Một
chân dung chính thức của Nyoshul Khenpo Rinpoche Jamyang Dorje đang
cử hành một lễ truyền pháp quán đảnh Kim Cương thừa.
Ảnh có được nhờ sự cho phép của Khenpo Sonam Tobgyal Rinpoche.
NỘI
DUNG
Lời
nói đầu của nhà xuất bản
Mở
đầu – Tự Do và Thong Dong :
Một
Bài Ca Kim Cương Tự Phát, Lama Gendun Rinpoche
1.
Một kẻ lang thang chứng ngộ : Một phác họa tiểu sử Giáo
lý
GÍAO
LÝ
2.
Phật Pháp Căn Bản : Một thuyết giảng ở Vương quốc Bhutan
3.
Bạn là Đại Toàn Thiện : Một lời dạy về Bồ đề tâm
Tương đối và Tuyệt đối vào dịp Ẩn cư hai tháng ở Hoa
Kỳ
4.
Nền Tảng, Con Đường và Quả : Những chỉ dạy Bản Tánh-Tâm
về Tri Kiến, Thiền Định và Hành Động của Dzogchen, Đại
Toàn Thiện Vốn Sẵn Đủ
5.
Đại Toàn Thiện và Phật giáo Tây Tạng : Một giảng dạy
ở Cambridge, Masschusetts Bài Ca và Bình Giải
BÀI
CA VÀ BÌNH GIẢI
6.
Tấm Gương của những Điểm Thiết Yếu : Một bức thơ Tán
Thán tánh Không, từ Khenpo Jamyang Dorje cho Mẹ ngài
7.
Bình Giải của Khenpo về “Tấm Gương của những Điểm Thiết
Yếu : Một bức thơ tán thán tánh Không”
8.
Tấm Gương Kim Cương của Tỉnh Giác : Một bài ca tự phát
9.
Bài ca Kim Cương của Chỗ Ẩn Tu Công Viên Nai.
10.
Bài ca Như Huyễn : Lá Thơ Giáo Huấn của Khenpo Jamyang Dorje
gởi cho các đệ tử.
11.
Một Bài Ca Ngẫu Phát cho Damchư Zangmo :
Tâm
Yếu Thiêng Liêng của Những Giáo Huấn Cốt Lõi
12.
Ý Nghĩa Thiết Yếu Lịch Sử
LỊCH
SỬ
13.
Dòng Đại Toàn Thiện của Nyoshul Khenpo Lama Surya Das
Thuật
ngữ
Chú
thích
Một
Lời Cầu Nguyện Trường Thọ cho Nyoshul Khenpo Rinpoche của
Đức Dilgo Khyentse Rinpoche
Lời
nói đầu
của
Nhà Xuất Bản
Có
thể nói một cách không sai lầm, Đại Toàn Thiện (Dzogchen)
và Đại Ấn (Mahamudra) là Thiền Tây Tạng. Chúng ta đã từng
biết đến Thiền Việt nam, Thiền Trung Hoa, Thiền Nhật Bản,
nhưng quả thật chúng ta biết rất ít về Dzogchen, Tối Thượng
Thừa, thừa Tối Cao trong sự phân định chín thừa của Cổ
phái Nyingma Tây Tạng. Với Kiến (cái thấy, tri kiến), Thiền
(thiền định) và Hạnh (hành động sống tương ưng với chân
lý) để hoàn toàn chứng ngộ Phật tánh là đã trọn vẹn
con đường đốn ngộ tiệm tu (hay diệu tu) của Thiền Việt
Nam và Trung Hoa. Trạng thái tự nhiên của Đại Toàn Thiện
và Đại Ấn đích thị là “Bình thường Tâm thị Đạo”
của Thiền Tông.
Tổng
quát là vậy, nhưng chắc chắn Đại Toàn Thiện Dzogchen sẽ
giúp chúng ta nhiều điều mới lạ do bởi con đường đặc
trưng của Phật giáo Tây Tạng. Ngay trong phần tiểu sử những
vị Tổ Đại Toàn Thiện trong sách này, chúng ta cũng tìm thấy
những cách thực hành quý báu của một hành giả trước và
sau ngộ như thế nào. Hơn nữa, còn có những lời tiên tri
mà khởi đầu là của Padmasambhava cho đến các đạo sư hiện
tại về sự phát triển rộng rãi của Đại Toàn Thiện ở
Tây phương và sự ích lợi của nó nổi bật trong thời mạt
pháp. Đặc biệt là tính rộng rãi và công khai so với các
tantra đòi hỏi một sự trao truyền riêng tư nghiêm ngặt (xem
Một Con Đường Lồng Lộng Đến Tự Do – Gyatrul Rinpoche,
chương Ati Yoga – Kim Cương dịch, NXB Thiện Tri Thức).
Việt
Nam xưa nay vẫn tự xem mình là nơi hội tụ của những nền
văn hóa. Chúng ta vẫn thường nói đây là nơi hội tụ xưa
kia là văn hóa Ấn-Hoa, và nay có thêm văn hóa Tây phương.
Chính vì là nơi hội tụ để chắt lọc những tinh hoa của
những nền văn hóa trên căn bản nội lực của mình đó,
mà sự hiểu biết thêm những tinh hoa của nền văn hóa thuần
túy Phật giáo của Tây Tạng là một điều bổ ích. Hơn nữa,
chúng ta đều biết Thiền tông là dòng chảy chính trong mạng
mạch của Phật giáo Việt Nam, thì sự hiểu biết thêm về
Thiền Đại Toàn Thiện của Tây Tạng sẽ là một điều tốt
đẹp un đúc cho sinh lực của dòng chảy ấy.
Trong
ý nghĩa đó, chúng tôi xin được giới thiệu cùng độc giả
cuốn Đại Toàn Thiện Tự Nhiên, phát xuất từ dòng thiền
cổ sơ nhất của Phật giáo Tây Tạng, Ati Yoga hay Dzogchen,
pháp thiền cao nhất của Guru Padmasambhava, vị cha khai sanh ra
Phật giáo Tây Tạng.
Tháng
3 năm 1999
Kỷ
niệm 700 năm ngày vua
Trần
Nhân Tông về Yên Tử xuất gia
và
lập nên phái Thiền Trúc Lâm.
Nhà
xuất bản Thiện Tri Thức.
Mở
Đầu
Tự
Do và Thong Dong :
Một
Bài Ca Kim Cương Tự Phát
Thượng
tọa Lama Gendun Rinpoche
Hạnh
phúc không thể được tìm thấy
qua
cố gắng và ý chí lớn lao,
mà
đã sẵn hiện tiền, trong sự buông xả trống trải và để
mặc.
