Tập 1 -
Phần 3
51.
TẠI SAO CHÚNG TA TU?
Chúng
ta đang lặn hụp trong bể khổ của luân hồi sanh tử vì chấp
cái ta, cho nên chúng ta tu là để biết dừng lại đừng chấp
nữa, đừng chạy theo ảo ảnh nữa. Tu là tìm cho được cái
tâm của ta, tu để nắm cho được bốn chữ "Từ bi hỉ
xả" để mang lại niềm vui và làm bớt khổ cho mình
cho người.
Phàm
phu chúng ta thường lầm tưởng cái khổ với cái vui, chính
vì vậy mà chúng ta mãi lặn hụp trong vòng luân hồi sanh tử.
Khi khổ thì buồn rầu than trách để rồi đến lúc cái khổ
đi qua thì quay ra vui hưởng thụ, chứ làm sao mà hết khổ.
Cái khổ nó luôn rình rập chờ đợi hễ có duyên đến là
nó hoành hành chúng ta ngay. Đôi khi chúng biến ta thành điên
dại, hoặc không còn khả năng chịu đựng được nữa.
Đức
Phật chỉ cho chúng ta cách làm vơi đi những đau khổ và lấy
sự đau khổ làm cái đà cho việc tu học hầu vĩnh viễn thoát
lìa đau khổ. Phật dạy đừng tìm những gì đã mất, mà
quan trọng là phải tìm cho được ta. Nhìn lại cuộc đời
thì tất cả chúng ta đều mất mát hoặc nhiều hoặc ít,
nghĩa là mọi người trong chúng ta đều có khổ. Tuy nhiên,
cái khổ lớn nhất của chúng ta là khổ đau từ bỏ
chính mình. Như vậy muốn chấm dứt cái khổ, chúng ta phải
bỏ cái chấp ta để thấy cho được cái tâm ta trước đã,
nắm cho được bốn chữ "từ bi hỉ xả" của nhà
Phật để mang lại sự an lạc cho chính ta, rồi sau đó giúp
cho người khác cùng tu và cùng giải thoát.
Tóm
lại, chúng ta tu để có được cái tâm thanh tịnh, nhìn cảnh
đẹp mà không chạy theo những vọng niệm của nó. Không
chạy theo vọng niệm của nó thì đâu có muốn thủ, hữu
và như vậy thì đâu có đau khổ. Một lần không chạy theo
vọng niệm là một lần ta không khổ, cứ như thế cho đến
khi rốt ráo, tức là giải thoát vậy.
52.
CUỘC ĐỜI THẾ TỤC VUI HAY KHỔ?
Cuộc
đời chúng ta cũng có lúc vui vậy, nhưng thường thì ngày
vui qua mau để chừa trơ lại cho chúng ta những nổi hằn đau
khổ. Sự thật không thể nào chối cải được là cuộc đời
của chúng ta khổ nhiều hơn vui. Còn thì chờ mất, vinh thì
chờ nhục, vui chờ buồn... Thấm thoát mà thời gian vụt
qua đi, mới ngày nào còn son trẻ thanh niên mà bây giờ thì
tay run mắt mờ, mới hôm nào còn công hầu khanh tướng mà
bây giờ thì tù ngục đọa đày, mới ngày nào ngựa xe như
nước áo quần như nêm mà bây giờ thì đói rách lang thang,
mới hồi nào nhởn nhơ vui sướng mà bây giờ chỉ còn trơ
lại những nếp hằn đau khổ.
Cuộc
đời thế tục là thế đấy, nếu chúng ta không sớm tu mà
cứ chạy theo cảnh bên ngoài thì càng ngày nghiệp của ta
càng nặng trĩu.
53.
CÁI "DANH" NÓ SAI KHIẾN TA NHƯ THẾ NÀO?
Chỉ
vì một chữ danh thôi mà bao cuộc chiến tranh bộc phát và
tàn hại không biết bao nhiêu sanh linh. Thành Cát Tư Hản chỉ
vì cái danh làm bá chủ hoàn cầu mà non mười thế kỷ trước
đã đưa không biết bao nhiêu dân tộc vào những cuộc chiến
khốc liệt.
