ĐẠI TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI  CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
CHIỀU THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
TU VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
ĐẾN VIỆT NAM:
TIN TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
NỘI DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

TIN TỨC

& chuyến đi Việt Nam  của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007

ĐƯỜNG  VỀ  BÁT  NHà
Minh Mẫn

2 giờ sáng ngày 12 âm lịch, tháng giêng, năm con Heo, vào ngày 28/02/07, đoàn  người tham dự khóa tu  tại Bát Nhã, Bảo Lộc cho cư sĩ, đã trú qua đêm tại chùa Pháp Vân. Đồng loạt thức dậy, chuẩn bị cho chuyến hành trình Tâm Linh.

Tuy chùa nằm trong thành phố, nhưng về đêm thật yên tĩnh; trên sân thượng, gió lộng bốn bề.Một vài người không ngũ, suốt đêm rù rì tâm sự. Hơn 3 giờ sáng, tất cả lũ lượt kéo nhau xuống lầu, tràn ra cổng, tìm xe theo phiếu chỉ dẫn. Chiếc xe thứ 12, mãi đến 6g mới lăn bánh, vì phải chờ đón một số khách đến trể, nguyên nhân, lúc đầu hàng trăm người đăng ký tại Bát Nhã, đi tự túc,  Ban tổ chức xét thấy bất tiện, vì từ Bảo Lộc vào chùa không có xe lớn, nếu xe ôm thì không đủ cho hàng trăm lượt người, như thế sẽ không kịp thời khoá, vì thế tổ chức khởi hành tập thể  tại Pháp Vân, lăn bánh lúc 4g sáng thay vì 6 g như đã định, để khỏi kẹt xe trong thành phố, một số người không nhận được tin, một số đăng ký tên mình, lại để người nhà đi, hoặc bạn bè mang tên khác, vì thế BTC khó kiểm soát, có ngưới đến trể, phải dồn người xe sau lên cho đủ chuyến để chạy, cứ thế, những trục trặc ngoài dự tính đã làm trở ngại hết mấy giờ, nhưng ai cũng hoan hỷ. Ra đến nghĩa trang liệt sĩ, khỏi Suối Tiên, đậu thêm một giờ nữa, khách đi trể phải thuê Taxi đuổi theo. Có lẽ, lần đầu tiên tổ chức đưa đón số lượng 600  người tại TP như thế, nên thiếu kinh nghiệm. Mọi người thầm nghĩ – liệu Bát Nhã tiếp đón trên 5000 người có được chu tất chăng!

Về đến Blao, đúng 12g cùng ngày,theo sự chỉ dẫn của các anh chị Tiếp Hiện, xe số 1 đến số 6, dùng cơm tại Bát Nhã, xe số 7 đến 12 ăn trưa tại chùa Phước Huệ; một ngôi chùa vào năm 1969, tôi từng dạy học tại tỉnh hội, TT Huệ Giải là Chánh Đại Diện GH  lúc bấy giờ, gần 40 năm xa cách, nay trở lại, chùa xây dựng quy mô hơn, nhưng có vẻ hiu quạnh quá. Tháp của thầy Huệ Giải như một chứng tích vô thường, nằm trước sân; phía sau hậu liêu, thấp thoáng vài vị tăng xa lạ. Sát vách rào chùa, ngôi nhà thờ cũng vươn mình đội cây Thập ác cao hơn nóc chùa một tí. Trên con đường vào thị xã Bảo Lộc, qua Đại Lão, thỉnh thoảng vài ngọn đồi mọc lên  thập tự giá hoặc  tượng Thánh như xác định lãnh thổ mà trước 1975 chưa có mặt. PG hay các tôn giáo khác chưa có dấu hiệu phát triển nơi đây. Sinh hoạt thành phố Blao vẫn trầm lặng như thuở nào, tuy dân cư có nới rộng quanh vòng đai ở Damb’ri, Damb’ rong…

Vào  đến Bát Nhã hơn một giờ trưa, không gian thoáng đảng, đồi thông thoai thoải  nối dài diện tích chùa mà 30 mẫu như chưa đủ chứa số người tham dự. Không khí dể chịụ. Từng gốc thông, đều có bóng người, vì trong chánh điện, trong thiền đường, vỉa hè nhà Tăng đều không đủ cho người cư trú.Từ các tỉnh phía Bắc đến các vùng miền Tây, miền Đông Nam bộ đều có người đáp xe  đến tham dự khóa tu.

Năm 2005, khi sư ông về thăm quê lần đầu, nơi đây vẫn còn hoang sơ, cơ sở vật chất chưa có gì để nói, nhưng khi Thiền sư Nhất Hạnh chấp nhận  sự phát tâm hiến cúng của TT Đức Nghi, tọa chủ nơi đây; cơ sở bắt đầu phát triển, xây dựng đồ sộ, đủ chổ cho sư ông và đoàn Tăng Thân về lưu trú.

Khóa tu cho cư sĩ, lần đầu tổ chức tại đây, phòng ốc chưa xây kịp, không thể đáp ứng nơi ăn chốn ở cho gần 6 ngàn người trong nước lẫn ngoài nước về tham dự. Ngôi Thiền đường còn thơm nước sơn, nền gạch men chưa đậm vết chân người, được xây vội vả về đêm cho kịp khóa tu, nhưng địa phương cũng đã giúp đỡ  công trình sớm hoàn tất  trước thời hạn giấy phép được cấp.

Những ông bà cụ các tỉnh quê, nhất là phía Bắc và miền Trung, có vẻ thích thú mãn nguyện trước không khí trang nghiêm của Thiền môn mà những chùa  địa phương không có được;

Những Phật tử nước ngoài tỏ ra thuần thành, thú vị khi gác bỏ mọi chuyện hơn thua tất bật trong xã hội công nghiệp, về hòa nhập sinh hoạt tập thể có nề nếp, có ý thức, mà pháp tu giúp cho họ cảm nhận được an lạc hiện tiền.

Các sinh viên, giới trí thức như tìm được lối ra mà kiến thức học đường, kinh nghiệm công sở là vòng lẩn quẩn bế tắt, lạt lẽo, vô vị của đời thường.

Một số phóng viên, ký giả đã bám được của lạ để truyền tải thông tin, báo hiệu một hiện tượng thông thoáng trong sự cởi mở về tự do hành đạo mà xã hội đang tiến bộ

Nhiều người gia cảnh eo hẹp, làm ngày nào, ăn ngày đó, thế mà tự động ngưng việc, bỏ nhà, hối hả tham gia khoá tu. Có cả công nhân viên chức xin nghĩ phép,  tham dư

Bát Nhã như tiếng gọi Tâm Linh mà những tâm hồn tin Phật, ham tu, đều được thỏa mãn niềm tin; Những người đi xe con lên tận sân chùa, bỏ xe vào một góc, hòa nhập vào dòng người xa lạ, nhập chung một đại gia đình,họ quên bẳn những tiện nghi đời thường, kẻ hầu người hạ nơi chốn giàu sang, ở đây, họ ăn chay, nằm đất, lây lất vỉa hè, không mùng mền chiếu gối,chịu cái lạnh vùng cao nguyên về đêm, gió  núi từng cơn lùa qua da thịt hàng ngàn người vui vẻ mỉm cười trong giấc ngủ với chiếc áo lam mỏng manh.

Tiếng kẻng báo cơm, đoàn người lũ lượt bốn hướng, chẩm rải bước đi trong chánh niệm, tiến về các dãy bàn  bày sẳn thức ăn tự chọn, đặt dưới bóng mát hàng thông, sắp hàng đến lấy thức ăn  û, tìm đến các gốc cây, ăn trong chánh niệm.

Các cư sĩ nước ngoài, gồm nhiều quốc tịch, có vị là bác sĩ, tiến sĩ, giáo sư, thương gia, chuyên gia, cũng mặc áo dài lam, từ tốn bước đi, tay cầm bát cơm,  hòa lẫn  mọi người, ngồi rải rác dưới bóng cây, nhập cùng mây ngàn tận hưởng thiền thực. Trông họ sinh hoạt thuần thục hơn những người bản xứ  tham dự khoá tu lần đầu.Họ đã theo sư ông và tăng đoàn tu tại làng Mai và du hóa khắp nơi, nhiều năm.

Các sư mắt xanh mũi lỏ cũng đẩy xe cơm phục vụ đại chúng, có người ngẩm nghĩ cười thâm: Đời sống vật chất đầy đủ của Tây Phương không muốn, lại muốn đầu trần chân đất, ăn chay đạm bạc, tiền không giữ, tư trang không có, theo Thiền sư VN, về VN, chấp lao phục dịch cho người VN tu tập trên mãnh đất VN xa lạ..

Ngày thứ 2 của khóa tu, dòng người các nơi tiếp tục đổ về mà không cần đăng ký, vì Ban tổ chức khóa sổ khi số lượng đã lên trên 2 ngàn người, vì ngại rằng không chu cấp đầy đủ cho người tham dự, nhưng mọi người vẫn tiếp tục tự nguyện đến với đạo tràng Bát Nhã.Nhà bếp được báo khẩu phần đã lên đến 6 ngàn.

Từ 2g sáng, quý thầy, quý cô và một số Phật tử đã lo nấu điểm tâm cho  khóa sinh. Nhà bếp do chúng thường trú Bát Nhã phục vụ; Ngoài tiếng động cơ xe tải lương thực, và tiếng gió núi đại ngàn. Không còn nghe tiếng động nào khác của 6 ngàn người hiện diện. Từ nhà bếp đến khóa sinh làm việc trong im lặng, cần thiết để trao đổi, chỉ nói thật nhỏ vừa đủ nghe. Người đang chấp lao phục dịch hay đang đi, khi nghe tiếng chuông, tất cả ngưng lại, theo dỏi hơi thở, nhiếp tâm vào thân, đó là pháp thực tập để an tâm giúp người tại gia hạn chế nhiều chi phối. Có người bảo: Pháp tu của Thiền sư Nhất Hạnh là ngoại đạo, không có trong Nykaya, không nói đến Nhân Quả, đến Bát Chánh Đạo…Nếu không Nhân Quả thì tu làm gì, một pháp hành đem lại an lạc và nhiếp tâm thì cần gì phải nói đến Bát chánh Đạo hay dùng từ Nhân quả; Một minh sư không chỉ truyền đạt nguyên xi lời Phật dạy mà còn biết chế tác  một pháp hành  trên căn bản giáo lý, thích ứng với trình độ, căn cơ của thời, xứ mà giáo hoá, vì mỗi pháp thích ứng cho một thời đại tuy giáo lý thì vĩnh hằng.