Chớ
có ráng sức,
không
có cái gì để làm hay không làm.
Cái
gì chốc lát khởi lên trong thân tâm
không
có chút quan trọng thực sự nào,
không
có chút thực tại nào.
Tại
sao đồng hóa với, và trở nên bám chấp vào nó,
đặt
phán xét lên nó và lên chính chúng ta ?
Tốt
hơn là đơn giản
để
cho toàn bộ trò chơi xảy ra riêng phần nó,
khởi
lên và lặng xuống như những cơn sóng –
không
biến đổi hay mó tay vào bất cứ cái gì –
và
nhận thấy mọi sự tan biến và lại xuất hiện
như
thế nào, trở đi trở lại như huyễn thuật,
thời
gian không có lúc chấm dứt.
Chỉ
sự tìm kiếm hạnh phúc của chúng ta
ngăn
cản chúng ta thấy nó.
Nó
giống như một cầu vồng sống động bạn theo đuổi
mà
không bao giờ nắm bắt được,
hay
như một con chó rượt theo cái đuôi của mình.
Dù
an lạc không hiện hữu
như
một sự vật và nơi chốn hiện thực,
nó
luôn luôn hiêïn tiền
và
đi cùng bạn mỗi một phút giây.
Chớ
tin vào thực tại
của
những kinh nghiệm tốt xấu,
chúng
như khí hậu phù du của ngày hôm nay,
như
những cầu vồng trong bầu trời.
Muốn
nắm bắt cái không thể nắm bắt,
bạn
tự làm kiệt sức mình vô ích.
Ngay
khi bạn mở trống và buông xả nắm tay siết chặt của
sự
bám nắm này,
không
gian vô biên là ở đấy – rỗng rang, mời mọc và
thoải
mái tiện nghi.
Hãy
dùng lấy cái trống rộng này, cái tự do và thoải mái
tự
nhiên này.
Chớ
tìm cái gì khác hơn nữa.
Chớ
đi vào rừng rậm um tùm
tìm
kiếm con voi Giác ngộ vĩ đại,
nó
vốn đã an nhiên trong nhà
ở
trước lò sưởi của bạn.
Không
có gì để làm hay không làm,
không
có gì để động sức,
không
có gì để muốn,
và
không có gì thiếu sót, trệch sai –
Emaho
! Kỳ diệu !
Mọi
sự xảy ra tự chúng.
Gedun
Rinpoche là một lama Kagyu trưởng, trụ trì và vị thầy ẩn
tu của Tu Viện Dakpo Kagyu Ling ở Dordogne, Pháp, nơi bài thơ
này được dịch ra từ tiếng Tây Tạng.
1
Một kẻ lang thang chứng ngộ
Một
phác họa tiểu sử
Đây
hoàn toàn không phải là một namthar – một tiểu sử tâm
linh – nó chỉ là một chuỗi những chuyện rủi ro. Tôi sinh
ở miền đông Tây Tạng năm 1932. Cha tôi là một kẻ cướp
lang thang, một kẻ cướp đường. Ông ta đánh đập, cướp
giật và ngay cả giết người. Tôi thực sự không biết cha
tôi, vì ông đã bỏ gia đình khi tôi còn rất nhỏ. Cha tôi
giống như người các bạn thấy trong phim cao bồi, sống ngoài
luật lệ trên lưng ngựa. Ông thường sống trong những miền
hoang dã xứ Kham, miền đông Tây Tạng.
Trong
gia đình tôi có ba trai và bảy gái. Hai người anh tôi thì
rất mạnh và thô lỗ, như cha vậy ; ông cũng rất yêu quý
hai đứa con cứng rắn này. Tôi là đứa thứ ba, có hơi yếu
đuối và nhút nhát. Cha tôi thường chê tôi, nói rằng tôi
giống một đứa con gái và chẳng được gì. Cha tôi dạy
các con mình chiến đấu, nhưng những đứa con gái và tôi
không thích lắm sự đánh nhau, cho nên cha chúng tôi không để
ý đến chúng tôi.
Mẹ
tôi là một tâm hồn dịu dàng và từ ái, một con người
mộ đạo, với nhiều kiên nhẫn và chịu đựng. Bà có những
ước mong thành thật thực hành Pháp, dù bà có quá nhiều
con và nhiều chuyện để đối phó trong nhà. Bà nuôi hy vọng
lớn lao rằng tôi sẽ đáp ứng những ước mong về Pháp của
bà, bởi vì tôi giống bà ở tính cách dịu dàng và từ ái.
Mẹ tôi tự bằng lòng với những phần thưởng đơn giản
của đạo đức, cầu nguyện và sự hiến mình cho gia đình.
Bà
nội tôi, mẹ của người cướp đường, cũng thuần thành.
Bà là một đệ tử không thường xuyên của đại sư Đại
Toàn Thiện Nyoshul Lungtok Nyima, người là đệ tử ruột của
Patrul Rinpoche. Rất say mê Pháp và thực hành, bà không học
nhiều nhưng đã nhận những giáo lý và thực hành và hiểu
chúng, như thế chuyển hóa bản chất bà. Bà cầu nguyện thường
trực cho đứa con cướp bóc ương ngạnh của bà chuyển biến
và thay đổi cuộc đời của nó.
Khi
tôi còn là một em bé, bà nội tôi và mẹ tôi thường hát
đi hát lại bên nôi, “Chúng con quy y Phật, chúng con quy y
Pháp, chúng con quy y Tăng.” Cũng thế, họ thường cầu nguyện
và nói với người khác về những giáo lý, và cầu nguyện
đến Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, dù ngài ở đâu – họ thường
không biết ngài ở đâu – một cách nhiệt thành, biểu lộ
mong muốn tha thiết ngài sẽ đến để dạy và ban phước
cho họ. Họ nhắc nhở mọi người ngài là một đại đạo
sư như thế nào. Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến tên
thiêng liêng của vị guru này, Nyoshul Lungtok, – một cái tên
gây cảm hứng cho tôi đến tận ngày nay.
Khi
tôi lớn lên, bà nội tôi giải thích cho tôi Nyoshul Lungtok
là lama gốc tôn kính của bà, và ngài đã cho bà một đời
sống mới. Dù không học kinh điển, bà có kinh nghiệm trong
Đại Toàn Thiện, và cũng thực hành những giáo lý bồ đề
tâm. Bà hát tụng thần chú của lòng đại bi, Om mani padme
hung, ba trăm triệu lần trong đời bà. Nếu người ta trì tụng
một trăm triệu lần một thần chú, đếm mỗi lần với một
xâu chuỗi, đó gọi là một toong-jor. Bà đã làm ba lần như
thế trong đời bà – ba trăm triệu trì tụng thần chú của
lòng đại bi, thần chú của Quán Thế âm, Om mani padme hung,
thực hành thiền định và từ bi như vậy.