Chúng
ta là những phàm phu cũng vì tiếng tăm mà thương yêu sân
hận. Ta làm gì mà ai khen thì n· mũi làm nữa, mà ai chê thì
đâm ra thù ghét, sân hận. Chỉ có tu hành mới giúp ta không
chạy theo những thứ nầy. Người tu ai khen thì cũng vậy,
mà ai chê thì cũng vậy thôi. Tất cả đều như nước chảy
qua cầu, như gió thoảng mây bay mà thôi. Thói thường thì
cũng có khen chê đó, thí dụ như tăng ni giảng kinh thuyết
pháp mà chúng Phật tử khen chê là chuyện thường, nếu là
chơn tăng thì sẽ không chạy theo những cái khen chê hư ảo
ấy. Chơn tăng lúc nào cũng nghỉ rằng nếu Phật tử khen
là khen Tam Bảo, nhược bằng nghe khen chê mà chạy theo mà
ôm ấp vào thì quả là đường luân hồi sanh tử vẫn còn
trầm mê. Phật tử cũng vậy, hễ sư nào thuyết pháp dễ
nghe thì đi nghe, còn sư nào thuyết khó nghe thì ở nhà ngồi
thiền hoặc tụng kinh, chứ không nên vướng mắc chi cho thêm
nặng nghiệp.
54.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC NHIỀU VUI HƠN KHỔ?
Trong
cuộc sống hàng ngày lúc nào chúng ta cũng có ba thứ: lạc
thọ, khổ thọ và cảm giác trung tính. Trung tính có nghĩa
là không khổ không vui. Nếu chúng ta muốn có vui nhiều hơn
khổ thì chúng ta chỉ đơn giản biến những cái trung tính
thành ra an lạc và trung tính hóa những khổ thọ, thế là
ta chỉ có vui và trung tính. Để rồi bước kế tiếp biến
những cái trung tính còn lại thành vui, thế là chúng ta được
rốt ráo giải thoát. Mà muốn được như vậy chỉ có
"tu" mới có thể chuyển những cái không khổ không lạc
thành lạc. Thí dụ như lúc ta chưa tu thì ta xem chuyện
"không đau răng" là trung tính, không vui không buồn. Nhưng khi
đã tu rồi thì chuyện "không đau răng là một điều
an lạc." Đừng đi đâu xa để tìm một thí dụ điển hình,
hãy xem một người bịnh liệt giường lâu ngày thì sẽ thấy
là họ thèm được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, cái
mà họ không coi ra gì lúc chưa bịnh. Thấy đó, chúng ta hãy
trân trọng những gì mà chúng ta đang có, thế là vui, thế
là an lạc.
Phật
dạy: "Chúng sanh cứ mãi mê đi tìm những lạc thọ mà quên
rằng những cái trung tính có thể được chuyển hóa thành
an lạc để trước mắt cuộc đời ta nhiều vui hơn khổ."
Chúng ta có khi không biến cái trung tính thành vui mà ngược
lại biến cả cuộc đời chúng ta thành phiền hà khổ
não. Tại sao vậy? Tại vì chúng ta thường chỉ nhìn bằng
cái nhìn của ta chứ không chịu nhìn bằng cái nhìn của kẻ
khác. Thí dụ như ta cho rằng ăn ớt là ngon, nhưng người
khác có đồng ý là ớt ngon hay không? Chúng ta cho là đạo
Phật cao quí tốt đẹp, nhưng người khác có nghỉ giống
như vậy không? Như vậy muốn cho người khác vui, chúng ta
phải làm sao? Hãy nhìn bằng cái nhìn của người ấy và hãy
tập theo hạnh "lắng nghe" của Ngài Quán Thế Âm.
Hãy nghe để thấy cái muốn cái thích của người khác hầu
đem đến cho họ đúng cái mà họ muốn. Đem đến cho họ
đúng cái mà họ muốn tức là ban vui dẹp khổ, tức là không
phiền não, là giải thoát là rốt ráo vậy.
Hãy
tự nguyện mang lại những niềm vui dù nhỏ cho thiên hạ để
trả những nghiệp chướng mà mình đã tạo ra. Khi ta mang niềm
vui đến cho người, ta cũng đồng thời chuyển hóa tâm hồn
ta từ một người tham lam, bỏn xẻn, tàn ác thành một người
rộng lượng, vị tha và hiền từ. Chính tâm niệm mang vui
cho người sẽ chuyển hóa những tham, sân, si thành từ, bi,
hỉ xã. Hãy mang nụ cười và niềm vui đến cho kẻ khác thì
tự nhiên cái vui nó sẽ đến với ta.