Sau buổi điểm tâm, làng Mai hướng dẫn khoá sinh nghi cách sinh hoạt khóa tu, chia từng nhóm gọi là gia đình, có tu sĩ  làng Mai hướng dẫn, đi Thiền hành và xướng tụng Bồ Tát Quán Thế âm, cách buông thư, theo dỏi hơi thở…

Ai có về Bát Nhã mới thầy công đức to lớn của TT Đức Nghi, người khai sáng ngôi Già Lam nầy; Khi Bát Nhã còn là ngôi thảo am, ngài dấn thân vào cùng đồng bào sắc tộc, độ cho hơn chục em xuất gia tu học, mở trên 26 cơ sở giữ trẻ, lớp học dạy miễn phí cho đồng bào nghèo và con em sắc tộc.tại các buôn làng, thầy trả lương cho giáo viên và người làm công tác từ thiện, sau nầy làng Mai cũng bổ cử các sư cô về hổ trợ trong việc dạy dổ. Thầy là gương sáng trong công tác từ  thiện của Bảo Lộc, được địa phương tán thán ghi nhận.

Khi Bát Nhã biến thành trung tâm tu học theo pháp môn của Thiền sư Nhất Hạnh, Bát Nhã đã thâu nhận trên 300 tăng ni thường trú, Thiện nam tín nữ khắp nơi thường lai vãng tham bái; có tận mắt chứng kiến những công trình xây dựng, tuy không bề thế, nhưng không ít khó khăn từ buổi đầu, và còn vô số việc trước mắt đáp ứng mọi nhu cầu tương lai cho một làng tu, song song với  công việc từ thiện cho quần chúng, mới thấy được tâm chất của một bậc luôn hy sinh vì lợi ích cho mọi người. Vừa đôn đốc  công việc tại nội viện, vừa có mặt thuờng xuyên trong các buôn sóc, vừa chăm bón nội lực tự thân, phải nói rằng, hiện nay, tìm được vị chân tu như thế  quả rất hiếm.

Bát Nhã đang vào mùa tu cho Phật tử tại gia, chư tăng  làng Mai hướng dẫn cư sĩ sinh hoạt thường nhật trong chánh niệm, chuyển hoá không nhỏ cho những nội kết tự thân, mắc mứu với quan hệ xã hội cũng như gia đình, giúp vô số người tham gia khóa tu, có một lối thoát nhẹ nhàng trong cuộc sống, mà không phải chôùi bỏ, trốn chạy cuộc đời, và có một hướng đi ý nghĩa của đời người, trở thành người tốt cho gia đình, người gương mẫu cho xã hội, người hữu ích cho đất nước và một người có đạo đức đúng nghĩa không cần danh xưng tôn giáo .

Bát Nhã thật sự đã có chổ đứng trong cộng đồng dân tộc chỉ một thời gian chưa tới 2 năm. Về đến Bát Nhã, người ta vững tin rằng- không chỉ năm hay sáu ngàn người mà hơn thế nữa, vẫn có thể chu tất trong tương lai, khi mà cơ sở vật chất được tiếp tục xây dựng, không phải ăn bờ ngủ bụi mà còn được tắm mình, đượm nhuần trong pháp hành an lạc hiện tại trong từng bước đi, vật chất và tâm linh sẽ di vào biển  Trí Tuệ Bát Nhã.Sau khóa tu 5 ngày cho cư sĩ, là lể Hoa Hồng báo ân cha mẹ, Khất Thực Cổ Phật và khoá tu dành riêng cho tu sĩ đã được trên hai ngàn vị đăng ký.

Khí hậu, cảnh quan và tình người hoà cùng Bát Nhã xuân Đinh Hợi 2007 đi vào tâm khảm  khoá sinh một cách ấn tượng,thật tuyệt vời.

Minh Mẫn
O1/3/07

LỄ BÔNG HỒNG CÀI ÁO 

Ngày cuối của khóa tu cho cư sĩ, 4/3/07 ( 16/1/ Đ.Hợi ) tại tu viện Bát Nhã, lễ cài Hoa Hồng diễn ra tại Thiền đường lúc 9g sáng.

Tất cả đều có mặt trong Thiền đường từ rất sớm; một số em Phật tử phân phát hoa cho cư sĩ trước, vì số lượng người tham dự hôm chủ nhật lên đến 10 ngàn. Sinh viên học sinh, công chức, tiểu thương…rất nhiều thành phần trong xã hội đã tranh thủ tham dự lễ vào ngày chủ nhật; người dân quê gương mặt khắc khổ, tay chân khô đét, bộ đồ tươm tất nhất vẫn còn dấu vết lao động nơi đất ruộng phèn chua, tại địa phương hay các vùng Hà Bắc, Nam Ninh, tuyến đầu tổ quốc đến tận mũi Cà Mau; họ tự động rũ nhau thuê xe cùng đi, có người trốn gia đình, tay bế con nhỏ, tranh thủ tìm một góc sân, treo võng  để con nằm, nhét núm vú giả  đưa bé vào giấc ngũ thơ, để mẹ yên tâm lắng nghe từng lời giảng của sư ông vọng ra trên loa thùng, đặt ngoài hành lang Thiền đường.

Tuy số lượng người tự phát như thế, nhưng rất trật tự và im ắng; Bắt đầu cho bất cứ buổi lễ nào, sư ông cũng hướng dẫn theo dõi hơi thở, khởi xướng đãnh lễ Tam Bảo, lịch đại Tổ sư.Lễ cài Bông Hồng là lễ không những tưởng nhớ ân sanh thành dưỡng dục của Mẹ Cha, còn ghi nhận công ơn thầy tổ, bạn hữu tri thức, quốc gia thủy thổ, đặc biệt là môi trường sống, tất cả mọi loài! Với tinh thần tri ân của người Phật tử như thế, làm sao có thể làm khổ và chống đối nhau, phải chăng những vu vạ bêu rếu vu khống sư ông  cũng  đã giúp làm nổi bật tinh thần Từ Hòa đó, thuận duyên, nghịch cảnh đều vận hành theo lý Duyên khởi của nhà Phật, và biết đâu, cũng từ chống báng của những người yêu nước đứng ở góc độ cực đoan, đã giúp cho nhà nước VN hiện nay tốt đẹp, hơn là những kẻ dua nịnh. Với giáo lý nhà Phật như thế, tất cả đều là Thiện Hữu tri thức, cần phải biết ơn! (Click hình bên xem hình lớn hơn)

Thiền sư T. Nhất  Hạnh kể lại nguyên nhân có lễ cài hoa tại phương Tây, từ đó, tại Medford, năm 1962, Ngài viết một bài về Mẹ, nói lên giá trị Tình Thương của Mẹ và về Mẹ, khuyên tất cả hãy trân quý tình Mẹ, khi còn Mẹ, và một cảm xúc của người mất Mẹ, Ngài nói: 

Năm xưa tôi còn nhỏ
Mẹ tôi đã qua đời
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận trẻ mồ côi.
Quanh tôi ai cũng khóc
Im lặng tôi sầu thôi
Để giòng nước mắt chảy
Là bớt khổ đi rồi…
Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời!

Một đoản văn khác về cha, nói lên nổi cơ cực nhọc nhằn của cha, dầm sương đội nắng để nuôi gia đình, gửi gắm hy vọng và tình thương nơi con, nhưng  giòng lệ nóng  đã ngấm vào lòng khi cha mẹ gặp phải đứa con ngổ nghịch bất hiếu…

Bên dưới, nhiều khóe mắt rướm đỏ, không riêng phụ nữ, nhiều ông cũng lấy khăn chặm nước mắt. Đây là lần thứ hai chúng hội  xúc động, buổi vấn đáp tối qua, một tu sinh đã giải bày nổi bức xúc với thái độ thiếu cảm thông với mẹ, hai mẹ con và chúng hội cùng thút thít khi nội kết được giải toả, sinh khí gia đình được làm mới, tái lập cảm thông; Lễ cài Hoa hôm nay, xác định ân trọng đối với muôn loài, gần gụi nhất là mẹ cha mình.

Hợp xướng Bông Hồng Cài Áo được Tăng Thân Làng Mai trình bày, lời thơ Nhất Hạnh, nhạc Phạm thế Mỹ; một nhạc bản nổi tiếng, có giá trị vượt thời gian, và tạo niềm xúc cảm vào mùa Vu Lan trên đất nước ta nhiều thập niên qua; hai hàng tu sĩ nâng hoa tiến về chư tôn đức, từng cánh hoa trắng đỏ đã nở trên mãnh áo dà, thấm vào huyết quản của những người hiện diện. Hoa trắng , màu tang tóc cho những ai mất mẹ, hay là một tình thương tinh khiêt trắng trong dành cho đấng sinh thành đã khuất. Màu Hồng, màu kiêu sa hãnh diện khoe sắc cho những ai mẹ cha vẫn còn có mặt trong đời, thế nhưng, Thiền sư Nhất Hạnh vẫn chọn cho mình cánh hoa màu Đỏ thắm, tuy mẹ cha đã khuất núi lâu rồi, bởi vì, từng tế bào trong Ngài, vẫn là mạch sống huyết thống lưu diễn của ông bà cha mẹ, cha mẹ vẫn có mặt trong Người qua từng hơi thở, nhịp đập con tim, đó là sự có mặt thường hằng, sự tồn tại miên viễn của tình thương và ân nghĩa;

Tiếng sáo đệm cho lễ cài hoa qua nhạc bản Bông Hồng Cài Áo, Lòng mẹ, tạo một sinh khí đầm ấm, cảm động và nghệ thuật; Cả hội chúng, ánh mắt, nụ cười và giọng nói trao nhau như phưởng phất cái gì cảm thông, êm dịu và biết ơn!

Tiếp theo chương trình, sư ông và đại chúng tiến ra sân, đối diện Thiền đường, cách hơn hai trăm mét là công viên Bông Hồng, một biểu tượng hoan hỷ của những người con tung tăng bên chân mẹ, vì em còn mẹ; một tác phẩm sinh động lớn bằng người thật, đứng trên đế cao, giữa vườn hoa, núi đá và hồ nước, dưới bầu trời thoáng rộng giữa đồi thông, một áng mây trắng vờn qua điểm tô sắc xám bức tưuợng thêm duyên dáng, mẹ VN. (Hình bên tượng bông hồng - Click xem hình lớn hơn)

Sư ông, TT trụ trì và chư Tôn Đức hiệp tâm chú nguyện khánh thành công viên Bông Hồng, quan khách và tu sinh vây quanh chiêm ngưỡng, dưới cái nắng cao nguyên, đủ xóa tan sương lạnh của đêm; rải rác dưới cội thông, trên đường mòn, thấp thoáng các tăng thân thanh thản thiền hành, các tu sinh đàm đạo; cảnh thanh bình hay cỏi Tịnh Độ được thiết lập, bầy chim rừng lãnh lót thi đua với hồi chuông tỉnh thức nhắc nhỡ hành giả trở về với hơi thở và bước chân!

