|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
CHIỀU
THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
|
|
TU
VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẾN
VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
TIN
TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
NỘI
DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
TIN TỨC
& chuyến đi
Việt Nam của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007
 |
 |
ĐƯỜNG
VỀ BÁT NHÃ
Minh
Mẫn
2 giờ
sáng ngày 12 âm lịch, tháng giêng, năm con Heo, vào ngày 28/02/07,
đoàn người tham dự khóa tu tại Bát Nhã, Bảo Lộc
cho cư sĩ, đã trú qua đêm tại chùa Pháp Vân. Đồng loạt
thức dậy, chuẩn bị cho chuyến hành trình Tâm Linh.
Tuy
chùa nằm trong thành phố, nhưng về đêm thật yên tĩnh; trên
sân thượng, gió lộng bốn bề.Một vài người không ngũ,
suốt đêm rù rì tâm sự. Hơn 3 giờ sáng, tất cả lũ lượt
kéo nhau xuống lầu, tràn ra cổng, tìm xe theo phiếu chỉ dẫn.
Chiếc xe thứ 12, mãi đến 6g mới lăn bánh, vì phải chờ
đón một số khách đến trể, nguyên nhân, lúc đầu hàng
trăm người đăng ký tại Bát Nhã, đi tự túc, Ban tổ
chức xét thấy bất tiện, vì từ Bảo Lộc vào chùa không
có xe lớn, nếu xe ôm thì không đủ cho hàng trăm lượt người,
như thế sẽ không kịp thời khoá, vì thế tổ chức khởi
hành tập thể tại Pháp Vân, lăn bánh lúc 4g sáng thay
vì 6 g như đã định, để khỏi kẹt xe trong thành phố, một
số người không nhận được tin, một số đăng ký tên mình,
lại để người nhà đi, hoặc bạn bè mang tên khác, vì thế
BTC khó kiểm soát, có ngưới đến trể, phải dồn người
xe sau lên cho đủ chuyến để chạy, cứ thế, những trục
trặc ngoài dự tính đã làm trở ngại hết mấy giờ, nhưng
ai cũng hoan hỷ. Ra đến nghĩa trang liệt sĩ, khỏi Suối Tiên,
đậu thêm một giờ nữa, khách đi trể phải thuê Taxi đuổi
theo. Có lẽ, lần đầu tiên tổ chức đưa đón số lượng
600 người tại TP như thế, nên thiếu kinh nghiệm. Mọi
người thầm nghĩ – liệu Bát Nhã tiếp đón trên 5000 người
có được chu tất chăng!
Về
đến Blao, đúng 12g cùng ngày,theo sự chỉ dẫn của các anh
chị Tiếp Hiện, xe số 1 đến số 6, dùng cơm tại Bát Nhã,
xe số 7 đến 12 ăn trưa tại chùa Phước Huệ; một ngôi chùa
vào năm 1969, tôi từng dạy học tại tỉnh hội, TT Huệ Giải
là Chánh Đại Diện GH lúc bấy giờ, gần 40 năm xa cách,
nay trở lại, chùa xây dựng quy mô hơn, nhưng có vẻ hiu quạnh
quá. Tháp của thầy Huệ Giải như một chứng tích vô thường,
nằm trước sân; phía sau hậu liêu, thấp thoáng vài vị tăng
xa lạ. Sát vách rào chùa, ngôi nhà thờ cũng vươn mình đội
cây Thập ác cao hơn nóc chùa một tí. Trên con đường vào
thị xã Bảo Lộc, qua Đại Lão, thỉnh thoảng vài ngọn đồi
mọc lên thập tự giá hoặc tượng Thánh như xác
định lãnh thổ mà trước 1975 chưa có mặt. PG hay các tôn
giáo khác chưa có dấu hiệu phát triển nơi đây. Sinh hoạt
thành phố Blao vẫn trầm lặng như thuở nào, tuy dân cư có
nới rộng quanh vòng đai ở Damb’ri, Damb’ rong…
Vào
đến Bát Nhã hơn một giờ trưa, không gian thoáng đảng, đồi
thông thoai thoải nối dài diện tích chùa mà 30 mẫu như
chưa đủ chứa số người tham dự. Không khí dể chịụ.
Từng gốc thông, đều có bóng người, vì trong chánh điện,
trong thiền đường, vỉa hè nhà Tăng đều không đủ cho người
cư trú.Từ các tỉnh phía Bắc đến các vùng miền Tây, miền
Đông Nam bộ đều có người đáp xe đến tham dự khóa
tu.
Năm
2005, khi sư ông về thăm quê lần đầu, nơi đây vẫn còn
hoang sơ, cơ sở vật chất chưa có gì để nói, nhưng khi Thiền
sư Nhất Hạnh chấp nhận sự phát tâm hiến cúng của
TT Đức Nghi, tọa chủ nơi đây; cơ sở bắt đầu phát triển,
xây dựng đồ sộ, đủ chổ cho sư ông và đoàn Tăng Thân
về lưu trú.
Khóa
tu cho cư sĩ, lần đầu tổ chức tại đây, phòng ốc chưa
xây kịp, không thể đáp ứng nơi ăn chốn ở cho gần 6 ngàn
người trong nước lẫn ngoài nước về tham dự. Ngôi Thiền
đường còn thơm nước sơn, nền gạch men chưa đậm vết
chân người, được xây vội vả về đêm cho kịp khóa tu,
nhưng địa phương cũng đã giúp đỡ công trình sớm
hoàn tất trước thời hạn giấy phép được cấp.
Những
ông bà cụ các tỉnh quê, nhất là phía Bắc và miền Trung,
có vẻ thích thú mãn nguyện trước không khí trang nghiêm của
Thiền môn mà những chùa địa phương không có được;
Những
Phật tử nước ngoài tỏ ra thuần thành, thú vị khi gác bỏ
mọi chuyện hơn thua tất bật trong xã hội công nghiệp, về
hòa nhập sinh hoạt tập thể có nề nếp, có ý thức, mà
pháp tu giúp cho họ cảm nhận được an lạc hiện tiền.
Các
sinh viên, giới trí thức như tìm được lối ra mà kiến thức
học đường, kinh nghiệm công sở là vòng lẩn quẩn bế tắt,
lạt lẽo, vô vị của đời thường.
Một
số phóng viên, ký giả đã bám được của lạ để truyền
tải thông tin, báo hiệu một hiện tượng thông thoáng trong
sự cởi mở về tự do hành đạo mà xã hội đang tiến bộ
Nhiều
người gia cảnh eo hẹp, làm ngày nào, ăn ngày đó, thế mà
tự động ngưng việc, bỏ nhà, hối hả tham gia khoá tu. Có
cả công nhân viên chức xin nghĩ phép, tham dư
Bát
Nhã như tiếng gọi Tâm Linh mà những tâm hồn tin Phật, ham
tu, đều được thỏa mãn niềm tin; Những người đi xe con
lên tận sân chùa, bỏ xe vào một góc, hòa nhập vào dòng
người xa lạ, nhập chung một đại gia đình,họ quên bẳn
những tiện nghi đời thường, kẻ hầu người hạ nơi chốn
giàu sang, ở đây, họ ăn chay, nằm đất, lây lất vỉa hè,
không mùng mền chiếu gối,chịu cái lạnh vùng cao nguyên về
đêm, gió núi từng cơn lùa qua da thịt hàng ngàn người
vui vẻ mỉm cười trong giấc ngủ với chiếc áo lam mỏng
manh.
Tiếng
kẻng báo cơm, đoàn người lũ lượt bốn hướng, chẩm rải
bước đi trong chánh niệm, tiến về các dãy bàn bày
sẳn thức ăn tự chọn, đặt dưới bóng mát hàng thông, sắp
hàng đến lấy thức ăn û, tìm đến các gốc cây, ăn
trong chánh niệm.
Các
cư sĩ nước ngoài, gồm nhiều quốc tịch, có vị là bác
sĩ, tiến sĩ, giáo sư, thương gia, chuyên gia, cũng mặc áo
dài lam, từ tốn bước đi, tay cầm bát cơm, hòa lẫn
mọi người, ngồi rải rác dưới bóng cây, nhập cùng mây
ngàn tận hưởng thiền thực. Trông họ sinh hoạt thuần thục
hơn những người bản xứ tham dự khoá tu lần đầu.Họ
đã theo sư ông và tăng đoàn tu tại làng Mai và du hóa khắp
nơi, nhiều năm.
Các
sư mắt xanh mũi lỏ cũng đẩy xe cơm phục vụ đại chúng,
có người ngẩm nghĩ cười thâm: Đời sống vật chất đầy
đủ của Tây Phương không muốn, lại muốn đầu trần chân
đất, ăn chay đạm bạc, tiền không giữ, tư trang không có,
theo Thiền sư VN, về VN, chấp lao phục dịch cho người VN
tu tập trên mãnh đất VN xa lạ..
Ngày
thứ 2 của khóa tu, dòng người các nơi tiếp tục đổ về
mà không cần đăng ký, vì Ban tổ chức khóa sổ khi số lượng
đã lên trên 2 ngàn người, vì ngại rằng không chu cấp đầy
đủ cho người tham dự, nhưng mọi người vẫn tiếp tục
tự nguyện đến với đạo tràng Bát Nhã.Nhà bếp được
báo khẩu phần đã lên đến 6 ngàn.
Từ
2g sáng, quý thầy, quý cô và một số Phật tử đã lo nấu
điểm tâm cho khóa sinh. Nhà bếp do chúng thường trú
Bát Nhã phục vụ; Ngoài tiếng động cơ xe tải lương thực,
và tiếng gió núi đại ngàn. Không còn nghe tiếng động nào
khác của 6 ngàn người hiện diện. Từ nhà bếp đến khóa
sinh làm việc trong im lặng, cần thiết để trao đổi, chỉ
nói thật nhỏ vừa đủ nghe. Người đang chấp lao phục dịch
hay đang đi, khi nghe tiếng chuông, tất cả ngưng lại, theo
dỏi hơi thở, nhiếp tâm vào thân, đó là pháp thực tập
để an tâm giúp người tại gia hạn chế nhiều chi phối.
Có người bảo: Pháp tu của Thiền sư Nhất Hạnh là ngoại
đạo, không có trong Nykaya, không nói đến Nhân Quả, đến
Bát Chánh Đạo…Nếu không Nhân Quả thì tu làm gì, một
pháp hành đem lại an lạc và nhiếp tâm thì cần gì phải
nói đến Bát chánh Đạo hay dùng từ Nhân quả; Một minh sư
không chỉ truyền đạt nguyên xi lời Phật dạy mà còn biết
chế tác một pháp hành trên căn bản giáo lý, thích
ứng với trình độ, căn cơ của thời, xứ mà giáo hoá, vì
mỗi pháp thích ứng cho một thời đại tuy giáo lý thì vĩnh
hằng.