55.
TU CHO AI? TU KHÓ HAY DỄ?
Chúng
ta từ vô thỉ đã tạo nhiều nghiệp chướng, muốn cởi bỏ
những nghiệp chướng ấy thì chỉ có ta mới làm được.
Làm những điều tàn ác rồi cầu trời khẩn Phật cứu vớt
cho, làm sao được. Vậy thì chúng ta tu cho chúng ta và chỉ
có mình mới tự tu cho mình mà thôi, người được hưởng
phước báo tu hành để cởi bỏ những nghiệp chướng là
ta chứ có ai khác đâu. Tu mau hay chậm còn tùy ở mức độ
thu thập và hành trì ở mỗi người, tu khó hay dễ tùy theo
sự tinh tấn của ta. Tu có thể xuất gia hoặc tại gia, xuất
gia và tại gia đều có ưu khuyết điểm riêng, những khó
khăn riêng. Xuất gia có nghĩa là xuất thế tục gia, cắt ái,
từ thân. Tuy nhiên, cái khó của xuất gia là có khi chúng ta
không khéo, thay vì lìa hồng trần gia thì chúng ta lại mang
những bụi hồng trần vào rải rắc ở trong chùa, trong đạo.
56.
TU THEO PHẬT GIÁO CÓ PHẢI XUẤT GIA HAY KHÔNG?
Tu
theo Phật giáo không bắt buộc phải xuất gia; tuy nhiên xuất
gia là phương pháp tốt nhất để thoát khỏi sanh tử. Thế
nhưng, xuất gia mà không thực tu hay là tu không đúng phép
thì làm sao mà thoát khỏi vòng sinh tử. Phật tử tu tại gia
mà tu theo đúng Phật pháp và hành trì những gì kinh dạy thì
bờ bên kia đâu có xa. Như vậy thế nào là xuất gia chơn
chánh? Người xuất gia chơn chánh là người đã rũ tất cả
những bụi hồng trần lại bên ngoài chùa và bước vào trong
chùa với cái tâm thanh tịnh. Khi đã quyết chí xuất gia, tức
là xuất nhà thế tục, tức là lìa cái hồng trần, phiền
não gia, xin đừng thương, giận, hờn, ghét mà hãy cố gắng
đi theo con đường Phật dạy để rốt ráo. Đã nói là đi
tu, vào chùa mà vẫn còn tạo ra thương yêu tình nghĩa
thì làm sao mà dứt cho được phiền não. Tóm lại, xuất gia
là xương tủy của đạo Phật và tại gia là da thịt của
Phật giáo. Phật giáo cần cả hai để được trường tồn.
Tuy nhiên, người xuất gia có địa vị cao quí trong Phật giáo,
người xuất gia phải chủ trì giáo đoàn và hoằng dương
Phật pháp.
57.
CHỪNG NÀO THÌ MỚI NÊN TU? VÀ TU NHƯ THẾ NÀO?
Tại
sao chúng ta cứ mãi nghỉ đến những dục lạc của thế gian
khi một ngày trôi qua là một ngày ta bước gần đến nhà
mồ? Tại sao ta cứ mãi dong ruổi, để khi buông tay ta vẫn
còn mang nghiệp chướng của những đời trước và đôi vai
trĩu nặng tội ác của kiếp này? Chúng ta như những chiếc
thuyền mành đang đi ra cửa biển, đợi đến lúc bị tống
ra gần cửa biển rồi, có đi ngược nước lên thì cũng vô
ích mà thôi.
Hãy
đem hết nghị lực và tâm trí của mình mà vượt qua bờ
sanh tử luân hồi ngay từ bây giờ, hãy nương theo Phật pháp
để được giải thoát, đừng đợi đến lúc lâm chung
mới nghỉ đến tu thời có Phật nào mà rước cho kịp.