Sau 5 ngày tham dự khóa tu, mọi người như thâm nhập được lối truyền thông với xã hội, như cảm thông với huyết thống và tâm linh, tất cả hòa một, mình là tất cả, tất cả là mình, một sự thẩm thấu sâu xa, cơ sở phát triển tình thương và hiểu biết.

Lể cài Bông Hồng để kết thúc khoá tu mang một ý nghĩa tạ ơn vạn loại, nhắc nhở người tham dự một sự biết ơn để hoá giải mọi mắc mứu trong cuộc sống, vì tất cả đều là ân nhân của chúng ta trên tinh cầu có nhiều quan hệ ràng buộc lẫn nhau, vì thế cần phải Hiểu và Thương, đó là con đường của hòa hợp và an lành.

Những ngày sau cùng khóa tu, lượng người đổ dồn về quá đông, mỗi ngày  phải hơn 10 tạ gạo, chưa kể điểm tâm sáng, các lò bánh mì  ở Blao,  sáng hôm nay không đủ cung cấp ngoài thị trường, xe tải lương thực cho tu viện phải túc trực tại các lò từ 4g  khuya, vậy mà, buổi cơm trưa cuối cùng, một số tu sinh phải ra ngoài tiệm, vì ngày hôm trước, cơm không nấu thêm kịp, các thùng mì gói cũng sạch nhẵn, mọi người nhường nhau một các vui vẻ; 

Một khoá tu không những tạo sự thân thiết cho người đồng tộc, ngay cả  người Tây phương, người Thái, người Nhật, Đài Loan… có mặt trong pháp hội cũng cảm nhận được mình là con chung của đấng cha lành.

Bài của Minh Mẫn
04/3/07

Bài Đọc Thêm:

Tu Viện Bát Nhã:
http://www.thuvienhoasen.org/cvn-lamdong-batnha.htm

.

SÁU NGÀN NGƯỜI DỰ LỄ XUẤT GIA CỦA 77 GIỚI TỬ 
TẠI TU VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG 
Minh Mẫn

Sáng ngày 4/3/07 tức ngày 15/01/ Đinh Hợi, nơi núi đồi, vạn vật còn co mình say ngủ trong sương đêm, tu viện Bát Nhã diễn ra một buổi lễ Xuất gia cho 77 em, trong đó có cả các em sắc tộc, từ nhiều nơi đến.

Khoá tu 5 ngày dành cho cư sĩ bắt đầu từ ngày 12  tháng giêng âm lịch, nhân chuyến hoằng pháp lần thứ hai của sư ông Nhất Hạnh về quê hương. Trên 6 ngàn người được ghi nhận vào ngày thứ ba của khóa tu, những ngày đầu  sư ông và tăng thân làng Mai hướng dẫn  thực tập chánh niệm, nếp sống tỉnh thức, các buổi pháp thoại, chia nhiều nhóm sinh hoạt mang tính cách Gia Đình trong những bữa ăn, dưới các táng tùng, thông, rãi rác trong một diện tích thông thoáng giữa gió nội chim rừng. Các thành viên chia xẻ nhau những tâm tư, tình cảm, những mắc mứu gia cảnh, để giải tỏa hầu thăng tiến trong sự tu tập.

Mới ba giờ sáng, mọi người thức giấc, tuy không có tiếng nói, nhưng âm thanh xào xạc của những bước đi trên sỏi cát, trên lá khô, đã báo hiệu dòng người đổ về thiền đường Bát Nhã. Bốn giờ hơn, trong thiền đường hầu như không còn chổ, người đến sau  ngồi, đứng chung quanh vỉa hè thiền đường, lan ra ngoài sân dưới cái lạnh và sương muối của vùng cao nguyên về khuya. Ban tổ chức phải thiết lập thêm màn ảnh rộng bên ngoài để trực tiếp truyền  tải buổi lễ. Hình như có dấu hiệu mưa nhẹ phía ngoài sân.

Đúng năm giờ, sư ông và chư Tôn Đức, thanh tịnh tăng Làng Mai đều có mặt đông đủ, trong bộ y vàng  trang nghiêm của bậc Ứng Cúng. Sư ông, mở đầu buổi lễ bằng sự thực tập quán sát hơi thở. Thiền đường lặng chìm trong tiếng chuông ngân, vài cơn ho khúc khắc của người bị nhiễm lạnh, không đủ xóa tan bầu không gian tĩnh lặng hùng tráng của Thiền đường. Hòa Thượng chủ lễ niêm hương xưng tán  và đảnh lễ Tam Bảo. Đặc biệt, đại chúng cũng đảnh lễ cả tổ Luật sư  Ưu Ba Li, Tôn Giả Xá Lợi Phất, Tôn Giả Ma Ha Mục Kiền Liên, Ananda, ni trưởng Kiều Đàm Di… và chư tổ từ Thiên Trúc đến VN…

Trưa hôm qua, trong bữa cơm quả đường, lần đầu khóa tu, sư ông tham dự cùng đại chúng để chứng minh buổi lể cáo bạch Tam Bảo của những tín tâm xuất gia, 4 vị một cầm hoa hồng tiến lên cúng dường, cứ thế mà khi số lượng giới tử  hoàn tất, đã nhịp nhàng thanh thảng vòng ra, nhập hàng một cách trật tự, như đã được tập dợt kỹ.

Toàn thể Thiền đường đồng xướng tụng Bát Nhã Tâm kinh  bằng âm Việt; Nghi thức truyền giới Sa Di, Sa Di Ni được khởi đầu bằng sự vấn đáp theo luật nghi Thiền Môn. Bầu không khí buổi lễ nâng tâm thức đại chúng lên tầng số thanh tịnh xuất trần khó diển đạt! Ánh sáng  từ những bóng đèn néon trên trần, tỏa xuống êm dịu, làm tăng vẻ đẹp của đức bổn sư màu gạch nung với vầng hào quang thạch cao trắng toát, hương trầm lan tỏa nhẹ, trang điểm vài chậu cây, chậu hoa trang nhã.

Giới tử đảnh lễ công ơn cha mẹ, công ơn Tam Bảo, công ơn quốc gia thủy thổ, thầy bạn  tri thức, kể cả vạn vật cỏ cây mười phương, một sự tri ân nhiều cảm xúc của bậc mang chí nguyện xuất trần đã làm rung động đại chúng, nâng tầm vóc cao thượng của bậc xuất gia, tăng thêm sự tôn kính của Phật tử tại gia có mặt  trong buổi lễ. Hình ảnh bậc xuất gia trở thành cái gì tôn quý mà thế nhân không thể có. Trong số giới tử phát tâm xuất gia, có những vị lâm vào hoàn cảnh đáng thương, cha mất, mẹ tái giá, ông bà nội nuôi dưỡng, tuy sung túc, nhưng vẫn hướng về Chánh Pháp. Cũng có vị bỏ gia đình đang hạnh phúc, chỉ vì quá sùng phụng lý tưởng của người  xuất gia.

Chư tăng ni tăng thân hộ đàn xướng tụng bài tán Dương Chi, Thanh Lương Địa Bồ Tát, Bồ Tát Quán Thế Âm thật du dương, trong lúc Thiền sư và chư Tôn Đức thân giới sư rãy nước nhành dương lên từng giới tử.

Cạo sạch mái tóc nguyện cho mọi người dứt hết phiền não, vượt thoát cho đời. Cứ thế, thầy xướng ba lần cho giới tử cùng nguyện theo. Tiếp đến sư ông đọc thập giới Sa Di một cách mạnh mẽ và trong sáng tác động vào từng tâm hồn mọi người. Cũng những giới luật đó, sao mà sáng tỏ, thâm thúy, xúc cảm và dể hiểu bằng ngôn ngữ bình dị của Thiền sư. Ôi, những giới luật thâm thúy có khả năng giúp cho người tu vượt thoát mọi đam mê cám dổ. Sau khi giới tử khấn nguyện thọ trì mười giới, 77 vị được hướng dẫn đảnh lễ tạ ơn Tam Bảo, vì biết rằng thân người rất quý, gặp được Tam Bảo là hy hữu, đời người như thoi đưa, mỏng manh, qua mau, không để uổng phí trôi qua một cách vô vị.  Đó là lời sách tấn khuyến tu của thầy Bổn sư truyền giới.

Đẹp thay áo giải thoát, áo ruộng phước nhiệm mầu, con cúi đầu  tiếp nhận, đời đời nguyện mang theo, sư ông xướng cho giới tử đọc, từng bộ y đặt trên tay các vị giới sư,  trao tặng cho từng vị tân Sa Di, Sa Di Ni, thật cảm động và thiêng liêng!

Sư ông đặt Pháp danh từng vị, sau đó đọc kệ truyền thừa tông môn, và các giới tử là đời thứ 43 thuộc Lâm Tế tông.

Buổi lể hoàn tất trong sự tôn kính và đầy xúc động. Tất cả  đồng tụng bài Hồi hướng lể Xuất gia.

Mọi người ra khỏi thiền đường, giới tử còn lại để đoạn lìa mái tóc phiền não, với sự gia trì của chư Tôn Đức, sự chứng kiến của cha mẹ, bà con.

Giờ đây, Xuất gia đã có ý nghĩa : Xuất thế tục gia, xuất phiền não gia, xuất tam giới gia.
Từng giọt nước mắt long lanh trên khóe mắt tân Sa Di, họ vì cảm động, vì tưởng nhớ bao công ơn to lớn của Tam Bảo, cắt đứt mọi liên hệ  tình cảm thế nhân hay khóc vì có người xuất gia trong sự đơn độc, không thân bằng quyến thuộc, giữa rừng người có mặt. Có lẽ đây là buổi lễ xuất gia đặc biệt  hiện dịện trên sáu ngàn người, có chứng minh của Thiền sư Nhất Hạnh va tăng đoàn Làng Mai, trong bầu trời thanh khiết tận chốn  núi đồi xa phố thị Bảo Lộc.

Một tia nắng sớm bắt đầu xoá tan sương lạnh, sáng nay không đi thiền hành mà đoàn người kéo dài hàng cây số như sáng hôm qua, quanh tu viện. Mọi người lặng lẽ tìm chổ ngồi điểm tâm để hồi tưởng lại buổi lể xuất gia trang nghiêm thanh tịnh đầy ấn tượng tại tu viện Bát Nhã.

