dè khi nhận mình là người có đạo, khi mà thể
chế cầm quyền công bố đất nước mình chỉ có trên 20%
người theo đạo như một sự hãnh diện?
Tôn
giáo không bị xóa trắng trong thực tế nhưng lại có khuynh
hướng bị xóa trắng trong nhận thức cai trị. Thử hỏi tôn
giáo sẽ phát triển như thế nào trong “mâu thuẫn” này?
Như
vậy cái sức sống Phật giáo phong phú ngoài kia sẽ còn có
nhiều lực cản và chẳng nhận được lợi ích gì nhiều
từ một chủ trương mà các “lực lượng” kia đã bằng
cách nào đó che khuất ý nghĩa đích thực của tinh thần nhập
thế. Tức là mọi sự việc được phô bày ra dưới hình
thức “trống rong cờ mở” sau đó là sự im lặng dai dẳng
một cách đáng sợ.
Tôn
giáo nói chung tại Việt Nam xưa nay đều quá chú trọng vào
các sự kiện bề nổi, và sau sự kiện đó tất cả lại
hoàn nguyên tính chất bảo thủ, trì trệ của nó. Chính vì
vậy, tôn giáo gần như không có một kênh phản biện thông
tin nào lọt được vào hệ thống thông tin xã hội. Từ đó,
hai từ “nhạy cảm” đã vô hình chung đẩy tôn giáo xa hơn
với đời sống, lâu dần, người ta có cảm giác “ngạc
nhiên” mỗi khi những sự kiện tôn giáo xuất hiện trên
báo chí truyền hình hay trong môi trường giáo dục.
Những
suy nghĩ “khó chơi” giữa người có đạo, khác đạo và
không có đạo đang tồn tại phổ biến trong nhận thức xã
hội và tạo ra những sự lôi kéo (liên minh) tô điểm cho
quan điểm của mình, khiến cho tầng lớp trí thức càng bị
phân đoạn và không thể tạo nên một sức mạnh tổng thể
trước những tình huống được trông chờ.
Việc
tập trung “tấn công” và tập trung “bảo vệ” của các
nguồn trí thức khác nhau khi có “biến” cho thấy sự phù
du của thời gian khi tất cả bị đẩy đi không có điểm
dừng, còn cái hiện tại trước mắt không có sự đổi thay
đáng kể nào – việc của ai người nấy lo.
Khoảnh
khắc hiện tại được che phủ bằng một lớp màn nhung và
ít ai có đủ bình tĩnh để thấy mình đã sống ý nghĩa như
thế nào trước lực hấp dẫn của danh và lợi. Trong những
mâu thuẫn về lợi ích, có thể nói, nếu thỏa mãn được
điều kiện trên, mọi “biến số” đều bằng 0.
Sau
khi Vesak diễn ra, nhiều những từ ngữ như “chưa có trong
lịch sử Phật giáo”, “lớn nhất trong lịch sử Phật giáo”...
xuất hiện để chỉ cho quy mô của cuộc lễ này, thậm chí
còn so sánh nó hơn cả thời cực thịnh của Phật giáo (Lý
- Trần). Nhưng những gì Phật giáo Lý - Trần để lại đều
mang bản sắc và dấu ấn rất rõ nét trên cả một mặt bằng
tổng thể kinh tế, chính trị, quốc phòng (chống ngoại xâm),
giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, tâm linh...
Còn
muốn tìm ra một “định nghĩa” cho Phật giáo hiện tại,
không biết phải bắt đầu từ đâu. Vậy thì sự “vượt
trội”, “hơn hẳn” ấy phải chăng đang có sự “bao cấp”
trong nhận thức, hay những nỗ lực khuynh đảo của một vài
cá nhân đang làm cho hiện thực bị bóp méo dưới mỹ từ
“phát triển và hội nhập”?
Nếu
để những nhận định trên như một lời lên án nghiêm khắc
rồi cười xòa với nhau không thôi thì chúng ta không có cơ
hội nhìn ra tính chất nước đôi của thời đại: vừa suy
thoái vừa tiến bộ. Bởi phát động sự “nhập thế” và
duy trì sự “bảo thủ” là hai mặt của một “căn bệnh”
(không phải vấn đề) chưa tìm ra nguyên nhân cho chính sự
tồn tại và hướng đi cụ thể của mình. Đó là một sự
bế tắc, một chứng nan y chưa tìm ra thuốc chữa.
Cái
“được” lớn nhất của Vesak 2008 là hóa giải một định
nghĩa “tôn giáo” đã ăn sâu và làm khuyết trong nhận thức
của 3, 4 thế hệ về việc cần phải xa lánh tôn giáo như
xa lánh một thứ cạm bẫy. Cho đến một lúc những khủng
hoảng đạo đức xã hội trở nên trầm trọng, những bài
học dạy làm người cơ bản của Phật giáo mới được “phát
hiện lại” qua chủ trương của Liên hợp quốc, thì thấy
rằng Vesak không có ý nghĩa gì hơn ngoài cái việc khảo sát
lại chính những điều đã bị bỏ quên đó.