Tu
như thế nào? Đi chùa, tụng kinh ư? Cũng tốt đấy, nhưng
đi chùa, tụng kinh, thương thầy, lo cho chùa, lo cho đạo...
chẳng bằng tu cho chính mình, chẳng bằng trước tiên phải
trọn vẹn lo cho gia đình mình, chẳng bằng tự mình cố đứng
dậy như hoa sen nở trong đầm lầy. Hãy nở nụ cười, hãy
bình thản tự tại cho tâm ta thanh tịnh ấy là ta đã được
bước đầu của việc tu học rồi vậy. Muốn được như
vậy ta hãy đem thiền vào trong cuộc sống hàng ngày của ta.
Từ lúc mở mắt thức dậy, miệng nở nụ cười, đi làm
vệ sinh cá nhân với tâm bình thản, ăn sáng và trân trọng
những gì mà ta có được bây giờ, lái xe đi làm và niềm
chủ tâm mà vào lái xe, đến sở mang đến nụ cười và niềm
vui cho mọi người, chiều đến về nhà cũng lại ban cho những
người thân ta một nụ cười, những buồn lo của sở làm
xin hãy bỏ tại sở đừng mang về... Đó là hạnh phúc của
những ai biết tu, lợi lạc chẳng những cho ta mà còn cho những
người quanh ta nữa. Nên nhớ: "lấy sân hận trả cho
sân hận thì sân hận chất chồng, lấy ái ngữ mà trả cho
sân hận thì cho dù kẻ khác có thù ghét ta cách mấy cũng
không thể tiếp tục thù ghét khó chịu với ta mãi." Chính
ái ngữ đã biến những khó chịu, thù ghét thành ra tình thương.
58.
Ý NGHĨA CỦA NIẾT BÀN TRONG ĐẠO PHẬT
Tuy
rằng trong quá khứ Đức Thế Tôn đã dùng những phương tiện
để khai và thị cho chúng sanh vì cứu cánh của Ngài là muốn
cho chúng sanh ở mọi từng lớp, mọi trình độ hiểu thấu
đạo pháp và đều trọn thành Phật quả tức là đắc quả
Niết Bàn, chúng sanh vẫn si mê làm điều tà dại. Đến lúc
sắp nhập diệt, Ngài đã vì chúng sanh mà nói rõ về Niết
Bàn nữa. Vậy Niết Bàn là gì? Niết bàn của đạo Phật
có nghĩa là sự trống vắng của phiền não. Khi ta không tham,
sân si, hận, ghét... tức là ta không có não phiền, tự nó
là niềm vui, tự nó là hằng sa nhịn nhục, là giác ngộ.
Tỉ như khi ta không đau bịnh đó là cảm giác của an lành
của thanh tịnh, là niết bàn vậy. Đừng nghỉ rằng không
đau bịnh là sự trống vắng khơi khơi hoặc trung tính mà
nên coi đó là sự trống vắng của não phiền, là niết bàn.
Niết
Bàn được thực hiện khi nào lửa phiền não đã diệt hết,
nghiệp chướng đã tiêu trừ. Niết bàn là rốt ráo, là cảnh
giới giải thoát, không sanh, không diệt, bất biến.
Có
mấy loại Niết bàn? Thực sự, Niết bàn chỉ có một, nhưng
Phật nói có bốn thứ để cho chúng sanh được hiểu rõ về
Niết Bàn.
-
Bổn lại tự tánh Thanh tịnh Niết bàn nghĩa là căn bản của
các pháp vốn thanh tịnh, không sanh không diệt mà vắng lặng
trong hư không.
-
Hữu dư y Niết Bàn nghĩa là đã ra khỏi phiền não chướng,
dù còn ít khổ chưa đoạn hết, nhưng nghiệp chướng đã
nhẹ nhàng.
-
Vô dư y Niết Bàn nghĩa là đã ra khỏi phiền não, dứt sanh
tử, dư báo cũng diệt, các khổ não hằng dứt.
-
Vô trụ xứ Niết Bàn nghĩa là không còn sở tri chướng, lòng
đại từ, trí bát nhã xuất hiện hoàn toàn không còn trụ
sanh tử.
Đức
Thế Tôn đã khẳng định khi nào ta còn vướng mắc tham ái
và dục lạc là ta không thể chứng nghiệm được Niết Bàn.
Niết Bàn là chân hạnh phúc vĩnh cửu chứ không là thứ hạnh
phúc tạm mà ta thường cảm chứng trong cuộc sống hàng ngày.
59.
THẾ NÀO LÀ PHẬT TỬ? THẾ NÀO LÀ PHÁP THÂN?