Sau
buổi điểm tâm, làng Mai hướng dẫn khoá sinh nghi cách sinh
hoạt khóa tu, chia từng nhóm gọi là gia đình, có tu sĩ
làng Mai hướng dẫn, đi Thiền hành và xướng tụng Bồ Tát
Quán Thế âm, cách buông thư, theo dỏi hơi thở…
Ai
có về Bát Nhã mới thầy công đức to lớn của TT Đức Nghi,
người khai sáng ngôi Già Lam nầy; Khi Bát Nhã còn là ngôi
thảo am, ngài dấn thân vào cùng đồng bào sắc tộc, độ
cho hơn chục em xuất gia tu học, mở trên 26 cơ sở giữ trẻ,
lớp học dạy miễn phí cho đồng bào nghèo và con em sắc
tộc.tại các buôn làng, thầy trả lương cho giáo viên và
người làm công tác từ thiện, sau nầy làng Mai cũng bổ cử
các sư cô về hổ trợ trong việc dạy dổ. Thầy là gương
sáng trong công tác từ thiện của Bảo Lộc, được địa
phương tán thán ghi nhận.
Khi
Bát Nhã biến thành trung tâm tu học theo pháp môn của Thiền
sư Nhất Hạnh, Bát Nhã đã thâu nhận trên 300 tăng ni thường
trú, Thiện nam tín nữ khắp nơi thường lai vãng tham bái;
có tận mắt chứng kiến những công trình xây dựng, tuy không
bề thế, nhưng không ít khó khăn từ buổi đầu, và còn vô
số việc trước mắt đáp ứng mọi nhu cầu tương lai cho
một làng tu, song song với công việc từ thiện cho quần
chúng, mới thấy được tâm chất của một bậc luôn hy sinh
vì lợi ích cho mọi người. Vừa đôn đốc công việc
tại nội viện, vừa có mặt thuờng xuyên trong các buôn sóc,
vừa chăm bón nội lực tự thân, phải nói rằng, hiện nay,
tìm được vị chân tu như thế quả rất hiếm.
Bát
Nhã đang vào mùa tu cho Phật tử tại gia, chư tăng làng
Mai hướng dẫn cư sĩ sinh hoạt thường nhật trong chánh niệm,
chuyển hoá không nhỏ cho những nội kết tự thân, mắc mứu
với quan hệ xã hội cũng như gia đình, giúp vô số người
tham gia khóa tu, có một lối thoát nhẹ nhàng trong cuộc sống,
mà không phải chôùi bỏ, trốn chạy cuộc đời, và có một
hướng đi ý nghĩa của đời người, trở thành người tốt
cho gia đình, người gương mẫu cho xã hội, người hữu ích
cho đất nước và một người có đạo đức đúng nghĩa không
cần danh xưng tôn giáo .
Bát
Nhã thật sự đã có chổ đứng trong cộng đồng dân tộc
chỉ một thời gian chưa tới 2 năm. Về đến Bát Nhã, người
ta vững tin rằng- không chỉ năm hay sáu ngàn người mà hơn
thế nữa, vẫn có thể chu tất trong tương lai, khi mà cơ sở
vật chất được tiếp tục xây dựng, không phải ăn bờ
ngủ bụi mà còn được tắm mình, đượm nhuần trong pháp
hành an lạc hiện tại trong từng bước đi, vật chất và
tâm linh sẽ di vào biển Trí Tuệ Bát Nhã.Sau khóa tu 5
ngày cho cư sĩ, là lể Hoa Hồng báo ân cha mẹ, Khất Thực
Cổ Phật và khoá tu dành riêng cho tu sĩ đã được trên hai
ngàn vị đăng ký.
Khí
hậu, cảnh quan và tình người hoà cùng Bát Nhã xuân Đinh
Hợi 2007 đi vào tâm khảm khoá sinh một cách ấn tượng,thật
tuyệt vời.
Minh
Mẫn
O1/3/07
LỄ BÔNG HỒNG
CÀI ÁO 
Ngày
cuối của khóa tu cho cư sĩ, 4/3/07 ( 16/1/ Đ.Hợi ) tại tu viện
Bát Nhã, lễ cài Hoa Hồng diễn ra tại Thiền đường lúc
9g sáng.
Tất
cả đều có mặt trong Thiền đường từ rất sớm; một số
em Phật tử phân phát hoa cho cư sĩ trước, vì số lượng
người tham dự hôm chủ nhật lên đến 10 ngàn. Sinh viên học
sinh, công chức, tiểu thương…rất nhiều thành phần trong
xã hội đã tranh thủ tham dự lễ vào ngày chủ nhật; người
dân quê gương mặt khắc khổ, tay chân khô đét, bộ đồ
tươm tất nhất vẫn còn dấu vết lao động nơi đất ruộng
phèn chua, tại địa phương hay các vùng Hà Bắc, Nam Ninh, tuyến
đầu tổ quốc đến tận mũi Cà Mau; họ tự động rũ nhau
thuê xe cùng đi, có người trốn gia đình, tay bế con nhỏ,
tranh thủ tìm một góc sân, treo võng để con nằm, nhét
núm vú giả đưa bé vào giấc ngũ thơ, để mẹ yên tâm
lắng nghe từng lời giảng của sư ông vọng ra trên loa thùng,
đặt ngoài hành lang Thiền đường.
Tuy
số lượng người tự phát như thế, nhưng rất trật tự
và im ắng; Bắt đầu cho bất cứ buổi lễ nào, sư ông cũng
hướng dẫn theo dõi hơi thở, khởi xướng đãnh lễ Tam Bảo,
lịch đại Tổ sư.Lễ cài Bông Hồng là lễ không những tưởng
nhớ ân sanh thành dưỡng dục của Mẹ Cha, còn ghi nhận công
ơn thầy tổ, bạn hữu tri thức, quốc gia thủy thổ, đặc
biệt là môi trường sống, tất cả mọi loài! Với tinh thần
tri ân của người Phật tử như thế, làm sao có thể làm
khổ và chống đối nhau, phải chăng những vu vạ bêu rếu
vu khống sư ông cũng đã giúp làm nổi bật tinh
thần Từ Hòa đó, thuận duyên, nghịch cảnh đều vận hành
theo lý Duyên khởi của nhà Phật, và biết đâu, cũng từ
chống báng của những người yêu nước đứng ở góc độ
cực đoan, đã giúp cho nhà nước VN hiện nay tốt đẹp, hơn
là những kẻ dua nịnh. Với giáo lý nhà Phật như thế, tất
cả đều là Thiện Hữu tri thức, cần phải biết ơn! (Click
hình bên xem hình lớn hơn)
Thiền
sư T. Nhất Hạnh kể lại nguyên nhân có lễ cài hoa tại
phương Tây, từ đó, tại Medford, năm 1962, Ngài viết một
bài về Mẹ, nói lên giá trị Tình Thương của Mẹ và về
Mẹ, khuyên tất cả hãy trân quý tình Mẹ, khi còn Mẹ, và
một cảm xúc của người mất Mẹ, Ngài nói:
Năm
xưa tôi còn nhỏ
Mẹ
tôi đã qua đời
Lần
đầu tiên tôi hiểu
Thân
phận trẻ mồ côi.
Quanh
tôi ai cũng khóc
Im
lặng tôi sầu thôi
Để
giòng nước mắt chảy
Là
bớt khổ đi rồi…
Hoàng
hôn phủ trên mộ
Chuông
chùa nhẹ rơi rơi
Tôi
thấy tôi mất mẹ
Mất
cả một bầu trời!
Một
đoản văn khác về cha, nói lên nổi cơ cực nhọc nhằn của
cha, dầm sương đội nắng để nuôi gia đình, gửi gắm hy
vọng và tình thương nơi con, nhưng giòng lệ nóng
đã ngấm vào lòng khi cha mẹ gặp phải đứa con ngổ nghịch
bất hiếu…
Bên
dưới, nhiều khóe mắt rướm đỏ, không riêng phụ nữ, nhiều
ông cũng lấy khăn chặm nước mắt. Đây là lần thứ hai
chúng hội xúc động, buổi vấn đáp tối qua, một tu
sinh đã giải bày nổi bức xúc với thái độ thiếu cảm
thông với mẹ, hai mẹ con và chúng hội cùng thút thít khi
nội kết được giải toả, sinh khí gia đình được làm mới,
tái lập cảm thông; Lễ cài Hoa hôm nay, xác định ân trọng
đối với muôn loài, gần gụi nhất là mẹ cha mình.
Hợp
xướng Bông Hồng Cài Áo được Tăng Thân Làng Mai trình bày,
lời thơ Nhất Hạnh, nhạc Phạm thế Mỹ; một nhạc bản
nổi tiếng, có giá trị vượt thời gian, và tạo niềm xúc
cảm vào mùa Vu Lan trên đất nước ta nhiều thập niên qua;
hai hàng tu sĩ nâng hoa tiến về chư tôn đức, từng cánh hoa
trắng đỏ đã nở trên mãnh áo dà, thấm vào huyết quản
của những người hiện diện. Hoa trắng , màu tang tóc cho
những ai mất mẹ, hay là một tình thương tinh khiêt trắng
trong dành cho đấng sinh thành đã khuất. Màu Hồng, màu kiêu
sa hãnh diện khoe sắc cho những ai mẹ cha vẫn còn có mặt
trong đời, thế nhưng, Thiền sư Nhất Hạnh vẫn chọn cho
mình cánh hoa màu Đỏ thắm, tuy mẹ cha đã khuất núi lâu
rồi, bởi vì, từng tế bào trong Ngài, vẫn là mạch sống
huyết thống lưu diễn của ông bà cha mẹ, cha mẹ vẫn có
mặt trong Người qua từng hơi thở, nhịp đập con tim, đó
là sự có mặt thường hằng, sự tồn tại miên viễn của
tình thương và ân nghĩa;
Tiếng
sáo đệm cho lễ cài hoa qua nhạc bản Bông Hồng Cài Áo, Lòng
mẹ, tạo một sinh khí đầm ấm, cảm động và nghệ thuật;
Cả hội chúng, ánh mắt, nụ cười và giọng nói trao nhau
như phưởng phất cái gì cảm thông, êm dịu và biết ơn!
Tiếp
theo chương trình, sư ông và đại chúng tiến ra sân, đối
diện Thiền đường, cách hơn hai trăm mét là công viên Bông
Hồng, một biểu tượng hoan hỷ của những người con tung
tăng bên chân mẹ, vì em còn mẹ; một tác phẩm sinh động
lớn bằng người thật, đứng trên đế cao, giữa vườn hoa,
núi đá và hồ nước, dưới bầu trời thoáng rộng giữa
đồi thông, một áng mây trắng vờn qua điểm tô sắc xám
bức tưuợng thêm duyên dáng, mẹ VN. (Hình
bên tượng bông hồng - Click xem hình lớn hơn)
Sư
ông, TT trụ trì và chư Tôn Đức hiệp tâm chú nguyện khánh
thành công viên Bông Hồng, quan khách và tu sinh vây quanh chiêm
ngưỡng, dưới cái nắng cao nguyên, đủ xóa tan sương lạnh
của đêm; rải rác dưới cội thông, trên đường mòn, thấp
thoáng các tăng thân thanh thản thiền hành, các tu sinh đàm
đạo; cảnh thanh bình hay cỏi Tịnh Độ được thiết lập,
bầy chim rừng lãnh lót thi đua với hồi chuông tỉnh thức
nhắc nhỡ hành giả trở về với hơi thở và bước chân!