Một tân Sa Di Ni hãnh diện một hình thái mới, đầu vừa sạch tóc, súng sính trong chiếc áo dài lam, mỉm cười đi ngang mọi người ngồi dưới đất, trong sân tu viện: Em kính chào mấy sư chị.  Có người trong nhóm đáp:  chào sư em, sư em tên gì? Dạ, em là Nguyệt Nghiêm, tiếng nói kéo dài như hảnh diện vì đã bắt đầu gia nhập vào đoàn thể người xuất gia kể từ hôm nay.

MINH  MẪN
4/03/2007

.

NĂM NGÀY CÙNG TĂNG ĐOÀN LÀNG MAI TẠI BẢO LỘC: 
đêm ở Tu Viện Bát Nhã 
Chủ Nhật ngày 04 tháng 3 năm 2007
Bài và hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt

LÂM ÐỒNG - Trọng tâm chuyến về Việt Nam của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh lần thứ hai là các Ðại Trai Ðàn Chẩn Tế Giải Oan những người đã chết trong chiến tranh. Tuy nhiên sau lần pháp thoại ở chùa Pháp Vân, Vĩnh Nghiêm, khóa tu 5 ngày của đoàn tăng thân Làng Mai tổ chức cho đại chúng ở chùa Bát Nhã-Bảo lộc trở thành sự kiện được chờ đón.

Kể từ khi thiền sư Nhất Hạnh rời đất nước, lần đầu tiên sau hơn bốn mươi năm, đại chúng Phật tử nội địa Việt Nam mới có dịp dự và kiểm chứng pháp môn thiền nổi tiếng ở nước ngoài của Sư Ông Làng Mai.

Khóa tu ngắn ngày của đoàn tăng thân Làng Mai

Chúng tôi không được chấp nhận cho đi theo đoàn Phật tử Sài Gòn lên Bảo lộc với lý do là không còn chỗ. Chuyện một nhóm Phật tử dù nhỏ bị từ chối một chuyến đi chùa theo đoàn vào mùa lễ hội sau Tết Nguyên Ðán vốn là một việc hiếm thấy ở Việt Nam.

Chúng tôi đi Bảo Lộc bằng chuyến xe bus của một hãng du lịch, xe rời Sài Gòn chỉ có khoảng 20 người khách, ngoại trừ một số Tây du lịch ba-lô, một hai cặp vợ chồng đi Ðà Lạt hóng mát, trong số khách còn lại, nhìn hành trang mùng mền chăn gối họ mang theo và nghe họ dặn dò tài xế cho xuống ở Bảo Lộc, chúng tôi đoán họ đều là những người hâm mộ Thiền Sư Nhất Hạnh thuần thành, náo nức đi dự khóa tu.

Một người đàn ông trung niên đầu bạc, lông mày bạc, ngồi ở hàng ghế trước mặt tôi nói với người vợ gầy gò của mình: “Tại bà không chịu đọc báo, người ta quảng cáo rằng Việt Nam trong sáu mươi năm qua thầy Nhất Hạnh của mình và ông Võ Nguyên Giáp là người nổi tiếng nhất Việt Nam.” Bà vợ nói: “Vậy không có bác Hồ à.” Người chống gắt: “Cái bà này khờ quá, báo nước ngoài người ta sợ gì Ðảng, cứ xếp theo ý của người ta.” Chúng tôi với tay khều vào vai người đàn ông, hỏi thăm ông về việc làm cách nào để được nhận vào khóa tu. Sau khi được biết chúng tôi gồm có bốn người, anh cười nói: “Tôi có quen, để tôi lo, sở dĩ tôi không đi theo đoàn vì các thầy của mình tổ chức kém lắm, mướn toàn xe cũ, nằm đường hoài nên vợ chồng tôi rút kinh nghiệm bỏ xe đoàn đi xe ngoài cho khỏe người.” Chúng tôi lại băn khoăn về việc làm sao để có một chỗ ăn, chỗ ngủ trong một khóa tu nghe nói tới hàng ngàn người ghi danh, rồi còn nghe nói quanh chùa toàn là đồi đất trống trơn, không quán ăn, không nhà trọ. Người vợ nói: “Anh chưa lên chùa Bát Nhã lần nào à, Trời ơi lớn khủng khiếp lắm! Của Sư Ông hết đó. Bảo đảm khỏi lo đi.”

Tu Viện Bát Nhã nằm trên một ngọn đồi cao giữa chập chùng những ngọn đồi chè xanh ngút mắt. Dân địa phương cho biết, trước đây đời sống được khá hơn nơi khác nhờ xã có khu du lịch thác Ðamb'ri, còn nay Trời Phật lại khiến có chùa Bát Nhã mà dân nghèo ở xã Ðamb'ri được hưởng lợi. Nếu bạn muốn hình dung quy mô về diện tích của tu viện Bát Nhã thì chúng tôi xin kể hầu bạn một mẩu chuyện sau đây. Ông C., một Việt kiều Mỹ, tạm thời gác việc làm ăn ở Sài Gòn, lên dự khóa tu, anh được xếp vào nhóm gia đình ngủ nghỉ ở chánh điện nhà chùa. Sau đêm đầu tiên ngủ ở tu viện, sáng ra sư cô phụ trách hỏi: “Con ngủ có ngon không!” Ông nói: “Dạ, đã là tu nên con đâu màng vật chất, nhưng con lớn tuổi rồi gặp chỗ lạ khó ngủ, lại thêm cái bệnh đêm nào cũng đi tiểu vài lần mà vài lần đi từ chỗ ngủ tới nhà vệ sinh, tính luôn cả thời gian chờ tới phiên mình vậy là trời sáng mất rồi.”

Ngay cổng vào thiền đường Cánh Ðại Bàng, hàng quán của dân địa phương chỉ sau một đêm đã mọc lên để phục vụ khách tu. Không thấy bóng dáng công an mặc sắc phục. Trước cổng tu viện có cả một đội bảo vệ tư nhân làm nhiệm vụ giữ trật tự. Một bà che lều bán cà phê, cơm bún chay, nói giọng Bắc: “Thầy quản chúng rất nghiêm, bảo không được bán rượu bia, thuốc lá. Chúng em chỉ phục vụ người tu nghèo, nhà giàu, giờ nghỉ tu người ta đi thị xã hoặc khu du lịch thác Ðamb'ri chơi hết cả.”

Những mẩu chuyện giữa các bạn đồng tu

Bà T., từng là một cán bộ, tâm sự: “Anh nhà tôi là một cán bộ tập kết, được tổ chức giới thiệu chúng tôi lấy nhau và sinh được hai cháu. Khi đất nước hòa bình được ít năm, tôi xin nghỉ mất sức, rồi đến lúc con chúng nó trưởng thành tôi muốn đi chùa lễ phật để được nhẹ nhàng nhưng chồng tôi nhất định cấm. Anh nhà tôi bảo, tôi là Ðảng viên còn bà thì cứ mê tín, chúng nó trông vào thì còn ra làm sao. Tôi thì không thể không đi chùa được vì phát hiện trong máu trong tim mình nghe tiếng kinh từ kiếp nào đấy. Anh nhà tôi lấy vợ khác, tôi may mà các con nó thương, chúng bảo. Mẹ đúng đấy mẹ ạ, con người mà cứ lý tưởng cái vật chất luôn thì đâu ra con người.” Bà T nói xong rồi òa khóc, có nhiều người phụ nữ từng là cán bộ khác cũng có hoàn cảnh như bà T. Và họ thay nhau nói và khóc.

Vào giờ nghỉ chờ cơm trưa, một cô gái trẻ lại kể với chúng tôi. “Gia đình em ở Hà Nội, bố mẹ đều là công nhân. Trước đây nhà em không biết đến tín ngưỡng, nhưng một hôm em lên chùa Quán Sứ tình cờ đọc được kinh Pháp Hoa, lòng lúc ấy đã quyết đi tu. Tới khi nhìn thấy ảnh của Sư Ông trên báo em biết đây là thầy của mình.”

Và đây là mẩu chuyện của một Việt kiều Mỹ, ông kể cho chúng tôi nghe trong một buổi sáng ở quán cà phê trước cổng chùa. “Tôi về Sài Gòn làm ăn hơn mười năm, nghề của tôi là làm nước đóng chai tinh khiết và chuyển giao các giải pháp kỹ thuật cho các ngành nghề có liên quan đến công nghệ sạch, hai năm đầu bị giật hết một tỷ rưỡi. Năm tiếp theo bị giật hết năm trăm triệu. Tôi hận lắm! Nhờ Sư Cô Chân Không dạy mà tôi coi như đòi được số nợ bị chúng nó giật bằng cách buông bỏ đi. Thật là trước đó giá trị con người tôi không thể đạt tới tầm đó.”

Từng người mang đến cho bạn đồng tu của mình không chỉ những kinh nghiệm tâm linh mà còn là những cảm xúc của hoàn cảnh.

Với đại chúng bình dân, bên cạnh những lời giãi bày rất thành thật về con đường tìm đến với pháp môn của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh thì vẫn còn đó vô số thắc mắc, những thắc mắc mà phải chờ đến tối về nhà nghỉ họ mới to nhỏ với nhau, như, Tu gì mà chỉ thở ra thở vào coi dễ mà mau chán lắm, tu vậy sao mà thành. Không tụng các thời kinh công phu là sai rồi, gì đâu toàn đờn hát giống ở nhà thờ quá. Lúc lạy, nằm mộp lâu như mấy ông đạo Hồi, dị gì đâu...

Ðêm ở tu viện Bát Nhã

Nhờ các bạn tu quen trên xe bus giúp đỡ, chúng tôi được các ni-tăng ở bộ phận tiếp nhận. Chúng tôi được phát một cái thẻ đeo trước ngực, được phân về các gia đình tu. Trên đường hướng dẫn chúng tôi đến chỗ nghỉ, một sư cô trẻ cho biết: “Chùa dự trù chỉ đón một ngàn người, nhưng vì Phật tử lên đông quá nên Sư Ông nói. Phật tử có đăng ký hay chưa đăng ký, họ có lòng đến tận đây tu học, cứ mở cửa đón hết, thành ra bây giờ có cả mấy ngàn người.” Sư Ông trong buổi pháp thoại có nói rằng ban tổ chức cho Sư Ông biết có tới 6,000 người có mặt trong tu viện. Nhưng chúng tôi thường đi coi đá banh ở sân vận động nên theo chúng tôi đại chúng dự tu ước chừng chỉ trên dưới 2,000 người.

