I. Bối
cảnh đa truyền thống
Ðể
làm nổi bật vị trí cốt lõi của Ðạo học hầu có thể
tìm hiểu đúng hướng và đánh giá đúng mức, ta không thể
không đặt nó trong bối cảnh đa dạng và đầy quyến rũ
của triết học Trung Hoa. Chữ “Ðạo” có tính chủ chốt
và hầu như đồng một nghĩa trong cả đạo Nho lẫn Ðạo
học, có ý nói tới nguyên lý tự nhiên, như một con đường
đúng đắn mà con người phải đi, một đạo lý phải giữ
đúng lẽ đời. Thế nhưng, bài này được đặt tên Ðạo
học vì có ý trước tiên làm nổi bật khía cạnh triết học
trong tư tưởng Lão Trang. Tới phần cuối, người viết sẽ
sử dụng chữ “giáo”, đi với Ðạo giáo, để nói tới
tôn giáo trong đó tư tưởng Lão Trang được kết hợp với
nhiều nguồn khác, trở thành một tín ngưỡng thật sự, khác
với chữ giáo mang ý nghĩa giáo hoá trong Nho giáo.
Sáu
nhà trong bách gia
Thời
Tiên Tần – tính tới năm 221 tr.C.N với cuộc thống nhất
Trung Hoa của Tần Thuỷ Hoàng, chấm dứt chế độ phong kiến
và mở đầu chế độ quân chủ – có một số trường phái
triết học khác nhau, gồm có:
Nho
giáo: Ðặt nặng nhân nghĩa, tôn trọng lễ nhạc. Sống tu
tề trị bình với trình độ của một người dày công tu
dưỡng và thành thạo lục nghệ: sáu kinh điển hoặc sáu
kỹ năng của một người đã qua giáo dục. Phái này sản
sinh các học giả.
Ðạo
học: Chiêm nghiệm về cuộc tuần hoàn của vũ trụ và sự
thành bại, mất còn, hoạ phúc của con người, nhằm khám
phá yếu tính của cuộc đời. Từ đó, tu dưỡng tâm tính
hồn nhiên mộc mạc để sống cuộc đời tiêu dao, thanh thoát.
Phái này sản sinh các ẩn sĩ.
Âm
dương gia: Kính ngưỡng và thận trọng thuận theo lẽ âm
dương của vũ trụ. Chiêm nghiệm các hiện tượng thiên văn
của nhật nguyệt tinh tú, trời đất, và ứng dụng vào lịch
trình hoat động của xã hội, đặc biệt là nông nghiệp.
Phái này sản sinh các nhà thiên văn, lịch số và những người
cầu đảo.
Mặc
gia: Chủ trương thuyết kiêm ái – yêu hết thảy mọi
người. Sống liêm chính, khắc khổ, tôn trọng quỉ thần
và lễ tế. Không tin vào số mệnh, thuận theo mùa tiết, chống
mọi hình thức mê tín và hiếu chiến. Phái này sản sinh các
hiệp sĩ.
Pháp
gia: Cùng với nỗ lực dùng Lễ để giáo hoá người dân,
họ xem rất trọng việc sử dụng hình pháp và các hình thức
thưởng phạt, nhằm buộc người dân thực hiện nghĩa vụ
để xã hội có kỷ cương, quốc gia ổn định. Phái này sản
sinh các luật gia và nhà pháp trị.
Danh
gia: Chủ trương mỗi người đều có danh vị, và động
thái trong xã hội phải tương ứng với danh vị ấy. Người
danh gia triệt để theo thuyết Chính danh của Khổng Tử: Danh
không chính thì lời không thuận; lời không thuận thì việc
không thành. Phái này sản sinh các nhà biện luận.
Hoà
trộn các truyền thống
Không
tồn tại như những trường phái biệt lập, người của sáu
truyền thống ấy có qua lại và cùng ảnh hưởng lên nhau.
Theo với thời gian, cả Nho giáo lẫn Ðạo học, hai truyền
thống chủ lưu của Trung Hoa, đều không thể giữ mãi một
học thuyết cố định. Cùng chung hiện tượng như chúng ta
đã thấy trong quá trình triển khai đưa tới Tân Nho giáo,
Ðạo học cũng có những biến đổi tận gốc do bởi những
thông giải về sau và cách áp dụng các ý tưởng căn bản
của chúng.
Còn
nữa, sự du nhập Phật giáo vào nội địa Trung Hoa vào khoảng
giữa hai nhà Tây Hán và Ðông Hán, đầu thế kỷ thứ nhất
sau C.N., đã làm cho tư tưởng đa dạng của dân tộc nặng
óc thực tiễn ấy thêm lần nữa bị hoà trộn sâu xa. Ðể
phù hợp với văn hoá của vùng đất mới, Phật giáo phải
tự thích nghi, chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng lên các triết
thuyết đương thời. Tuy vẫn âm ỉ tình trạng phản bác nhau,
thậm chí có khi diễn ra quyết liệt giữa một số nhà tư
tưởng của mỗi trường phái, nhưng sự kiện quần chúng
hồn nhiên chấp nhận những khía cạnh bổ túc lẫn nhau của
chúng đã ảnh hưởng ngược trở lại lên các nhà tư tưởng.
Từ đó xuất hiện truyền thống Tam giáo đồng nguyên, gồm
có:
Nho
giáo trong hình thức Tân Nho giáo mà ta đã đề cập khái quát
ở các phần trước;
Ðạo
giáo trong cả hai hình thức triết học và tôn giáo;
Phật
giáo với rất nhiều hình thức tu tập trong tu viện và nghi
lễ thờ phượng tại chùa và nhà.
Như
chúng ta sẽ thấy, rất khác với Nho giáo, Ðạo học và Phật
giáo đều đặt cơ sở trên cá nhân và có chiều hướng bác
bỏ những gì bị áp đặt bởi trật tự kỷ cương cố định
của xã hội. Nói chung, tại Trung Hoa, và rồi cũng như tại
Việt Nam, cả ba truyền thống ấy cùng nhập thể khái quát
vào ý thức của người dân, được họ điều hoà bằng cách
tuỳ nghi áp dụng vào từng tình huống đặc thù trong cuộc
sống.
Lối
sống tam giáo Á đông
Ðể
có sự quân bình và thanh thoát trong cuộc đời, ta có thể
sống theo một số lời giảng của Ðạo học. Nhưng để tổ
chức cộng đoàn, thiết lập và duy trì phong tục tập quán,
nghi thức giao tế xã hội, ta trở thành người Nho giáo. Khi
đối mặt với khổ não của bản thân và tha nhân, để khuây
khoả, tìm cách vượt qua nó và sống với lòng từ bi cho tới
bên kia cái chết, ta có thể là người Phật giáo.
Người
Á đông nói chung và Trung Hoa nói riêng, hầu như không cảm
thấy có nhu cầu phải phân ranh rạch ròi giữa các tôn giáo
hoặc hoà giải những dị biệt của Nho Phật Ðạo. Về phương
diện minh triết tổng thể, mỗi tôn giáo đều có những đóng
góp cụ thể, thích đáng và thiết yếu, để giáo hoá con
người, làm nơi nương tựa và cung cấp cho nó cách thông giải
khá an tâm khi giáp mặt cuộc đời. Thêm nữa, đối với họ,
về phương diện thực dụng, mỗi tôn giáo đều có khả năng
đáp ứng một số khía cạnh nhất định của mỗi tình huống
đặc thù.
Một
cách tổng quát, ta có thể phát biểu mà không ngại sai lầm
rằng cả ba truyền thống ấy đều không độc quyền đòi
hỏi lòng trung thành, theo kiểu các tôn giáo độc thần như
Do thái - Kitô giáo hoặc Hồi giáo. Người Á đông chấp nhận,
một cách vô thức hoặc có ý thức, sự hoà đồng của tam
giáo. Theo từng giai đoạn trong cuộc đời, họ rút từ mỗi
truyền thống ra những gì được họ cảm thấy thích đáng
nhất cho mỗi tình huống cá nhân và từng hoàn cảnh xã hội
cá biệt của mình. Ðó cũng là tình thế tế nhị mà các
giáo sĩ Tây phương gặp phải khi bắt đầu hoạt động truyền
giáo tại Á châu năm sáu trăm năm trước đây. Từ đó phát
sinh những cuộc tranh luận nan giải và gay cấn trong các giáo
hội Ki-tô giữa hai khuynh hướng hoặc thích nghi với phong
tục tập quán bản địa hoặc giữ nguyên vẹn những giáo
luật và nghi thức thờ phượng của mỗi giáo hội liên hệ.
II. Ðạo đức
kinh
Ông
thầy già
Nếu
hậu thế hiểu biết về Ðạo đức kinh nhiều bao nhiêu thì
những gì họ có được về người được qui cho là tác giả
của cuốn sách ấy ít bấy nhiêu. Cho tới nay, ngoài sự đồng
thuận rằng danh xưng Lão Tử chỉ có nghĩa “Ông thầy già”,
không một học giả nào dám trả lời dứt khoát về thân
thế của Lão Tử, cũng như tác giả chân chính và thời điểm
xuất hiện của cuốn kinh ấy.
Dựa
vào truyền thuyết dân gian và mấy trang sách cổ, học giả
Trung Hoa thường tin rằng Lão Tử sống cùng thời với Khổng
Tử, và sinh trước hay sau vài chục năm. Nếu đúng như thế,
tức là khoảng thế kỷ thứ sáu tr.C.N., cùng thời với các
triết gia Hi Lạp tiền Socrates như Heraclitus và Pythagoras.
Sách
Sử ký của Tư Mã Thiên (145-89 tr.C.N) kể rằng Lão Tử, người
mở đầu cho học phái Ðạo gia cuối đời Xuân Thu, họ Lý
tên Nhĩ tự Bá Ðương thuỵ hiệu là Ðam, sinh khoảng năm
580 và mất năm 500 tr.C.N. Tương truyền Lão Tử người huyện
Khổ, nước Sở, nay là phía đông Lộc Ấp, tỉnh Hà Nam, từng
giữ chức coi tàng thư của nhà Chu, hiểu rành các loại điển
chương nghi lễ và biết rất nhiều chuyện cổ. Khi triều
đại Chu suy, Lão Tử lui về sống đời dân giả, tự cày
cấy nuôi thân và dạy học. Cuối đời, Lão Tử bỏ trung
nguyên, ra ẩn cư nơi quan ngoại, phía tây Quan Trung và qua đời
ở đó.
Lúc
đi qua cửa ải Hàm Cốc, Lão Tử gặp quan giữ thành là Doãn
Hỉ. Họ Doãn yêu cầu: “Ngài sắp đi ở ẩn, xin vui lòng
để lại cho tôi một bộ sách”. Lão Tử dừng chân, soạn
Ðạo đức kinh, xong để sách ở đó cỡi trâu ra đi. Từ
đó, không ai gặp lại nữa.
Thuở
còn làm quan thủ thư tại kinh đô nhà Chu, gặp Khổng Tử
đến tìm mình để hỏi về Lễ, Lão Tử nói rằng:
“Lời
nói của ông là lời nói của những kẻ nay đã xương tàn
cốt rụi. Vả, người quân tử đắc thời thì đi xe, không
đắc thời thì tay vịn nón lá mà đi chân. Ta nghe rằng: Kẻ
buôn giỏi khéo giữ của quí như không có gì, người quân
tử đức thạnh, dung mạo dường như kẻ ngu. Họ khác với
cái kiêu khí và đa dục của ông, thái sắc và dâm chí ấy
không ích gì cho thân ông cả. Tôi sở dĩ bảo cho ông biết
bấy nhiêu thôi.
Khổng
Tử ra về, bảo với đệ tử:
Chim,
ta biết nó bay như thế nào; cá, ta biết nó lội làm sao; thú,
ta biết nó chạy cách nào. Thú chạy, thì ta có lưới bắt
nó; cá lội, thì ta có dây câu ví nó; chim bay, thì ta có bẫy
gài nó. Chí như con Rồng, thì ta không biết nó theo gió mà
bay liệng như thế nào. Nay ta thấy Lão Tử như con Rồng”.
(Nguyễn
Duy Cần dịch, Lão Tử - Ðạo đức kinh, tt.11-12).
Khảo
chứng của người đời sau cho rằng bài viết về Lão Tử
trong Sử ký hẳn do hậu thế thêm vào, còn câu chuyện Lão
Tử gặp Khổng Tử là do một đạo gia nào đó bịa ra để
tôn vinh tổ sư và làm nổi bật những dị biệt giữa hai
quan điểm Vô vi và Hữu vi. Như thế, hình ảnh ông thầy già
cỡi trâu đi ra ngoài quan ải và con rồng bay lượn trên không
cũng chỉ ở trong cõi huyền thoại. Chúng tạo thêm vẻ thần
bí mông lung như hàng trăm câu chuyện khác về hành trạng
và hoàn cảnh sáng tác của văn thi sĩ Trung Hoa thời cổ.
Tuy
các tình tiết ấy khiến cho cuộc sống lãng đãng và phiêu
hốt của tác giả Ðạo đức kinh thêm phần nổi bật nhưng
chúng không làm tăng thêm giá trị tư tưởng của văn bản
khi chúng ta nghiên cứu tự thân văn bản.