Sau
5 ngày tham dự khóa tu, mọi người như thâm nhập được lối
truyền thông với xã hội, như cảm thông với huyết thống
và tâm linh, tất cả hòa một, mình là tất cả, tất cả
là mình, một sự thẩm thấu sâu xa, cơ sở phát triển tình
thương và hiểu biết.
Lể
cài Bông Hồng để kết thúc khoá tu mang một ý nghĩa tạ
ơn vạn loại, nhắc nhở người tham dự một sự biết ơn
để hoá giải mọi mắc mứu trong cuộc sống, vì tất cả
đều là ân nhân của chúng ta trên tinh cầu có nhiều quan
hệ ràng buộc lẫn nhau, vì thế cần phải Hiểu và Thương,
đó là con đường của hòa hợp và an lành.
Những
ngày sau cùng khóa tu, lượng người đổ dồn về quá đông,
mỗi ngày phải hơn 10 tạ gạo, chưa kể điểm tâm sáng,
các lò bánh mì ở Blao, sáng hôm nay không đủ cung
cấp ngoài thị trường, xe tải lương thực cho tu viện phải
túc trực tại các lò từ 4g khuya, vậy mà, buổi cơm
trưa cuối cùng, một số tu sinh phải ra ngoài tiệm, vì ngày
hôm trước, cơm không nấu thêm kịp, các thùng mì gói cũng
sạch nhẵn, mọi người nhường nhau một các vui vẻ;
Một
khoá tu không những tạo sự thân thiết cho người đồng tộc,
ngay cả người Tây phương, người Thái, người Nhật,
Đài Loan… có mặt trong pháp hội cũng cảm nhận được mình
là con chung của đấng cha lành.
Bài
của Minh Mẫn
04/3/07
Bài
Đọc Thêm:
Tu
Viện Bát Nhã:
http://www.thuvienhoasen.org/cvn-lamdong-batnha.htm

|
.
SÁU
NGÀN NGƯỜI DỰ LỄ XUẤT GIA CỦA 77 GIỚI TỬ
TẠI
TU VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG
Minh
Mẫn
Sáng
ngày 4/3/07 tức ngày 15/01/ Đinh Hợi, nơi núi đồi, vạn vật
còn co mình say ngủ trong sương đêm, tu viện Bát Nhã diễn
ra một buổi lễ Xuất gia cho 77 em, trong đó có cả các em
sắc tộc, từ nhiều nơi đến.
Khoá
tu 5 ngày dành cho cư sĩ bắt đầu từ ngày 12 tháng giêng
âm lịch, nhân chuyến hoằng pháp lần thứ hai của sư ông
Nhất Hạnh về quê hương. Trên 6 ngàn người được ghi nhận
vào ngày thứ ba của khóa tu, những ngày đầu sư ông
và tăng thân làng Mai hướng dẫn thực tập chánh niệm,
nếp sống tỉnh thức, các buổi pháp thoại, chia nhiều nhóm
sinh hoạt mang tính cách Gia Đình trong những bữa ăn, dưới
các táng tùng, thông, rãi rác trong một diện tích thông thoáng
giữa gió nội chim rừng. Các thành viên chia xẻ nhau những
tâm tư, tình cảm, những mắc mứu gia cảnh, để giải tỏa
hầu thăng tiến trong sự tu tập.

Mới
ba giờ sáng, mọi người thức giấc, tuy không có tiếng nói,
nhưng âm thanh xào xạc của những bước đi trên sỏi cát,
trên lá khô, đã báo hiệu dòng người đổ về thiền đường
Bát Nhã. Bốn giờ hơn, trong thiền đường hầu như không
còn chổ, người đến sau ngồi, đứng chung quanh vỉa
hè thiền đường, lan ra ngoài sân dưới cái lạnh và sương
muối của vùng cao nguyên về khuya. Ban tổ chức phải thiết
lập thêm màn ảnh rộng bên ngoài để trực tiếp truyền
tải buổi lễ. Hình như có dấu hiệu mưa nhẹ phía ngoài
sân.
Đúng
năm giờ, sư ông và chư Tôn Đức, thanh tịnh tăng Làng Mai
đều có mặt đông đủ, trong bộ y vàng trang nghiêm của
bậc Ứng Cúng. Sư ông, mở đầu buổi lễ bằng sự thực
tập quán sát hơi thở. Thiền đường lặng chìm trong tiếng
chuông ngân, vài cơn ho khúc khắc của người bị nhiễm lạnh,
không đủ xóa tan bầu không gian tĩnh lặng hùng tráng của
Thiền đường. Hòa Thượng chủ lễ niêm hương xưng tán
và đảnh lễ Tam Bảo. Đặc biệt, đại chúng cũng đảnh
lễ cả tổ Luật sư Ưu Ba Li, Tôn Giả Xá Lợi Phất,
Tôn Giả Ma Ha Mục Kiền Liên, Ananda, ni trưởng Kiều Đàm
Di… và chư tổ từ Thiên Trúc đến VN…
Trưa
hôm qua, trong bữa cơm quả đường, lần đầu khóa tu, sư
ông tham dự cùng đại chúng để chứng minh buổi lể cáo
bạch Tam Bảo của những tín tâm xuất gia, 4 vị một cầm
hoa hồng tiến lên cúng dường, cứ thế mà khi số lượng
giới tử hoàn tất, đã nhịp nhàng thanh thảng vòng ra,
nhập hàng một cách trật tự, như đã được tập dợt kỹ.
Toàn
thể Thiền đường đồng xướng tụng Bát Nhã Tâm kinh
bằng âm Việt; Nghi thức truyền giới Sa Di, Sa Di Ni được
khởi đầu bằng sự vấn đáp theo luật nghi Thiền Môn. Bầu
không khí buổi lễ nâng tâm thức đại chúng lên tầng số
thanh tịnh xuất trần khó diển đạt! Ánh sáng từ những
bóng đèn néon trên trần, tỏa xuống êm dịu, làm tăng vẻ
đẹp của đức bổn sư màu gạch nung với vầng hào quang
thạch cao trắng toát, hương trầm lan tỏa nhẹ, trang điểm
vài chậu cây, chậu hoa trang nhã.

Giới
tử đảnh lễ công ơn cha mẹ, công ơn Tam Bảo, công ơn quốc
gia thủy thổ, thầy bạn tri thức, kể cả vạn vật
cỏ cây mười phương, một sự tri ân nhiều cảm xúc của
bậc mang chí nguyện xuất trần đã làm rung động đại chúng,
nâng tầm vóc cao thượng của bậc xuất gia, tăng thêm sự
tôn kính của Phật tử tại gia có mặt trong buổi lễ.
Hình ảnh bậc xuất gia trở thành cái gì tôn quý mà thế
nhân không thể có. Trong số giới tử phát tâm xuất gia, có
những vị lâm vào hoàn cảnh đáng thương, cha mất, mẹ tái
giá, ông bà nội nuôi dưỡng, tuy sung túc, nhưng vẫn hướng
về Chánh Pháp. Cũng có vị bỏ gia đình đang hạnh phúc, chỉ
vì quá sùng phụng lý tưởng của người xuất gia.
Chư
tăng ni tăng thân hộ đàn xướng tụng bài tán Dương Chi,
Thanh Lương Địa Bồ Tát, Bồ Tát Quán Thế Âm thật du dương,
trong lúc Thiền sư và chư Tôn Đức thân giới sư rãy nước
nhành dương lên từng giới tử.
Cạo
sạch mái tóc nguyện cho mọi người dứt hết phiền não,
vượt thoát cho đời. Cứ thế, thầy xướng ba lần cho giới
tử cùng nguyện theo. Tiếp đến sư ông đọc thập giới Sa
Di một cách mạnh mẽ và trong sáng tác động vào từng tâm
hồn mọi người. Cũng những giới luật đó, sao mà sáng tỏ,
thâm thúy, xúc cảm và dể hiểu bằng ngôn ngữ bình dị của
Thiền sư. Ôi, những giới luật thâm thúy có khả năng giúp
cho người tu vượt thoát mọi đam mê cám dổ. Sau khi giới
tử khấn nguyện thọ trì mười giới, 77 vị được hướng
dẫn đảnh lễ tạ ơn Tam Bảo, vì biết rằng thân người
rất quý, gặp được Tam Bảo là hy hữu, đời người như
thoi đưa, mỏng manh, qua mau, không để uổng phí trôi qua một
cách vô vị. Đó là lời sách tấn khuyến tu của thầy
Bổn sư truyền giới.
Đẹp
thay áo giải thoát, áo ruộng phước nhiệm mầu, con cúi đầu
tiếp nhận, đời đời nguyện mang theo, sư ông xướng cho
giới tử đọc, từng bộ y đặt trên tay các vị giới sư,
trao tặng cho từng vị tân Sa Di, Sa Di Ni, thật cảm động
và thiêng liêng!
Sư
ông đặt Pháp danh từng vị, sau đó đọc kệ truyền thừa
tông môn, và các giới tử là đời thứ 43 thuộc Lâm Tế
tông.
Buổi
lể hoàn tất trong sự tôn kính và đầy xúc động. Tất cả
đồng tụng bài Hồi hướng lể Xuất gia.
Mọi
người ra khỏi thiền đường, giới tử còn lại để đoạn
lìa mái tóc phiền não, với sự gia trì của chư Tôn Đức,
sự chứng kiến của cha mẹ, bà con.
Giờ
đây, Xuất gia đã có ý nghĩa : Xuất thế tục gia, xuất phiền
não gia, xuất tam giới gia.
Từng
giọt nước mắt long lanh trên khóe mắt tân Sa Di, họ vì cảm
động, vì tưởng nhớ bao công ơn to lớn của Tam Bảo, cắt
đứt mọi liên hệ tình cảm thế nhân hay khóc vì có
người xuất gia trong sự đơn độc, không thân bằng quyến
thuộc, giữa rừng người có mặt. Có lẽ đây là buổi lễ
xuất gia đặc biệt hiện dịện trên sáu ngàn người,
có chứng minh của Thiền sư Nhất Hạnh va tăng đoàn Làng
Mai, trong bầu trời thanh khiết tận chốn núi đồi xa
phố thị Bảo Lộc.
Một
tia nắng sớm bắt đầu xoá tan sương lạnh, sáng nay không
đi thiền hành mà đoàn người kéo dài hàng cây số như sáng
hôm qua, quanh tu viện. Mọi người lặng lẽ tìm chổ ngồi
điểm tâm để hồi tưởng lại buổi lể xuất gia trang nghiêm
thanh tịnh đầy ấn tượng tại tu viện Bát Nhã.