Bà
nội tôi khuyên tôi, bởi vì bản tánh tôi hiền lành, thực
rất thích hợp để theo lối sống của mẹ tôi hơn là bắt
chước cha tôi. Bà còn khuyến khích tôi tìm một lama-bồ tát
thông thạo để dạy và huấn luyện tôi, và cố gắng trở
nên giác ngộ như chính vị lama ấy – vì đó là điều Phật
dạy.
Trong
ba năm tôi chăm sóc gia súc của gia đình và những việc lặt
vặt khác. Tôi chẳng học thứ gì, nhưng tôi nhớ nghĩ về
vị lama mà tôi đã nghe tên. Trong thời gian này, khi tôi lên
năm, mẹ tôi và bà đưa tôi đến tu viện Sakya gần đấy,
nơi tôi được cắt tóc và cho một pháp danh. Năm tám tuổi,
tôi vào tu viện. Có khoảng một trăm nhà sư, người thực
hành và những lama trong tu viện ấy ở xứ Kham. Pháp danh của
vị trụ trì là Jamyang Khenpa Tapkye ; ngài là ông cậu họ của
tôi.
NHỮNG
NĂM ĐẦU TIÊN Ở TU VIỆN
Là
bà con, Jamyang Khenpa Tapkye quan tâm đến tôi. Tôi liền được
dạy cho biết đọc và viết, chuyện đó là dễ dàng đối
với tôi. Không phải đứa trẻ nào cũng có một dịp may như
vậy. Để ở trong tu viện này, những người tập sự trẻ
phải đi khất thực mỗi ngày chung quanh những làng lân cận.
Tôi vẫn còn những vết sẹo nơi chân vì những con chó Tây
Tạng khổng lồ, chó giữ nhà dữ tợn, chúng cắn tôi khi
đi ngang qua cửa để xin tsampa, một loại bột nướng khô,
thức ăn chủ yếu của người Tây Tạng. Khi những đứa trẻ
tập sự không có gì, chúng sẽ bị đánh và bắt phải ngồi
ở bên ngoài không có gì để chống lại với giá lạnh. Đó
là một cuộc sống gian khổ.
Vào
khoảng mười tuổi công việc của tôi là chăn cừu của tu
viện, đôi khi ở trong chùa và đôi khi chăn ở ngoài, nơi
những chỗ hoang vu. Khi trời nắng tôi được ra ngoài, rất
thoải mái, cảm thấy rất hạnh phúc, chỉ xem chừng cừu
gặm cỏ. Nhưng đôi khi trời mưa và lạnh cóng, với mưa đá
và gió, tôi không chỗ ẩn núp. Hơn nữa tôi không thể thấy
cừu biến mất trong sương mù và hẻm núi. Tôi phải tìm chúng
để gom chúng lại và đưa về vào ban tối. Tôi biết chính
xác chúng có bao nhiêu con. Tôi nhận ra từng khuôn mặt chúng
và gọi mỗi con bằng tên nó.
Vào
mùa xuân và mùa hè ngắn ngủi, có nhiều hoa dại và đủ
loại chim ca hát. Kham rất đẹp vào thời kỳ ấy trong năm.
Thời gian còn lại, khí hậu khá lạnh và khắc nghiệt. Tôi
nhớ rõ ràng những ngày hè an vui của tuổi thơ khi khí hậu
đáng yêu và tôi hoàn toàn sung sướng, ngồi ngoài nắng, hoàn
toàn thoải mái và buông xả, khi đàn cừu gặm cỏ và tôi
nhìn vào bầu trời xanh đậm màu ngọc bích và chỉ để tâm
thức tôi tự do như nó là. Đấy là sự khởi đầu tự nhiên,
không tạo tác của sự khai triển thiền định nơi tôi.
Đôi
khi những con chim ríu rít, và vài tư tưởng bắt đầu đến
trong tâm, đại loại : Tôi làm gì ở đây, nghe những con chim
chăng ? Tại sao tôi ở đây ? Bà tôi bảo với tôi rằng chỉ
sự việc độc nhất đáng làm là thực hành và chứng nghiệm
Pháp thánh, tuy nhiên dù tôi đã vào tu viện, hình như bây
giờ tôi chỉ là một người chăn cừu. Làm sao tôi có thể
theo những giáo lý và gặp một vị thầy đích thực, hơn
là chỉ làm một người chăn cừu mặc đồ thừa rách rưới,
phí phạm thời gian trong những cánh đồng ?
Thu
hết can đảm, tôi nói với mẹ tôi muốn học với một lama
thật sự, có được những giáo lý tâm linh đích thực, và
tìm ra Pháp thiêng liêng thật sự là gì. Rồi tôi bỏ tu viện
và đến một thung lũng khác, nơi ấy có một đại lama cao
cấp là Lama Rigdzin Jampel Dorje. Vị lama này quả thật là một
đại sư giác ngộ, một đại thành tựu giả đã chứng ngộ
sự hợp nhất của hai dòng giáo lý Đại Ấn (Mahamudra) và
Đại Toàn Thiện (Dzogchen).
Khi
tôi khoảng mười hai tuổi, tôi bắt đầu và hoàn thành năm
trăm thực hành sơ bộ hay ngondro, dưới sự hướng dẫn cá
nhân của vị đại lama này. Rồi tôi cầu thỉnh và nhận
lãnh từ Jampel Dorje những giáo lý chi tiết về sự không tách
lìa của thực hành thiền shamatha (chỉ) và thiền vipashyana
(quán). Tôi áp dụng những giáo huấn Kim Cương thừa về thiền
định này trong kiểu mẫu Đại Ấn, theo Dòng Thực Hành. Sự
thực hành này gồm bốn yoga nổi tiếng của Đại Ấn –
nhất tâm, đơn giản, một vị và siêu vượt khỏi thiền
định – chúng được soi sáng hơn trong ba thể thức không-thiền-định,
không-tạo-tác (vượt khỏi hành động và không hành động),
và không-phóng-dật.
Tôi
bắt đầu dần dần nhận ra rằng có lẽ thật khó khăn để
thực sự tiến bộ trong thực hành tâm linh mà không có một
nền tảng hiểu biết vững chắc những giáo lý tổng quát
của kinh và tantra, và đặc biệt là Bồ đề tâm quý báu.