Phùng
Hữu Lan cho rằng “Không nhất thiết có sự liện quan giữa
hai bên [Lão Tử và Ðạo đức kinh], vì rất có thể đã từng
có người tên là Lão Tử, và là người niên trưởng đối
với Khổng Tử, nhưng quyển sách nhan đề Lão tử [Ðạo đức
kinh] lại là một tác phẩm về sau [.] tôi nghĩ rằng quyển
sách ấy được hình thành sau Huệ Thi [370-318 tr.C.N.] và Công
Tôn Long [325-250 tr.C.N] chứ không phải là trước [.]. Sở dĩ
như thế, vì sách Lão tử chứa đựng nhiều đoạn bàn luận
rất quan trọng về vô danh, những bàn luận bắt buộc như
trước hết người ta phải có ý thức về sự hiện hữu
của danh đã. [.] Quan điểm của tôi không bắt buộc tôi phủ
nhận mọi liên quan giữa nhân vật Lão Tử và sách Lão tử,
vì quyển sách có thể chứa đựng một vài lời của Lão
Tử thật sự ấy”.(Phùng Hữu Lan, Ðại cương triết học
sử Trung Quốc, Nguyễn Văn Dương dịch, tt. 105-106).
Dương
Chu: đạo gia thứ nhất
Trong
khi tạm thời chấp nhận luận cứ của Phùng Hữu Lan, ta dừng
một chút để nhắc lại Dương Tử, (k. 395-335 tr.C.N.).
Trong
phần 6 về Nho giáo chúng ta có đề cập tới họ Dương, triết
gia đứng đầu “Vị ngã: vì chính ta”, một học thuyết
– cùng với Mặc gia – có ảnh hưởng rất lớn thời Chiến
quốc tới độ Mạnh Tử đã nhận xét rằng “Lời lẽ trong
thiên hạ không là Dương thì là Mặc”. Chính Mạnh Tử (k.
372-289 tr.C.N.) tự cho mình có nhiệm vụ “chống lại Dương
Chu” bằng lời khẳng định: “Ðạo của Dương Chu và Mặc
Ðịch không tắt thì đạo của Khổng Tử không sáng lên được”.
Dương
Chu là người xây dựng một chuỗi tư tưởng dùng làm hướng
đi cho những ai muốn sống đời thoát tục. Ông chủ trương
giữ tròn sinh mạng và sống theo những điều chân chính, không
vào thành nào đang lâm nguy, không bao giờ đi lính, không để
bất cứ vật nào ngoại thân làm thể xác mình lâm luỵ, không
đổi một sợi lông chân để được lợi lớn trong thiên
hạ, v.v... Ðặc biệt, tỏ ra mình vô dụng tức là tự dùng
mình tối đa, vì vừa lánh được đời vừa giữ được thân.
Trong lịch sử phát triển Ðạo học, tư tưởng của Dương
Chu được kể là đại diện cho giai đoạn thứ nhất, Ðạo
đức kinh là giai đoạn thứ hai và Nam hoa kinh là giai đoạn
thứ ba.
Cho
tới nay, chưa tìm thấy tác phẩm nào của Dương Chu để lại.
Hậu thế muốn biết tư tưởng của ông phải lượm lặt
mỗi nơi một ít trong các tác phẩm khác, như Hàn phi tử,
Lã thị xuân thu, v.v... Tuy không có cuốn sách cổ nào kết
án Dương Chu là người chủ trương hưởng lạc, dù trong sách
Liệt tử đôi khi ông bị mô tả là người theo khoái lạc
cá nhân chủ nghĩa cực đoan. Dưới đây là vài trích đoạn
tư tưởng của ông, từ thiên Dương Chu trong Liệt tử Xung
hư chân kinh, Nguyễn Tôn Nhan dịch, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1999.
“Dương
Chu đáp: [.] Người ta đã sinh ra thì nên thuận theo tự nhiên,
cứ thoả mãn hết ý thích của mình để đợi giờ chết
đến; giờ chết đến thì nên thuận theo tự nhiên, bao giờ
chết cũng được, cứ sống cho đến lúc kết thúc. Không
có cái gì có thể dứt bỏ, không có cái gì không thể phóng
nhiệm, việc gì phải lo đời sống ngắn hay dài”. (t. 221);
“Dương
Chu nói: Bá Thành Tử Cao không chịu mất một sợi lông chân
để tìm lợi cho thiên hạ, vì vậy ông ta vất bỏ ngôi vương,
ẩn cư cày ruộng. Ông Ðại Vũ không mưu lợi ích gì cho riêng
mình, vì vậy ông ta lao khổ quá độ (đến nỗi) gầy rộc
thân thể. Người thời cổ, mất một sợi lông chân mà lợi
cả thiên hạ, họ cũng không làm; lấy cả thiên hạ về phụng
dưỡng mình, họ cũng không nhận. Mọi người đều không
chịu mất một sợi lông, mọi người đều không mưu ích
lợi cho thiên hạ thì thiên hạ sẽ thái bình”. (t. 221);
“Dương
Chu nói: Người và trời đất âm dương giống nhau, cùng được
ngũ hành bẩm phú, là loài tối linh trong vật loại có sinh
mệnh. Nhưng con người không có nanh vuốt dùng để tự vệ,
da thịt không đủ để giữ gìn tự thân, chạy không đủ
mau để đuổi lợi trốn hại, không có lông cánh để chống
lại gió to giá rét; nhất định phải dựa vào ngoại vật
để tự nuôi sống mình. Nhân vậy, phải dựa vào tài trí
không dựa vào sức mạnh. Vì vậy trí tuệ là điều đáng
quí, có thể dùng nó mà bảo tồn thân thể, sức mạnh sở
dĩ thấp kém là vì nó làm tổn hại đến ngoại vật. Thế
nhưng, thân thể không phải là sở hữu của ta, đã sinh ra
không thể không giữ gìn nó. Ngoại vật không phải là ở
hữu của ta, nhưng đã có chúng thì ta không nên diệt trừ
chúng, và cũng không nên chiếm làm của riêng. Thân thể cố
nhiên là chủ thể của tính mệnh, dù không bỏ ngoại vật
cũng không chiếm ngoại vật làm của riêng. Chiếm ngoại vật
làm của riêng là cưỡng chiếm cái vốn thuộc về của chung
thiên hạ, đại khái chỉ có thánh nhân mới làm được! Ðó
gọi là cảnh giới đạo đức tối cao vậy! (tt. 225-226);
Ðôi
nét về Ðạo đức kinh
Tác
phẩm triết học đầu tiên của Trung Hoa ấy dài khoảng 5.000
chữ. Thượng là Ðạo kinh gồm 37 chương, bàn về Ðạo cái
lớn lao mà từ đó sinh ra vũ trụ. Hạ là Ðức kinh gồm 44
chương bàn về Ðức, cái là năng lượng của Ðạo lưu hành
trong vũ trụ. Các bản lưu truyền từ hơn hai ngàn năm nay
chỉ khác nhau đôi chút một số chữ hoặc cách chấm câu.
Hầu hết học giả đều phỏng đoán rằng thời điểm hình
thành sách là khoảng giữa thời Chiến quốc nhưng cơ bản
vẫn bảo lưu được tư tưởng chủ yếu của Lão Ðam trước
đó. Năm 1973, tại Trường Sa, ngành khảo cổ học tìm thấy
một bản bạch thư dưới một mộ cổ đời Hán, trong đó
phần Ðức kinh được đặt lên trước phần Ðạo kinh. Bản
khai quật này có giá trị rất lớn vì hơi khác các bản hiện
hành.
Ðạo
đức kinh, với tên nguyên thuỷ là sách Lão tử, được viết
theo hình thức câu dài ngắn khác nhau, giàu âm điệu và đọc
lên nghe như thơ tự do thời nay. Súc tích. Không chấm câu.
Không lý luận. Không chứng minh dài dòng. Thể được dùng
là cổ văn trường đoản cú, một loại văn ngắn gọn, ít
lời, nhiều ý, dễ thuộc lòng nhưng không dễ hiểu. Vì thế,
nó có vẻ như chỉ để gợi ý và buộc người đọc phải
suy nghiệm, mường tượng, lắng nghe tiếng dội lại từ lòng
mình. Người đọc có rất nhiều cơ hội để tiếp nối quá
trình sáng tạo và tư duy, khiến tác phẩm sinh động, thấm
sâu và triển khai mãi theo mỗi lần đọc. Và điều quan trọng
không phải là bản thân tác giả mà là truyền thống cùng
nội dung giảng dạy được tiêu biểu bằng danh xưng “Lão
Tử: Ông thầy già”.
Tám
mươi mốt chương của Ðạo đức kinh y hệt 81 bài thơ dài
ngắn khác nhau, trong đó các châm ngôn đặt liền nhau ấy
được thu thập suốt một quãng thời gian khá dài từ “Ông
thầy già” tới vô số đạo gia đệ tử nhiều thế hệ
sau. Chúng được sắp xếp tương đối trật tự theo từng
chủ đề. Gọi là Kinh, nghĩa là qui điển có thẩm quyền
ứng xử với cái cốt lõi của một truyền thống triết học
hay lý thuyết của một tôn giáo. Ngoài hai vấn đề chính
là Ðạo và Ðức bao hàm vũ trụ luận và trí thức luận
của tác giả, sách còn chủ yếu bàn tới lối tiếp nhân
xử thế đạt đạo của bậc thánh nhân, cách thức cầm quyền
trị nước, và nói sơ lược về binh pháp, thiên văn, dưỡng
sinh, v.v...
Vũ
trụ luận
Học
thuyết trọng tâm của Ðạo đức kinh là Ðạo và Ðức. Trình
bày về Ðạo/Ðức cũng là nói tới vũ trụ luận của Lão
Tử mà trước đó, tại Trung Hoa chưa triết gia nào bàn luận
có hệ thống.
Mở
đầu sách, Lão Tử cho rằng Ðạo là cái có tính rất nền
tảng, nhưng nó ở quá bên kia những diễn đạt bằng ngôn
từ:
“Ðạo
nói được không phải là Ðạo thường (chân chính và bất
biến) / Danh gọi được không phải là danh thường (chân chính
và bất biến)/ Vô danh là khởi nguồn của trời đất / Hữu
danh là mẹ của muôn vật”.
Không
tin trời vì “Trời đất bất nhân, xem vạn vật như chó
rơm” nên Lão Tử nêu ra Ðạo là cái “tự nhiên hỗn thành
trước khi có trời đất, im lặng quạnh quẽ, đứng một
mình mà không đổi, chỗ nào cũng đi khắp mà không mỏi,
muôn vật trong vũ trụ đều gốc ở đó mà sinh ra”.
“Ðạo
sinh một / một sinh hai / hai sinh ba / ba sinh vạn vật”.
Lão
Tử đếm, có lẽ chỉ để tượng trưng, ba con số rồi phán
như thế và ta hiểu tác giả có ý nói rằng Ðạo tuy không
thể định nghĩa nhưng nó có trước vũ trụ, và Ðạo là
nguồn gốc của vũ trụ. Theo Lão Tử, trời đất muôn vật
do Ðạo mà sinh thành. Ðạo là cái hỗn mang chưa phân, là
cái nguyên thuỷ và cũng là sự vận động hằng cửu mà ta
không thể cảm, không thể biết. Tuy vô danh vô hình, nhưng
Ðạo là căn nguyên và cốt lõi của muôn vật. Muôn vật đều
khởi đi từ Ðạo, đi theo Ðạo và quay về Ðạo.
Còn
Ðức? Chữ Ðức ở đây không phải là đức hạnh hiểu theo
lối luân lý thông thường, thuộc phạm trù tự tu dưỡng
và giao tế xã hội. Ta phải hiểu theo ý nghĩa của Lão Tử
là “mầm sống ngấm ngầm” trong vạn vật, có phần nào
giống như “đức tính” bẩm sinh.
“Nên
đạo sinh ra / đức nuôi nấng / trưởng thành dưỡng dục
/ nuôi lớn thành thục / chở che vạn vật / tuy nuôi mà không
chiếm hữu / tuy làm mà không cậy công / cứ để tự nhiên
không chủ động / đó chính là cái đức sâu thẳm”.
Người
sống có Ðức tức là sống theo Ðạo. Người bắt chước
đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước Ðạo, Ðạo
bắt chước tự nhiên. Cái Ðạo “phi thường Ðạo” được
Lão Tử nói đến là thiên nhiên, năng lượng sức sống và
sự vận hành của thiên nhiên. Cũng có thể gọi là tự nhiên
hay thiên lý. Và Ðức là cứ theo tự nhiên mà sống, thuận
theo thiên lý mà lưu hành. Trong cái Ðạo vũ trụ ấy, thiên
nhiên và những qui luật của chúng tập hợp thành cái trụ
cốt, cái bản thể, còn đất trời và sinh linh, v.v... là những
thực thể có vị trí thích hợp và chức năng thích hợp,
thao tác theo một thể thức tự nhiên.