Một
tân Sa Di Ni hãnh diện một hình thái mới, đầu vừa sạch
tóc, súng sính trong chiếc áo dài lam, mỉm cười đi ngang mọi
người ngồi dưới đất, trong sân tu viện: Em kính chào mấy
sư chị. Có người trong nhóm đáp: chào sư em, sư
em tên gì? Dạ, em là Nguyệt Nghiêm, tiếng nói kéo dài như
hảnh diện vì đã bắt đầu gia nhập vào đoàn thể người
xuất gia kể từ hôm nay.
MINH
MẪN
4/03/2007
|
.
NĂM
NGÀY CÙNG TĂNG ĐOÀN LÀNG MAI TẠI BẢO LỘC:
đêm
ở Tu Viện Bát Nhã
Chủ
Nhật ngày 04 tháng 3 năm 2007
Bài
và hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt
LÂM
ÐỒNG - Trọng tâm chuyến về Việt Nam của Thiền Sư Thích
Nhất Hạnh lần thứ hai là các Ðại Trai Ðàn Chẩn Tế Giải
Oan những người đã chết trong chiến tranh. Tuy nhiên sau lần
pháp thoại ở chùa Pháp Vân, Vĩnh Nghiêm, khóa tu 5 ngày của
đoàn tăng thân Làng Mai tổ chức cho đại chúng ở chùa Bát
Nhã-Bảo lộc trở thành sự kiện được chờ đón.
Kể
từ khi thiền sư Nhất Hạnh rời đất nước, lần đầu tiên
sau hơn bốn mươi năm, đại chúng Phật tử nội địa Việt
Nam mới có dịp dự và kiểm chứng pháp môn thiền nổi tiếng
ở nước ngoài của Sư Ông Làng Mai.
Khóa
tu ngắn ngày của đoàn tăng thân Làng Mai
Chúng
tôi không được chấp nhận cho đi theo đoàn Phật tử Sài
Gòn lên Bảo lộc với lý do là không còn chỗ. Chuyện một
nhóm Phật tử dù nhỏ bị từ chối một chuyến đi chùa theo
đoàn vào mùa lễ hội sau Tết Nguyên Ðán vốn là một việc
hiếm thấy ở Việt Nam.
Chúng
tôi đi Bảo Lộc bằng chuyến xe bus của một hãng du lịch,
xe rời Sài Gòn chỉ có khoảng 20 người khách, ngoại trừ
một số Tây du lịch ba-lô, một hai cặp vợ chồng đi Ðà
Lạt hóng mát, trong số khách còn lại, nhìn hành trang mùng
mền chăn gối họ mang theo và nghe họ dặn dò tài xế cho
xuống ở Bảo Lộc, chúng tôi đoán họ đều là những người
hâm mộ Thiền Sư Nhất Hạnh thuần thành, náo nức đi dự
khóa tu.
Một
người đàn ông trung niên đầu bạc, lông mày bạc, ngồi
ở hàng ghế trước mặt tôi nói với người vợ gầy gò
của mình: “Tại bà không chịu đọc báo, người ta quảng
cáo rằng Việt Nam trong sáu mươi năm qua thầy Nhất Hạnh
của mình và ông Võ Nguyên Giáp là người nổi tiếng nhất
Việt Nam.” Bà vợ nói: “Vậy không có bác Hồ à.” Người
chống gắt: “Cái bà này khờ quá, báo nước ngoài người
ta sợ gì Ðảng, cứ xếp theo ý của người ta.” Chúng tôi
với tay khều vào vai người đàn ông, hỏi thăm ông về việc
làm cách nào để được nhận vào khóa tu. Sau khi được biết
chúng tôi gồm có bốn người, anh cười nói: “Tôi có quen,
để tôi lo, sở dĩ tôi không đi theo đoàn vì các thầy của
mình tổ chức kém lắm, mướn toàn xe cũ, nằm đường hoài
nên vợ chồng tôi rút kinh nghiệm bỏ xe đoàn đi xe ngoài
cho khỏe người.” Chúng tôi lại băn khoăn về việc làm
sao để có một chỗ ăn, chỗ ngủ trong một khóa tu nghe nói
tới hàng ngàn người ghi danh, rồi còn nghe nói quanh chùa toàn
là đồi đất trống trơn, không quán ăn, không nhà trọ. Người
vợ nói: “Anh chưa lên chùa Bát Nhã lần nào à, Trời ơi
lớn khủng khiếp lắm! Của Sư Ông hết đó. Bảo đảm khỏi
lo đi.”
Tu
Viện Bát Nhã nằm trên một ngọn đồi cao giữa chập chùng
những ngọn đồi chè xanh ngút mắt. Dân địa phương cho biết,
trước đây đời sống được khá hơn nơi khác nhờ xã có
khu du lịch thác Ðamb'ri, còn nay Trời Phật lại khiến có
chùa Bát Nhã mà dân nghèo ở xã Ðamb'ri được hưởng lợi.
Nếu bạn muốn hình dung quy mô về diện tích của tu viện
Bát Nhã thì chúng tôi xin kể hầu bạn một mẩu chuyện sau
đây. Ông C., một Việt kiều Mỹ, tạm thời gác việc làm
ăn ở Sài Gòn, lên dự khóa tu, anh được xếp vào nhóm gia
đình ngủ nghỉ ở chánh điện nhà chùa. Sau đêm đầu tiên
ngủ ở tu viện, sáng ra sư cô phụ trách hỏi: “Con ngủ
có ngon không!” Ông nói: “Dạ, đã là tu nên con đâu màng
vật chất, nhưng con lớn tuổi rồi gặp chỗ lạ khó ngủ,
lại thêm cái bệnh đêm nào cũng đi tiểu vài lần mà vài
lần đi từ chỗ ngủ tới nhà vệ sinh, tính luôn cả thời
gian chờ tới phiên mình vậy là trời sáng mất rồi.”
Ngay
cổng vào thiền đường Cánh Ðại Bàng, hàng quán của dân
địa phương chỉ sau một đêm đã mọc lên để phục vụ
khách tu. Không thấy bóng dáng công an mặc sắc phục. Trước
cổng tu viện có cả một đội bảo vệ tư nhân làm nhiệm
vụ giữ trật tự. Một bà che lều bán cà phê, cơm bún chay,
nói giọng Bắc: “Thầy quản chúng rất nghiêm, bảo không
được bán rượu bia, thuốc lá. Chúng em chỉ phục vụ người
tu nghèo, nhà giàu, giờ nghỉ tu người ta đi thị xã hoặc
khu du lịch thác Ðamb'ri chơi hết cả.”
Những
mẩu chuyện giữa các bạn đồng tu
Bà
T., từng là một cán bộ, tâm sự: “Anh nhà tôi là một cán
bộ tập kết, được tổ chức giới thiệu chúng tôi lấy
nhau và sinh được hai cháu. Khi đất nước hòa bình được
ít năm, tôi xin nghỉ mất sức, rồi đến lúc con chúng nó
trưởng thành tôi muốn đi chùa lễ phật để được nhẹ
nhàng nhưng chồng tôi nhất định cấm. Anh nhà tôi bảo, tôi
là Ðảng viên còn bà thì cứ mê tín, chúng nó trông vào thì
còn ra làm sao. Tôi thì không thể không đi chùa được vì
phát hiện trong máu trong tim mình nghe tiếng kinh từ kiếp nào
đấy. Anh nhà tôi lấy vợ khác, tôi may mà các con nó thương,
chúng bảo. Mẹ đúng đấy mẹ ạ, con người mà cứ lý tưởng
cái vật chất luôn thì đâu ra con người.” Bà T nói xong
rồi òa khóc, có nhiều người phụ nữ từng là cán bộ khác
cũng có hoàn cảnh như bà T. Và họ thay nhau nói và khóc.
Vào
giờ nghỉ chờ cơm trưa, một cô gái trẻ lại kể với chúng
tôi. “Gia đình em ở Hà Nội, bố mẹ đều là công nhân.
Trước đây nhà em không biết đến tín ngưỡng, nhưng một
hôm em lên chùa Quán Sứ tình cờ đọc được kinh Pháp Hoa,
lòng lúc ấy đã quyết đi tu. Tới khi nhìn thấy ảnh của
Sư Ông trên báo em biết đây là thầy của mình.”
Và
đây là mẩu chuyện của một Việt kiều Mỹ, ông kể cho
chúng tôi nghe trong một buổi sáng ở quán cà phê trước cổng
chùa. “Tôi về Sài Gòn làm ăn hơn mười năm, nghề của
tôi là làm nước đóng chai tinh khiết và chuyển giao các giải
pháp kỹ thuật cho các ngành nghề có liên quan đến công nghệ
sạch, hai năm đầu bị giật hết một tỷ rưỡi. Năm tiếp
theo bị giật hết năm trăm triệu. Tôi hận lắm! Nhờ Sư
Cô Chân Không dạy mà tôi coi như đòi được số nợ bị
chúng nó giật bằng cách buông bỏ đi. Thật là trước đó
giá trị con người tôi không thể đạt tới tầm đó.”
Từng
người mang đến cho bạn đồng tu của mình không chỉ những
kinh nghiệm tâm linh mà còn là những cảm xúc của hoàn cảnh.
Với
đại chúng bình dân, bên cạnh những lời giãi bày rất thành
thật về con đường tìm đến với pháp môn của Thiền Sư
Thích Nhất Hạnh thì vẫn còn đó vô số thắc mắc, những
thắc mắc mà phải chờ đến tối về nhà nghỉ họ mới
to nhỏ với nhau, như, Tu gì mà chỉ thở ra thở vào coi dễ
mà mau chán lắm, tu vậy sao mà thành. Không tụng các thời
kinh công phu là sai rồi, gì đâu toàn đờn hát giống ở nhà
thờ quá. Lúc lạy, nằm mộp lâu như mấy ông đạo Hồi,
dị gì đâu...
Ðêm
ở tu viện Bát Nhã
Nhờ
các bạn tu quen trên xe bus giúp đỡ, chúng tôi được các
ni-tăng ở bộ phận tiếp nhận. Chúng tôi được phát một
cái thẻ đeo trước ngực, được phân về các gia đình tu.
Trên đường hướng dẫn chúng tôi đến chỗ nghỉ, một sư
cô trẻ cho biết: “Chùa dự trù chỉ đón một ngàn người,
nhưng vì Phật tử lên đông quá nên Sư Ông nói. Phật tử
có đăng ký hay chưa đăng ký, họ có lòng đến tận đây
tu học, cứ mở cửa đón hết, thành ra bây giờ có cả mấy
ngàn người.” Sư Ông trong buổi pháp thoại có nói rằng
ban tổ chức cho Sư Ông biết có tới 6,000 người có mặt
trong tu viện. Nhưng chúng tôi thường đi coi đá banh ở sân
vận động nên theo chúng tôi đại chúng dự tu ước chừng
chỉ trên dưới 2,000 người.
Ðại
chúng bình dân được xếp nghỉ tạm trong chánh điện, thiền
đường, dãy lầu nhà tiếp hiện, chỗ nằm qua đêm lạnh
vùng cao nguyên của họ chỉ là trên manh chiếu ni-lông vừa
đủ thẳng chân. Ðại chúng khá giả bao gồm cả những Việt
kiều không quen ngủ bụi được dành cho một khu phòng riêng.