Ðại chúng bình dân được xếp nghỉ tạm trong chánh điện, thiền đường, dãy lầu nhà tiếp hiện, chỗ nằm qua đêm lạnh vùng cao nguyên của họ chỉ là trên manh chiếu ni-lông vừa đủ thẳng chân. Ðại chúng khá giả bao gồm cả những Việt kiều không quen ngủ bụi được dành cho một khu phòng riêng. Hơn một trăm tu sinh và người nước ngoài theo sư ông về Việt Nam dự khóa tu thì lại bao hết khách sạn lớn ở thị xã Bảo Lộc, họ vào ra tu học có xe bus đưa đón. Một cặp vợ chồng già ở Sài Gòn tâm sự: “Hồi tui với bả lấy nhau tới giờ chưa từng có chuyện hưởng tuần trăng mật, đi du lịch riêng với nhau cũng không. Ðây là lần đầu tiên vợ chồng tôi xếp lại chuyện chạy kiếm ăn để đi tu chung một chuyến. Ðâu có kinh nghiệm gì đâu mà chuẩn bị áo ấm với chăn mền. Ðêm thấy bả nằm lạnh co rút người mà cứ lo trong bụng ngủ không được.” Một người đàn bà ra dáng giống một Việt kiều, nói: “Sư ông dạy đi, đứng, nằm, ngồi, gì cũng phải an trú trong hiện tại. Lần đầu tiên bà nhà ông đi xa nhà mà được nằm trong chánh điện nhà chùa vậy là bà nhà ông gặp phước báu lắm đó ông ơi.”

Buổi sáng sau giờ ngồi thiền ở thiền đường Cánh Ðại Bàng, chúng tôi hỏi thăm mấy người đàn bà đang mua bắp trái luộc ngoài cổng chùa thì được biết họ là nông dân nhà ở xã Ba Lăm, huyện Hàm Thuận Bắc, họ ghi danh dự khóa tu từ Tháng Mười Một, 2006, và đóng tiền bao xe mỗi người 120,000 đồng. Hai người đàn ông quê ở tận Gia Lai cùng chia sẻ nhận xét. Nhìn cảnh ăn ngủ của mọi người trong khóa tu này sao thấy giống chuyện chạy giặc tản cư ngày xưa. Rồi thay vì thực hành ngay những nội dung được hướng dẫn trong ngày về các bước ngồi thiền thở ra, thở vào... họ ngồi, bùi ngùi nhắc lại chuyện một thời chạy giặc.

Giấc ngủ của hai người đàn ông nằm cạnh tôi đêm đó chắc là đầy ác mộng bởi họ liên tục nói mớ và đập tay xuống chiếu la hét kêu rên những tiếng hoảng loạn. Riêng tôi thì có một đêm không ngủ để nằm nghe tiếng ngáy như sấm vì mệt nhọc, tiếng nói mớ vì ác mộng của những người bạn “cầu đạo” chung phòng. Ðến gần sáng thì có một con ngựa trời có lẽ vì muốn gần gũi với một khoảng không gian ấm hơi người nên bay vào đậu trên cái ba lô của tôi. Tôi không hiểu sao con ngựa trời này không chịu bay đi. Tôi chợt nghĩ hay đó là một vị Bồ Tát hóa thân để chia sẻ với chúng tôi, có lẽ nó biết cái vất vả thể xác của một giấc ngủ, một thoáng ác mộng trong một đêm của chúng tôi là không đáng gì, nhưng dù sao một chút chia sẻ vẫn cứ phát xuất từ tấm lòng từ bi-đại lượng. Ðêm Bảo Lộc vẫn vắng lặng, những cảnh đời cảnh tu vẫn cứ phân biệt mịt mùng.

Có rất đông Phật tử từ Hà Nội, Quảng Bình, Huế, Ðắc Lắc, Cà Mau. Trải qua trong nhiều ngày đường đến dự khóa tu, người trẻ thì ít người già thì nhiều, nhiều nhất là các cụ bà. Cái gì giúp họ vượt qua mọi cực nhọc ở cái tuổi mà ai cũng sợ chuyện đi xa. Ðại danh của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh hay pháp môn thiền Làng Mai! Chắc chắn là cả hai và cả hai lý do trên đều phát xuất từ một cơ sở Thiền Sư Nhất Hạnh và Pháp Môn từ nước ngoài về và trong đó có cả lòng thán phục các vị tăng-ni người Tây theo về. Nhưng liệu phương pháp Thiền đã từng làm tỉnh thức những tâm hồn của những người sống trong xã hội công nghiệp thời hậu hiện đại ở phương Tây, cái phương pháp thiền ấy sẽ giúp những người nông dân, lao động Việt Nam an trú trong hiện tại như thế nào khi mà nỗi ám ảnh về chuyện thiếu mặc, đói ăn, bị đối xử bất công vẫn cứ thường trực gây âu lo, buồn khổ trong tâm hồn họ.

Bệnh lý trong tâm của người Việt Nam lúc này không đồng với những vấn nạn con người của xã hội phương Tây. Những ngày ở khóa tu, đại chúng được Sư ông Làng Mai và sư cô, sư tăng trong đoàn luôn dạy hãy ngừng vọng tưởng quá khứ và tương lai, hãy buông thư mỉm cười an trú trong hiện tại. Nhưng tập tính lăng xăng kiếm thêm chút tiền để thủ thân hay bận rộn cúng dường sám bái, bố thí cũng là một cách kiếm thêm nghiệp lành cho cái tâm.

Với những người Việt Nam chân chất, tạp niệm quá khứ và vọng tưởng tương lai trong tâm đại chúng hôm nay chính là sức mạnh sống bền vững của họ.

Nguồn: Nhật báo Người Việt

PHƯƠNG BỐI ĐẠI GIỚI ĐÀN

Sáng  ngày 10/03/2007 nhằm ngày 21 tháng giêng năm Đinh Hợi, Giới đàn Phương Bối được khai tại tu viện Bát Nhã theo chương trình đã hoạch định.

Qua năm ngày khóa tu cho cư sĩ, tiếp đến là khoá tu cho tu sĩ vừa hoàn mãn vào ngày 9/3, lượng số tu sĩ tham dự trên 1.200 người,  dĩ nhiên ít hơn khóa cư sĩ, nhưng chư tăng chư ni vân tập  tham gia, đã khép mình trong thiền quy một cách tự nguyện, tự giác, vì thế không khí tu viện trong những ngày qua mang đậm sắc thái tín ngưỡng tôn giáo mà không bị pha tạp những thô tháo đời thường..

7giờ sáng, tất cả  hội chúng vân tập về chánh điện làm lễ bái Phật thỉnh sư; sau nghi thức, Thiền sư cùng chư tôn giáo phẩm, chư tăng ni, phật tử thong dong thiền hành nghinh rước giới bản Ba La Đề Mộc Xoa, theo vòng đai tu viện Bát Nhã để vào Thiền đường Cánh Đại Bàng. Đoàn người kéo dài, tuy không như khóa tu cư sĩ hàng cây số, sáng nay, thấp thoáng hình bóng chư tôn đức, các giới tử, các Phật tử và khách tham quan rãi bước chân thảnh thơi trên lối mòn sỏi đá. 

Trời trong xanh không một gợn mây, gió núi thoang thoảng mùi nhựa thông, mùi chè lá và cỏ cây ẩm mục. Một số Phật tử tham dự thọ giới Tiếp Hiện, từ các tỉnh xa xôi, đến Bảo Lộc, nghĩ lại khách sạn, để vào tu viện thật sớm, chư tăng ni tham dự khóa tu hôm rồi, một vài vị lưu lại, các giới tử Sa Di, Tiếp Hiện cũng đã đến tu viện trước một hôm để Ban tổ chức hướng dẫn nghi cách. Thập sư tăng và ni cũng có mặt tại Bát Nhã.

Lễ khai đàn và cung an chức sự bắt đầu…

Sau lể khai đàn, sư ông và chư tôn túc về hậu liêu nghĩ ngơi, ban tổ chức do thầy Pháp Ấn, tăng thân làng Mai sắp xếp nghi thức hành lễ, vị trí giới tử và chư tăng ni Hộ Đàn.  9 giờ 30, tất cả đều vân tập và ổn định tại Thiền đường; sự hiện diện hàng trăm vị có mặt; những bóng y vàng và màu lam khói của áo tràng ngồi chìm sâu trong Thiền đường trên 2000 m2 như những búc tượng, bốn bề gió chui qua các cửa kiến làm thoáng hơn bên trong Thiền đường. Cái nắng hanh và gió hiu hiu làm sống lại cảnh núi đồi các trại học tập hay vùng Kinh tế mới, xa dân cư, xa phố thị, xa cuộc sống đời thường.

Sa Di thọ giới 54 vị,
Sa Di ni 92 vi,
Số lượng Tỳ kheo, Sa Di thọ giới Tiếp Hiện là 99 vị,
Cư sĩ  giới Tiếp Hiện 66 vị,
Số lượng giới tử Bếp Lửa Hồng và Diệu Nghiêm thọ giới Tiếp Hiện là 93 vị.

Hồi chuông thong thả rãi vào không gian tĩnh lặng cứ như vào chốn hoang dã, đại chúng nghiêm trang chấp tay đứng hai hàng để nghinh thỉnh Thiền sư và Tam sư Thất chứng đăng lâm Đại Đàn, vài phút trầm lặng lại tiếp tục trôi qua, sau đó Thiền sư xướng niệm danh hiểu đức Bổn sư, và rồi nghi thức khai đàn, do giới sư đại diện làm tác pháp Yết Ma thỉnh vấn đại chúng; Sư ông xướng đảnh lễ công ơn cha mẹ,  ân Tam Bảo trong 10 phương, mang ơn Thiện hữu tri thức, đảnh lễ thầy bạn, mang ân cây cỏ đất đá, cúi đầu đảnh lễ Tam Bảo trong 10 phương. Tất cả giới tử quỳ xuống chấp tay búp sen lắng nghe Sư Ông diễn xuớng 10 giới Sa Di, Sa Di Ni. Cứ mỗi giới khi tuyên xướng, sư ông đều hỏi: giới tử  có tiếp nhận, học hỏi và hành trì được không! giới tử đồng đáp: Dạ thưa có; cứ thế mà lượt qua 10 giới, sư ông  diễn đạt rõ ràng và sâu lắng giới luật mang tính đạo đức bản thân và căn bản hoà bình cho cuộc sống, mang tính cập nhật của giới luật với cuộc sống thực dụng hiện nay!