Có nói rằng, “Thiền định mà không học thì giống như
leo một ngọn núi mà không có đôi mắt ; học mà không thiền
định thì giống như cố gắng leo một ngọn núi mà không
có tay và chân.” Rigdzin Jampel Dorje chấp nhận. Thế nên tôi
bắt đầu học với một vị khenpo quan trọng ở tu viện,
một giáo sư tu viện trưởng uyên bác và thành tựu tâm linh.
Tôi phải học và tụng đọc thuộc lòng vô số lời cầu
nguyện, sadhana, kinh văn và bình giải trước chúng hội –
một công việc khổng lồ.
Tôi
nghiên cứu ba lời nguyện của ba thừa, gồm những lời nguyện
pratimoksha hay những lời nguyện giải thoát cá nhân từ Luật,
những cam kết bồ tát và những samaya Mật thừa. Tôi nghiên
cứu Bồ tát hạnh của đạo sư Đại thừa Ấn Độ Shantideva,
những giáo lý Bồ đề tâm về tu hành tâm thức (sự chuyển
hóa thái độ), của Atisha và rất nhiều giáo lý tương đối
và tổng quát của Phật pháp, theo những kinh điển và bình
giải của truyền thống Phật giáo. Tôi nhớ Mười Ba Đại
Bản Văn. Về sau tôi nghiên cứu sâu về triết học Trung Đạo
của Nargarjuna, biện chứng Trung Quán, ngữ nguyên học, luận
lý, văn học Bát Nhã ba la mật, Năm Trang Hoàng của Asanga,
A tỳ đạt ma câu xá của Vasubandhu và v.v… Cuối cùng tôi
nghiên cứu toàn bộ Ba Tạng, gồm trong toàn bộ Tây Tạng
gọi là Kangyur trong một trăm lẻ tám bộ lớn, cũng như những
luận giải chi tiết của các pháp sư Ấn và Tạng trong một
toàn bộ còn lớn hơn là Tangyur. Theo cách này, phối hợp với
thực hành, tôi thông thạo ba thừa, gồm kinh và tantra – tất
cả những giáo lý của đức Phật.
Được
phấn khích mạnh mẽ, tôi theo đuổi sự tu hành học giả
này một cách cần cù. Dưới đạo sư phi thường Rigdzin Jampel
Dorje và khenpo của tôi, tôi trải qua mười hai năm acharya hay
tu học khenpo theo đúng truyền thống phối hợp với thiền
định và hành thiền của Dòng Thực Hành Rimé không bộ phái,
cho đến năm hai mươi bốn tuổi. Tôi nghiên cứu mọi giáo
lý cần thiết để trở thành một khenpo, một tu viện trưởng
và một giáo sư và đảm nhận mọi thực hành Đại thừa
và Kim Cương thừa và những nhập thất trong đơn độc để
thực hiện chúng. Tôi còn nhớ tôi là một chú bé nhỏ con
và đơn độc, trong một vùng tôi không quen biết một ai, và
người ta thường giễu cợt tôi như thế nào. Tôi cũng nhớ
một cách biết ơn lòng tốt khó tin và sự rộng lượng hào
phóng của vị thầy vô ngã của tôi khi tôi theo đuổi tất
cả những học hành và tu tập này trải hơn mười hai năm.
NHẬN
NHỮNG GIÁO HUẤN CỐT LÕI
Khi
tôi mười tám, tôi nhận lãnh những giáo lý sâu xa và độc
nhất, bí mật về bản tánh chính yếu của tâm, những giáo
huấn cốt lõi của Longchen Nyingthig, tinh túy tâm yếu của
những giáo lý Đại Toàn Thiện. Tôi đã nhận những giáo
lý biệt truyền quý báu này về cái thấy, thiền định và
hành động của Đại Toàn Thiện từ tái sanh (tulku) của guru
của bà nội tôi – những giáo lý làm rõ nghĩa tối hậu
của Phật Pháp và của rigpa, tâm Phật bẩm sanh, theo sự sắp
xếp nền tảng, con đường và quả, một bộ ba được xem
là một và không thể phân chia. Tôi sớm đạt được niềm
tin không lay chuyển bên trong và sự xác tín về Đại Toàn
Thiện tự nhiên này, những giáo lý bất nhị của Đại Toàn
Thiện về tánh thanh tịnh bổn nhiên và sự hiện tiền tự
nhiên hiện thân trong những thực hành Trekchod – Cắt Đứt,
và Togal – Siêu Xuất.
Nyoshul
Lungtok Tenpai Nyima, người nối pháp của Patrul Rinpoche, đã
chết những năm trước đó. Tái sanh tulku của ngài đã sanh
lại, lên ngôi và được các đệ tử của vị đời trước
gồm cả Khenpo Ngakga dạy dỗ. Chính vị tulku này, pháp danh
là Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, đã đưa tôi vào bản tánh của
tâm thức khi trao truyền những giáo lý này. Ngài là guru gốc
của tôi. Tôi nhận pháp danh từ ngài và từ tu viện Nyoshul
nơi chúng tôi sống với nhau, trong một quận ngoại ô vùng
đại tu viện Kathok của Nyingma. Từ những lama này tôi thừa
hưởng tất cả những giáo lý của Longchenpa và Jigme Lingpa.
Tôi nhớ toàn bộ Bảy Kho Tàng của Longchenpa, cũng như hai
bộ ba nổi tiếng của Longchenpa là Bộ Ba của Giải Thoát
Tự Nhiên và Bộ Ba của Tự Do Bổn Nhiên của Tâm và Yonten
Dzod, Kho Tàng của Những Phẩm Tính Giác Ngộ của Jigme Lingpa,
giải nghĩa tất cả chín thừa theo truyền thống Nyingma của
Phật pháp. Tôi hoàn toàn hạnh phúc.
Tulku
Shedrup Tenpai Nyima trao truyền cho tôi Nyengyud Men Ngag Chenmo, những
giáo huấn cốt lõi nói nhỏ bên tai của Đại Toàn Thiện.
Tulku Shedrup Tenpai Nyima là đệ tử chính của Khenpo Ngakga vĩ
đại : Ngakgi Wangpo, một đạo sư Đại Toàn Thiện trí huệ-điên
cuồng còn nổi tiếng đến ngày nay – một đạo sư Togal
thấu suốt và là một hiện thân của tổ Đại Toàn Thiện
Ấn Độ Vimalamitra. Khi tôi còn rất nhỏ, tôi đã gặp Khenpo
Ngakga và nhận vài trao truyền từ ngài. Tôi còn quá nhỏ để
học hỏi thực sự sâu xa với ngài Khenpo Ngakga, thế nên tôi
dần dần nhận riêng những giáo lý của ngài Khenpo Ngakga từ
Nyoshul Lungtok Shedrup Tenpai Nyima.