Hơn một trăm tu sinh và người nước ngoài theo sư ông về
Việt Nam dự khóa tu thì lại bao hết khách sạn lớn ở thị
xã Bảo Lộc, họ vào ra tu học có xe bus đưa đón. Một cặp
vợ chồng già ở Sài Gòn tâm sự: “Hồi tui với bả lấy
nhau tới giờ chưa từng có chuyện hưởng tuần trăng mật,
đi du lịch riêng với nhau cũng không. Ðây là lần đầu tiên
vợ chồng tôi xếp lại chuyện chạy kiếm ăn để đi tu chung
một chuyến. Ðâu có kinh nghiệm gì đâu mà chuẩn bị áo
ấm với chăn mền. Ðêm thấy bả nằm lạnh co rút người
mà cứ lo trong bụng ngủ không được.” Một người đàn
bà ra dáng giống một Việt kiều, nói: “Sư ông dạy đi,
đứng, nằm, ngồi, gì cũng phải an trú trong hiện tại. Lần
đầu tiên bà nhà ông đi xa nhà mà được nằm trong chánh
điện nhà chùa vậy là bà nhà ông gặp phước báu lắm đó
ông ơi.”
Buổi
sáng sau giờ ngồi thiền ở thiền đường Cánh Ðại Bàng,
chúng tôi hỏi thăm mấy người đàn bà đang mua bắp trái
luộc ngoài cổng chùa thì được biết họ là nông dân nhà
ở xã Ba Lăm, huyện Hàm Thuận Bắc, họ ghi danh dự khóa tu
từ Tháng Mười Một, 2006, và đóng tiền bao xe mỗi người
120,000 đồng. Hai người đàn ông quê ở tận Gia Lai cùng chia
sẻ nhận xét. Nhìn cảnh ăn ngủ của mọi người trong khóa
tu này sao thấy giống chuyện chạy giặc tản cư ngày xưa.
Rồi thay vì thực hành ngay những nội dung được hướng dẫn
trong ngày về các bước ngồi thiền thở ra, thở vào... họ
ngồi, bùi ngùi nhắc lại chuyện một thời chạy giặc.
Giấc
ngủ của hai người đàn ông nằm cạnh tôi đêm đó chắc
là đầy ác mộng bởi họ liên tục nói mớ và đập tay xuống
chiếu la hét kêu rên những tiếng hoảng loạn. Riêng tôi thì
có một đêm không ngủ để nằm nghe tiếng ngáy như sấm
vì mệt nhọc, tiếng nói mớ vì ác mộng của những người
bạn “cầu đạo” chung phòng. Ðến gần sáng thì có một
con ngựa trời có lẽ vì muốn gần gũi với một khoảng không
gian ấm hơi người nên bay vào đậu trên cái ba lô của tôi.
Tôi không hiểu sao con ngựa trời này không chịu bay đi. Tôi
chợt nghĩ hay đó là một vị Bồ Tát hóa thân để chia sẻ
với chúng tôi, có lẽ nó biết cái vất vả thể xác của
một giấc ngủ, một thoáng ác mộng trong một đêm của chúng
tôi là không đáng gì, nhưng dù sao một chút chia sẻ vẫn
cứ phát xuất từ tấm lòng từ bi-đại lượng. Ðêm Bảo
Lộc vẫn vắng lặng, những cảnh đời cảnh tu vẫn cứ phân
biệt mịt mùng.
Có
rất đông Phật tử từ Hà Nội, Quảng Bình, Huế, Ðắc Lắc,
Cà Mau. Trải qua trong nhiều ngày đường đến dự khóa tu,
người trẻ thì ít người già thì nhiều, nhiều nhất là
các cụ bà. Cái gì giúp họ vượt qua mọi cực nhọc ở cái
tuổi mà ai cũng sợ chuyện đi xa. Ðại danh của Thiền Sư
Thích Nhất Hạnh hay pháp môn thiền Làng Mai! Chắc chắn là
cả hai và cả hai lý do trên đều phát xuất từ một cơ sở
Thiền Sư Nhất Hạnh và Pháp Môn từ nước ngoài về và trong
đó có cả lòng thán phục các vị tăng-ni người Tây theo
về. Nhưng liệu phương pháp Thiền đã từng làm tỉnh thức
những tâm hồn của những người sống trong xã hội công
nghiệp thời hậu hiện đại ở phương Tây, cái phương pháp
thiền ấy sẽ giúp những người nông dân, lao động Việt
Nam an trú trong hiện tại như thế nào khi mà nỗi ám ảnh
về chuyện thiếu mặc, đói ăn, bị đối xử bất công vẫn
cứ thường trực gây âu lo, buồn khổ trong tâm hồn họ.
Bệnh
lý trong tâm của người Việt Nam lúc này không đồng với
những vấn nạn con người của xã hội phương Tây. Những
ngày ở khóa tu, đại chúng được Sư ông Làng Mai và sư cô,
sư tăng trong đoàn luôn dạy hãy ngừng vọng tưởng quá khứ
và tương lai, hãy buông thư mỉm cười an trú trong hiện tại.
Nhưng tập tính lăng xăng kiếm thêm chút tiền để thủ thân
hay bận rộn cúng dường sám bái, bố thí cũng là một cách
kiếm thêm nghiệp lành cho cái tâm.
Với
những người Việt Nam chân chất, tạp niệm quá khứ và vọng
tưởng tương lai trong tâm đại chúng hôm nay chính là sức
mạnh sống bền vững của họ.
Nguồn:
Nhật báo Người Việt
|
PHƯƠNG
BỐI ĐẠI GIỚI ĐÀN

Sáng
ngày 10/03/2007 nhằm ngày 21 tháng giêng năm Đinh Hợi, Giới
đàn Phương Bối được khai tại tu viện Bát Nhã theo
chương trình đã hoạch định.
Qua
năm ngày khóa tu cho cư sĩ, tiếp đến là khoá tu cho tu sĩ
vừa hoàn mãn vào ngày 9/3, lượng số tu sĩ tham dự trên 1.200
người, dĩ nhiên ít hơn khóa cư sĩ, nhưng chư tăng chư
ni vân tập tham gia, đã khép mình trong thiền quy một
cách tự nguyện, tự giác, vì thế không khí tu viện trong
những ngày qua mang đậm sắc thái tín ngưỡng tôn giáo mà
không bị pha tạp những thô tháo đời thường..
7giờ
sáng, tất cả hội chúng vân tập về chánh điện làm
lễ bái Phật thỉnh sư; sau nghi thức, Thiền sư cùng chư tôn
giáo phẩm, chư tăng ni, phật tử thong dong thiền hành nghinh
rước giới bản Ba La Đề Mộc Xoa, theo vòng đai tu viện Bát
Nhã để vào Thiền đường Cánh Đại Bàng. Đoàn người kéo
dài, tuy không như khóa tu cư sĩ hàng cây số, sáng nay, thấp
thoáng hình bóng chư tôn đức, các giới tử, các Phật tử
và khách tham quan rãi bước chân thảnh thơi trên lối mòn
sỏi đá.
Trời
trong xanh không một gợn mây, gió núi thoang thoảng mùi nhựa
thông, mùi chè lá và cỏ cây ẩm mục. Một số Phật tử
tham dự thọ giới Tiếp Hiện, từ các tỉnh xa xôi, đến
Bảo Lộc, nghĩ lại khách sạn, để vào tu viện thật sớm,
chư tăng ni tham dự khóa tu hôm rồi, một vài vị lưu lại,
các giới tử Sa Di, Tiếp Hiện cũng đã đến tu viện trước
một hôm để Ban tổ chức hướng dẫn nghi cách. Thập sư
tăng và ni cũng có mặt tại Bát Nhã.
Lễ
khai đàn và cung an chức sự bắt đầu…
Sau
lể khai đàn, sư ông và chư tôn túc về hậu liêu nghĩ ngơi,
ban tổ chức do thầy Pháp Ấn, tăng thân làng Mai sắp xếp
nghi thức hành lễ, vị trí giới tử và chư tăng ni Hộ Đàn.
9 giờ 30, tất cả đều vân tập và ổn định tại Thiền
đường; sự hiện diện hàng trăm vị có mặt; những bóng
y vàng và màu lam khói của áo tràng ngồi chìm sâu trong Thiền
đường trên 2000 m2 như những búc tượng, bốn bề gió chui
qua các cửa kiến làm thoáng hơn bên trong Thiền đường. Cái
nắng hanh và gió hiu hiu làm sống lại cảnh núi đồi các
trại học tập hay vùng Kinh tế mới, xa dân cư, xa phố thị,
xa cuộc sống đời thường.
Sa
Di thọ giới 54 vị,
Sa
Di ni 92 vi,
Số
lượng Tỳ kheo, Sa Di thọ giới Tiếp Hiện là 99 vị,
Cư
sĩ giới Tiếp Hiện 66 vị,
Số
lượng giới tử Bếp Lửa Hồng và Diệu Nghiêm thọ giới
Tiếp Hiện là 93 vị.
Hồi
chuông thong thả rãi vào không gian tĩnh lặng cứ như vào chốn
hoang dã, đại chúng nghiêm trang chấp tay đứng hai hàng để
nghinh thỉnh Thiền sư và Tam sư Thất chứng đăng lâm Đại
Đàn, vài phút trầm lặng lại tiếp tục trôi qua, sau đó
Thiền sư xướng niệm danh hiểu đức Bổn sư, và rồi nghi
thức khai đàn, do giới sư đại diện làm tác pháp Yết Ma
thỉnh vấn đại chúng; Sư ông xướng đảnh lễ công ơn cha
mẹ, ân Tam Bảo trong 10 phương, mang ơn Thiện hữu tri
thức, đảnh lễ thầy bạn, mang ân cây cỏ đất đá, cúi
đầu đảnh lễ Tam Bảo trong 10 phương. Tất cả giới tử
quỳ xuống chấp tay búp sen lắng nghe Sư Ông diễn xuớng 10
giới Sa Di, Sa Di Ni. Cứ mỗi giới khi tuyên xướng, sư ông
đều hỏi: giới tử có tiếp nhận, học hỏi và hành
trì được không! giới tử đồng đáp: Dạ thưa có; cứ thế
mà lượt qua 10 giới, sư ông diễn đạt rõ ràng và sâu
lắng giới luật mang tính đạo đức bản thân và căn bản
hoà bình cho cuộc sống, mang tính cập nhật của giới luật
với cuộc sống thực dụng hiện nay!
Sư
ông nhắc cùng đại chúng, thời giờ thấp thoáng qua mau như
thoi đưa, hãy tinh cần tu tập để khỏi uổng mất đời người.
Tất cả giới tử nghe chuông đồng quỳ lạy tạ ân Tam Bảo
vừa được tiếp nhận gíới luật quý báu của người tu.
Mọi người lắng lòng như hòa tan vàokhông khí tươi mát của
đất trời và nhẹ thênh bởi sự thanh khiết của giới hạnh.