Sư ông nhắc cùng đại chúng, thời giờ thấp thoáng qua mau như thoi đưa, hãy tinh cần tu tập để khỏi uổng mất đời người. Tất cả giới tử nghe chuông đồng quỳ lạy tạ ân Tam Bảo vừa được tiếp nhận gíới luật quý báu của người tu. Mọi người lắng lòng như hòa tan vàokhông khí tươi mát của đất trời và nhẹ thênh bởi sự thanh khiết của giới hạnh. Lần lượt giới tử quỳ xuống, đưa đôi tay, cúi đầu tiếp nhận y do Chư tôn ban tặng:

Đẹp thay áo giải thoát
Áo ruộng phước nhiệm,
con cúi đầu tiếp nhận, 
nguyện đời đời mang theo,

Đại chúng dọc theo lời xướng của Sư Ông ba lần, đoạn kinh tụng hồi hướng được ngân vang. Sư ông thay mặt Thập sư, chúc mừng tân Sa Di, Sa Di Ni vừa tiếp nhận giới luật và Y pháp.

Vào lúc 14 giờ cùng ngày, đại chúng vân tập trở lại Thiền đường tiến hành lễ Thức Xoa Ma Na của Sa Di Ni. Giới tử Sa Di, tăng Ni gần 400 vị.

Một Ni Sư trong Thất chứng, mở đầu cho buổi truyền giới Sa Di Ni  bằng lời niêm hương tác bạch Tam Bảo, phát nguyện và đảnh lễ mười phương  chư Phật.

Lời xướng của Ni Sư chủ lễ ngân vang, chìm khuất giữa đất trời tĩnh mịch,  ngoài sân, mặt trời cũng mất dấu, để lại một ánh sáng mát dịu phủ trùm trên các đồi chè thoai thoải. Một Ni sư đại diện làm lễ tác pháp. Sư Ông lập lại nghi thức tri ân cha me, Tam Bảo, quốc vương thủy thổ, thầy bạn và vạn loài như lúc sáng. Các giới Thức Xoa  được tuyên xướng theo nghi thức thọ Sa Di lúc sáng.

Sư Ông cùng đại chúng đọc lời phát nguyện và hồi hướng.

Giới Đàn tặng chư vị tân Sa Di, Sa Di Ni bộ luật nghi. 

Để tiếp theo buổi truyền giới Tiếp Hiện, Đại chúng tạm lui về  an nghỉ.  Sau 3 giờ  lễ truyền giới Tiếp Hiện cho Tu Sĩ lẫn cư sĩ  sẽ  tiếp diễn.

Thiền sư Nhất Hạnh đăng lâm Giới Đàn, làm lễ Tác pháp Yết Ma để truyền thụ 14  giới Tiếp Hiện.. Giọng từ hòa xứ Huế, Thiền sư tuyên đọc từng tên các giới tử như mềm mại của án mây bạc làm dịu cái nắng bất thường của cao nguyên. Có lẽ giọng thiền sư yếu hơn lần về chuyến trước, sư ông đã 82 tuổi mà vẫn không an nghỉ, vẫn vân du hoằng hóa thế giới.

Chư tôn giáo phẩm ngồi hai hàng cùng chư  hội chúng  hướng mặt nhau, riêng các giới tử  hướng về Đưc Bổn sư, lần lượt từng người đứng lên chắp tay khi nghe tên mình được đọc kem theo pháp danh.

Sư ông ba lần xướng cho giới tử đảnh lễ Tam bảo đền ơn cha mẹ, sư trưởng giáo huấn, bằng hữu Thiện tri thức, vạn loài chúng sanh và môi trường sống, xin đảnh lễ khắp 10 phương. Tất cả đều quỳ, chấp tay lắng nghe. Sư ông giải thích và khuyến nhủ giới tử hãy lấy hạnh Bồ Tát để giúp đở chúng sanh.

Đây là Giới Thứ Nhất:
Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động.

Đây là Giới Thứ Hai:
Ý thức được những khổ đau do kiến chấp và vọng tưởng gây ra, con xin nguyện thực tập để phá bỏ thái độ hẹp hòi và cố chấp, để có thể cởi mở và đón nhận tuệ giác và kinh nghiệm của người khác. Con biết rằng những kiến thức hiện giờ con đang có không phải là những chân lý bất di bất dịch, và tuệ giác chân thực chỉ có thể đạt được do sự thực tập quán chiếu và lắng nghe, bằng sự buông bỏ tất cả mọi ý niệm mà không phải bằng sự chứa chấp kiến thức khái niệm. Con nguyện suốt đời là một người đi tìm học và thường trực sử dụng chánh niệm để quán chiếu sự sống trong con và xung quanh con trong từng giây phút. Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động. 

Đây là Giới Thứ Ba: 
Ý thức được những khổ đau do sự cưỡng bức kẻ khác vâng theo ý kiến của mình, con nguyện không ép buộc người khác, kể cả trẻ em, theo quan điểm của con, bằng bất cứ cách nào: uy quyền, sự mua chuộc, sự dọa nạt, sự tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ. Con nguyện tôn trọng sự khác biệt của kẻ khác và sự tự do nhận thức của họ. Tuy nhiên con biết con phải dùng những phương tiện đối thoại từ bi và ái ngữ để giúp người khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp.

Đây là Giới Thứ Tư: 
Ý thức rằng tiếp xúc và quán chiếu về bản chất của khổ đau có thể giúp con phát khởi tâm từ bi và thấy được con đường thoát khổ, con nguyện không trốn tránh thực tại khổ đau, nhắm mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức về khổ đau của chúng sanh. Con nguyện tìm tới với những kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng của họ và để giúp đỡ họ. Bằng những phương tiện tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện thường xuyên tự đánh thức mình và đánh thức những người xung quanh về sự có mặt của những khổ đau hiện thực khắp nơi trên thế giới. Con biết rằng sự thật thứ tư là đạo đế chỉ hiển lộ khi nào con quán chiếu và thấy được tự tánh của sự thật thứ nhất là khổ đế, và con sẽ luôn luôn nhớ rằng mục đích của sự tu tập là chuyển hóa khổ đau trở thành an lạc.

Đây là Giới Thứ Năm: 
Ý thức rằng hạnh phúc chân thực không thể đạt tới được bằng tiền tài và danh vọng mà chỉ thật sự có mặt khi nào các yếu tố an ổn, vững chãi, thảnh thơi và từ bi có mặt, con nguyện không tích lũy tiền bạc và của cải trong khi nhiều người đang đói khổ thiếu thốn, không đặt danh vọng, quyền hành và sự hưởng thụ dục lạc làm mục tiêu của đời mình. Con nguyện tập sống giản dị và học chia xẻ thì giờ, khả năng và tài vật của mình với những kẻ thiếu thốn.

Đây là Giới Thứ Sáu: 
Ý thức được rằng sân hận và oán thù có tác dụng cắt đứt truyền thông giữa người với người và tạo ra đau khổ cho cả hai phía, con nguyện học hỏi phương pháp chăm sóc và đối xử với năng lượng sân hận và oán thù khi chúng phát khởi trên ý thức con và phương pháp quán chiếu để nhận diện và chuyển hóa hạt giống của sân hận và oán thù trong chiều sâu tâm thức con. Con nguyện tập luyện để mỗi khi cơn giận hoặc sự bực tức phát khởi, con sẽ không nói gì và làm gì cả mà chỉ thực tập hơi thở chánh niệm hoặc đi thiền hành ngoài trời để chăm sóc tâm niệm sân hận và oán thù của con bằng năng lượng chánh niệm và để nhìn sâu vào bản chất của các tâm niệm sân hận và oán thù ấy. Con cũng nguyện sẽ học hỏi nhìn sâu vào tự tánh của người mà con nghĩ đã gây nên tâm niệm sân hận và oán thù của con và để có thể nhìn được người ấy bằng con mắt từ bi.

Đây là Giới Thứ Bảy: 
Ý thức được rằng sự sống chỉ có thể thực sự có mặt trong giây phút hiện tại, và ta chỉ có thể sống an lạc ngay trong giây phút ấy, con nguyện tập luyện để có thể sống sâu sắc từng giây phút trong cuộc sống hàng ngày của con. Con nguyện không để cho những hối tiếc về quá khứ, những lo lắng về tương lai và những tham dục, giận hờn và ganh tỵ đối với những gì đang xảy ra trong hiện tại lôi kéo con và làm cho con đánh mất sự sống mầu nhiệm. Con nguyện thực tập giáo lý hiện pháp lạc trú, sử dụng hơi thở và nụ cười chánh niệm để tiếp xúc với những gì mầu nhiệm, tươi mát và lành mạnh trong con và chung quanh con, để liên tục gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống an lành, hiểu biết và thương yêu trong con, làm động lực chuyển hóa chiều sâu tâm thức và đi tới trên đường thành tựu đạo nghiệp.
 

Đây là Giới Thứ Tám: 
Ý thức được rằng những khó khăn trong việc truyền thông giữa người với người luôn luôn đưa tới ngăn cách và khổ đau, con nguyện thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi và nói năng bằng lời ái ngữ. Con nguyện học hạnh lắng nghe chăm chú mà không phán xét và chỉ trích và không nói ra bất cứ một lời nào có thể tạo nên sự bất hòa trong đoàn thể và có thể làm tan vỡ đoàn thể. Con nguyện tu tập để tái lập sự truyền thông giữa con và mọi người khác, và đề giúp giải quyết mọi vụ bất hòa, dù lớn dù nhỏ.
 

Đây là Giới Thứ Chín
Ý thức được rằng lời nói có thể tạo ra khổ đau hay hạnh phúc, con xin nguyện luyện tập để chỉ nói những lời nói chân thật có tác dụng hòa giải, gây niềm tin tưởng và hy vọng. Con nguyện không nói dối để mưu cầu tài lợi và sự kính phục, không nói những lời gây chia r? và căm thù, không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những gì con không biết rõ. Con nguyện can đảm nói ra sự thật về những tình trạng bất công, dù hành động này có thể đem lại sự đe dọa cho sự an thân của mình.
 

Đây là Giới Thứ Mười: 
Ý thức rằng mục đích và bản chất của một đoàn thể tu học là sự thực hiện tuệ giác và từ bi, con nguyện không bao giờ lợi dụng đạo Bụt và các đoàn thể giáo hội vào mục tiêu quyền bính, không biến các giáo đoàn thành những tổ chức hoạt động chính trị. Tuy nhiên, con nhận thức rằng các đoàn thể tu học phải có ý thức và thái độ rõ rệt về những tình trạng áp bức và bất công xã hội và có thể sử dụng ảnh hưởng mình để chuyển đổi các tình trạng ấy mà không cần và không nên dấn thân vào những cuộc tranh chấp phe phái.
 