Phật
tử có nghĩa là người tin Phật hoặc là con Phật, do từ
miệng Phật mà sanh ra bằng cách nghe giảng kinh hoặc đồng
học kinh. Những người gần gủi chư tăng để thực hành
và hộ trì Phật pháp đều gọi là Phật tử. Phật tử nam
thì gọi là Ưu Bà Tắc, trong khi người cận sự nữ thì gọi
là Ưu Bà Di.
Ưu
bà tắc có thiểu phần là những người chỉ giữ được
hai trong năm giới, đa phần từ ba trở lên, và toàn phần
là giữ được trọn vẹn năm giới. Cận sự nữ (ưu bà di)
cũng phải giữ giới như ưu bà tắc.
Khi
ta bước vào đạo giống như ta được sanh ra lần nữa
nhưng lần nầy ta được thêm cái pháp thân. Cha mẹ cho chúng
ta cái nhục thân và Phật cho ta cái pháp thân, nó quan trọng
hơn cái nhục thân, vì sao? Vì tùy theo mức độ tinh tấn tu
học mà cái pháp thân sẽ giúp ta được giải thoát. Nói như
vậy không có nghĩa là ta bỏ phế nhục thân vì nhục thân
còn tồn tại thì ta mới có cơ hội mà tu dưỡng pháp thân.
Phương
cách bồi dưỡng cả pháp và nhục thân là giữ trì năm giới,
phát tâm làm việc tu phước, giúp đỡ kẻ nghèo, ra tay làm
việc nghĩa và an ủi kẻ lâm nạn, không từ nan bất cứ một
công việc Phật sự nào, miễn có lợi cho người khác thì
sẵn sàng xả thân thực hiện ngay. Người Phật tử cũng nên
phát nguyện tụng kinh, ăn chay, niệm Phật để thể hiện
được từ tâm. Ngoài ra, người tu theo Phật cũng nên tinh
tấn thiền định để rút ngắn con đường giải thoát.
Tóm
lại, Phật tử là từ miệng Phật sanh ra và từ pháp của
Phật mà hóa sanh. Là con Phật, nếu không từ bỏ Phật (nghĩa
là giữ giới, phát tâm từ...) thì đương nhiên cũng có thể
hưởng được gia tài của Phật là giải thoát, là an lành.
60.
TÌM PHẬT Ở ĐÂU? Ở TÂM HAY Ở CHÙA?
Ở
tâm ta ư? Tâm ta quá ư dong ruổi, nó như con vượn chuyền
cây. Tâm ta có lúc là Phật mà có lúc cũng là ma, như vậy
thì biết được lúc nào ta là Phật mà tìm.
Ở
chùa ư? Vô chùa thì ta nhìn thấy tượng Phật đó, nhưng đó
chỉ là hình bóng của Ngài thôi. Vậy thì ta tìm Phật ở
đâu? Ở "tâm Phật" tức là tâm bồ tát, tâm bất
vị biên kiến, tâm không tham, sân, si, hận, ghét, trách hờn
mà chỉ có từ bi hỉ xả và thương xót.
Có
lắm khi chúng sanh điên đảo, vọng động chấp Phật bên
ngoài mà lìa bỏ cái tâm Phật vốn sẵn có của mình. Dù
biết rằng bất cứ vật gì để ra ngoài một thời gian là
bị bụi đóng che mờ, nhưng ấy là tự nhiên chứ có sao đâu.
Bụi đóng thì mình lau cho hết bụi. Tâm cũng vậy, hễ nhuốm
những điều ác thì ta tu cho hiền bớt lại. Hiền cho đến
độ rốt ráo thanh tịnh ấy là ta đã tìm được tâm Phật
vậy.
61.
MUỐN ĐƯỢC PHẬT THỌ KÝ PHẢI LÀM SAO?
Thọ
ký không có nghĩa là ban cho mà là tiên đoán, nhưng chúng ta
đừng lầm với tiên đoán của thầy bói, nói cho đúng hơn
thọ ký của Phật giống như một sự bảo nhiệm của giáo
sư đối với học trò. Ông thầy có thực tài nhìn thấy khả
năng của học trò của mình và tiên đoán trước nó sẽ trình
được luận án hay không. Ngài tiên đoán những gì sẽ xãy
ra trên bước đường tu học của ta vì Ngài quan sát căn tánh,
hành nghiệp, xem thể lực, trí lực, và đức hạnh của ta.