Lần lượt giới tử quỳ xuống, đưa đôi tay, cúi đầu tiếp
nhận y do Chư tôn ban tặng:
Đẹp
thay áo giải thoát
Áo
ruộng phước nhiệm,
con
cúi đầu tiếp nhận,
nguyện
đời đời mang theo,
Đại
chúng dọc theo lời xướng của Sư Ông ba lần, đoạn kinh
tụng hồi hướng được ngân vang. Sư ông thay mặt Thập sư,
chúc mừng tân Sa Di, Sa Di Ni vừa tiếp nhận giới luật và
Y pháp.
Vào
lúc 14 giờ cùng ngày, đại chúng vân tập trở lại Thiền
đường tiến hành lễ Thức Xoa Ma Na của Sa Di Ni. Giới tử
Sa Di, tăng Ni gần 400 vị.
Một
Ni Sư trong Thất chứng, mở đầu cho buổi truyền giới Sa
Di Ni bằng lời niêm hương tác bạch Tam Bảo, phát nguyện
và đảnh lễ mười phương chư Phật.
Lời
xướng của Ni Sư chủ lễ ngân vang, chìm khuất giữa đất
trời tĩnh mịch, ngoài sân, mặt trời cũng mất dấu,
để lại một ánh sáng mát dịu phủ trùm trên các đồi chè
thoai thoải. Một Ni sư đại diện làm lễ tác pháp. Sư Ông
lập lại nghi thức tri ân cha me, Tam Bảo, quốc vương thủy
thổ, thầy bạn và vạn loài như lúc sáng. Các giới Thức
Xoa được tuyên xướng theo nghi thức thọ Sa Di lúc sáng.
Sư
Ông cùng đại chúng đọc lời phát nguyện và hồi hướng.
Giới
Đàn tặng chư vị tân Sa Di, Sa Di Ni bộ luật nghi.
Để
tiếp theo buổi truyền giới Tiếp Hiện, Đại chúng tạm lui
về an nghỉ. Sau 3 giờ lễ truyền giới Tiếp
Hiện cho Tu Sĩ lẫn cư sĩ sẽ tiếp diễn.
Thiền
sư Nhất Hạnh đăng lâm Giới Đàn, làm lễ Tác pháp Yết
Ma để truyền thụ 14 giới Tiếp Hiện.. Giọng từ hòa
xứ Huế, Thiền sư tuyên đọc từng tên các giới tử như
mềm mại của án mây bạc làm dịu cái nắng bất thường
của cao nguyên. Có lẽ giọng thiền sư yếu hơn lần về chuyến
trước, sư ông đã 82 tuổi mà vẫn không an nghỉ, vẫn vân
du hoằng hóa thế giới.
Chư
tôn giáo phẩm ngồi hai hàng cùng chư hội chúng
hướng mặt nhau, riêng các giới tử hướng về Đưc
Bổn sư, lần lượt từng người đứng lên chắp tay khi nghe
tên mình được đọc kem theo pháp danh.
Sư
ông ba lần xướng cho giới tử đảnh lễ Tam bảo đền ơn
cha mẹ, sư trưởng giáo huấn, bằng hữu Thiện tri thức,
vạn loài chúng sanh và môi trường sống, xin đảnh lễ khắp
10 phương. Tất cả đều quỳ, chấp tay lắng nghe. Sư ông
giải thích và khuyến nhủ giới tử hãy lấy hạnh Bồ Tát
để giúp đở chúng sanh.
Đây
là Giới Thứ Nhất:
Ý
thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu
bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng
mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào,
một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo.
Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những
pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và
từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và
bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo
động.
Đây
là Giới Thứ Hai:
Ý
thức được những khổ đau do kiến chấp và vọng tưởng
gây ra, con xin nguyện thực tập để phá bỏ thái độ hẹp
hòi và cố chấp, để có thể cởi mở và đón nhận tuệ
giác và kinh nghiệm của người khác. Con biết rằng những
kiến thức hiện giờ con đang có không phải là những chân
lý bất di bất dịch, và tuệ giác chân thực chỉ có thể
đạt được do sự thực tập quán chiếu và lắng nghe, bằng
sự buông bỏ tất cả mọi ý niệm mà không phải bằng sự
chứa chấp kiến thức khái niệm. Con nguyện suốt đời là
một người đi tìm học và thường trực sử dụng chánh niệm
để quán chiếu sự sống trong con và xung quanh con trong từng
giây phút. Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng
tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để
đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một
lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết
Phật giáo. Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức
như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi
tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ
phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện
bạo động.
Đây
là Giới Thứ Ba:
Ý
thức được những khổ đau do sự cưỡng bức kẻ khác vâng
theo ý kiến của mình, con nguyện không ép buộc người khác,
kể cả trẻ em, theo quan điểm của con, bằng bất cứ cách
nào: uy quyền, sự mua chuộc, sự dọa nạt, sự tuyên truyền
và giáo dục nhồi sọ. Con nguyện tôn trọng sự khác biệt
của kẻ khác và sự tự do nhận thức của họ. Tuy nhiên
con biết con phải dùng những phương tiện đối thoại từ
bi và ái ngữ để giúp người khác cởi bỏ cuồng tín và
cố chấp.
Đây
là Giới Thứ Tư:
Ý
thức rằng tiếp xúc và quán chiếu về bản chất của khổ
đau có thể giúp con phát khởi tâm từ bi và thấy được
con đường thoát khổ, con nguyện không trốn tránh thực tại
khổ đau, nhắm mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức
về khổ đau của chúng sanh. Con nguyện tìm tới với những
kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng của họ và
để giúp đỡ họ. Bằng những phương tiện tiếp xúc, tường
thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện thường xuyên tự đánh
thức mình và đánh thức những người xung quanh về sự có
mặt của những khổ đau hiện thực khắp nơi trên thế giới.
Con biết rằng sự thật thứ tư là đạo đế chỉ hiển lộ
khi nào con quán chiếu và thấy được tự tánh của sự thật
thứ nhất là khổ đế, và con sẽ luôn luôn nhớ rằng mục
đích của sự tu tập là chuyển hóa khổ đau trở thành an
lạc.
Đây
là Giới Thứ Năm:
Ý
thức rằng hạnh phúc chân thực không thể đạt tới được
bằng tiền tài và danh vọng mà chỉ thật sự có mặt khi
nào các yếu tố an ổn, vững chãi, thảnh thơi và từ bi có
mặt, con nguyện không tích lũy tiền bạc và của cải trong
khi nhiều người đang đói khổ thiếu thốn, không đặt danh
vọng, quyền hành và sự hưởng thụ dục lạc làm mục tiêu
của đời mình. Con nguyện tập sống giản dị và học chia
xẻ thì giờ, khả năng và tài vật của mình với những kẻ
thiếu thốn.
Đây
là Giới Thứ Sáu:
Ý
thức được rằng sân hận và oán thù có tác dụng cắt đứt
truyền thông giữa người với người và tạo ra đau khổ
cho cả hai phía, con nguyện học hỏi phương pháp chăm sóc
và đối xử với năng lượng sân hận và oán thù khi chúng
phát khởi trên ý thức con và phương pháp quán chiếu để
nhận diện và chuyển hóa hạt giống của sân hận và oán
thù trong chiều sâu tâm thức con. Con nguyện tập luyện để
mỗi khi cơn giận hoặc sự bực tức phát khởi, con sẽ không
nói gì và làm gì cả mà chỉ thực tập hơi thở chánh niệm
hoặc đi thiền hành ngoài trời để chăm sóc tâm niệm sân
hận và oán thù của con bằng năng lượng chánh niệm và để
nhìn sâu vào bản chất của các tâm niệm sân hận và oán
thù ấy. Con cũng nguyện sẽ học hỏi nhìn sâu vào tự tánh
của người mà con nghĩ đã gây nên tâm niệm sân hận và
oán thù của con và để có thể nhìn được người ấy bằng
con mắt từ bi.
Đây
là Giới Thứ Bảy:
Ý
thức được rằng sự sống chỉ có thể thực sự có mặt
trong giây phút hiện tại, và ta chỉ có thể sống an lạc
ngay trong giây phút ấy, con nguyện tập luyện để có thể
sống sâu sắc từng giây phút trong cuộc sống hàng ngày của
con. Con nguyện không để cho những hối tiếc về quá khứ,
những lo lắng về tương lai và những tham dục, giận hờn
và ganh tỵ đối với những gì đang xảy ra trong hiện tại
lôi kéo con và làm cho con đánh mất sự sống mầu nhiệm.
Con nguyện thực tập giáo lý hiện pháp lạc trú, sử dụng
hơi thở và nụ cười chánh niệm để tiếp xúc với những
gì mầu nhiệm, tươi mát và lành mạnh trong con và chung quanh
con, để liên tục gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống
an lành, hiểu biết và thương yêu trong con, làm động lực
chuyển hóa chiều sâu tâm thức và đi tới trên đường thành
tựu đạo nghiệp.
Đây
là Giới Thứ Tám:
Ý
thức được rằng những khó khăn trong việc truyền thông
giữa người với người luôn luôn đưa tới ngăn cách và
khổ đau, con nguyện thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi và
nói năng bằng lời ái ngữ. Con nguyện học hạnh lắng nghe
chăm chú mà không phán xét và chỉ trích và không nói ra bất
cứ một lời nào có thể tạo nên sự bất hòa trong đoàn
thể và có thể làm tan vỡ đoàn thể. Con nguyện tu tập để
tái lập sự truyền thông giữa con và mọi người khác, và
đề giúp giải quyết mọi vụ bất hòa, dù lớn dù nhỏ.
Đây
là Giới Thứ Chín:
Ý
thức được rằng lời nói có thể tạo ra khổ đau hay hạnh
phúc, con xin nguyện luyện tập để chỉ nói những lời nói
chân thật có tác dụng hòa giải, gây niềm tin tưởng và
hy vọng. Con nguyện không nói dối để mưu cầu tài lợi và
sự kính phục, không nói những lời gây chia r? và căm thù,
không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật,
không phê bình và lên án những gì con không biết rõ. Con nguyện
can đảm nói ra sự thật về những tình trạng bất công,
dù hành động này có thể đem lại sự đe dọa cho sự an
thân của mình.
Đây
là Giới Thứ Mười:
Ý
thức rằng mục đích và bản chất của một đoàn thể tu
học là sự thực hiện tuệ giác và từ bi, con nguyện không
bao giờ lợi dụng đạo Bụt và các đoàn thể giáo hội vào
mục tiêu quyền bính, không biến các giáo đoàn thành những
tổ chức hoạt động chính trị. Tuy nhiên, con nhận thức
rằng các đoàn thể tu học phải có ý thức và thái độ
rõ rệt về những tình trạng áp bức và bất công xã hội
và có thể sử dụng ảnh hưởng mình để chuyển đổi các
tình trạng ấy mà không cần và không nên dấn thân vào những
cuộc tranh chấp phe phái.