Khenpo
Ngakga có một phương cách uy nghi và sự lôi cuốn phi thường,
một sự hiện diện khó tin nổi. Chỉ đi vào phòng ngài là
những tư tưởng và ý niệm chấp ngã của người ta dừng
lặng, mở ra cảnh giới trống trải vô ngã của rigpa một
cách không cố gắng. Dù tôi chỉ là một đứa trẻ, tôi cũng
còn nhớ lại đầy biết ơn thời kỳ đó, “Sự hiện diện
đích thực của một đạo sư Phật giáo chân thật thực sự
là thế ấy. Ai cũng hoàn toàn kinh ngạc và cảm ứng bởi
sự rực rỡ tự nhiên và sự tinh thông tâm linh như vậy.
Phước đức làm sao khi gặp một vị Phật sống ngay nơi thế
gian này !”
Ngài
Khenpo Ngakga nổi tiếng nhiều vì nhiều lý do. Một lần ngài
ngồi ba năm trên đệm thiền, không đi đâu cả. Khi vị đại
lama này làm một cuộc nhập thất ba năm, ngài ở trong trạng
thái trong vắt của rigpa gọi là zangtal suốt cả thời kỳ
; không ai có thể thấy một cái bóng in xuống từ thân ngài
trong suốt ba năm. Điều này tuyệt đối chân thật.
Khi
Khenpo Ngakga đang trong thiền định, vào những ngày tốt lành
như ngày mồng mười mỗi tháng – ngày mỗi tháng của Guru
Rinpoche, và ngày mười lăm – ngày trăng tròn, tám dấu hiệu
xuất hiện trên thân ngài Ngakga, bởi vì thân ngài là hóa
thân, sắc thân thực sự, sự biểu lộ trên trái đất của
một vị Phật. Khenpo Ngakga có những phẩm tính không thể
nghĩ bàn như vậy đến mức mà phẩm tính nào nghe ra cũng
khó tin, nhưng có nhiều lama là đệ tử của ngài đã thành
tựu giác ngộ hết lời ca tụng ngài. Jatral Rinpoche và Bairo
Tulku Rinpoche ở Nepal là những đệ tử vĩ đại còn sống
hiện giờ của Khenpo Ngakga.
Truyền
thống Đại Toàn Thiện nói rằng mỗi một trăm năm một đại
sư giác ngộ của Đại Toàn Thiện xuất sanh từ trái tim của
Vimalamitra để làm việc cho ý định của Phật trong thế giới
này. Trong thế kỷ mười chín, đó là Jamyang Khyentse Wangpo,
và trong thế hệ vừa rồi đó là Khenpo Ngakga. Khenpo Ngakga
có hàng ngàn đệ tử chứng ngộ, nhưng Nyoshul Lingtok Shedrup
Tenpai Nyima, guru gốc của tôi là người kế pháp của ngài,
người nắm giữ những giáo huấn cốt lõi của Đại Toàn
Thiện đặc biệt gọi là Nyengyud Men Ngag Chenmo, Dòng Những
Giáo Huấn Cốt Lõi Truyền Tải về Tinh Túy Tâm Yếu. Đấy
là dòng và giáo lý đặc biệt của tôi, giáo lý thể nghiệm
(nyongtri) căn cứ vào những giáo huấn cốt lõi truyền tai
của Nyingthig, tinh túy tâm yếu của Longchenpa và Jigme Lingpa
toàn giác, cốt tủy của Đại Toàn Thiện vốn sẵn đủ,
Dzochen. Đây là một dòng truyền thừa chỉ nói thầm cho một
đệ tử vào một thời gian nào, không bao giờ cho đám đông.
Nó được xem là cực kỳ hiếm có và quý báu. Tôi cũng truyền
nó cho rất ít lama đệ tử thân thiết riêng tư.
Những
vị nắm giữ dòng và những đạo sư của giáo lý đặc biệt
này đều đã giác ngộ, là những thành tựu giả triệt ngộ
với những phẩm tính tâm linh không thể nghĩ bàn, nhưng những
lama ngày nay như tôi chỉ là một cái bóng của những thiên
thể sáng ngời tâm linh ấy. Những đạo sư thân thể ánh
sáng cầu vòng ấy không dọi bóng ; ngày nay những người
thân thể khuyết điểm như Nyoshul Khenpo tự cho là trao truyền
giáo lý siêu việt ấy – vô lý biết bao ! Thuốc trường
sanh của những giáo huấn cốt lõi để giải thoát trong dòng
độc nhất này giống như hơi thở tươi mát của của những
dakini trí huệ. Tiếng rống sư tử của Pháp đã được tuyên
bày bởi những yogi như những sư tử tuyết vĩ đại trong
đất nước Tây Tạng từ hàng ngàn năm nay, nhưng ngày nay
chỉ có vài con chó như Nyoshul Khenpo đang sủa. Và không chỉ
có vậy, họ đang đi đây đi đó đến mọi nước trong thế
giới, sủa, ăn thức ăn của những người khác, làm rầm
rĩ không biết hổ thẹn – đáng nực cười quá chừng !
Tôi
đã ở vài năm tại tu viện Kathok, một trong sáu tu viện chính
của phái Nyingma. Trong tiếng Tây Tạng Kathok được gọi là
Kathok Dorje Den, nghĩa là Kathok Bodhgaya hay Kathok tòa kim cương
của giác ngộ. Ngôi chùa đã bảy trăm năm ở Kham này nổi
tiếng như Bodhgaya thứ hai. Kể lại rằng một trăm ngàn yogi
đã đạt được thân thể cầu vồng ở đó. Một câu chuyện
khác nhắc đến màu trời vàng thần thoại của Kathok, nơi
nhiều vị tỳ kheo sống đến nỗi bầu trời thường trực
phản chiếu màu vàng sáng của y các ngài.
Ở
Kathok những lama của tôi gồm mười hai đại tulku ; tám khenpo
thành tựu tâm linh và uyên bác, những khenpo (khác với nhiều
vị ngày nay) biết mọi thứ và nhớ toàn bộ đại tạng Kangyur
và nhiều bình giải ; và năm lama giác ngộ không phải là
tulku cũng không là khenpo, nhưng đã thành tựu những chứng
đắc lớn lao qua nỗ lực tâm linh, trong khi vẫn là những
hành giả tầm thường và là những cột trụ vững chắc của
tăng đoàn.