Đây là Giới Thứ Mười Một: 
Ý thức rằng thiên nhiên và xã hội con người đã bị tàn phá trầm trọng vì bạo động và bất công, con nguyện thực tập chánh mạng, quyết tâm không sinh sống bằng những nghề nghiệp có thể gây tàn hại cho con người và thiên nhiên, không đầu tư vào những doanh nghiệp chuyên làm lợi cho một nhóm người trong khi tước đoạt môi trường và cơ hội sinh sống của những nhóm người khác. Con nguyện chọn một nghề có thể giúp con thực hiện được lý tưởng từ bi và cứu khổ của đạo Bụt.
 

Đây là Giới Thứ Mười Hai:
Ý thức được những khổ đau do chiến tranh và các cuộc xung đột tạo ra, con nguyện thực tập sống đời sống hàng ngày của con theo tinh thần bất hại, hiểu biết và thương yêu. Con nguyện góp phần vào công việc giáo dục hòa bình và thực tập hòa giải trong phạm vi gia đình, cọng đồng, quốc gia và quốc tế. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự chém giết, và thường xuyên quán chiếu với tăng thân con để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ sinh mạng, ngăn chận chiến tranh và xây dựng hòa bình.
 

Đây là Giới Thứ Mười Ba: 
Ý thức được sự khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại.
 

Đây là Giới Thứ Mười Bốn: 
(Dành cho Tiếp Hiện Tại Gia)
Ý thức được rằng sự tìm tới và phối hợp giữa hai cơ thể do sự thúc đẩy của dục tình không những đã không thể giải tỏa được nỗi cô đơn của con người mà còn tạo thêm nhiều khổ đau, chua cay và xa cách, con nguyện không ăn nằm vói những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng hành động tà dâm sẽ gây ra khổ đau cho kẻ khác và cho chính con trong hiện tại và trong tương lai. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những điều mà mình và kẻ khác đã cam kết. Con nguyện sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con nguyện bảo trọng thân thể con, xem thân thể mình là đền thờ của tâm linh, là chiếc thuyền vượt biển, và thường xuyên học hỏi bảo tồn tinh, khí và thần để có đủ năng lực hành đạo. Con ý thức được trọn vẹn trách nhiệm của con về sự cho ra đời những sinh mạng mới và thường xuyên quán chiếu về môi trường sinh hoạt trong tương lai của những sinh mạng này.

(Tiếp Hiện xuất gia)
Ý thức được rằng lý tưởng xuất gia chỉ có thể thực hiện được với sự cắt bỏ hoàn toàn những ràng buộc đối với ái dục, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự bảo vệ nếp sống phạm hạnh của con và hết lòng bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác. Con biết cô đơn và khổ đau không thể nào được giải tỏa bằng dục tình mà chỉ có thể được chuyển hóa bằng sự thực tập hiểu biết và thương yêu đích thực. Con biết hành động dâm dục sẽ làm tan vỡ cuộc đời xuất gia của con, làm hại đến cuộc đời của kẻ khác và không cho con thực hiện được lý tưởng cứu độ chúng sanh của mình. Con nguyện không ép uổng thân thể con, không đối xử với thân thể con một cách bạo động và khinh xuất, không xem thân thể chỉ như là một dụng cụ. Con nguyện bảo trọng thân thể con, xem thân thể mình là đền thờ của tâm linh, là chiếc thuyền vượt biển, và thường xuyên học hỏi bảo tồn tinh, khí và thần để có đủ năng lực hành đạo.

Giới  14 là giới không tà dâm đối với người tại gia và đoạn dâm đối với tu sĩ xuât gia, con nguyện giữ để bao vệ hạnh phúc gia đình và  sự trong sạch của người xuất gia, vì thân xác là ngôi đền thờ tâm linh của những người có chí nguyện thoát ly tam giới.

Sau khi nguyện thọ trì 14 giới Tiếp Hiện, đại chúng thành tâm đảnh lễ va tụng hồi hướng. Thiền sư, chư tôn đức hộ đàn và các giới tử đồng xướng tụng 4 hoằng thệ nguyện..

Sau đó, sư ông và chư tôn đức đi dạo suối, giải khuây, chuẩn bị cho chuyến Cổ Phật Khất Thực vào ngày mai.

Buổi lể kết thúc vào lúc 4giờ 30.

MINH MẪN
10/3/07
 

LỄ  TRUYỀN  ĐĂNG

Ngày 13/3/07, ngày cuối của chương trình sinh hoạt tại tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng do Thiền sư Nhất Hạnh hướng dẫn, có sự tham gia của tăng đoàn Làng Mai, chúng thường trụ Bát Nhã, Phật tử trong và ngoài nước tham dự.

7 giờ sáng, sau khi điểm tâm bằng khoai củ, chư tăng và đại chúng vân tập về thiền đường cánh Đại Bàng.Thiền sư có mặt không lâu sau đó, Người ngồi tĩnh tại độ mười phút . 3 tiếng chuông  ngân nga thong thả, Thiền sư bước xuống, cung đối Phật tiền, khởi xướng niêm hương bằng nghi thức truyền thống , tiếp theo, tăng đoàn Mai thôn xướng lễ Tam bảo bằng âm ngữ Pali, âm điệu du dương như các thánh lễ tại nhà thờ. Khi sư ông trở lại pháp tòa, đại chúng lại xướng tụng ngợi ca chư Phật bằng Anh ngữ; thật ra hợp xướng là một cách cộng hưởng năng luợng để thanh khiết và thánh hoá bầu không khí trong buổi lễ. Sư ông tuyên bố  hôm nay là lễ Truyền Đăng.

Truyền Đăng là một nghi thức trong PG, được trưyền thừa qua nhều đời, có mặt từ chùa Từ Hiếu, HUẾ, một buổi lễ ấn chứng, xác quyết khả năng tu tập và năng lực nội tại của đệ tử, sau khi vị thầy thấy được tâm đắc của đệ tử trình bày qua thi, kệ; Người được truyền  được xem là vị Giáo thọ, không những trên mặt truyền bá giáo lý, mà thân giáo, khẩu giáo và hành giáo đáng là bậc trưởng tử Như Lai.. Có thể là một vị nấu bếp, một vị làm vườn, một vị lái xe hay một học giả, dịch thuật với những tâm thái an nhập, Đủ tư cách là Giáo thọ cho hậu tấn.

Thiền sư đọc tên, người được truyền đăng tiến lên với hai vị phụ trợ, một người bê đèn,cũng là một sư cô, đều đắp y vàng nghệ, một người nâng bài kệ trình giải, mặc áo tràng lam (đặc biệt một người đàn ông Âu Mỹ, vốn là mục sư Tin Lành, phụ trợ lại là thân sinh của vị Đăng tử, tân giáo thọ ). sư ông xướng lễ, Đăng tử đảnh lễ tổ sư thiền tông VN  Tăng Hội. Một ngọn đèn dầu trước mặt thiền sư, bên cạnh quả chuống gia trì. Đăng tử  trình giải kệ tâm khai; sư ông tiếp nhận, đọc và giải nghĩa  bằng Anh ngữ lẫn Việt ngữ.. Sư ông tiếp nhận ngọn đèn, châm lửa từ ngọn lửa đèn lớn mồi qua chiếc đèn nhỏ của Đăng tử, tượng trưng  cho sự truyền thừa. Người chú nguyện,  Đăng  tử  đứng lên với hai tay tiếp nhận ngọn đèn từ sư ông. Ngài xướng lễ  để Đăng tử bái tạ tổ sư thiền tông VN một lần nữa trước khi trở về vị trí.. Sư ông cùng đại chúng hiện diện nghiêm trang đứng lên chấp tay vái chào vị tân Giáo thọ vừa được ấn ký.. Một đoạn tụng ngắn của đại chúng xác quyết sự tinh thông tu tập của vị tân giáo thọ.

Vị tân giáo thọ là một sư cô trẻ người ngoại quốc, khi phát biểu đáp tạ đại chúng, sư cô  nói trọ trẹ tiếng Việt biểu lộ tâm chân thành đầy biết ơn đối với Tam bảo, đối với thầy và đại chúng, xúc động tiếng khóc nấc lên, hội chúng òa cười cảm thông. Có lẽ thấy sư cô  khó khăn trong việc biểu lộ tâm cảm mìinh bằng tiếng Việt, sư ông bảo cô hãy xử dụng bằng tiếng mẹ đẻ; cô ta dùng mọi cách diễn đạt lòng biết ơn đối với thầy giúp cho cô có cuộc sống đầy ý nghĩa, cô cũng ví các tăng thân như là những y sĩ mổ xẻ giúp cô ta những gì còn  vướng mắc trong tâm,  và đã giúp nâng cao tâm thức cô. Cô cũng biết ân cha mẹ, đã nuôi dưỡng giúp cô sống trong cộng đồng của tu sĩ Cơ Đốc Giáo, cô mang ơn cha mẹ vượt qua sự kỳ thị chủng tộc ở Mỹ, vì mẹ là da đen và cha là người da trắng, mục sư Tin Lành cũng đã theo sư ông tu tập. Khi cô ta được 14 tuổi cô và gia đình đã rời bỏ cộng đồng Cơ Đốc giáo để về với Bụt, sư ông và Tăng thân, tuy nhiên cộng đồng đó đã nuôi dưỡng hạt giống thương yêu trong cô, cô nói: năm 1987 con về dự khóa tu mùa Hè tại làng Mai, con cảm nhận được như trở về nhà mình. Đi thật là đi, ăn thật là ăn, thở thật là thở, con cảm nhận cuộc sống sâu sắc hơn. Năm 1999 con có cơ hội cùng đoàn qua Trung Quốc, có cả cha con. Con thấy xa lạ khi lần đầu tiên đến một đất nước châu Á xa lạ. chúng con là những cư sĩ theo quý thầy quý sư cô, con đã trải nghiệm và thấy đuợc ông bà tổ tiên đều hiện diện trong con. Con hy vọng con sẽ là một tu sĩ, cuối năm 1999 con được xuất gia. Nhưng sau khi xuất gia, ba con trở nên nóng nảy khó chịu hơn, con lại sống chung với một sư cô không có sự quan hệ tốt. Mọi điều ngoài ý muốn dồn dập đến với con, con tự hỏi tại sao như vậy, nhưng nhờ đó con đã thực tập và chuyển hoá tốt hơn, những chướng duyên đó giúp con thăng tiến trên đường tu. Có những sư cô lắng nghe, giúp con vượt mọi cám dổ, trở ngại trong con. Quý cô dạy con rằng, con không cần phải là như thế này, như thế kia, và không thể muốn mọi người như thế nầy thê nọ, cuộc sống nầy chính là mình.Kính  thưa đại chúng, con muốn hàn gắn vết thương kỳ thị chủng tộc giữa  người da trắng và da màu đã tạo vết thương sâu xa trong đất nứơc con.Con xin tặng đại chúng một bài hát nổi tiếng ở Mỹ nói về người mua bán nô lệ Phi châu, nhưng ông ta tỉnh ngộ trên đường về và tự động quay lại , trả tự do cho những nô lệ da đen…

Cô ta hát thật từ tốn du dương. cả thiền đường như lắng đọng nghe rõ những hạt thủy tinh của một nữ tu giáo thọ da đen thong dong rãi vào không gian nhiệm mầu tĩnh lặng. Đại chúng sau đó cùng tiếp nhịp với sư cô, cả hội trường vang lên aâm điệu thâm trầm, hùng tráng.  Sư cô tân giáo thọ và thân sinh trở về chỗ cũ, thân sinh của cô và một  sư cô phụ trợ chắp tay vái chào cô thật trang nghiêm và xúc động.