Tri
thức luận
Con
người chỉ có thể biết tới Ðạo ấy bằng trực quan, không
bằng lý trí. Vì chống lại lý trí nên Lão Tử không lập
luận về Ðạo. Theo tác giả Ðạo đức kinh, bằng lý trí
ta nhìn cuộc đời với con mắt nhị nguyên chủ nghĩa, khiến
phân chia cái duy nhất thể thành hai: thế giới nội tâm và
ngoại giới, con người với thiên nhiên, thế gian và vũ trụ,
thiện và ác, vinh và nhục, đúng và sai, cao và thấp... làm
ta xa lìa Ðạo. Phủ định kinh nghiệm cảm giác vì “càng
đi xa, càng biết ít”, Lão Tử cho rằng với phương pháp
nhận thức tâm linh, được gọi là Huyền lãm, nghĩa là giữ
cho nội tâm hư tĩnh để có thể cảm nhận sự vật tới
cả mặt bên kia, mặt bí nhiệm của chúng:
“Thường
có bỏ hết được lòng ham muốn, mới biết được chỗ huyền
diệu của đạo”.
“Người
giữ được đạo thì không ra khỏi cửa mà biết được muôn
vật trong thiên hạ, không nhìn ra ngoài cửa sổ mà biết được
đạo trời đang thống trị thế gian: người ta hễ muốn càng
đi xa bao nhiêu thì lại càng biết ít bấy nhiêu”.
“Càng
học càng biết nhiều mối đã vô ích mà còn hại cho mình;
ngược lại, đem tâm trí chú mục vào đạo thì cái biết
càng ngày càng ít đi, càng ít mãi cho đến bậc vô vi; tuy
vô vi nhưng không có cái gì là không chịu ảnh hưởng của
mình”.
Lão
Tử không mất công giảng giải về Ðạo. Triệt để chống
tri thức và trí năng, Lão Tử cho rằng tri thức không giúp
cho con người sống theo Ðạo với Ðức. Nó chỉ khiến cuộc
sống thêm phức tạp. Nó chế tạo cơ khí khiến con người
phát sinh ‘cơ tâm’. Nó bày đặt lý thuyết này nọ đưa
tới xung khắc... Trí năng khiến người ta phân biệt cái hay
cái dở nên sinh ra ham muốn. “Huệ trí xuất, hữu đại nguỵ:
vì trí mưu xuất hiện mới có cực kỳ dối trá”. Lão Tử
chủ trương bỏ trí năng, bỏ văn tự, bỏ việc dạy dỗ
dân, để dân chúng sống hồn nhiên mộc mạc.
Có
lẽ vì hiểu rõ giới hạn truyền đạt của ngôn ngữ nên
Lão Tử không chịu nói nhiều về Ðạo. Tóm lại, Ðạo, cái
lý tự nhiên trong con người và vũ trụ, thì hư vô, mênh mông,
sâu thẳm và ngập tràn tới độ nằm ngoài tầm nắm bắt
của lý trí, nhận biết của tri thức và diễn đạt của
ngôn từ.
Mâu
thuẫn và phản phục
Nhìn
sự vật thường xuyên biến đổi, Lão Tử nhận ra luật mâu
thuẫn nơi vẻ ngoài của vạn vật:
“Cái
yên tĩnh là chủ của cái xáo động, cái cao quí lấy cái
hèn mọn làm gốc, cái cao lấy cái thấp làm gốc, cái thật
đầy thì giống như trống không, con người thật khôn khéo
thì trông giống như vụng về...”
Vạn
vật bên ngoài thì mâu thuẫn nhưng bên trong thì phản phục,
“vật gì phát tới cực điểm thì phản hồi, hễ tăng tới
cực độ thì phải hao giảm – trăng tròn rồi lại khuyết,
hết mùa đông phải sang xuân... Cùng tắc biến, biến tắc
thông...”
Trong
cùng một lúc bị chi phối bởi luật mâu thuẫn và luật phản
phục, vũ trụ vận hành với Ðạo. Vạn vật đều nương
tựa nhau mà sinh tồn và tương tác, tạo điều kiện cho nhau
“có và không cùng sinh, khó và dễ cùng thành, dài và ngắn
cùng hình, cao và thấp cùng nghiêng, thanh và âm cùng hoạ,
trước và sau cùng theo”, và nhất là “Trở lại là cái
động của Ðạo”.
Ði
theo con đường Ðạo
Tuy
Ðạo không thể hiểu thấu, không thể bàn luận, không thể
diễn tả, nhưng Lão Tử cho rằng loài người chỉ tự mình
phục vụ tốt nhất bằng cách đi theo con đường Ðạo. Nếu
gặp tình cảnh nan giải cần phải xoay xở, thì đã sẵn có
Ðức. Lúc ấy bạn chỉ việc sống có Ðức. Sống có Ðức
nghĩa là sống theo bản tính của mình, không phân biệt nhị
nguyên, không khiên cưỡng; sống tự nhiên “vi vô vi: làm
một cách tự nhiên”. Và như thế tức là bạn đi đúng con
đường vận hành của Ðạo.
Ðức
là cái biểu hiện sự có mặt của Ðạo trong các sự vật
cá thể. Ðức là năng lượng của Ðạo thao tác trong thế
giới. Lời phát biểu ấy không chỉ có tính siêu hình học
về nguyên lý tổng quát quyết định cách hiện hữu của
thế giới, nó còn mang tính thực tiễn. Phùng Hữu Lan phân
tích rằng:
“Theo
sách Lão tử thì đạo là cái bởi đó mọi vật sinh ra. Khi
sinh ra, riêng mỗi vật đều nhận từ cái ‘Ðạo’ phổ
biến một phần gọi là ‘Ðức’. ‘Ðức’ có nghĩa là
‘tiềm thế’ hay ‘đức tính’, cả hai đều dùng theo nghĩa
vừa đạo đức vừa phi đạo đức của từ ngữ. ‘Ðức’
của mỗi vật là cái mà tự nhiên đã phó cho riêng mỗi vật.
Lão Tử nói: Mọi vật đều tôn Ðạo và quý Ðức (ch. 51),
vì Ðạo là cái bởi đó mọi vật sinh ra, và ‘Ðức’ là
cái làm cho mọi vật trở thành vật”.
Nếu
ta đi theo con đường Ðạo, tức là hành động một cách tự
nhiên, lúc ấy ta sẽ dồi dào Ðức. Ðây là một sức mạnh
tự nhiên, khiến ta ung dung hành động mà phát huy hết tiềm
năng của nó. Nếu Ðạo là nước đang chảy thì Ðức là
bản tính, là năng lượng, là sức mạnh của dòng nước ấy,
tác động ở vị trí đặc thù trong sự tuôn trào của Ðạo.
So
với triết Tây
Nếu
hiểu đúng ý của Lão Tử mà nghĩ rằng Ðạo có tính sáng
tạo, ta không nên đồng hoá Ðạo ấy với Thượng đế của
Tây phương. Trong tư tưởng Do thái-Kitô giáo và ngay cả Hồi
giáo, Gia-vê hay Thiên Chúa hay Ðấng Allah, được hiểu là
đấng sáng thế, một hữu thể, bằng cách nào đó, độc
lập và ngoại tại đối với sự sáng tạo của
ngài.
Trái lại, Ðạo của Ðạo đức kinh là nền tảng sáng tạo
tự phát và là căn bản của vạn vật.
Thần
học Do thái-Kitô giáo cũng cho rằng chính Thiên Chúa là sức
mạnh chủ yếu, con người chỉ là phụ thuộc. Khi người
tín hữu hoàn toàn qui thuận Thiên Chúa, sống theo “thánh
ý quan phòng”, lúc ấy, đương sự hội nhập vào sức mạnh
vô song của Thiên Chúa.
Về
khái niệm Ðức của Lão Tử như là bản tính tự nhiên tiềm
ẩn trong mỗi vật hay như là cái bởi đó mỗi vật trở thành
vật, ta có thể thăm dò và đối chiếu với khái niệm “dạng
thức” (form) của Aristotle khi triết gia Hi Lạp ấy cho rằng
mỗi vật đều tiến hoá theo một chiều hướng riêng biệt
của nó, tiềm ẩn trong mầm của nó, như hạt bắp không thể
nào mọc thành cây lúa.
Cái
Hỗn mang trong Ðạo đức kinh của Lão Tử có cái gì đó từa
tựa Chaos của Hesiod (khoảng tk 8 tr.C.N.) trong Theogony (Thần
linh phả hệ) của thần thoại Hi Lạp.
Chữ
Ðạo của Ðạo đức kinh cũng làm ta liên tưởng đến chữ
logos của Heraclitus (?- 460 tr.C.N.). Theo nhà triết học Hi Lạp
cổ đại thời tiền Socrates ấy, logos (nguyên ngữ Hi Lạp
có nghĩa là lý trí), là nguyên lý của trật tự và khả tri;
nó chi phối sự biến đổi của vạn vật. (Chú ý: Khái niệm
logos của Heraclitus có lẽ khác với khái niệm Logos: Ngôi Lời,
chỉ Ðức Giê-su, trong Tân ước theo Gio-an (chương 1) của
Kitô giáo, và chắc chắn khác với logos trong logoscentrism: quan
niệm lấy ngôn từ làm trung tâm, thuật ngữ Jacques Derrida
(1930-2007) dùng để gọi các tác phẩm triết học từ Plato
tới Heidegger).
Trình
bày theo cách khác
Khi
Lão Tử mô tả Ðạo là “căn nguyên và mẹ của vạn vật”,
ta thấy cụm từ ấy có tính định chuẩn để chỉ mọi sự
hiện hữu. Ðạo thành tựu mọi sự mà không dùng tới lực
tác động, cung cấp sự sống mà không sở hữu những gì
nó sinh thành. Ðạo chính là cốt lõi của tính tự nhiên,
qua đó vạn vật trở thành cái chúng đang là. Vì vô biên
nên Ðạo sản sinh dòng chảy liên tục của các sự vật hữu
hạn và thông thường.
Có
một hình ảnh dễ hiểu thường được dùng để so sánh với
Ðạo, đó là nước. Nước mềm mại uyển chuyển, nhưng có
sức mạnh vô song. Nước có khả năng làm sụp đổ thành
quách và có sức tiêu hao tới độ “nước chảy đá mòn”.
Ði theo Ðạo tức là tìm thấy con đường tự nhiên, sống
như nước, để đạt được cứu cánh với những phẩm tính
cũng tự nhiên không kém.
Lão
Tử còn dùng đến hình ảnh của ống bễ lò rèn. Bên trong
ống trống mà không cùng, càng thụt cho hơi ra ngoài để làm
hồng lửa thì ống càng thông và lại đầy hơi. Cũng không
thể mô tả Ðạo như một ‘hữu thể’; nó cũng chẳng phải
‘phi hữu thể’. Ðạo là cái từ đó xuất hiện các hữu
thể. Về mặt này, Ðạo của Lão Tử giống với khái niệm
“sunyata: tính không” của Phật giáo Ðại thừa. Ðạo có
tính phổ quát và tràn ngập khắp nơi nhưng không gì có thể
huỷ hoại nó.
Về
mặt siêu hình học, Ðạo biểu hiện một bối cảnh im lặng
từ đó vạn vật xuất hiện và qui hồi. Không là cái hiện
hữu tách biệt, Ðạo là cơ sở đến và đi của mọi vật
hiện hữu. Theo Ðạo học, lặng yên có trước chuyển động,
và như thế tĩnh hiện hữu trước động, do đó Ðạo trong
trạng thái tĩnh là căn nguyên của mọi sự. Dù tự thân bất
động, Ðạo cống hiến cơ sở cho hết thảy các chuyển động
khác. Trong ý nghĩa ấy, Ðạo là cái có tính tự nhiên tuyệt
đối:
“Trở
về là cái động của Ðạo, yếu nhược là cái dụng của
Ðạo, vạn vật trong thiên hạ sinh ra từ ‘có’, ‘có’
lại sinh ra từ ‘không’’.
So
với triết Tây
Hiểu
Ðạo của Lão Tử như thế thì thấy nó có điểm tương đồng
với một động cơ không bị chuyển động và một nguyên
nhân không bị tác động của Aristotle và Thomas Aquinas. Ðạo
thao tác, một cách chính xác, như là nền tảng không bị chuyển
động và không bị tác động của bất cứ cái nào khác.
Khác
biệt duy nhất và chủ chốt ở đây là các nhà tư tưởng
Tây phương liên tục cho rằng nguyên nhân không bị tác động
ấy là Thượng đế, do đó, họ đặt Thượng đế đối lập
với các sự vật được tạo dựng, trong khi đó, đối với
Ðạo học và các triết thuyết Ðông phương khác, cội nguồn
của sự sống không bị đặt đối lập với các hữu thể
cá thể, mà được xem là bản tính chân chính của chúng.
Càng nhận biết Ðạo tức là càng nhận biết cái là bản
thân mình, thí dụ, người Phật giáo Ðại thừa càng nhận
biết và sống theo Phật tính (buddha-svabhâva) trong bản thân
mình, hay người Ðạo giáo càng nhận biết Ðạo thì càng
sống mộc mạc theo bản tính tự nhiên của mình. Khái niệm
ấy tương tự bán phiếm thần thuyết (panentheism) của Tây
phương: Thượng đế là mọi sự nhưng không bị đồng hoá
với mọi sự.
Cái
tĩnh và động của Ðạo trong Ðạo đức kinh cũng làm ta liên
tưởng tới một câu của Isaiah, tiên tri Do Thái sống khoảng
thế kỷ 8 tr.C.N khi ông nói tới quyền năng của Thượng đế,
đấng sáng tạo vũ trụ: “Trong tĩnh lặng và tự tin sẽ
hiện hữu sức mạnh của ngài” (Isaiah 30:15).