Sau
khi nhận sự trao truyền giáo huấn cốt lõi từ Tulku Shedrup
Tenpai Nyima, tôi làm một năm ẩn tu trong hang, thực hành tummo,
yoga nội nhiệt bí mật, và tập trung vào những giáo lý cốt
lõi truyền tai này. Tôi còn tiếp tục theo đuổi việc học
cho đến giữa những năm hai mươi. Tôi thực hành tummo trong
nơi hoang dã đầy tuyết cho đến khi tuyết chảy tan quanh tôi.
Trong thời kỳ thực hành mãnh liệt khác tôi sống một thời
gian như một con thú hoang trong rừng sâu tự do thực hành rushen,
những thực hành sơ khởi của Đại Toàn Thiện, với vài
yogi khác dưới sự hướng dẫn của guru. Tôi còn nhớ việc
sống tự do và buông xả như thế nào, vượt khỏi mọi câu
thúc ý niệm và quy ước xã hội – giống như những đại
thành tựu giả của thời xưa ! Đó là một thời kỳ tuyệt
diệu của thực hành tâm linh. Emaho !
Tôi
thực hành những sadhana Bát Nhã ba la mật đa thuộc Mật thừa
gọi là Chošd hay Cắt Đứt Bản Ngã, thiền định suốt đêm
trong những nghĩa địa khủng khiếp, hiến thân cho những hồn
ma đói khát và những chủ nợ về nghiệp. Những thời kỳ
khác tôi dùng để thiền định một mình trên những đỉnh
núi đầy gió và trong những hang động đã được những đại
sư ngày xưa làm phép để dùng, hay hành hương đến những
cảnh trí thiêng liêng và những thung lũng giống như Shangri-la
nơi các vị tổ nam và nữ của Phật giáo Kim Cương thừa
đã thiền định, ở đó tôi làm những lễ cúng và những
hoạt động công đức. Tôi hoàn thành sự tu tập Sáu Yoga
của Naropa và Đại Ấn theo hệ thống Kagyu, cũng như Lamdray
của phái Sakya – Con Đường và Quả, và Korday Yermay – sự
Không Tách Lìa của Sanh tử và Niết bàn, và tantra anuttara
yoga Kalachakra. Lama của tôi biết rằng tôi đã hoàn thành những
thực hành khác nhau này, gặp gỡ những hóa thần bổn tôn
; và nhận những ban phước, trao truyền và quán đảnh trực
tiếp từ các vị ấy, giống như những đạo sư gốc của
dòng phái trong thời trước.
Rồi
tôi du hành, nhận những giáo lý và những trao truyền từ
mười hai vị đạo sư giác ngộ khác từ mọi truyền thống
và dòng phái khác nhau có ở Tây Tạng. Những vị đạo sư
này tôi xem là những lama gốc của tôi. Lúc đó tôi biết
tôi tìm kiếm cái gì và tìm ra nó ở đâu. Tôi thực hành
và hoàn thành những giáo lý này, như thế trở thành một
lama Rimé không bộ phái, kẻ thừa kế mọi giáo lý thiêng
liêng của Tám Cỗ Xe Lớn của Phật giáo Tây Tạng, chúng
hiện giờ được xếp vào bốn phái chính : Nyingma, Kagyu, Sakya
và Gelug.
ĐI
KHỎI TÂY TẠNG
Những
người đồng tu và tôi phải đi khỏi Tây Tạng vào năm 1959.
Sự thực hành tôn giáo vào những năm sáu mươi, bảy mươi
được xem là chống phá chính trị. Tôi mất tiếp xúc với
những người ở lại, kể cả những dấu vết của gia đình
tôi. Tôi chỉ tái hợp với những anh chị em còn sống vào
một chuyến viếng thăm miền đông Tây Tạng vào năm 1992.
Ở
Ấn Độ, tôi đã thỉnh cầu và nhận được những giáo lý
và trao truyền đầy đủ từ những vị đại đạo sư, gồm
vị nhiếp chính của Padmasambhava tái sanh là đức Dudjom Rinpoche
; Dilgo Khyentse Rinpoche – hiện thân của Văn Thù và vị Phật
sống, đức Gyalwa Karmapa thứ mười sáu. Về sau, những vị
lama này, cũng như những vị khác Tai Situ Rinpoche, Pema Norbu
Rinpoche, Sakya Trichen, và Dzigchen Rinpoche yêu cầu tôi làm Khenpo
hay giáo sư tại các tu viện của ngài, để giáo dục tăng
chúng và huấn luyện để thành khenpo trong các trường.
Tôi
vẫn cầu nguyện thường xuyên đến hai mươi lăm đạo sư
gốc này, các vị đã cho tôi mọi sự tôi biết và tôi có.
Cho dù người ta biết hàng trăm ngàn người tuyệt hảo –
hay hàng trăm ngàn người xấu – thì tsawai lama hay guru gốc
của mình vẫn là người quan trọng nhất trong cuộc đời.
Thật ra, cái thực sự làm tôi kinh ngạc nhất không phải
là các vị thầy của tôi, mà là giáo lý của Đại Toàn Thiện
tự nhiên, Dzogchen : đó thật là sự lạ lùng kỳ diệu, thần
tình và không thể quan niệm nhất trong kinh nghiệm của tôi,
và là cái tôi biết ơn nhất. Tôi không thể diễn bày nổi
sự biết ơn đối với các vị thầy, các vị đã ban cho tôi
những giáo lý. Tôi cố gắng làm tất cả những gì tôi có
thể để đền đáp lòng tốt của các ngài bằng cách truyền
nó cho những người khác, bất cứ nơi nào tôi đã ở. Vì
tôi thực sự tin rằng chính cái này, và chỉ cái này là lợi
lạc sâu thẳm nhất.
Tôi
đã sống ở Ấn Độ một mình hai mươi lăm năm, không gom
chứa vật gì, chỉ là một người già đơn độc, đôi khi
đi dạo quanh với y áo kiểu lama Tây Tạng màu đỏ, đôi khi
trong màu vàng cam hay màu vàng khất sĩ hay chỉ là những mảnh
vải quấn. Đôi khi tôi thuyết pháp trong những tu viện. Tôi
cũng có khi ở với những nhà khất sĩ ở Rishikesh và Haridwar,
dọc sông Hằng, trong các tự viện, lều, mái che, dưới những
tàng cây, bất cứ chỗ nào khi đêm xuống. Biết bao kinh nghiệm
khác nhau như mộng ! Đôi khi tôi được tán dương và hoàn
toàn thoải mái tiện nghi, thường hơn tôi bị bỏ quên và
nghèo đói. Tuy nhiên sự giàu có vô cùng của chân lý và bình
an bên trong chính là Pháp, nó luôn luôn nâng đỡ tôi sống
hạnh phúc. Đôi khi tôi làm lễ quán đảnh cho những hội
chúng lớn, gồm mười hai vị tulku và lama, nơi đó các vị
để một cái bình vàng của lễ nhập môn vào tay tôi và tôi
đặt nó lên đầu của hàng ngàn vị sư. Những khi khác tôi
hoàn toàn nghèo khó, sống bằng tay nuôi miệng trên những
con đường của Calcutta, lang thang lòng vòng ngửa tay xin đồng
xu. Quá nhiều thăng trầm không ngờ nổi, ai có thể diễn
tả cho hết ? Đời sống là như vậy, đầy những quanh co
khúc khuỷu không mong đợi – như huyễn, vô thường, không
chủ định, và không vững bền. Và cuối cùng, tất cả chúng
ta đều chết. Thật là một quang cảnh !