Thiền đường rộng thoáng, ánh sáng dịu như còn đọng lại một tâm cảm thân thương và biết ơn của đạo Bụt, đã đem lại nguồn phúc lạc cho nhiều mãnh đời tăm tối, thiền sư đã đến với phương tây bằng bước chân PGVN, một hình thái dấn thân, làm mới để PG thâm nhập vào xã hội công nghiệp thực dụng, một pháp hành thực tiển, hiệu quả, đoàn kết mọi tầng lớp trong xã hội nhiều kỳ thị như đức Phật đã từng xoá bỏ giai cấp trong tăng đoàn đương thời của Ngài, và trong giáo lý của ngài.

Buổi truyền đăng được tiếp tục  vào chiều cùng ngày, để ngày mai, sư ông và tăng đoàn trở về TP Hồ chí Minh bắt tay vào Đại Đàn Chẩn Tế tại chùa Vĩnh Nghiêm, các chiến sĩ trận vong, chư oan hồn liệt tử đang mong chờ ân đức của Tam bảo qua  sự hất tâm cầu nguyện của chư tôn đức và của Thiền sư Nhất Hạnh.

 MINH MẪN
 13/3/07 
 

.
 


NỖ LỰC PHỤC SINH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 
Simon Montlake
Gửi cho BBC News từ chùa Bát Nhã




















Vị sư thuộc hàng nổi tiếng nhất Việt Nam giảng tại ngôi chùa trên sườn núi ở Lâm Đồng.

Chừng 5000 người gồm cả vài trăm sư sãi và các cư sĩ từ nước ngoài ngồi nghe Thầy Thích Nhất Hạnh trong trong điểm tu tập rộng, mới được xây.

Một số người phải ngủ qua đêm trên đệm trải tạm và dạy thật sớm trong buổi sáng lạnh để dự lễ.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một nhà hoạt động vì hòa bình và cũng là tác giả của nhiều cuốn sách bán chạy (bestselling author), đã sống gần như toàn bộ bốn chục năm qua ở Pháp. (Hình trên:Thiền sư Thích Nhất Hạnh và các tín đồ tại chùa Bát Nhã ở Lâm Đồng) 

Lần này là lần thứ nhì ngài về nước kể từ năm 1966, khi ngày sang Mỹ để kêu gọi chấm dứt cuộc chiến tranh tại quê hương mình.

Sau đó, thiền sư Thích Nhất Hạnh không được cả Nam và Bắc Việt Nam cho trở về.

Năm 1969, ngài dẫn đầu một phái đoàn đến Hòa đàm Paris bàn về Việt Nam.

Nay thiền sư trở lại Việt Nam trong một chuyến đi 10 tuần nhằm thử xem biên độ của tự do tôn giáo và tín ngưỡng tại đất nước do một đảng cộng sản lãnh đạo là thế nào.

Ngày thứ Sáu 16.03 thiền sư sẽ chủ trì một trai đàn công khai ở Thành phố Hồ Chí Minh vì linh hồn của những người đã tử nạn trong cuộc chiến Việt Nam, kể cả các binh sĩ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trước đây. 

Ý tưởng của Trai đàn là hàn gắn những vết thương và sự chia rẽ của quá khứ. Ba ngày đọc kinh và làm lễ sẽ mở cho tất cả các tín đồ của mọi tôn giáo và cho cả những người không theo đạo gì.

Các nhà tổ chức ra thông báo có đoạn nói “Những người theo chủ nghĩa Marx cũng được hoan nghênh đến đọc những đoạn của Karl Marx nói về suy tưởng tâm linh của chính ông và về tình yêu của Marx đối với nhân loại,”

Những bạn trẻ

Năm nay 81 tuổi, với một giọng nói trầm và nhẹ, Thiền sư Thích Nhất Hạnh dùng các ví dụ trong cuộc sống hàng ngày để giảng về pháp môn của mình.

Ở một góc có chừng 80 người Phương Tây theo ngài. Họ nghe lời thuyết giảng được dịch trực tiếp sang tiếng Anh và Pháp.

Ngài nói: -“Ngày hôm nay, tâm trí của nhiều người tập trung vaò chứng khoán và các tin tức nóng bỏng nhất. Họ không có cả thời gian để chăm sóc cho bản thân và những người họ thương yêu. Và thậm chí cả khi đã có nhiều tiền họ cũng không thấy hạnh phúc,” (Hình trên: Tín đồ đến nghe thuyết giảng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Bảo Lộc tháng Ba 2007)

Tôi đã gặp nhiều triệu phú. Họ đều không hạnh phúc.”

Đây là thông điệp gợi sóng trong tâm thức những bạn trẻ trong giới đến nghe giảng. Họ đa số là những người sinh ra sao năm 1975, khi cuộc chiến kết thúc.

Một số lấy ngày nghỉ để dự khóa tu tập năm ngày tại chùa Bát Nhã, cách TPHCM chừng 140 km về phía Bắc.

Nhiều người thích thú muốn tìm hiểu đạo Phật và biết cách áp dụng tôn giáo này vào cuộc sống hiện đại ra sao. 

Họ trưởng thành trong bối cảnh nền kinh tế năng động của Việt Nam đang phát triển nhanh và làm cả xã hội thay đổi. Họ giàu có hơn cha mẹ và cũng cởi mở hơn trước những ý tưởng mới. 

Nguyễn Thanh Điệp, làm quản trị khách sạn nói:

Tôi theo đạo Phật nhưng đây là lần đầu tiên tôi tập thiền nhiều thế này,”

“Đối với thế hệ của tôi thì Phật giáo rất thích hợp vì nó không chỉ nói về quyền lực của Đức Phật.”

Tôn giáo hồi sinh

Số liệu chính thức nói con số những người theo đạo Phật ở Việt Nam là 10 triệu trong số 84 triệu dân.

Nhưng đó chỉ là con số những người đi chùa, còn ngoài ra không ai biết thực sự bao nhiêu người Việt Nam làm các lễ của Phật giáo mà nhiều khi đã hòa trộn cùng với đạo thờ tổ tiên và đạo Lão.

Từ những năm 1990, chính quyền giảm việc kiểm soát thờ cúng tôn giáo nơi công cộng và từ đó, một sự hồi sinh tín ngưỡng đang lan rộng.

Chính quyền chỉ công nhận sáu tôn giáo và kiên trì kiểm soát các chùa, nhà thờ và cả đền Hồi giáo.

Lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vốn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật thì thường xuyên vì quấy nhiễu những năm qua.

Và thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng phải mất nhiều tháng để thỏa thuận được về giấy phép cho chuyến đi bắt đầu từ 20 tháng Hai.

Các nhà quan sát cho rằng đàn chẩn tế dự kiến sẽ được tổ chức cả ở Huế và HN là một dấu hiệu rằng nhà chức trách tự tin trong việc vị khách của họ sẽ không dùng diễn đàn công khai này để làm mất mặt nhà cầm quyền.

(Hình bên: Thiền sư và các tín đồ trong thời gian ở Bảo Lộc) 

Sư Pháp Ấ́n, một phụ tá thân cận của thiền sư nói:

-“Nay là lúc hòa giải để đất nước được thực sự thống nhất,

Trong lần thăm Việt Nam trước vào năm 2005, thiền sư đã có cuộc gặp với cựu thủ tướng Việt Nam.

Sách của ngài, từng bị cấm trước đây nay được bày bán trong các hiệu sách. 

Thầy Thích Nhất Hạnh tìm cách gieo hạt giống trong giới trẻ cho phái Phật giáo của mình, được gọi là Phật giáo tham gia vào cuộc sống xã hội.

Phái này khác với dòng chính của đạo Phật vốn đặt nặng chuyện tìm con đường giác ngộ cho bản thân và thảo luận trong các nhóm nhỏ về những chiêm nghiệm tâm linh và đạo đức. 

Bên sườn đồi, một nhóm chừng 90 sư nam và nữ, tất cả đều trẻ chỉ trong tuổi 20 đã làm lễ xuất gia.

Họ sẽ sống tại chùa mà chính thức thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam được công nhận.

Tuổi của họ là một điều gây chú ý và các nhà tổ chức gọi đây chính là một ‘Sứ đoàn Hòa bình’ tương lai cho Việt Nam để làm sống lại đạo Phật. 

Sư cô Giới Nghiêm, người đang trụ trì một thiền viện ở California tỏ ra rất vui trước con số những tín đồ trẻ.

Những thanh niên từng nghĩ chùa chỉ là nơi cho những người già. Vì thế chúng tôi muốn khuyến khích những người trẻ đến với chùa,

Nhưng chuyện thể hiện các dấu hiệu tôn giáo quá lộ liễu vẫn là một cản trở cho những ai muốn thăng tiến trong bộ máy nhà nước. 

Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức mà nói là một tổ chức vô thần, và các quan chức chính quyền phải giữ tín ngưỡng như điều riêng tư.

Một sinh viên đại học dự khóa học tỏ ra rất phấn khích khi đọc các sách của thầy Nhất Hạnh.

Không có mấy người biết thiền là gì. Họ chỉ đến chùa chiền để ngắm cảnh,” 

Nhưng anh ngại kể về mối quan tâm đến Phật giáo như thế này cho cha mẹ vốn là cán bộ nhà nước ở TP Hồ Chí Minh.

Và anh cũng cẩn thận không muốn một nhà báo nước ngoài ghi tên thật vào bài viết. 

(http://www.bbc.co.uk/vietnamese/)