Sống
mộc mạc hồn nhiên
Lấy
vũ trụ quan về Ðạo làm cơ sở và áp dụng Ðức tức là
vận dụng Ðạo vào cuộc sống đời thường. Người mà mọi
động thái đều thông suốt lẽ Ðạo được Lão Tử gọi
là thánh nhân. “Lòng thánh nhân vô thường, dùng lòng trăm
họ làm lòng mình. Thiện với người thiện, thiện cả với
người không thiện vậy nên ai cũng thiện. Tin người đáng
tin, tin cả người không đáng tin vậy nên ai cũng đáng tin.
Thánh nhân không lo nghĩ không ham muốn, hồn nhiên vì mọi
người. Thánh nhân như trẻ sơ sinh”.
Cực
lực phản bác Nho giáo, Lão Tử khinh miệt những phẩm tính
của “bậc quân tử” và cho rằng chúng chỉ làm suy đồi
Ðạo và Ðức. “Mất Ðạo mới có Ðức. Mất Ðức mới
có Nhân. Mất Nhân mới có Nghĩa. Mất Nghĩa mới có Lễ. Lễ
là sự suy đồi của trung tín, bước đầu của rối loạn”.
Và “Nếu thiên hạ đều biết đẹp là đẹp, ấy là có
xấu. Nếu thiên hạ biết thiện là thiện, ấy là có bất
thiện”.
Theo
Lão Tử, sống với Ðạo là sống đúng nguyên lý “quân bình”,
luôn luôn chừng mực, không bao giờ thái quá cũng chẳng lúc
nào bất cập. Vì “muốn thu rút lại là sắp mở rộng ra;
muốn làm yếu lại là sắp làm mạnh lên; muốn vứt bỏ là
sắp đưa lên; muốn cướp đoạt là sắp cho thêm. Ðó là
sáng suốt tinh tế, mềm yếu thắng cứng mạnh”. Như thế,
sống hợp với Ðức thì ở ngoài vòng phân biệt thiện ác.
Noi
theo gương mẫu thánh nhân và giữ nguyên lý “quân bình”,
người theo Ðạo không ham can thiệp vào việc đời. Nếu cần
phải hành động thì “vô vi”. Vô vi thoạt nghe có vẻ như
không làm gì cả. Nhưng vô vi nằm trong câu “Vi vô vi tắc
vô bất trị: làm vô vi là không gì không làm”, phải được
hiểu là “làm mọi sự mà như không làm”, hoặc nói gọn
là “làm mà như không làm”, nghĩa là làm một cách tự nhiên,
không giả tạo, không cưỡng chế, không rán sức. Vì cũng
như Ðạo, vô vi là hành động không có vẻ tác động nhưng
không có gì không bị tạo tác. “Cho nên bậc thánh nhân,
lấy vô vi mà ứng xử, dùng bất ngôn mà giáo hoá, khiến
vạn vật tự làm”.
Cuộc
đời cứ thế tự nhiên mà sống. Ðạo thì vô danh, nguyên
sơ, mộc mạc; Ðức cũng là cái chân chất theo liền với
Ðạo, nên người có “đức” thì sống càng giản dị càng
tốt. Bên ngoài mộc mạc nhàn nhã, bên trong phong phú thâm
hậu vì luôn luôn tươi mới theo vận hành của thiên nhiên.
Ðây là một lối sống hồn nhiên, không dựa vào lý trí,
cũng không dựa vào tri thức. Ðối với người sống làm một
với Ðạo, không có nhu cầu phấn đấu cho các cứu cánh nhân
tạo. Trạng thái lý tưởng ấy được gọi là “Minh: sáng
suốt”, trong đó ta nhận biết luật tự nhiên và để cho
hành động của mình diễn ra phù hợp với luật ấy.
Vì
Ðạo không thiên vị ai nên ta trước tiên sống với một
chữ “tư”, một tình thương yêu giúp đỡ mọi người,
không phân biệt kẻ lành người dữ. Ta nên trọng “tồn”
và “tĩnh”’. Tồn là khiêm tốn, đừng mong phát đạt tới
cực điểm. Hễ hơi quá thì nên giảm rút ngay. Tĩnh là ung
dung nhàn nhã, là “vô vi”. Cứ thuận theo tự nhiên, chớ
ra tay nhắm chuyện tạo thời thế vì chẳng thể nào xoay chuyển
nổi cơ trời, cái được hiểu theo nghĩa của Lão Tử là
quá trình diễn biến tự nhiên.
Người
hiểu Ðạo luôn luôn giữ phận mình hèn mọn. “Giữ chậu
đầy hoài, chi bằng bỏ thôi. Mài cho bén nhọn, đâu bén mãi
hoài. Vàng ngọc đầy nhà, đâu giữ được mãi. Sang giàu
mà kiêu, tự rước hoạ tai. Công thành sớm lui, đó là đạo
trời”. Thông minh đại trí thì nên sống như kẻ ngu ngơ
đần độn. Không khoe khoang, không tranh đua với người khác.
Minh triết là an mệnh, giữ thinh lặng, sống lặng lẽ với
thiên nhiên. Không ôm hết vào mình, không tích luỹ của cải.
“Thánh nhân giấu thân ở sau nên thân ở trước, đưa thân
ra ngoài nên thân được còn. Phải chăng vì không riêng tây
mà thánh nhân làm được điều riêng tây”.
Tóm
lại, mềm thì thắng cứng, yếu thì thắng mạnh. Sống như
nước. Nước làm lợi cho mọi vật mà không tranh giành với
vật nào, ở chỗ thấp trũng chẳng ai ưa nên cũng chẳng ai
ganh. Trong thiên hạ không có gì nhu nhược như nước nhưng
dùng để công phá những cái chắc và mạnh thì không gì có
thể hơn nước.
Lý
thuyết chính trị
Người
đọc Ðạo đức kinh có thể tìm thấy rất nhiều lời dạy
của Lão Tử về thuật cai trị, tới độ có người cho rằng
dụng ý của Lão Tử là để lại cho đời một cuốn cẩm
nang trị quốc. Ở đây, Lão Tử hình dung một nước nhỏ
đất không rộng, dân không đông, nhưng được đặt dưới
sự cai trị lý tưởng của thánh nhân. Ðể dễ tiếp cận
lý thuyết chính trị của Lão Tử, ta có thể rút từ những
điều đã trình bày rải rác trong các đoạn trên thành ba
điểm:
Tư
tưởng xuất thế của Ðạo gia hoàn toàn đối lập với tư
tưởng nhập thế của Nho gia;
Ðạo
đức học của Lão Tử không đặt căn bản trên các khái
niệm luân lý theo lối thiện ác, mà trên việc hành xử theo
luật tự nhiên;
Con
người lý tưởng thì “vô vi”, sống hồn nhiên mộc mạc.
Lấy
khái niệm Ðạo và Ðức ấy làm hệ qui chiếu, Lão Tử cho
rằng thế giới rối loạn vì người cai trị làm quá nhiều
việc. Thế nên thánh quân là kẻ cứ bỏ mặc cho mọi sự
diễn biến, và tốt nhất là đừng làm gì cả. Chính quyền
cứ theo tự nhiên mà giữ giềng mối, “vô vi nhi trị: trị
mà không trị tức là trị vậy”. Cứ theo Ðạo ấy mà trị
nước vì nếu dùng trí thuật mà trị nước tức là làm hại
nước. “Không làm gì cả mà dân tự hoá thành hay, cứ yên
lặng mà dân tự ngay thẳng”. Ta “vô sự mà dân tự giàu
có. Ta không ham muốn mà dân trở thành chất phác”. Chính
quyền do thánh nhân lãnh đạo gồm những người mộc mạc,
ăn ở giản dị và cần kiệm, không xa hoa, Họ không can thiệp
vào chuyện của người dân, không dựa vào thánh nhân để
dạy dỗ dân, không tôn quí hiền tài, không vận dụng lý
trí để đối xử với dân. Luật pháp phải rộng rãi và
uyển chuyển vì càng tăng thêm luật lệ, dân càng bị trói
buộc khổ sở. Trọng dụng hiền tài chỉ làm dân tranh nhau
để được tiếng là người hiền. “Dứt thánh bỏ trí,
dân lợi trăm phần. Dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại thảo lành.
Dứt xảo bỏ lợi, trộm cướp không còn”.
Ở
trong nước, chính quyền không nên dùng hình phạt răn đe,
nhất là đem án tử hình ra doạ dân, vì tới một lúc nào
đó dân không còn sợ nữa. Ðối với bên ngoài, phải cố
hết sức tránh nạn đao binh. Lão Tử triệt để bác bỏ chiến
tranh. Cực chẳng đả phải dùng thì nên điềm đạm, chừng
mực. “Nước lớn mà hạ mình trước nước nhỏ thì được
nước nhỏ thần phục, nước nhỏ mà hạ mình trước nước
lớn thì tất được nước lớn che chở”.
Tóm
lại, theo Ðạo đức kinh, phép trị quốc an dân hay nhất để
đem lại phúc lợi cho dân chúng là càng ít can thiệp càng
tốt, cứ để mặc dân sống hồn nhiên mộc mạc. Cứ để
cho dân “ngu”, hiểu theo nghĩa giản dị và hồn nhiên như
trẻ thơ. “Thánh nhân coi trăm họ như trẻ nhỏ” và thánh
nhân “không làm cho dân sáng mà làm cho dân ngu”.
So
với triết Tây
Thật
thú vị khi so sánh lý thuyết chính trị của Lão Tử với
của Plato. Tưởng quốc của Lão Tử nhỏ, được cai trị
bởi vị vua là thánh nhân sống mộc mạc, có điểm tương
đồng với tưởng quốc của Plato trong Republic (Nền cộng
hoà) cũng nhỏ và được cai trị bởi minh quân là triết gia,
sống thanh đạm.
Ngoài
hai điểm đó ra, có lẽ mọi cái còn lại đều hoàn toàn
tương phản. Trong tưởng quốc của Plato, mọi người sống
theo tôn ti trật tự với bốn tầng lớp nhất định, mọi
sự đều được qui hoạch chi li và tiến hành chặt chẽ,
nhất là giáo dục, và kể cả sinh sản có kế hoạch!
Ta
cũng có thể đối chiếu ý tưởng trở về lối sống tự
nhiên của Lão Tử với chủ trương sống vơi thiên nhiên (1712-1778)
của Jean Jacques Rousseau của Pháp, Henry David Thoreau (1817-1862)
của Mỹ.
III. Biến dịch
và Ðạo
Theo
Ðạo học, vạn vật đang trong trạng thái biến đổi liên
tục; chính nhờ Ðạo mà trạng thái ấy được quân bình.
Ở điểm này, tư tưởng Trung Hoa không khác bao nhiêu so với
tư tưởng Ấn Ðộ và Heraclitus thời tiền Socrates: tất cả
đều thừa nhận rằng tối hậu, chẳng có gì cố định mà
chỉ là một quá trình đang tuôn chảy và biến đổi. Tuy thế,
điểm khác biệt là tại Trung Hoa, có một tác phẩm kinh điển
cổ đại được dùng làm kim chỉ nam và phương tiện để
thăm dò trạng thái ấy, đó là kinh Dịch.
Dịch
là gì?
Dịch
có ba nghĩa:
Biến
dịch. Thay đổi
Giao
dịch. Trao đổi qua lại để sinh sinh hoá hoá.
Bất
dịch. Cực thịnh thì tới suy. Ði hết chu kỳ thì phản phục.
Kinh
có nghĩa là văn bản chính thống và thẩm quyền, dùng để
triển khai hoặc tham chiếu.
Từ
một cuốn sách dùng để bói toán, Kinh Dịch với sự đóng
góp của nhiều người thuộc nhiều học phái ở vào các thời
đại khác nhau, trải dài cả ngàn năm, đã trở thành một
tác phẩm triết học tổng hợp vũ trụ quan và nhân sinh quan
của dân tộc Trung Hoa. Nói như Huỳnh Thúc Kháng trong “Lời
giới thiệu” cuốn Chu Dịch của Phan Bội Châu rằng:
“Xưa
nay, nhiều người xem Kinh Dịch như sách dùng bói toán, việc
số, đã không ích cho đời mà lại dẫn người đời vào
cõi mê tín. Nay có bản sách này, không khác gì dọn gai gốc
mà thấy đường bằng, vẹt mây mù mà thấy mặt trời, làm
cho chân tướng triết học của Thánh hiền Ðông phương bị
che lấp mấy trăm đời, nay được bày tỏ một cách sáng
suốt[.]” (Sào Nam Phan Bội Châu, Chu Dịch, Nxb Văn hoá Thông
tin, Hà Nội, 1998, tt 7-8).
Tác
giả tập thể và nội dung
Như
đã đề cập, tác giả của Kinh Dịch gồm nhiều người thuộc
nhiều thế hệ. Những đóng góp của họ không theo một trình
tự nhất định mà xen kẽ nhau. Vì thế, chúng tôi gộp chung
nội dung và tác giả vào một tiểu đề. Phần trình bày sơ
lược dưới đây, chúng tôi sắp xếp chủ yếu dựa theo những
sưu khảo của Nguyễn Hiến Lê trong tác phẩm đặc sắc được
ông biên soạn vào cuối đời mình: Kinh Dịch: Ðạo của người
quân tử, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1997.