Quá
nhiều những trải nghiệm, ký ức, và suy tưởng khác nhau
– một số tốt và một số xấu – như nhiều loại giấc
mộng khác nhau. Một đêm năm 1959 tôi cùng với bảy mươi
người thoát khỏi Tây Tạng, và một vài ngàn binh lính ngoại
quốc ở trên những ngọn núi chung quanh, tìm kiếm những người
trốn thoát trong đêm tối. Quân lính thình lình khai hỏa, và
đạn súng máy và đạn sáng khắp nơi. Bảy mươi người trong
đoàn, chỉ tìm thấy lại năm người còn sống qua ngày sau.
Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho số còn lại. Nhóm
năm người chúng tôi tiếp tục đi bộ qua Hy Mã Lạp Sơn,
Bhutan, Darjeeling, và Kalimpong – nơi nào có thức ăn, chỗ ở,
và an toàn có thể tìm thấy.
Rồi
tôi sống nơi vùng thấp nhiều năm như một người tỵ nạn,
lưu đày khỏi xứ Tuyết, chen chúc với những người khác
trong những trại tỵ nạn đông đặc, những chuyến xe lửa
ẩm thấp, xin thức ăn trong những đường xá nóng bức và
bụi bặm Ấn Độ. Vài năm sau tôi không ngờ lại thấy mình
vượt qua đại dương trong những chiếc phản lực khổng lồ,
lên xuống dọc chiều dài của những ngôi nhà chọc trời
như cây kim vĩ đại trong những thang máy điều hòa không khí
ở những đô thị lớn của thế giới hiện đại, ngủ trong
những khách sạn lớn trên nệm dày của những căn phòng hiện
đại, ăn trong những nhà hàng và những hàng hiên ngập nắng,
được phục vụ như một ông vua.
Trong
những năm đầu thập niên bảy mươi, tôi bị một cơn bệnh
suýt chết. Một số người nghĩ rằng tôi bị trúng độc
trong một hiệu ăn ở Kalimpong. Hệ thống thần kinh của tôi
bị tê liệt ; tôi hoàn toàn là một phế nhân trong vài năm.
Trước đó, tôi đã ban những giáo lý rộng và sâu và những
quán đảnh cho nhiều người, gồm những nhà sư, lama, tulku
và cư sĩ khắp vùng Hy Mã Lạp Sơn. Sau đó tôi không thể
thấy rõ, đi khập khiểng, tay run, và tôi chờ chết. Trong
thời gian khó khăn ấy, tôi được chăm sóc trong tu viện của
Kangyur Rinpoche ở Darjeeling. Kangyur Rinpoche và gia đình ngài
đã chăm sóc ân cần cho tôi. Tôi luôn luôn nghĩ đến họ
với lòng biết ơn và kính trọng sâu xa. Lama Sonam Tobgyal từ
chùa Riwoché là thị giả tin cẩn của tôi trong sáu năm của
thời kỳ ấy, ở Ấn Độ và sau này ở Châu Âu.
Thời
gian sau tôi được đưa đến Thụy Sĩ để chữa thuốc. Tôi
ở hai năm với những người Tây Tạng theo tôi trong cộng
đồng Tây Tạng ở đấy, rồi bảy đến tám năm ngơi nghỉ
trong trung tâm Nyingma ở thung lũng Dordogne miền tây nam nước
Pháp, chỉ thỉnh thoảng mới dạy. Trong bốn năm tôi ở và
dạy trong trung tâm ẩn cư ba năm Chantelouse ở đó cho đến
năm 1984.
Vì
lúc ấy sức khỏe tôi được cải thiện và tôi hoạt động
hơn, đi dạy khắp thế giới, cả Đông lẫn Tây, được những
trung tâm của nhiều dòng phái khác nhau mời đến. Tôi có
hai cuộc viếng thăm Tây Tạng : một lần với đức Khyentse
Rinpoche và một đoàn tùy tùng năm 1990, và rồi với Penor Rinpoche
năm 1992, khi tôi gặp những thành viên gia đình còn ở đây.
Tôi hiện giờ đang làm việc để trùng tu ba tu viện của
tôi và xây dựng vài bệnh viện ở Kham. Tôi hiện ở Thimpu,
thủ đô của Bhutan, xứ sở Phật giáo độc lập cuối cùng
còn lại trong dãy Hy Mã Lạp Sơn.
NHƯ
MỘT GIẤC MỘNG, NHƯ MỘT ẢO ẢNH
Có
phải cuộc đời giống như một cuốn phim hay một giấc mộng,
như một chuỗi giấc mộng ở trong ảo ảnh như mộng bao la
? Làm thế nào để nhớ hết những màn khác nhau tất yếu
lộ ra từ thời gian từ lúc tôi là một đứa bé tinh quái
nhỏ con thất học cho đến bây giờ, khi tôi đã là một người
lang thang đã già và lắm mồm với tóc bạc, kiếng lão và
nếp nhăn ? Thật là một điều lạ lùng ! Già và còng. Một
cảnh tượng ! Một du khách Tây Tạng đã già, mờ mắt nhìn
ngó chung quanh ở những miền đất ngoại quốc ! Emaho ! Lạ
lùng ! Kỳ diệu !
Làm
sao để giải thích những thất thường vô cùng của trải
nghiệm, trừ phi xem tất cả là những công việc của luật
nhân quả nghiệp báo không sai chạy ? Và ai tạo ra nghiệp
này, ngoài chính chúng ta ? Khi chúng ta nhận thức rằng chúng
ta tạo ra nghiệp của chính mình, và do đó chịu trách nhiệm
về sự trải nghiệm riêng của chúng ta, tốt lẫn xấu, ưng
ý và không ưng, có phải cái nhìn soi suốt này giải phóng
chúng ta khỏi bực tức và thất vọng, thấm nhuần một ý
nghĩa của tự do và trách nhiệm, cũng như lòng từ bi đối
với những ai khổ đau vì thiếu vắng một tỉnh giác như
thế ?