Đây
là Giới Thứ Mười Một:
Ý
thức rằng thiên nhiên và xã hội con người đã bị tàn phá
trầm trọng vì bạo động và bất công, con nguyện thực tập
chánh mạng, quyết tâm không sinh sống bằng những nghề nghiệp
có thể gây tàn hại cho con người và thiên nhiên, không đầu
tư vào những doanh nghiệp chuyên làm lợi cho một nhóm người
trong khi tước đoạt môi trường và cơ hội sinh sống của
những nhóm người khác. Con nguyện chọn một nghề có thể
giúp con thực hiện được lý tưởng từ bi và cứu khổ của
đạo Bụt.
Đây
là Giới Thứ Mười Hai:
Ý
thức được những khổ đau do chiến tranh và các cuộc xung
đột tạo ra, con nguyện thực tập sống đời sống hàng ngày
của con theo tinh thần bất hại, hiểu biết và thương yêu.
Con nguyện góp phần vào công việc giáo dục hòa bình và thực
tập hòa giải trong phạm vi gia đình, cọng đồng, quốc gia
và quốc tế. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán
thành sự chém giết, và thường xuyên quán chiếu với tăng
thân con để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo
vệ sinh mạng, ngăn chận chiến tranh và xây dựng hòa bình.
Đây
là Giới Thứ Mười Ba:
Ý
thức được sự khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất
công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem
niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để
chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những
kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư
hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra.
Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng
nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu
một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và
của muôn loại.
Đây
là Giới Thứ Mười Bốn:
(Dành
cho Tiếp Hiện Tại Gia)
Ý
thức được rằng sự tìm tới và phối hợp giữa hai cơ
thể do sự thúc đẩy của dục tình không những đã không
thể giải tỏa được nỗi cô đơn của con người mà còn
tạo thêm nhiều khổ đau, chua cay và xa cách, con nguyện không
ăn nằm vói những người không phải là vợ hay chồng của
con. Con ý thức được rằng hành động tà dâm sẽ gây ra
khổ đau cho kẻ khác và cho chính con trong hiện tại và trong
tương lai. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và
của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những điều mà mình
và kẻ khác đã cam kết. Con nguyện sẽ làm mọi cách có thể
để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây
nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi
lứa. Con nguyện bảo trọng thân thể con, xem thân thể mình
là đền thờ của tâm linh, là chiếc thuyền vượt biển,
và thường xuyên học hỏi bảo tồn tinh, khí và thần để
có đủ năng lực hành đạo. Con ý thức được trọn vẹn
trách nhiệm của con về sự cho ra đời những sinh mạng mới
và thường xuyên quán chiếu về môi trường sinh hoạt trong
tương lai của những sinh mạng này.
(Tiếp
Hiện xuất gia)
Ý
thức được rằng lý tưởng xuất gia chỉ có thể thực hiện
được với sự cắt bỏ hoàn toàn những ràng buộc đối
với ái dục, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự bảo
vệ nếp sống phạm hạnh của con và hết lòng bảo vệ tiết
hạnh của kẻ khác. Con biết cô đơn và khổ đau không thể
nào được giải tỏa bằng dục tình mà chỉ có thể được
chuyển hóa bằng sự thực tập hiểu biết và thương yêu
đích thực. Con biết hành động dâm dục sẽ làm tan vỡ cuộc
đời xuất gia của con, làm hại đến cuộc đời của kẻ
khác và không cho con thực hiện được lý tưởng cứu độ
chúng sanh của mình. Con nguyện không ép uổng thân thể con,
không đối xử với thân thể con một cách bạo động và
khinh xuất, không xem thân thể chỉ như là một dụng cụ.
Con nguyện bảo trọng thân thể con, xem thân thể mình là đền
thờ của tâm linh, là chiếc thuyền vượt biển, và thường
xuyên học hỏi bảo tồn tinh, khí và thần để có đủ năng
lực hành đạo.
Giới
14 là giới không tà dâm đối với người tại gia và đoạn
dâm đối với tu sĩ xuât gia, con nguyện giữ để bao vệ hạnh
phúc gia đình và sự trong sạch của người xuất gia,
vì thân xác là ngôi đền thờ tâm linh của những người
có chí nguyện thoát ly tam giới.
Sau
khi nguyện thọ trì 14 giới Tiếp Hiện, đại chúng thành tâm
đảnh lễ va tụng hồi hướng. Thiền sư, chư tôn đức hộ
đàn và các giới tử đồng xướng tụng 4 hoằng thệ nguyện..
Sau
đó, sư ông và chư tôn đức đi dạo suối, giải khuây, chuẩn
bị cho chuyến Cổ Phật Khất Thực vào ngày mai.
Buổi
lể kết thúc vào lúc 4giờ 30.
MINH
MẪN
10/3/07
|
LỄ
TRUYỀN ĐĂNG
Ngày
13/3/07, ngày cuối của chương trình sinh hoạt tại tu viện
Bát Nhã, Lâm Đồng do Thiền sư Nhất Hạnh hướng dẫn, có
sự tham gia của tăng đoàn Làng Mai, chúng thường trụ Bát
Nhã, Phật tử trong và ngoài nước tham dự.
7 giờ
sáng, sau khi điểm tâm bằng khoai củ, chư tăng và đại chúng
vân tập về thiền đường cánh Đại Bàng.Thiền sư có mặt
không lâu sau đó, Người ngồi tĩnh tại độ mười phút .
3 tiếng chuông ngân nga thong thả, Thiền sư bước xuống,
cung đối Phật tiền, khởi xướng niêm hương bằng nghi thức
truyền thống , tiếp theo, tăng đoàn Mai thôn xướng lễ Tam
bảo bằng âm ngữ Pali, âm điệu du dương như các thánh lễ
tại nhà thờ. Khi sư ông trở lại pháp tòa, đại chúng lại
xướng tụng ngợi ca chư Phật bằng Anh ngữ; thật ra hợp
xướng là một cách cộng hưởng năng luợng để thanh khiết
và thánh hoá bầu không khí trong buổi lễ. Sư ông tuyên bố
hôm nay là lễ Truyền Đăng.
Truyền
Đăng là một nghi thức trong PG, được trưyền thừa qua nhều
đời, có mặt từ chùa Từ Hiếu, HUẾ, một buổi lễ ấn
chứng, xác quyết khả năng tu tập và năng lực nội tại
của đệ tử, sau khi vị thầy thấy được tâm đắc của
đệ tử trình bày qua thi, kệ; Người được truyền
được xem là vị Giáo thọ, không những trên mặt truyền
bá giáo lý, mà thân giáo, khẩu giáo và hành giáo đáng là
bậc trưởng tử Như Lai.. Có thể là một vị nấu bếp, một
vị làm vườn, một vị lái xe hay một học giả, dịch thuật
với những tâm thái an nhập, Đủ tư cách là Giáo thọ cho
hậu tấn.
Thiền
sư đọc tên, người được truyền đăng tiến lên với hai
vị phụ trợ, một người bê đèn,cũng là một sư cô, đều
đắp y vàng nghệ, một người nâng bài kệ trình giải, mặc
áo tràng lam (đặc biệt một người đàn ông Âu Mỹ, vốn
là mục sư Tin Lành, phụ trợ lại là thân sinh của vị Đăng
tử, tân giáo thọ ). sư ông xướng lễ, Đăng tử đảnh lễ
tổ sư thiền tông VN Tăng Hội. Một ngọn đèn dầu trước
mặt thiền sư, bên cạnh quả chuống gia trì. Đăng tử
trình giải kệ tâm khai; sư ông tiếp nhận, đọc và giải
nghĩa bằng Anh ngữ lẫn Việt ngữ.. Sư ông tiếp nhận
ngọn đèn, châm lửa từ ngọn lửa đèn lớn mồi qua chiếc
đèn nhỏ của Đăng tử, tượng trưng cho sự truyền
thừa. Người chú nguyện, Đăng tử đứng lên
với hai tay tiếp nhận ngọn đèn từ sư ông. Ngài xướng
lễ để Đăng tử bái tạ tổ sư thiền tông VN một
lần nữa trước khi trở về vị trí.. Sư ông cùng đại chúng
hiện diện nghiêm trang đứng lên chấp tay vái chào vị tân
Giáo thọ vừa được ấn ký.. Một đoạn tụng ngắn của
đại chúng xác quyết sự tinh thông tu tập của vị tân giáo
thọ.
Vị
tân giáo thọ là một sư cô trẻ người ngoại quốc, khi phát
biểu đáp tạ đại chúng, sư cô nói trọ trẹ tiếng
Việt biểu lộ tâm chân thành đầy biết ơn đối với Tam
bảo, đối với thầy và đại chúng, xúc động tiếng khóc
nấc lên, hội chúng òa cười cảm thông. Có lẽ thấy sư
cô khó khăn trong việc biểu lộ tâm cảm mìinh bằng
tiếng Việt, sư ông bảo cô hãy xử dụng bằng tiếng mẹ
đẻ; cô ta dùng mọi cách diễn đạt lòng biết ơn đối với
thầy giúp cho cô có cuộc sống đầy ý nghĩa, cô cũng ví
các tăng thân như là những y sĩ mổ xẻ giúp cô ta những
gì còn vướng mắc trong tâm, và đã giúp nâng cao
tâm thức cô. Cô cũng biết ân cha mẹ, đã nuôi dưỡng giúp
cô sống trong cộng đồng của tu sĩ Cơ Đốc Giáo, cô mang
ơn cha mẹ vượt qua sự kỳ thị chủng tộc ở Mỹ, vì mẹ
là da đen và cha là người da trắng, mục sư Tin Lành cũng
đã theo sư ông tu tập. Khi cô ta được 14 tuổi cô và gia
đình đã rời bỏ cộng đồng Cơ Đốc giáo để về với
Bụt, sư ông và Tăng thân, tuy nhiên cộng đồng đó đã nuôi
dưỡng hạt giống thương yêu trong cô, cô nói: năm 1987 con
về dự khóa tu mùa Hè tại làng Mai, con cảm nhận được
như trở về nhà mình. Đi thật là đi, ăn thật là ăn, thở
thật là thở, con cảm nhận cuộc sống sâu sắc hơn. Năm
1999 con có cơ hội cùng đoàn qua Trung Quốc, có cả cha con.