Với
quá trình hình thành kéo dài hàng ngàn năm, biến một sách
bói thành sách triết, Kinh Dịch gồm hai phần: Kinh và Truyện.
A.
Dịch Kinh, còn gọi là Chu Dịch
Căn
bản là Bát quái gồm tám quẻ: Càn – trời; Khôn – đất;
Tốn – gió; Chấn – sấm; Khảm – nước; Li – Lửa; Cấn
– núi; Ðoài – chầm (đầm nước). Theo truyền thuyết, người
tạo ra Bát quái là Phục Hi, một trong ba vị vua “Tam Hoàng”
thời Thái cổ, trước C.N. hơn 30 thế kỷ. Ngoài sáng chế
Bát quái, Phục Hi còn dạy dân săn bắn, đánh cá, chăn nuôi,
văn tự và khế ước. Hai vị vua kia là Toại Nhân dạy dân
cọ gỗ lấy lửa và Thần Nông dạy dân cày cấy. Như thế,
có lẽ ba danh xưng ấy đặt ra không phải để chỉ người,
mà là tượng trưng cho ba giai đoạn tiến hoá trong thời thái
cổ.
Mỗi
quái là một kết hợp cặp ba các vạch liền và vạch đứt,
có lẽ phỏng theo vết nứt từ chỗ lõm bị dùi lỗ trên
yếm rùa rồi đem hơ lửa để xem điềm triệu. Bát quái do
Lưỡng nghi sinh Tứ tượng mà thành. Thực tế, ta không thể
biết Bát quái do ai tạo ra và vào thời nào, nhưng hẳn chúng
đã có trước đời Văn Vương nhà Chu. Bát quái được xếp
theo hình tròn bốn cặp đối chiếu nhau, làm thành Bát quái
đồ.
Tây
Bá Cơ Xương (tức Văn Vương), lúc còn là chư hầu nhà Ân,
bị vua Trụ nghi ngờ có ý đồ tạo phản, bắt giam ở ngục
Dữu Lý, năm 1144 tr.C.N. Có thể ông là người chồng từng
cặp quẻ đơn của Bát quái lên nhau thành 64 quẻ kép, gọi
là Trùng quái. Chính ông đặt Thoán từ, cũng gọi là Quái
từ, rất ngắn gọn cho mỗi quẻ. Nhờ thế khi bói, nó có
ý nghĩa vi diệu cùng lời giải minh bạch và thống nhất.
Thí dụ Quẻ Càn, Văn Vương viết “Càn nguyên hanh lợi trinh”,
nghĩa là quẻ đó có những đức “đầu tiên cả, hanh thông,
lợi tốt, chính bền”.
Chu
Công Ðán, con thứ tư của Văn Vương, thường được gọi
là Chu Công, trong thời gian làm phụ chính cho cháu là Thành
Vương (1104-1068), xếp mỗi Trùng quái ra 6 hào, thành 384 hào
và đặt Hào từ cho mỗi hào. Thí dụ quẻ Càn, dưới hào
sơ (hào 1), Chu Công viết “Tiềm long vật dụng”, nghĩa là
“rồng đã hiện lên cánh đồng, ra mắt kẻ đại nhân thì
lợi”.
Tới
đây, ta đã có phần Kinh. Vì nó xuất xứ từ nhà Chu nên
có tên sách là Chu Dịch. Tuy thế, Dịch Kinh cơ bản vẫn còn
là cuốn sách bói.
B.
Dịch Truyện
Gồm
những chú giải, biến Dịch Kinh thành cuốn sách triết học
cơ bản của Trung Hoa. Thập Dực, mười cánh rẽ quạt của
các quẻ, thật sự chỉ có Thất Dực: bảy truyện. Ngày xưa,
chữ Truyện dùng để chỉ lời giải thích kinh. Thập Dực
gồm 10 thiên nên còn gọi là Thập Truyện. Xét theo giọng
văn chỗ rất thâm thuý, chỗ quá tầm thường, thì có thể
tác giả của chúng có cả Nho gia lẫn Ðạo gia với các trình
độ cao thấp khác nhau. Mãi tới đời Hán mới xuất hiện
danh từ Thập Dực. Do đó, truyền thuyết về việc Khổng
Tử viết Thập Dực có lẽ không có cơ sở. Thập truyện
gồm:
Thoán
truyện, 2 thiên. Tác giả sống thời Chiến quốc (sau Văn Vương
có thể bảy tám trăm năm), đã khiến cho kinh Dịch bắt đầu
mang ý nghĩa triết lý, không còn là sách bói.
Tượng
truyện, 2 thiên. Có thể viết trong thời kỳ Tần Thuỷ Hoàng
đốt sách của bách gia chư tử nhưng để yên Chu Dịch vì
xem nó là sách bói. Tác giả là Nho gia, có lẽ nhân thấy dân
chúng ham mê bói toán nên đưa tư tưởng của Ðại học, Trung
dung và Luận ngữ vào để phổ biến và giáo hoá.
Hệ
từ truyện, 2 thiên. Còn gọi là Ðại Truyện. Dài dòng, phong
phú và đa tạp. Có lẽ do một nhóm môn sinh nhiều đời sau
của Khổng Tử ghi chép.
Văn
ngôn truyện, 1 thiên. Ngắn gọn, sâu sắc. Có lẽ do Nho gia
viết.
Thuyết
quái truyện, 1 thiên. Nhiều chỗ tối nghĩa, dùng để bói.
Nội dung có lẽ có từ cổ đại, trước thời Khổng Tử.
Về sau được môn sinh của ngài chép thêm vào.
Tự
quái truyện, 1 thiên. Giảng về thứ tự các quẻ. Tác giả
có lẽ là một Ðạo gia đời Hán.
Tạp
quái truyện, 1 thiên. Giải thích linh tinh một số quẻ. Tác
giả có thể là một người đời Hán.
Ðể
bạn đọc có dịp nếm chút mùi vị của Thập Dực, xin đan
cử một thí dụ: Quẻ Càn.
Thoán
Từ chỉ có năm chữ: “Càn, Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh”.
Thoán
Truyện giải nghĩa: “Ðại tai càn nguyên, vạn vật tư thuỷ,
nãi thống thiên; vận hành vũ thi, phẩm vật lưu hình. Ðại
minh chung thuỷ, lục vị thời thành, thời thừa lục long dĩ
ngự thiên. Càn đạo biến hoá, các chính tính mệnh, bão hợp
thái hoà, nãi lợi trinh, thủ xuất thứ vật, vạn quốc hàm
ninh”.
Theo
Nguyễn Hiến Lê,
“Nghĩa
là: đức ‘nguyên’ của càn lớn thay, vạn vật đều nhờ
nó mà bắt đầu nảy nở, nó thống nhất thiên đạo (đó
là giảng về đức nguyên). Càn làm ra mây khiến cho mây biến
hoá, làm ra mưa, khiến cho mưa thấm nhuần khắp, mà vạn vật
thành hình thành sắc, sinh trưởng đến vô cùng (đó là giảng
về đức hạnh).
“Bậc
thánh nhân (đại minh: cực sáng suốt) thấy được cả trước
sau, cả sáu hào của quẻ Càn, mỗi hào có một vị (ngôi)
nên thuận thời mà hành đạo, như cưỡi sáu con rồng (ám
chỉ sáu hào dương của quẻ càn) mà thống ngự cả vùng
trời (khuyên chúng ta nên tuỳ thời mà hành động, lúc nào
nên ẩn thì ẩn, nên hiện thì hiện, nên tĩnh thì tĩnh, nên
động thì động). Tóm lại là đạo Càn biến hoá, khiến
cho vật gì cũng giữ được tính mệnh trời phú, giữ được
cái nguyên khí cho thái hoà (thái là rất). Bậc thánh nhân
đứng đầu muôn vật (theo đạo Càn) thì vạn nước đều
bình an vô sự (đó là giảng về hai đức lợi, trinh)”.
(Nguyễn
Hiến Lê, sách đã dẫn, tr. 47-48).
Quá
trình biến hoá của Kinh Dịch phù hợp với óc thực tế và
tính quyền biến của dân tộc Trung Hoa. Nhân ý thích huyền
thoại của dân chúng, họ qui cho Phục Hi là tác giả, người
chiêm nghiệm từ Hà đồ do ngựa thần đội lên từ sông
Hoàng Hà, và Lạc thư trên lưng rùa thần hiện lên ở sông
Lạc, để vạch ra Bát quái. Nhân lòng quá kính ngưỡng vị
vọng thế giá của người đọc, họ qui cho Khổng Tử biên
soạn phần Thập Dực. Nhân tính ham chuộng bói toán của đại
đa số quần chúng, họ lồng đạo lý vào lời giải các quẻ
bói, để vừa phổ biến tư tưởng thánh hiền và giáo hoá
người dân, vừa tránh né “hoạ văn tự”. Bên cạnh đó,
trong khi chiêm nghiệm các quẻ và thông giải chúng dưới ánh
sáng của minh triết, các triết gia cũng nâng cao tầm suy tưởng
của mình và biến Chu Dịch thành một bộ sách triết học,
làm cốt lõi cho nhân sinh quan và vũ trụ quan Trung Hoa.
Ðạo
với lẽ thường hằng
Vạn
vật biến dịch. Cũng như các truyền thống triết học Ðông
phương khác, Ðạo học nhìn mọi sự như đang liên tục biến
đổi. Theo Lão Tử, trong dòng chảy sinh hoá đó, cái duy nhất
không bị biến đổi chính là sự biến đổi. Và đó là nguyên
lý vĩnh cửu, thường tồn hoặc hoặc qui luật chi phối quá
trình biến dịch. Theo Ðạo học, cái đó là “thường”.
Nói cách khác, “thường” là cái thường hằng độc nhất,
thực tại duy nhất và tối hậu. Và sống thực tế tức là
sống theo qui luật biến dịch thường hằng của vạn vật.
Sống quân bình trong sự hiệp nhất của con người với vũ
trụ. Có lẽ chính ở điểm chủ chốt này mà Will Durant và
Ngô Tất Tố cho rằng Lão Tử đã lấy cảm hứng từ các
Upanishad trong kinh Veda với khái niệm Tiểu ngã (Atman) của
cá thể được giải thoát trên đường tìm về hiệp nhất
với Ðại ngã (Brahman) của vũ trụ.
Khi
con người thấy mọi sự đang biến đổi, nó bị cám dỗ
đưa mắt nhìn tới quá bên kia trạng thái biến dịch ấy
để tìm kiếm cái gì đó thường tồn, cái có lẽ hiện hữu
dưới dạng một thực tại tối hậu nào đó. Nhưng khi có
cảm tưởng tìm được cái đó, con người bị rơi vào trạng
thái không còn lưu ý tới những gì đang xảy ra ngay trong khoảnh
khắc hiện tại. Nó có khuynh hướng thông giải hiện tại
trong liên quan tới quá khứ bằng cách nhìn căn nguyên của
sự việc, hoặc tới tương lai bằng cách nhìn cùng đích của
sự việc.
Ðó
là trạng huống sống với ảo giác. Nói như Phật giáo, ảo
giác khiến con người hụp lặn giữa sông mê vì nó khiến
ta xao lãng việc nhìn rõ khổ và diệt khổ. Nói theo ngôn ngữ
triết học hiện đại, sống với ý định trở thành “một
người nào đó” tức là không sống đúng với tiềm năng
và bản tính của mình, và như thế tự biến ta thành một
“con người giả”. Ngang đây có lẽ ta đã hiểu Lão Tử
rất thực tiễn khi cực kỳ chống lại việc trở thành “một
người nào đó”, nhất là thái độ khinh miệt mẫu người
quân tử ngũ thường của Nho giáo, và cổ vũ cho lối sống
hồn nhiên mộc mạc như trẻ thơ.
“Nhân
mà cao thì làm, nhưng không cho đó là làm. Nghĩa mà cao cũng
làm, lại cho là có làm. Lễ mà cao thì làm, nếu không được
đáp, thì xăn tay áo mà lườm. Vì vậy, mất Ðạo rồi mới
có Ðức; mất Ðức rồi mới có Nhân; mất Nhân rồi mới
có Nghĩa; mất Nghĩa rồi mới có Lễ. Lễ chỉ là cái mỏng
manh của lòng trung tín, mà cũng là đầu mối của hỗn loạn.
Tri thức là màu mè của Ðạo và là đầu mối của ngu muội”.
Việc
quản lý xã hội cũng thế. Nếu chính quyền cưỡng bách con
người trong “tam cương, ngũ luân”, áp đặt luật pháp chặt
chẽ lên con người, tức là thao tác trái tự nhiên. Và như
thế, không thể nào mang lại phúc lợi cho dân chúng như một
toàn bộ; không sớm thì muộn sẽ thất bại, đưa tới hỗn
loạn. Do đó, từ người dân cho tới vua quan đều nên “vi
vô vi: làm mà như không làm”.
“Dứt
thánh bỏ trí, dân lợi trăm phần. Dứt nhân bỏ nghĩa, dân
lại thảo lành. Dứt xảo bỏ lợi, trộm cướp không có.
Dứt ba khoản đó, có đủ vào đâu. Phải được như vầy:
Ăn ở giản dị và chất phác, ít riêng tây, ít tham dục”.