Hẳn
là chẳng có ý nghĩa gì với tôi khi nói về cuộc đời này,
nhưng nó nhắc lại cho tôi tất cả giáo pháp thiêng liêng
mà tôi đã thọ hưởng – một nguyên nhân đích thực cho
sựï hưởng thụ trong những màn ồn náo rộn ràng này. Pháp
đến trong nhiều hình thức, nhưng tất cả đều có một vị
đơn nhất của bình an
vĩ
đại.
Thật
ra tôi chỉ là một con người tầm thường ; sự quan tâm duy
nhất của tôi là phụng sự, giúp đỡ những người khác
và phụ vào việc duy trì truyền bá Pháp. Tuyệt đối tôi
không có công việc đăïc biệt nào để làm, nhưng tôi cảm
thấy bởi vì Phật giáo đã giúp tôi quá nhiều trong cuộc
đời này, nên tôi rất sung sướng khi giúp đỡ bằng cách
đưa chính kinh nghiệm của tôi cho bất kỳ ai thích thú với
Pháp. Tôi hy vọng trong tương lai, Pháp cao cả, những giáo
lý giải thoát, sẽ nở rộ và làm lợi lạc cho mọi người
dù họ là ai ở bất kỳ nơi đâu. Tôi không phải là một
dịch giả, nên tôi không thể nói với người Tây phương
trong ngôn ngữ của họ ; tôi chỉ cố gắng trình bày Pháp
trong mọi cách tốt nhất mà tôi có thể làm.
Tôi
vui sướng khi thấy nhiều người Tây phương cũng cảm xúc
khi thấy Pháp là lợi lạc, quan trọng và thâït sự ơn ích
như thế nào. Đó là cái duy nhất mà tôi thực sự biết trong
cuộc đời : những công đức tuyệt vời của Phật pháp.
Bởi thế tôi cũng hoan hỷ thấy rằng người khác cũng cảm
nhận như thế, và tôi biết rằng nếu họ áp dụng nó trong
thực hành cụ thể, với sự soi chiếu vào trong, họ sẽ có
thể rút ra lợi lạc từ những giáo lý sâu xa và ý nghĩa
này. Không vĩ đại sao khi thấu hiểu cái Tự Biết độc nhất,
trị bá bệnh này nó giải thoát và giải phóng mỗi một và
tất cả, thay vì cứ tiếp tục trong sự theo đuổi không cùng
vô tận những hình thức của cái biết, mà không có cái nào
trong ấy có lợi lạc tối hậu cho mình và cho người ?
Ngay
trên những ga xe điện ngầm ở Paris và London tôi đã thấy
những người – họ không phải là Phật tử – mà những
khả năng tâm linh đã sắc bén để có thể làm cho họ trực
tiếp nắm lấy nội dung chân thật của Pháp bất nhị, nếu
họ chỉ cần được giới thiệu với nó bởi một vị thầy
đủ phẩm chất. Khi giây phút của Đại Toàn Thiện xảy tới,
à, nó đấy ! Đó không phải là vấn đề văn hóa hay nghiên
cứu ; mà là hấp lực tâm linh và sự chín thành nghiệp quả
của mỗi người.
Những
ngày hôm nay tôi phấn khởi được gặp các người thực hành
Pháp của Tây phương, họ thành thực tìm kiếm hiểu biết
kinh nghiệm đích thực và không bằng lòng với chỉ những
nhạt nhẽo vô vị và sự kiện tôn giáo bên ngoài. Đấy là
những người mong muốn và thiết tha phóng mình sâu vào trong
chính họ, để học và hành những giáo lý, thậm chí làm
những việc hy sinh, để nỗ lực trong sự trau dồi tỉnh giác
tâm linh. Chẳng phải là Pháp ở khắp mọi nơi sao ? Chẳng
phải là không có nơi nào khác để tìm kiếm và thấy ra nó,
chỉ trừ trong chính mình, trong tâm và lòng của chính mình
sao ?
Như
terma sadhana tối thượng Longchen Nyingthig Guru Yoga, Tigle Gyachen
của Jigme Lingpa bắt đầu với :
Không
chư Phật không chúng sanh, vượt khỏi có và không có,
Bản
thân tánh giác bổn nhiên là guru tuyệt đối, chân lý tuyệt
đối.
Bằng
cách an trụ tự nhiên, vượt ngoài bám trước, trong Bồ đề
tâm vốn sẵn tự do và bẩm sinh toàn thiện này,
Tôi
quy y và làm lộ bày Bồ đề tâm tuyệt đối.
Một
Vidhyadhadra hay đạo sư rigpa như Rigdzin Jigme Lingpa đã thực
sự chứng ngộ Phật tánh qua con đường Đại Toàn Thiện.
Bấy giờ, dù chưa từng học nhiều, bởi vì luân xa trí huệ
của ngài nở bừng trọn vẹn, ngài có thể tự phát viết
ra những bình giải vô giá, hát những bài ca giác ngộ doha
rạng ngời, phát giác những terma quý giá của Longchen Nyingthig
bằng sự phát hiện huyền bí, và chỉ dạy rộng rãi, soi
sáng con đường chúng ta đi cho tới tận ngày nay, ba thế kỷ
sau đó.
Cá
nhân tôi không đạt đến Phật tánh và tôi không biết tôi
sẽ ở đâu trong tương lai, trong đời này cũng như trong đời
tới. Nhưng đấy thực sự không phải là vấn đề, hoàn toàn
không ! Dù gì cái xảy ra, cứ xảy ra. Tuyệt đối không có
cái gì để phải quan tâm. Tôi chỉ cảm thấy biết ơn những
vị thầy của tôi, biết ơn giáo lý và biết ơn đức Phật,
và tôi mong muốn rằng tất cả đều có thể tham dự vào
nguồn ban phước này, những công đức này, nó thực sự thuộc
về tất cả không trừ một ai. Bởi thế tôi liên tục cầu
nguyện rằng tất cả chúng sanh có thể tạo nên sự tiếp
xúc, kết hợp tốt lành này, qua bất kỳ phương tiện gì
lợi lạc và thích hợp.
Nguyện
tất cả chúng sanh thức tỉnh trong ánh sáng của Đại Toàn
Thiện vốn sẵn và thực hiện tự do, an bình và mãn nguyện
toàn hảo !
Sarva
mangalam ! Nguyện mọi sự đều tốt lành toàn thiện, và nguyện
hòa bình có trong thế giới này và phổ khắp toàn thể vũ
trụ.