Phật
giáo nhập thế chính là Phật giáo được giữ gìn và bảo
lưu từ trong đời sống dân gian và qua đó thâm nhập sâu
rộng vào trong nhiều tầng lớp xã hội, có khi biểu hiện
ở những sinh hoạt tôn giáo điển hình qua nghi lễ, giáo lý,
giới luật chính thống, nhưng có khi biểu hiện qua các niềm
tin, tín ngưỡng dân gian như hội hè, đình đám, có khi xuất
hiện mờ nhạt qua các biểu hiện cầu cúng, thậm chí gắn
kết cả với những hình thức xin xăm, bói toán, lên đồng,
trừ tà phi chính thống...
Phần
nhiều những người sinh hoạt chính thống là những người
có quy y, có pháp danh, học tập giáo lý thường xuyên. Còn
lại là những người hoặc theo truyền thống tâm linh gia đình,
hoặc tự nhận mình thuộc về đạo Phật, họ cũng đi chùa
đều đặn hàng tháng, hàng năm nhưng sự tiếp cận giáo lý
Phật giáo rất giới hạn. Đây là một đặc điểm riêng
mà các tôn giáo khác ở Việt Nam không có.
Có
người đã xem sự thành công của Vesak 2008 là ở chốn dân
gian, ở Phật giáo các địa phương chứ không phải ở Trung
tâm Mỹ Đình hay qua một vài “lực lượng” nào đó muốn
chứng tỏ mình.
Có
người còn đặt cậu hỏi tại sao Vesak thu hút được rất
nhiều trí thức thế giới tham dự trong khi không thu hút được
nhiều nguồn lực trí thức tại các trường, viện trong nước
cũng như những nguồn lực trí thức Việt kiều?
Phải
chăng vì nó thiếu một hình ảnh “đại diện” đúng nghĩa?
Sự xuất hiện của giáo sư Lê Mạnh Thát (Thượng tọa Thích
Trí Siêu?) trong cương vị Chủ tịch IOC khiến nhiều người
chưa thể bình tĩnh “định danh” được với hình ảnh ấy.
Còn
Tổng Thư ký IOC là Đại đức tiến sĩ Thích Nhật Từ có
tâm huyết nhưng lại không có một chỗ đứng nào trong Giáo
hội ngay cả với chức Ủy viên dự khuyết Hội đồng Trị
sự.
Phật
giáo sẽ “nhập thế” ra sao khi chưa thiết định được
một chuẩn giá trị chung ngay trong tổ chức của mình. Chuẩn
giá trị chung ấy bước đầu phải được “chính danh”
từ động thái phản ứng mang tính chính trị lẫn nội lực
tu hành.
Sự
“được chọn” bất ngờ và một sự chứng tỏ mình quá
mức cần thiết của một vài cá nhân đã cho thấy sự thiếu
hợp lực trên tinh thần “lục hòa” và khả năng tỉnh táo
của các thành phần tham dự trực tiếp, gián tiếp trong vai
trò phản biện hay cố vấn. Điều này vô tình đã làm cho
hình ảnh Giáo hội trở nên “già lão” và thụ động.
Hai
hình ảnh trái ngược đó đã là lời “tố cáo” sâu sắc
vào sự yếu kém trong quản lý tổ chức của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam. Điều đó còn đánh một dấu hỏi lớn vào
“tập thể” thụ động đang hiện diện, một tập thể
“toàn trị” không có nhiều điều chỉnh và thay đổi trong
nhiều năm nay, trong khi những thay đổi xã hội xảy ra từng
giờ từng phút.
Điều
đó đã tạo nên sự phù phiếm và bổ sung vào cái vết khuyết
đầy bảo thủ của lịch sử, làm lu mờ những giá trị “dân
chủ”, “tự thắng” vốn được đẩy lên rất cao trong
tư tưởng Phật giáo.
“Nhập
thế” không phải là bắt chước, rập khuôn mà là sự điều
chỉnh mình trong những điều kiện tình thế, nhằm biến những
khó khăn trở thành thuận lợi trên cơ sở ích mình lợi người.
Người
Phật tử có tâm huyết sẽ không thể dừng nhận thức và
tư duy của mình lại dù ai đó đang bằng mọi cách cố tình
“làm tròn”, “gói gọn” tinh thần nhập thế của Phật
giáo Việt Nam vào một vài hình ảnh bề nổi.
Nguyễn
Mai Sơn
(Phật
Tử Việt Nam)
06-17-2008
03:23:12
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.