Trong
hai lời phát biểu vừa trích, ta thấy có một đặc điểm
quan trọng của tư tưởng Ðạo học. Thế giới vốn hiện
hữu như nó đang là. Nếu có sự hoàn hảo nào, đó chính
là sự hoàn hảo của cái đang là chứ không phải của cái
chúng ta tưởng tượng nó nên là. Nhưng nếu quả đúng như
vậy, thế thì mọi nỗ lực nhằm biến đổi thế giới chỉ
làm cho nó bớt hoàn hảo, và tệ hơn nữa, chỉ gây nên xáo
trộn.
Ðể
tìm thấy sự hoàn hảo, chúng ta chỉ còn cách duy nhất, đó
là yên nghỉ trong tính tự nhiên. Trở về cội nguồn hoàn
hảo tức là chuyển động từ tính không tự nhiên tới tính
tự nhiên. Nói cách khác, kẻ thù của sự hoàn hảo của chúng
ta chính là tính không tự nhiên, bao gồm sự cưỡng ép, những
dự tính và đòi buộc của xã hội.
Từ
cá nhân người dân cho tới chính quyền, theo Lão Tử, cứ
thao tác tự nhiên theo lẽ “thường hằng” của biến dịch,
vì có giao dịch mới có sinh hoá, vì cuối cùng, khi sự việc
đi hết mức độ của nó, tự nó hồi đầu, phản phục.
Ðó là lối sống thực tế được Lão Tử gợi ý. Nhiều
người cho rằng nó “không thực tế” vì con người không
thể rứt bỏ những ràng buộc của kiếp người. Trong khi
loay hoay giải quyết những ràng buộc trong tình thế nan giải
của cuộc đời, họ chỉ còn cách biến những gợi ý ấy
thành cảm hứng thanh thoát hoặc niềm ước mơ giải thoát.
So
với triết Tây
Trong
truyền thống Do thái-Kitô giáo phương Tây, thế giới này
là chốn sa ngã, vì thế sống tự nhiên có nghĩa là sống
trong tình trạng tội lỗi. Niềm hi vọng cứu rỗi trọn vẹn
là được phục hồi trạng thái an lạc nơi vườn Ðịa đàng,
trong đó Adam tìm thấy chính mình trước khi ăn trái táo do
Eva đưa. Một trong những đáp ứng lý thú cho niềm xác tín
ấy là giáo phái Adamite thời thế kỷ 17. Giáo phái này khoả
thân khi cử hành lễ tế, nhằm tái tạo tình huống nguyên
thuỷ, trong đó Adam tìm thấy bản thân.
Như
thế, xét theo viễn cảnh Tây phương, sống tự nhiên là sa
ngã. Con người cần phải kềm hãm nghiêm ngặt một số khía
cạnh mạnh mẽ nhất của tính tự nhiên, như tính dục và
bản năng háo thắng; chỉ cho phép chúng hoạt động trong chu
vi hạn hẹp đúng theo qui định.
Quan
điểm của Ðạo học hoàn toàn ngược lại. Nó tìm cách vứt
bỏ những gì lý tính, nghiêm cấm hoặc đòi buộc về mặt
xã hội để quay về Ðạo, cái là quân bình tự nhiên và
sống đời hồn nhiên mộc mạc. Ở đây có điểm tương đồng
với lời nói của Ðức Giêsu: “Thầy bảo thật anh em: nếu
anh em không trở lại mà làm nên như trẻ thơ, thì sẽ chẳng
vào được Nước Trời” (Matthêu, 18:3).
IV. Âm Dương
và Ðạo
Chia
sẻ nỗ lực với các nền triết học khác, tư tưởng Trung
Hoa tìm cách giải thích cấu tạo và nguồn gốc của vũ trụ
bằng hai luồng. Một dựa trên một số yếu tố trong phần
Dịch truyện của Kinh Dịch và một dựa trên lý thuyết của
Âm Dương gia.
Âm
Dương trong Bát quái
Như
đã trình bày, Bát quái được lập thành bởi sự kết hợp
của từng cặp ba vạch liền và vạch đứt. So với Âm và
Dương thì vạch đứt biểu thị nguyên lý Âm, vạch liền
biểu thị nguyên lý Dương. Thí dụ ba vạch liền chồng lên
nhau là quẻ Càn; ba vạch đứt chồng lên nhau là quẻ Khôn;
vạch đứt nằm giữa hai vạch liền là quẻ Ly; vạch liền
nằm giữa hai vạch đứt là quẻ Khảm, v.v... Quẻ Càn biểu
thị cho thuần (tuý) Dương; quẻ Khôn cho thuần (tuý) Âm; sáu
quẻ còn lại có lẽ là kết quả tương giao của hai quẻ
Càn, Khôn.
Trong
Kinh Dịch, Hệ từ truyện, Thiên thượng, chương 5, có câu:
“Một âm, một dương, gọi là đạo”. Lão Tử cũng viết
trong Ðạo đức kinh, chương 42: “Trong vạn vật không có
vật nào không cõng Âm và bồng Dương; nhân chỗ xung nhau mà
hoà với nhau”. Như thế có nghĩa vạn vật chỉ hiện hữu
bình thường và vận hành thông suốt trong trạng thái quân
bình Âm Dương. Dấu vết sớm nhất của khái niệm Âm Dương
được tìm thấy trong sách Quốc ngữ, một tác phẩm có lẽ
được soạn vào thế kỷ 3 hoặc 4 tr.C.N. Bộ sử này kể
chuyện nhân vụ động đất năm 780 tr.C.N., một học giả
nói rằng “Khí dương ẩn phục mà không thể thoát ra, khí
âm nén bức mà không thể bốc lên, nên phát sinh động đất”.
Thái
cực đồ
Như
thế, Âm Dương là hai sức mạnh của tự nhiên giới. Cả
hai làm thành một cặp năng lượng đối lập mà sự tương
hoán cũng như tương tác làm nảy sinh vũ trụ. Cái tối hậu
là Thái cực sinh Lưỡng nghi là Âm và Dương hoặc trời và
đất. Âm Dương hỗn hợp sinh Ngũ hành. Ngũ hành là cơ sở
phát triển của Vạn vật. Như ta đã đề cập khi nói tới
Chu Ðôn Di trong chương trước với qui luật Vô cực > Thái
cực > Âm dương > Ngũ hành > Vạn vật > Vạn vật sinh sôi
nảy nở không ngừng nghỉ.
Quá
trình sinh sản của các hiện tượng được xem là có tính
chu kỳ, như một sự kế tục hằng cửu của sinh và tử:
mỗi sự vật hiện hữu một khi chuyển sang cực đối lập
của nó thì đạt tới đỉnh cao nhất. Phẩm tính chính của
Âm và Dương là làm sáng tỏ quá trình “biến dịch” hằng
cửu ấy. Và biến dịch chính là sự chuyển động của Ðạo.
Theo
vũ trụ quan Trung Hoa, hệ thống các mối tương ứng Âm và
Dương, như ta có đề cập trong chương trước, chi phối những
loại hiện tượng và những phẩm tính khác nhau. Âm biểu
hiện nguyên lý cái, thụ động, tiếp nhận, bóng tối và
mềm mại. Những tượng trưng của Âm là mặt trăng, nước,
mây, con hổ, con rùa, màu đen, phía bắc, chì và các số chẵn,
v.v... Trái lại, Dương biểu hiện nguyên lý đực, chủ động,
sáng tạo, ánh sáng và cứng cỏi. Những tượng trưng của
Dương là mặt trời, lửa, con rồng, màu đỏ, phía nam, thuỷ
ngân và các số lẻ, v.v...
Biểu
tượng nổi tiếng nhất trình bày Âm Dương là Thái cực đồ,
vốn có nguồn gốc Ðạo học và cùng với Bát quái đồ,
được dùng làm biểu tượng cho Ðạo giáo. Từ Vô cực đồ
năm vòng phức tạp về vũ trụ và luyện đan do Trần Ðoàn
(?-989), vị đạo sĩ nổi tiếng thời cuối Ðường đầu Tống
trước tác, Chu Ðôn Di giản lược thành một hình tròn, nửa
đen chỉ Âm – Thái âm, và nửa trắng chỉ Dương – Thái
dương, được phân ranh đều nhau bằng một đường cong dợn
sóng có hình gần giống chữ S, biểu tượng cho sự chuyển
động liên tục. Trong khu vực đen có một mầm trắng gọi
là Thiếu dương; trong khu vực trắng có một mầm đen gọi
là Thiếu âm, với ý nghĩa trong Dương có Âm và trong Âm có
Dương. Bạn không thể có Âm mà không có Dương hoặc ngược
lại; cái này có sẵn mầm như một hình thức tuôn chảy vào
trong cái kia, thành một trạng thái quân bình hoàn hảo, không
tĩnh mà động.
Âm
Dương gia
Quân
bình của các mặt Âm và Dương của sự sống ấy có ảnh
hưởng rất sâu xa và bao quát mọi khía cạnh tư tưởng và
văn hoá của Trung Hoa. Nhưng nó không có tính độc quyền của
Nho giáo hay Ðạo học; nó tương hợp với cả hai hệ thống
triết học ấy. Ðồng thời khái niệm Âm Dương cũng hình
thành hẳn một học phái tên là Âm Dương gia mà các học
giả cho rằng chính học phái này ảnh hưởng sâu sắc lên
vũ trụ quan cùng nhân sinh quan của cả Nho giáo lẫn Ðạo
học kể từ cuối thời Chiến quốc cho tới mãi về sau.
Nhân
vật đại biểu cho Âm Dương gia là Trâu Diễn (k. 305-240 tr.C.N.).
Ông người nước Tề, chuyên nghiên cứu trời và đất, rất
giỏi biện luận nên có biệt hiệu là Ðàm thiên diễn. Trâu
Diễn từng giảng học tại cung Tắc Hạ, một trung tâm học
thuật của nước Tề có mục đích chuẩn bị điển chương
cho việc trị thiên hạ. Trung tâm qui tụ cả ngàn chư tử
thuộc các học phái Ðạo, Nho, Pháp, Danh, Binh, Âm Dương, v.v...,
trong đó học thuyết Hoàng Lão của Ðạo gia nổi bật hơn
cả. Học cung này cực thịnh suốt gần 150 năm; Tuân Tử từng
ba lần giữ chức Tế tửu tức thủ lãnh học thuật ở đó.
Là
người duy nghiệm chủ nghĩa, Trâu Diễn chủ trương “Tiên
nghiệm hậu suy: trước thực nghiệm rồi sau sẽ suy luận
ra”. Kế thừa và phát huy thuyết Ngũ hành, ông đưa ra quan
điểm Ngũ hành tương sinh tương thắng, nhằm tìm hiểu mối
quan hệ đa dạng của các hành chất tự nhiên trong khi chúng
tương tác nhau theo từng cặp này và tương khắc nhau theo từng
cặp khác. Ông còn cho rằng lịch sử liên tục khai triển
và biến đổi, không chuyển động theo ý chí chủ quan của
con người. Tiếc rằng hai tác phẩm Trâu Tử và Trâu Tử chung
thuỷ đã mất; hậu thế chỉ còn tìm thấy một số dấu
vết về cuộc đời và tư tưởng của ông trong sách Sử ký
và Lã thị Xuân Thu.
Học
phái Âm Dương gia đạt tới đỉnh cao vào cuối thời Chiến
quốc. Khởi đầu, thuật ngữ Âm Dương gia được dùng để
chỉ toàn bộ các lý thuyết tìm cách giải thích vũ trụ bằng
sự kết hợp các năng lượng Âm và Dương. Theo quan niệm
của Âm Dương gia, toàn thể vũ trụ sinh ra từ sự kết hợp
nguyên lý đực và nguyên lý cái – Dương và Âm – được
tượng trưng trong kinh Dịch bằng quẻ Càn thuần Dương và
quẻ Khôn thuần Âm; hai quẻ ấy là nguồn gốc của các quẻ
khác. Mỗi quẻ tương ứng với một năng lượng tự nhiên
nhất định. Phái Âm Dương cũng dùng các con số lẻ (Dương)
với các con số chẵn (Âm) bổ sung cho nhau để giải thích
vũ trụ. Về sau, họ lại dùng các con số ấy để thiết
lập mối liên hệ giữa các năng lượng Âm và Dương với
Ngũ hành. Ngày nay, có người cho rằng mã binary kết hợp các
0 và các I để biểu hiện chuỗi mẫu tự, dùng trong máy điện
toán, được người sáng chế ra nó lấy cảm hứng từ các
vạch Âm Dương từ Bát Quái và các hào.
Sang
tới đời Hán, khái niệm ấy được mở rộng về ý nghĩa,
khi những đại biểu của Âm Dương gia cổ vũ cho quan điểm
của Trâu Diễn rằng lịch sử thay đổi là do “chuyển đổi
của Ngũ Ðức” theo chu kỳ hết thịnh lại suy của mỗi
hành chất Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Có lẽ vì sảng khoái
và tán dương quan điểm ấy nên từ đó, hết thảy các tân
quân, kể từ triều Hán, khi lên ngôi đều tuyên bố: “Phụng
thiên thừa vận hoàng đế: Phụng mệnh trời nối tiếp vận
mệnh lên ngôi Hoàng đế”.