Ngài dùng Phật nhãn thấy rõ được việc làm của đệ tử
trong vô số kiếp tới.
Muốn
được Phật thọ ký, chúng ta phải từ miệng Phật mà sinh
ra, từ pháp Phật mà hóa thân. Nhưng cái quan trọng là phải
phát tâm, có nghĩa là đang tu và sẽ tiếp tục tu, thì
trước sau gì cũng sẽ tới chỗ Phật ngồi. Đức Phật đã
dạy: "Chỉ có con đường thể hiện Bồ Tát hạnh mới
dẫn đến quả vị Vô Thượng Giác và xây dựng thế giới
Phật; đi ngoài lộ trình nầy, chúng ta chỉ là kẻ mù lang
thang tìm hoa đốm trong hư không."
62.
TIỀN CÓ MANG LẠI HẠNH PHÚC CHO CHÚNG TA HAY KHÔNG?
Dẫu
biết rằng trên đời nầy muốn thực hiện bất cứ một
công trình nào cho đến nơi đến chốn đều phải có đầy
đủ tài chánh, nhưng có những thứ dầu cho có tiền đầy
kho cũng không mua được. Chẳng hạn như có ai dám nói lấy
tiền ra mua sự thanh tịnh cho tâm hồn mình đâu. Tiền chẳng
những không mang lại hạnh phúc cho ta, mà đôi khi nó còn sai
khiến ta còng lưng làm đầy tớ cho nó. Hãy luôn nhớ
câu nói của tiền nhân: "Hữu tiền nan mãi tử tôn hiền"
nghĩa là tiền không mua được con cháu ngoan hiền, mà chỉ
có cái đức mới để lại cho con cháu những giá trị tinh
thần của cuộc sống. Thấy như vậy để ai trong chúng ta
cũng đều nên tu. Tu phước hay tu huệ đều là tu theo Phật.
63.
CÁI ĐẸP TÂM HỒN VÀ CÁI ĐẸP BÊN NGOÀI, CÁI ĐẸP NÀO
ĐÁNG CHO TA THEO?
Sắc
tức là cái nhan sắc bề ngoài thường ập vào mắt chúng
ta, nó bắt chúng ta phải chạy theo, phải quỳ lụy, có khi
phải bán rẽ chính ta để có được nó. Thói thường ta thích
thân cận cái gì đẹp và xa lìa cái xấu, nhưng thế nào là
đẹp thật sự và thế nào là xấu ác thật sự? Có những
cái đẹp bên ngoài nó đáng sợ lắm, bao nhiêu triều đại
vua chúa sụp đổ tan tành cũng chỉ vì ham mê sắc đẹp.
Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách,
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
Mưa
nó không kiềm tỏa, nhưng nó có thể giữ chân chúng ta; sắc
không có sóng gió bão bùng như biển cả mà nó có khả năng
giết chết nhiều người và làm sụp đổ nhiều triều đại.
Như vậy đủ thấy sắc đẹp thường là tàn độc.
Ngược
lại, cái đẹp của tâm hồn nó không lộ ra, nó thầm thầm,
nhưng nó chính là cái đẹp mãi không tàn, không già, và càng
ngày thì nó càng thâm thúy.
64.
CHÚNG TA CÓ THAM ĂN HAY KHÔNG?
Tham
ăn ở đây không có nghĩa là dành ăn như trẻ nít, mà là
"tranh" đủ thứ chuyện. Chúng ta hãy bình tâm mà hỏi
lại chúng ta xem chúng ta có tranh ăn hay không? Thưa có, chúng
ta vẫn hàng ngày tranh ăn trong cuộc sống nầy. Ngay cả chùa
chiền cũng vậy, chuà A than phiền chùa B giành mất Phật tử
của mình, chùa C lớn, chùa D nhỏ, chùa Đ đẹp chùa E xấu...
Hãy tu đi và tu cho đúng nghĩa của nó, đừng ham cầu danh
lợi. Tu để biết rằng thà có ít mà có trong chánh pháp chứ
đừng có nhiều, có rộng mà không phải trong chánh pháp. Tỉ
như có chùa nhỏ mà thực tâm giáo dân dạy chúng; có chùa
nhỏ mà không phải móng tâm làm tiền như chùa lớn thì công
đức gấp vạn triệu lần cất chùa đồ sộ mà tâm không
trong chánh niệm.