Con thấy xa lạ khi lần đầu tiên đến một đất nước châu
Á xa lạ. chúng con là những cư sĩ theo quý thầy quý sư cô,
con đã trải nghiệm và thấy đuợc ông bà tổ tiên đều
hiện diện trong con. Con hy vọng con sẽ là một tu sĩ, cuối
năm 1999 con được xuất gia. Nhưng sau khi xuất gia, ba con trở
nên nóng nảy khó chịu hơn, con lại sống chung với một sư
cô không có sự quan hệ tốt. Mọi điều ngoài ý muốn dồn
dập đến với con, con tự hỏi tại sao như vậy, nhưng nhờ
đó con đã thực tập và chuyển hoá tốt hơn, những chướng
duyên đó giúp con thăng tiến trên đường tu. Có những sư
cô lắng nghe, giúp con vượt mọi cám dổ, trở ngại trong
con. Quý cô dạy con rằng, con không cần phải là như thế
này, như thế kia, và không thể muốn mọi người như thế
nầy thê nọ, cuộc sống nầy chính là mình.Kính thưa
đại chúng, con muốn hàn gắn vết thương kỳ thị chủng
tộc giữa người da trắng và da màu đã tạo vết thương
sâu xa trong đất nứơc con.Con xin tặng đại chúng một bài
hát nổi tiếng ở Mỹ nói về người mua bán nô lệ Phi châu,
nhưng ông ta tỉnh ngộ trên đường về và tự động quay
lại , trả tự do cho những nô lệ da đen…
Cô
ta hát thật từ tốn du dương. cả thiền đường như lắng
đọng nghe rõ những hạt thủy tinh của một nữ tu giáo thọ
da đen thong dong rãi vào không gian nhiệm mầu tĩnh lặng. Đại
chúng sau đó cùng tiếp nhịp với sư cô, cả hội trường
vang lên aâm điệu thâm trầm, hùng tráng. Sư cô tân giáo
thọ và thân sinh trở về chỗ cũ, thân sinh của cô và một
sư cô phụ trợ chắp tay vái chào cô thật trang nghiêm và
xúc động.
Thiền
đường rộng thoáng, ánh sáng dịu như còn đọng lại một
tâm cảm thân thương và biết ơn của đạo Bụt, đã đem
lại nguồn phúc lạc cho nhiều mãnh đời tăm tối, thiền
sư đã đến với phương tây bằng bước chân PGVN, một hình
thái dấn thân, làm mới để PG thâm nhập vào xã hội công
nghiệp thực dụng, một pháp hành thực tiển, hiệu quả,
đoàn kết mọi tầng lớp trong xã hội nhiều kỳ thị như
đức Phật đã từng xoá bỏ giai cấp trong tăng đoàn đương
thời của Ngài, và trong giáo lý của ngài.
Buổi
truyền đăng được tiếp tục vào chiều cùng ngày, để
ngày mai, sư ông và tăng đoàn trở về TP Hồ chí Minh bắt
tay vào Đại Đàn Chẩn Tế tại chùa Vĩnh Nghiêm, các chiến
sĩ trận vong, chư oan hồn liệt tử đang mong chờ ân đức
của Tam bảo qua sự hất tâm cầu nguyện của chư tôn
đức và của Thiền sư Nhất Hạnh.
MINH
MẪN
13/3/07
|
.
NỖ
LỰC PHỤC SINH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
Simon
Montlake
Gửi
cho BBC News từ chùa Bát Nhã
Vị
sư thuộc hàng nổi tiếng nhất Việt Nam giảng tại ngôi
chùa trên sườn núi ở Lâm Đồng.
Chừng
5000 người gồm cả vài trăm sư sãi và các cư sĩ từ
nước ngoài ngồi nghe Thầy Thích Nhất Hạnh trong trong
điểm tu tập rộng, mới được xây.
Một
số người phải ngủ qua đêm trên đệm trải tạm và
dạy thật sớm trong buổi sáng lạnh để dự lễ.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh, một nhà hoạt động vì hòa bình
và cũng là tác giả của nhiều cuốn sách bán chạy
(bestselling author), đã sống gần như toàn bộ bốn chục
năm qua ở Pháp. (Hình trên:Thiền
sư Thích Nhất Hạnh và các tín đồ tại chùa Bát Nhã
ở Lâm Đồng)
Lần
này là lần thứ nhì ngài về nước kể từ năm 1966,
khi ngày sang Mỹ để kêu gọi chấm dứt cuộc chiến
tranh tại quê hương mình.
Sau
đó, thiền sư Thích Nhất Hạnh không được cả Nam và
Bắc Việt Nam cho trở về.
Năm
1969, ngài dẫn đầu một phái đoàn đến Hòa đàm
Paris bàn về Việt Nam.
Nay
thiền sư trở lại Việt Nam trong một chuyến đi 10 tuần
nhằm thử xem biên độ của tự do tôn giáo và tín ngưỡng
tại đất nước do một đảng cộng sản lãnh đạo là
thế nào.
Ngày
thứ Sáu 16.03 thiền sư sẽ chủ trì một trai đàn công
khai ở Thành phố Hồ Chí Minh vì linh hồn của những
người đã tử nạn trong cuộc chiến Việt Nam, kể cả
các binh sĩ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trước đây.
Ý
tưởng của Trai đàn là hàn gắn những vết thương
và sự chia rẽ của quá khứ. Ba ngày đọc kinh và làm
lễ sẽ mở cho tất cả các tín đồ của mọi tôn giáo
và cho cả những người không theo đạo gì.
Các
nhà tổ chức ra thông báo có đoạn nói “Những người
theo chủ nghĩa Marx cũng được hoan nghênh đến đọc những
đoạn của Karl Marx nói về suy tưởng tâm linh của chính
ông và về tình yêu của Marx đối với nhân loại,”
Những
bạn trẻ
Năm
nay 81 tuổi, với một giọng nói trầm và nhẹ, Thiền
sư Thích Nhất Hạnh dùng các ví dụ trong cuộc sống
hàng ngày để giảng về pháp môn của mình.
Ở
một góc có chừng 80 người Phương Tây theo ngài. Họ
nghe lời thuyết giảng được dịch trực tiếp sang tiếng
Anh và Pháp.
Ngài
nói: -“Ngày hôm nay, tâm trí của nhiều người tập
trung vaò chứng khoán và các tin tức nóng bỏng nhất.
Họ không có cả thời gian để chăm sóc cho bản thân và
những người họ thương yêu. Và thậm chí cả khi đã
có nhiều tiền họ cũng không thấy hạnh phúc,”
(Hình trên: Tín đồ đến nghe thuyết
giảng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Bảo Lộc tháng
Ba 2007)
“Tôi
đã gặp nhiều triệu phú. Họ đều không hạnh phúc.”
Đây
là thông điệp gợi sóng trong tâm thức những bạn trẻ
trong giới đến nghe giảng. Họ đa số là những người
sinh ra sao năm 1975, khi cuộc chiến kết thúc.
Một
số lấy ngày nghỉ để dự khóa tu tập năm ngày tại
chùa Bát Nhã, cách TPHCM chừng 140 km về phía Bắc.
Nhiều
người thích thú muốn tìm hiểu đạo Phật và biết
cách áp dụng tôn giáo này vào cuộc sống hiện đại
ra sao.
Họ
trưởng thành trong bối cảnh nền kinh tế năng động
của Việt Nam đang phát triển nhanh và làm cả xã hội
thay đổi. Họ giàu có hơn cha mẹ và cũng cởi mở hơn
trước những ý tưởng mới.
Nguyễn
Thanh Điệp, làm quản trị khách sạn nói:
“Tôi
theo đạo Phật nhưng đây là lần đầu tiên tôi tập
thiền nhiều thế này,”
“Đối
với thế hệ của tôi thì Phật giáo rất thích hợp
vì nó không chỉ nói về quyền lực của Đức Phật.”
Tôn
giáo hồi sinh
Số
liệu chính thức nói con số những người theo đạo
Phật ở Việt Nam là 10 triệu trong số 84 triệu dân.
Nhưng
đó chỉ là con số những người đi chùa, còn ngoài
ra không ai biết thực sự bao nhiêu người Việt Nam làm
các lễ của Phật giáo mà nhiều khi đã hòa trộn
cùng với đạo thờ tổ tiên và đạo Lão.
Từ
những năm 1990, chính quyền giảm việc kiểm soát thờ
cúng tôn giáo nơi công cộng và từ đó, một sự hồi
sinh tín ngưỡng đang lan rộng.
Chính
quyền chỉ công nhận sáu tôn giáo và kiên trì kiểm
soát các chùa, nhà thờ và cả đền Hồi giáo.
Lãnh
đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất
vốn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật thì thường xuyên
vì quấy nhiễu những năm qua.
Và
thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng phải mất nhiều tháng
để thỏa thuận được về giấy phép cho chuyến đi
bắt đầu từ 20 tháng Hai.
Các
nhà quan sát cho rằng đàn chẩn tế dự kiến sẽ được
tổ chức cả ở Huế và HN là một dấu hiệu rằng
nhà chức trách tự tin trong việc vị khách của họ sẽ
không dùng diễn đàn công khai này để làm mất mặt
nhà cầm quyền.
(Hình bên: Thiền sư và các tín đồ trong thời gian ở
Bảo Lộc)
Sư
Pháp Ấ́n, một phụ tá thân cận của thiền sư nói:
-“Nay
là lúc hòa giải để đất nước được thực sự
thống nhất,”
Trong
lần thăm Việt Nam trước vào năm 2005, thiền sư đã
có cuộc gặp với cựu thủ tướng Việt Nam.
Sách
của ngài, từng bị cấm trước đây nay được bày bán
trong các hiệu sách.
Thầy
Thích Nhất Hạnh tìm cách gieo hạt giống trong giới trẻ
cho phái Phật giáo của mình, được gọi là Phật giáo
tham gia vào cuộc sống xã hội.
Phái
này khác với dòng chính của đạo Phật vốn đặt
nặng chuyện tìm con đường giác ngộ cho bản thân và
thảo luận trong các nhóm nhỏ về những chiêm nghiệm
tâm linh và đạo đức.
Bên
sườn đồi, một nhóm chừng 90 sư nam và nữ, tất
cả đều trẻ chỉ trong tuổi 20 đã làm lễ xuất gia.
Họ
sẽ sống tại chùa mà chính thức thuộc Giáo hội Phật
giáo Việt Nam được công nhận.
Tuổi
của họ là một điều gây chú ý và các nhà tổ chức
gọi đây chính là một ‘Sứ đoàn Hòa bình’ tương
lai cho Việt Nam để làm sống lại đạo Phật.
Sư
cô Giới Nghiêm, người đang trụ trì một thiền viện
ở California tỏ ra rất vui trước con số những tín đồ
trẻ.
“Những
thanh niên từng nghĩ chùa chỉ là nơi cho những người
già. Vì thế chúng tôi muốn khuyến khích những người
trẻ đến với chùa,”
Nhưng
chuyện thể hiện các dấu hiệu tôn giáo quá lộ liễu
vẫn là một cản trở cho những ai muốn thăng tiến
trong bộ máy nhà nước.
Đảng
Cộng sản Việt Nam chính thức mà nói là một tổ
chức vô thần, và các quan chức chính quyền phải giữ
tín ngưỡng như điều riêng tư.
Một
sinh viên đại học dự khóa học tỏ ra rất phấn khích
khi đọc các sách của thầy Nhất Hạnh.
“Không
có mấy người biết thiền là gì. Họ chỉ đến chùa
chiền để ngắm cảnh,”
Nhưng
anh ngại kể về mối quan tâm đến Phật giáo như thế
này cho cha mẹ vốn là cán bộ nhà nước ở TP Hồ
Chí Minh.
Và
anh cũng cẩn thận không muốn một nhà báo nước ngoài
ghi tên thật vào bài viết.
(http://www.bbc.co.uk/vietnamese/)
|

|