Quân
bình Âm Dương
Âm,
nguyên lý cái, và Dương, nguyên lý đực, được xem là hai
năng lượng phổ quát, kết hợp với Ngũ hành để hình thành
căn bản của vạn vật. Giống như Ðạo phục hồi sự quân
bình, Âm và Dương cũng thế, cần phải có sự quân bình giữa
cái và đực. Truyền thuyết cho rằng ban đầu, thuật ngữ
Âm chỉ cạnh sườn phía bắc của một ngọn núi nơi bề
mặt không bao giờ thấy mặt trời; nó gắn liền với thời
tiết tiết xám lạnh và mây mù, đầy bóng râm. Dương chỉ
cánh sườn phía nam có mặt trời chiếu; nó gắn liền với
trời nóng và quang đãng, đầy ánh nắng. Vì là hai cạnh sườn
của một ngọn núi nên chúng bất phân ly và bao hàm nhau. Sự
sống không thể chỉ chan hoà ánh nắng, cũng chẳng thể chỉ
tràn ngập bóng râm, và nghĩ ngược lại tức là suy tưởng
chưa thấu đáo.
Ði
tìm một cuộc đời chói chang và không ngớt ánh nắng hoặc
âm u và triền miên bóng râm là điều không tưởng và vì
thế không tránh khỏi dẫn tới thất vọng bởi đó là nỗ
lực 100% đực hoặc 100% cái. Và đây là tâm điểm của Ðạo:
ý nghĩa của quân bình; vật khi đã đạt tới cực điểm
thì đương nhiên nó tự điều chỉnh.
Ở
một chương trước, trong khi khảo sát vấn đề Phật giáo
chấp nhận khổ não như một hiện tượng phổ quát, chúng
ta đã thấy rằng triết thuyết ấy không chút nào tiêu cực
hoặc bi quan; nó đơn giản chỉ là tìm cách sống theo hiện
thực. Quân bình Âm Dương cũng thế. Nó không bị Ðạo học
đưa ra như một phương cách mang tính định mệnh chủ nghĩa;
nó đơn giản chỉ là sự thẩm định theo thực tế hiện
hữu của vạn vật.
Tư
tưởng Ðông phương như một toàn bộ, hoàn toàn xa lạ với
thái độ giả vờ rằng con người có thể sống một cuộc
đời hoàn toàn không có bóng tối hoặc nếu có, đó chỉ
là tình trạng ngẫu nhiên xảy ra trong một thế giới được
thiết kế sẽ hiện hữu với hoàn toàn ánh sáng. Quân bình
giữa tăng trưởng và suy thoái, hạnh phúc và âu sầu, được
và mất, là đặc điểm cốt yếu của cuộc sống. Nhìn từ
viễn cảnh ấy ta có minh triết trong đó bao gồm việc nhận
thức sự quân bình ấy, sống hoà điệu với nó và qua đó
tìm thấy niềm hạnh phúc không bao giờ bị tuỳ thuộc vào
ánh nắng chan hoà.
Ðạo
và quân bình Âm Dương
Quân
bình Âm Dương trong cuộc sống bao hàm một đặc điểm quan
trọng: Âm tiêu biểu trạng thái không hoạt động, yên nghỉ
và suy gẫm; Dương tiêu biểu trạng thái hoạt động và sáng
tạo. Lý tưởng là quân bình hai đặc điểm ấy của cuộc
sống. Ðạo học gợi cho thấy rằng bạn không thể hoạt
động hiệu quả nếu không có các thời kỳ trầm tư. Cũng
thế, những thời kỳ trầm tư bất động đương nhiên dẫn
tới việc hành động một cách lão luyện.
Sự
quân bình ấy không đơn giản chỉ là đặc điểm của lối
sống mà còn phản ánh một đặc điểm rất căn bản của
Ðạo: nó khôi phục sự quân bình, theo định luật phản phục.
“Vật cực tắc phản: khi vật đạt tới cực điểm, nó
chuyển ngay sang phía đối lập”. Do đó, có sự chuyển động
liên tục từ trạng thái hoạt động tới trạng thái không
hoạt động, và cứ thế khứ hồi.
Bản
sắc của con người cũng liên quan tới Âm và Dương. Dù nam
hoặc nữ, chúng ta đều có các khía cạnh của Âm và Dương.
Và điều đó sản sinh quá trình biến đổi và mâu thuẫn
rõ rệt, không thể nào giải quyết. Nhưng theo Ðạo học,
cái cốt yếu phải nhận ra là thật sai lầm khi cố sức giải
quyết cuộc tương tranh cá biệt ấy vì đó chỉ là biểu
thị đặc thù của chuyển động Âm và Dương bên trong mọi
sự.
Một
đặc điểm nữa có tính trung tâm trong lối tiếp cận của
Ðạo học, rằng chúng ta không có bản ngã cố định. Chúng
ta là cái chúng ta đang là qua quá trình biến dịch tự nhiên.
Không bao giờ chúng ta đi tới cái tôi chân chính hoặc cái
tôi đích thực. Cũng giống như vũ trụ, cái độc nhất cố
định bên trong bản ngã chính là quá trình biến đổi của
chính nó. Và như đã nói ở trên, đó là cái “thường hằng”.
So
với triết Tây
Quan
điểm ấy của Ðạo học cực kỳ khác với tư tưởng Tây
phương. Ðối với Plato, có những Hình thái lý tưởng (Ideal
forms) mà các vật cá thể chỉ là những bản sao bất toàn
của chúng. Trong các tôn giáo độc thần như Do thái - Kitô
giáo và Hồi giáo, có Thượng đế, đấng sáng tạo toàn năng,
tốt lành và độc nhất; bất cứ cái gì bất toàn hoặc có
thể biến đổi đều được giải thích bằng cách cho rằng
ngài cố ý tạo nên nó như thế, hoặc do bởi sự hiện hữu
của một quyền năng độc dữ tách biệt vốn sản sinh “vấn
đề cái ác”.
Như
thế, tới một ngày nào đó, bản ngã chân chính của bạn
sẽ được vén lộ, vì như lối giải quyết của nhiều nhóm
Ngộ giáo Tây phương (Gnosticism) rằng bạn cốt tuỷ là hằng
cửu và bạn chỉ bị mắc kẹt trong thế giới vật chất,
hoặc vì Thượng đế muốn sau cùng sẽ đưa bạn lên một
đời sống mới trên Thiên đàng, ở đó bản tính chân chính
của bạn được vén lộ qua một quá trình phán quyết chung
thẩm với phần thưởng hoặc hình phạt tương ứng.
Ðạo
học hoàn toàn khác với các ý tưởng vừa kể. Giống như
Phật giáo, Ðạo học cho rằng không có bản ngã cố định,
cũng không có bản thể đơn nhất, cái gọi là “bạn”.
Ðúng hơn, bạn là một quá trình năng động qua đó các yếu
tố khác nhau, cả Âm lẫn Dương, đang hoà lẫn nhau và tiếp
tục tuôn chảy, không cái nào thế chỗ cho cái nào: trong Âm
có Dương và trong Dương có Âm.
Cũng
thế về “vấn đề khổ não”. Ðông phương không có vấn
đề đó. Ðó là một hiện tượng của các tôn giáo Tây phương,
phát sinh từ quan điểm tích cực và vượt trội về nam tính
khi nó quả quyết rằng thế giới được thiết kế là Dương
toàn bộ, và vì thế nó ra sức biện hộ cho sự có mặt của
Âm.
So
với cuộc “phán xét cuối cùng” trong tư tưởng tôn giáo
Tây phương, Ðạo học có điểm tương đồng là nó công nhận
rằng bên dưới tính nhị nguyên của Âm và Dương, có sinh
lực cơ bản, đó là Khí, và rằng bên dưới cái đó có Ðạo,
căn nguyên sáng tạo vạn vật. Sự nhận thức bí nhiệm về
Ðạo đặt toàn bộ quá trình biến đổi ấy vào viễn cảnh
nhưng không ngăn chặn quá trình ấy.
Khi
nói tới Khí, ta đã tự thấy mình đang trên đường đi gặp
Trang Tử, kẻ chiêm bao thấy mình hoá bướm nhởn nhơ bay lượn
tới độ khi tỉnh giấc, không biết mình đang là bướm hay
bướm chính là mình. Ngoài địa vị làm người nối tiếp,
triển khai và bổ túc tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử còn
là một văn hào mà tác phẩm được xem là nguồn gốc của
nghệ thuật Trung Hoa và hầu như toàn bộ văn học Trung Hoa
đều chịu ảnh hưởng của ông.
V. Nam hoa kinh
Trong
cõi mơ hồ
Tên
tuổi của Trang Tử được gắn liền với Nam hoa kinh. Sử
ký của Tư Mã Thiên, chương Trang Tử liệt truyện, cho biết
“Trang Tử người xứ Mông, tên là Chu [cũng đọc là Châu]”.
Ðịa danh thuộc nước Tống thời Chiến quốc ấy ngày nay
ở gần Thương Khâu, tỉnh Hà Nam. Ông sinh khoảng năm 369 và
mất năm 286 tr.C.N, cùng thời với Mạnh Tử (k.372-289 tr.C.N),
và các triết gia Hi Lạp thời cổ đại như Aristotle (384-322),
Zenon thành Citium (k.339-265), và Epicurus (k.341-270).
Trang
Tử xuất thân giới quí tộc sa sút, có lúc làm “Tất viên
lại”: viên chức coi sóc vườn trồng loại cây làm sơn.
Sau đó, ông qui ẩn, không màng tới quan lộc nên túng thiếu
suốt đời. Sống nơi xóm nghèo, người ông gầy ốm xác xơ.
Ngoài dạy học và trước tác, có lúc ông phải kiếm sống
bằng các nghề như đan dép, câu cá, bện dây. Nam hoa kinh ghi
lại hình ảnh Trang Tử mặc áo vá, giày cột bằng dây gai…
nghèo túng tới độ đi vay lúa còn bị người ta tìm cách
khất rày hẹn mai.
Tuy
sống nghèo, bản thân Trang Tử thấy mình “Nghèo, chứ không
khổ. Kẻ sĩ có đạo đức, không bao giờ khổ. Áo rách, giày
hư là nghèo, không phải khổ”. Nghĩ như thế nên lòng ông
thanh thản, cao khiết, không chịu để cho cảnh vinh hoa phú
quí làm mình lâm luỵ. Ở mục Lão Trang Thân Hàn Liệt truyện
trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, có đoạn bàn về nhân cách
của ông như sau:
“Uy
vương nước Sở nghe nói Trang Châu là người hiền trong thiên
hạ, sai sứ đem hậu lễ đón, muốn mời ra làm Tướng [quốc].
Trang Châu cười bảo với sứ giả: ‘Cái lợi của nghìn
vàng quả trọng thật, cái địa vị khanh tướng quả cũng
quí thật. Nhưng riêng ông chả thấy con bò tế hay sao? Ðược
người ta săn sóc, được mặc đồ trang sức văn vẻ để
đưa vào Thái miếu. Lúc ấy dù có muốn được làm con lợn
côi há còn được nữa hay không? Ông hãy đi đi, chớ có đến
làm nhục ta. Thà ta dong chơi ở chốn bùn lầy nhơ bẩn còn
thấy sung sướng hơn là để cho kẻ làm chủ một nước kia
trói buộc được ta…’” (Nguyễn Duy Cần, Trang Tử - Nam
hoa Kinh, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1963, t. 23).
Theo
truyền thuyết, Trang Tử giao du thân tình với Huệ Tử (k.370-318
tr.C.N), một khuôn mặt đại biểu cho học phái Danh gia. Huệ
Tử học rộng, biện luận giỏi, từng làm Tướng quốc cho
Nguỵ Huệ Vương và là người tổ chức thực tế chính sách
ngoại giao “Hợp Tung” thời Chiến quốc. Hai người thường
tranh luận với nhau về rất nhiều chủ đề triết học. Nam
hoa kinh, thiên Thu thuỷ (Nước thu), kể rằng:
“Thầy
Trang cùng thầy Huệ chơi ở trên đập hào.
Thầy
Trang nói:
‘Kìa
đàn cá lượn lờ bơi chởi, đàn cá mới sướng chứ!’
Thầy
Huệ hỏi:
‘Bác
không phải cá, sao biết cái sướng của cá?’
Thầy
Trang đáp:
‘Bác
không phải tôi, sao biết tôi không biết cái sướng của cá?’
Thầy
Huệ nói:
‘Tôi
không phải bác, không biết bác đã đành. Nhưng bác không
phải cá, bác hẳn là không biết cái sướng của cá.’
Thầy
Trang nói:
‘Xin
nói lại từ gốc. Bác hỏi: ‘Bác làm sao biết cái sướng
của cá?’ Thế là bác đã biết tôi biết mà hỏi tôi. Tôi
thì tôi biết cái đó ở trên hào’.”
(Nhượng
Tống dịch, Trang Tử - Nam hoa kinh, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2001,
t. 178).
Những
chi tiết về cuộc sống của Trang Tử khá mơ hồ vì phần
nhiều là truyền thuyết. Người sống sau ông phải lượm
lặt mỗi nơi một ít, hầu hết chỉ mang giá trị tư tưởng
chứ không thật sự có giá trị sử liệu. Ngay cả năm sinh
năm mất của Trang Tử cũng chỉ là phỏng đoán. Thiên Liệt
ngự khấu trong Nam hoa kinh kể rằng:
“Thầy
Trang sắp chết. Học trò muốn chôn thầy cho hậu. Thầy nói:
‘Ta
lấy Trời, Ðất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc
bích. Các vì sao làm ngọc trai. Muôn vật làm kẻ đưa đám.