Chúng
ta có tham ngủ nghỉ không?
Hãy
tính tổng cộng thời gian ngủ nghỉ của chúng ta thì chúng
ta sẽ thấy rằng nó chiếm quá hơn một phần ba thời gian
cuộc sống của chúng ta rồi, như vậy có đủ chưa? Thưa
quá đủ rồi. Thế nhưng ta còn muốn thêm nữa và muốn nhiều
thứ khác nữa như chăn êm nệm ấm, phòng ốc rộng rãi...
Chính cái ngủ nầy nó sanh ra cái trây lười để kiếp lai
sanh thành rắn tha hồ mà ngủ nghỉ. Là Phật tử chân chánh,
một khi quyết chí tu trì thì phải có quyết tâm, phải sắp
xếp thì giờ trong ngày cho hợp lý. Hợp lý từ cái ăn, cái
uống, tụng niệm, hành trì và ngủ nghỉ, có được như vậy
thì tâm ta mới bớt động, có được như vậy thì ta mới
tránh được cái trây lười.
65.
HÃY TRÂN TRỌNG NHỮNG GÌ MÀ CHÚNG TA ĐANG CÓ TRONG HIỆN TẠI.
Thói
thường chúng ta hay hời hợt với những gì chúng ta đang có
trong hiện tại, mà chỉ lo viễn vong về quá khứ hoặc chạy
theo những ảo tưởng của tương lai. Chúng ta không biết quí
trọng những gì mà chúng ta đang có, để đến lúc mất mát
đi rồi chúng ta mới tiếc. Hãy đọc bài thơ sau đây thì
ta mới cảm thấy trân trọng những gì chúng ta đang có:
Quân
tại Tương giang đầu,
Thiếp
tại Tương giang vĩ.
Tương
cố bất tương kiến,
Đồng
ẩm Tương giang thủy.
Chàng
ở đầu sông thiếp cuối sông, cùng xoay về tìm nhau nhưng
chẳng thấy, chỉ được cùng uống nước sông Tương.
Nhiều
khi chúng ta sanh chán những gì mà ta đang có vì nó quá nhàm,
nhưng một mai mất nó đi rồi mới thấy thiếu thốn. Muốn
không bị hối hận, ngay từ bây giờ chúng ta hãy nhìn những
người quanh ta bằng gương mặt hoan hỉ, bằng nụ cười hiền
từ, bằng quí trọng và yêu thương. Có được như vậy chẳng
những ta và người được thanh tịnh mà tất cả những hiềm
khích, nghi kỵ và soi mói sẽ tự nhiên tan biến.
66.
MỤC ĐÍCH CỦA ĐẠO PHẬT?
Phật
giáo bác bỏ quan niệm có một Chúa sáng thế, nhưng vũ trụ
tồn tại, sinh mạng tồn tại là không thể hoài nghi. Đức
Phật không có địa vị của Chúa Sáng Thế, Ngài không muốn
chúng sanh sùng bái Ngài trên hình thức, mà hãy thực hành
những điều Ngài dạy. Ngài là bậc giác ngộ trong nhơn gian,
thấu rõ mọi nguyên lý của thế gian nầy, tuy ngài không thể
thay đổi trạng thái vốn có của thế gian, nhưng Ngài có
thể dùng những gì Ngài biết để hóa độ chúng sanh ra khỏi
rừng mê bể khổ. Ngài là vị thầy thuốc giỏi nhất, cho
thuốc chúng sanh tùy căn cơ tùy bịnh. Nếu chịu uống thuốc
của Ngài cho, thế nào chúng sanh cũng khỏi bịnh. Còn nếu
như không chịu uống, ngài chỉ thương xót mà bó tay chứ
không làm gì khác hơn được.
Mục
đích đức Phật sáng lập ra đạo Phật là để giúp chúng
sanh thoát khổ, được vui. Ngài dạy cho chúng sanh làm cách
nào cho bớt khổ thêm vui, chứ tự Ngài không thể thoát khổ
và được vui thay cho chúng sanh. Nói cách khác, Ngài dạy rằng
tất cả mọi người phải chịu trách nhiệm cho bất cứ việc
làm nào của mình, nghĩa là "Trồng dưa thì được dưa, trồng
đậu thì được đậu."