Ðồ chôn ta há chẳng đủ rồi sao? Còn gì hơn thế nữa?’
Học
trò thưa:
‘Chúng
con sợ diều, quạ, nó ăn thịt thầy.’
Thầy
Trang đáp:
‘Ở
trên thì làm món ăn cho diều, quạ. Ở dưới thì làm món
ăn cho sâu, kiến. Cướp đàng ấy, cho đàng này, sao mà thiên
[lệch] vậy? Ðem bất bình mà bình, thì cái bình ấy vẫn
bất bình. Ðem cái không hợp mà hợp, thì cái hợp ấy vẫn
không hợp. ‘Minh’ chỉ là cái bị sai khiến. ‘Thần’
mới là hợp’. ‘Minh’ không thắng được ‘Thần’, kể
đã lâu rồi. Vậy mà kẻ ngu cậy ở cái vào được với
người. Cái công ấy chỉ ở ngoài. Chẳng cũng đáng thương
sao?’”
(Nhượng
Tống dịch, sách đã dẫn, tt. 329-330).
Nam
hoa kinh và Trang Tử
Nam
hoa kinh hay Nam hoa chân kinh, tác phẩm kinh điển Ðạo học
và là tuyệt phẩm văn chương thời Tiên Tần, cũng thường
được chính thức gọi là sách Trang tử.
Theo
Hán thư Nghệ văn chí, thoạt đầu sách có 52 thiên. Bản hiện
nay đã qua tay san định và chú thích của triết gia và là
nhà Trang học Quách Tượng (k. 252-312) đời Tấn, nên có lẽ
bị ông đúc kết lại thành 33 thiên. Khác với Ðạo đức
kinh như một tập thơ gồm các câu dài ngắn khác nhau, Nam
hoa kinh được viết bằng tản văn, phần lớn tác giả dùng
ngụ ngôn, chuyện xưa tích cũ, với trí tưởng tượng cực
kỳ phong phú và bút pháp biến hoá không thể lường trước.
Kim Thánh Thán (1608-1661), nhà phê bình văn học lỗi lạc cuối
đời Minh đầu đời Thanh xem sách Trang tử là đệ nhất trong
“lục tài tử thư” của văn học Trung Hoa.
Sách
được chia ra làm ba phần, có lẽ do các học giả đời sau,
chứ không do các tác giả.
Nội
thiên, gồm 7 thiên. Căn cứ vào tư tưởng và văn phong, các
học giả cho rằng rất có thể chính tay Trang Tử viết phần
này, trừ thiên Nhơn gian thế và chương Tử tang hộ trong thiên
Ðại tông sư.
Ngoại
thiên, gồm 15 thiên. Căn cứ vào khí lực và tư tưởng, có
thể do Trang Tử viết một phần. Phần còn lại văn khí trung
bình, lời tầm thường, ý trùng lặp, tựa như các bài văn
sách do kẻ hậu học viết.
Tạp
thiên, gồm 11 thiên. Cũng như phần Ngoại thiên, phần này
ý tưởng rời rạc, lặp lai các ý chính ở Nội thiên. Chắc
chắn do kẻ hậu học viết.
Ðể
có cái nhìn sơ lược về giá trị nghệ thuật của Nam hoa
kinh, phần Nội thiên, chúng tôi trích dẫn ý kiến của Nguyễn
Duy Cần trong Trang Tử tinh hoa, Nxb TP Hồ Chí Minh, tt 64-65. Có
lẽ ông đã dựa vào một ý tưởng trong Thiên hạ, thiên cuối
của Nam hoa kinh và ý kiến của các danh gia thuở xưa như Tư
Mã Thiên, Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Tô Ðông Pha, v.v… mà
tổng hợp như sau:
“Trang
Tử là người biết hàm dưỡng chơn thần rất đầy đủ,
cho nên khí phách ngang tàng phóng dật. Văn ông rất hồn nhiên
như hơi mây trong núi bay ra, như suối trong đất tuôn ra cuồn
cuộn, trong trẻo mà nhẹ nhàng, tự nhiên, không cố cưỡng.
Bàn về một lẽ cao siêu tuyệt mù, có thể cảm mà không
thể nói ra bằng những lời nói thông thường nhị nguyên,
cho nên ông phải dùng đến ‘ngụ ngôn’, rồi mượn ‘trùng
ngôn’ mà làm cho sáng tỏ ý thêm. Trong đó sự tích tuy có
thật mà câu chuyện giả thác lạ lùng. Ðó là cách dùng cụ
thể để mà giải thích trừu tượng. Khi lại dùng đến ‘chi
ngôn’, tức là buột miệng nói ra, bất kể là đúng hay không
với lịch sử. Cho nên văn chương của ông huyễn tướng như
hoa gương, trăng nước: hư mà thực, thực mà hư… như lẽ
Ðạo muôn màu. Thật là rất khác xa với văn từ của ‘bách
gia chư tử’”.
Ðạo
và vũ trụ
Tình
trạng họp mặt của nhiều tác giả trong Nam hoa kinh không
gây trở ngại cho lối tiếp cận tác phẩm Ðạo học ấy,
vì nội dung hai phần Ngoại thiên và Tạp thiên hầu hết chỉ
lặp lại và quảng diễn những gì được Trang Tử phát biểu
trong Nội thiên, và một vài thiên trong Ngoại thiên như Thu
thuỷ, Biền mẫu, Khứ cự, v.v… Về mặt tổng quát, toàn
bộ Nam hoa kinh vẫn được xem là kinh điển chính thống của
Ðạo gia, và tập quán tá danh trong văn học Trung Hoa thường
chỉ nhằm mục đích gây sự chú ý của độc giả để gia
tăng trọng lượng của một tác giả sinh sau nào đó cùng
một mạch tư tưởng với tác giả chính.
Kế
thừa tư tưởng của Lão Tử, Trang Chu đi vào chi tiết hơn
và phát huy tới cực điểm. Cũng như Lão Tử, ông viết rằng
Ðạo là nguồn gốc của thế giới, không chỗ nào không có.
Ðạo “vô vi, vô hình” hiện hữu từ lúc có trời đất
và tồn tại hằng cửu. Khởi đi từ câu của Lão Tử, “Ðạo
pháp tự nhiên: Ðạo bắt chước tự nhiên”, Trang Tử cho
rằng Ðạo không có giới hạn, vượt thời gian không gian,
và con người không thể cảm biết. Ðạo sinh ra vạn vật,
trời đất, đế vương, quỉ thần, v.v... nhưng tự bản chất
của Ðạo thì khôn dò.
Quan
điểm “Vạn vật nhất thể” của Trang Tử được ông nói
rõ trong câu ‘Trời đất cùng ta đồng sinh, vạn vật cùng
ta đồng nhất’. Ðối với Trang Tử, Ðạo và Ðức là một.
Thuở thái sơ, Ðạo sinh Nhất; vạn vật có cái Một ấy mà
có sức sống, tức là Ðức. “Ðiều hoà để ứng với nó
tức là Ðức; tự nhiên mà ứng với nó tức là Ðạo”.
Nói cách khác, Ðức là Ðạo biểu hiện trong người và vật
qua năng khiếu tự nhiên và cố hữu của mỗi sinh linh.
Trong
vũ trụ, không có vật nào không có Ðạo. Từ vật cực nhỏ
tới vật cực lớn đều có nó, tự sinh, tự hoá ở bên trong.
Có thể xem con người với sức tự sinh tự hoá ấy là một
tiểu tạo hoá hay một tiểu hoá công. Loài người biến hoá
vô cùng, nhưng không có phương hướng nhất định vì tới
cực điểm thì phản phục, tới chung cuộc lại trở về nguyên
thuỷ, tới lui mãi theo vòng vô tận ấy.
Nguyễn
Duy Cần xem thuyết Vạn hoá Thiên quân – xoay vòng tròn theo
bánh xe mà lên cao dần – của Trang Tử,
“có
thể tượng trưng bằng một cái ‘Vòng ốc’ không thể lẫn
lộn với thuyết Luân hồi của Nhà Phật (tiểu thừa). Thuyết
Luân hồi của Phật giáo tiểu thừa, tựu trung là một hình
thức của thuyết Tiến hoá, cho nên người ta quan trọng về
quả vị cao thấp; một ảo vọng của Bản ngã. Vì vậy, đứng
về phương diện giải thoát, thì thuyết Luân hồi phải thua
xa thuyết Vạn hoá Bình đẳng của Trang Tử”.
(Nguyễn
Duy Cần, Trang Tử - Nam hoa kinh, t. 66)
Trang
Tử là triết gia đầu tiên của Trung Hoa cho rằng trời đất
muôn vật do Khí cấu tạo nên: “Suốt thiên hạ là một khí”.
Chính cái Khí ấy làm thành muôn vật, kể cả con người và
mùa tiết. Trong thiên Bắc trí du (Trí sang bắc) có viết “Cái
sống của con người là sự hợp lại của Khí. Hợp lại
thì sống, tan ra thì chết”. Thiên Chí lạc (Cực vui) kể:
“Vợ
thầy Trang chết, thầy Huệ sang thăm. Thì thầy Trang đang ngồi
xổm, vỗ bồn mà hát.
Thầy
Huệ hỏi:
‘Bác
ở cùng người ta đến lúc mình già, chết không khóc, cũng
đủ rồi! Lại gõ bồn mà hát, chẳng cũng quá lắm sao?’
Thầy
Trang đáp:
‘Không
phải thế! Ấy lúc hắn mới chết, riêng tôi đâu có thể
không ngậm ngùi. Nhưng xét ban đầu hắn vốn không có sống…
Chẳng những không có sống, mà còn vốn không có hình… Chẳng
những không có hình, mà còn vốn không có khí. Lẫn ở giữa
khoảng lờ mờ, biến mà có khí. Khí biến mà có hình. Hình
biến mà có sống. Nay lại biến mà sang chết. Những cái đó
cùng nhau làm Xuân, Thu, Ðông, Hạ, bốn mùa thường đi. Người
ta đang nằm khểnh ngủ trong nhà lớn, mà ta lại lu loa theo
mà khóc lóc, tôi tự cho thế là chẳng hiểu về mệnh, cho
nên thôi.’”
(Nhượng
Tống dịch, sách đã dẫn, t. 182).
Quan
niệm Khí của Trang Chu có có lẽ ảnh hưởng lên Khí của
Mạnh Tử, người sống cùng thời, và đặc biệt Lý và Khí
của Tống nho về sau. Kết hợp với quân bình Âm Dương, Khí
của Trang Chu đi vào y học, võ thuật, dưỡng sinh, phong thuỷ,
v.v…
So
với triết Tây
Vũ
trụ quan của Trang Chu có điểm tương đồng với Anaximenes
(?–500 tr.CN.). Ông là triết gia Hi Lạp chào đời ở Miletus,
và là một trong các nhà tư tưởng vĩ đại thời tiền Socrates.
Ông cho rằng nguyên lý đệ nhất và dạng thức căn bản của
vật chất là khí. Khí có thể chuyển biến thành các chất
căn bản khác qua quá trình cô kết và tan loãng.
Ta
cũng có thể thăm dò để đối chiếu quan điểm Vạn vật
nhất thể của Trang Tử với thuyết phiếm thần (pantheism).
(Xem Ðại cương triết học Tây phương).
Nhận
thức luận
Quan
điểm của Trang Tử về nhận thức của con người có phần
gần gũi với chủ nghĩa tương đối (relativism) của triết
học Tây phương. Ông cho rằng:
Trời
đất và ta cùng sinh, vạn vật và ta cùng một;
Mọi
sự đều bằng nhau: ta và vật, trái và phải, thiện và ác,
thọ và yểu, mộng và tỉnh, v.v.;
Cuộc
sống vốn hữu hạn, tri thức thì vô hạn. Dùng cái hữu hạn
để đuổi theo cái vô hạn là cực nguy;
Phải
vượt qua cái nhìn thiển cận để có tri thức siêu việt,
trong đó hiểu biết không phải là hiểu biết, mà sống với
cái Một trong lòng ta;
Như
thế, quá trình thấu suốt đi từ “sự có hiểu biết”
tới “có sự không hiểu biết”.
Phần
cuối thiên Ðại tông sư của Nội thiên ghi lại câu chuyện
của Trang Tử về một cuộc đối thoại giả tưởng giữa
Khổng Tử [Trọng Ni] và môn đệ yêu quí của ngài là Nhan
Hồi:
“Nhan
Hồi nói: Hồi đã tiến. Trọng Ni nói: Thế nghĩa là gì? Trả
lời: Hồi quên nhân nghĩa. Nói: Khó đấy! Nhưng còn chưa đủ.
Ngày khác lại đến gặp Khổng Tử, thưa: Hồi đã tiến.
Nói: Thế nghĩa là gì? Thưa: Hồi quên lễ nhạc. Nói: Khá
đấy! Nhưng còn chưa đủ. Ngày khác lại đến gặp, thưa:
Hồi đã tiến. Hỏi: Thế nghĩa là gì? Thưa: Hồi ngồi quên.
Trọng Ni biến sắc hỏi: Thế nào là ngồi quên? Nhan Hồi
thưa: Buông chi thể, cất thông minh, xa hình, bỏ biết, cùng
ở đại thông, ấy gọi là ngồi