Đức
Phật dạy chúng ta hãy quí trọng những gì ta đang có, hãy
biết rằng ta đang còn sống để mà quí trọng cái hơi th·
của ta. Trong kinh Kim Cang, Đức Phật vạch cho ta thấy những
cái quan trọng trong việc tu học nó xuất phát từ cái nói,
cái ngồi, cái cười, cái đi, cái đứng, ăn, uống, ngủ,
đến cái suy nghĩ... Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy mục
đích của đạo Phật là giúp chúng ta thật sự sống như
một con người thật chứ không như người máy. Chúng ta nên
đặt lại cách sống để đừng bị quay cuồng trong cuộc
sống nầy, một cuộc sống không có phẩm chất.
Đức
Phật hỏi chúng ta tại sao bứt rứt, tại sao muốn thương
mà không thương được? tại sao sợ? Ngài bảo chúng ta đừng
bứt rứt, đừng sợ, hãy sống vui, dám vui ngay cả trong những
lúc đau khổ. Hãy làm chủ lấy ta và sống thật cho ta. Khi
ăn ta biết ta ăn, để mà trân trọng những thức ăn và người
nấu ra nó. Khi ngủ ta biết ta ngủ để tâm ta thanh tịnh không
dong ruỗi. Khi đi ta biết ta đi để biết trân trọng đôi
chân đã giúp ta đi đến nơi về đến chốn... Nếu chúng
ta biết chúng ta đang làm gì, nghe gì, cảm gì thì cuộc sống
của chúng ta sẽ có ý nghĩa hơn. Thí dụ như ta biết đang
có gió nhẹ nhẹ thì da ta sẽ cảm thấy mát, nếu ta biết
ta đang ăn thì ta sẽ được hương vị và ý nghĩa của cái
ăn.
Tóm
lại Phật giáo vừa là một tôn giáo, mà vừa là một triết
lý mà Đức Phật là một nhà giáo dục vĩ đại, là bậc
đạo sư cho loài người và loài trời. Ngài nêu rõ mục đích
của đạo Phật là giúp và hướng dẫn những gì Ngài chỉ
thì sẽ được quả vị Phật như Ngài, ai không nghe và không
làm theo thì Ngài sẽ thương xót mà tiếp tục dạy dỗ. Thuốc
Ngài cho, nếu ai chịu uống thì hết bịnh luân hồi sanh tử
để đi đến giải thoát; ai không chịu uống thì Ngài thương
xót cho cảnh đày đọa lên xuống của họ, nhưng Ngài vẫn
tiếp tục cho thuốc, uống hay không tùy họ.
67.
NHỮNG CẢN TRỞ TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG TU HỌC?
Sắt
thép bên ngoài còn có thể đốt được, luyện được chứ
sắt thép bên trong ta như giận, hờn, thương, ghét, cống cao
ngã mạn... là những bức tường sắt rất khó tôi luyện.
Đó là những cản trở chính cho bước đường tu học của
ta. Chính cái ý thức và vô ý thức (mạt na) đã điều khiển
những tên lính nhãn, nhĩ, tỉ thiệt, thân cùng với ông quản
lý A lại gia đã chất chứa những phiền não, trần lao, khổ
lụy, ái dục, si mê mà làm ra muôn việc lành, dữ, tốt, xấu,
vui, buồn, thương, ghét, giận hờn... Mà thường thì dữ nhiều
hơn lành, xấu nhiều hơn tốt, buồn nhiều hơn vui, ghét nhiều
hơn thương, giận hờn nhiều hơn vị tha. Như vậy tu theo đạo
Phật là lội ngược dòng đời, là lấy thiểu số thiện
lành đè bẹp đa số xấu ác, khó lắm và nhiều cản trở
lắm. Tuy nhiên, dù cản trở cách mấy ta cũng cố làm chứ
không lẽ để cho nghiệp lực nó dẫn dắt chúng ta trở lên
lộn xuống hoài sao? Hãy mở phá những rào cản ấy đi, hãy
rũ những tên lính nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý cùng ta tu để
không còn lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, tử nữa.
Vì không có xúc thì thọ diệt, mà thọ diệt thì đâu có
ái, thủ, hữu, để đi đến chỗ không sanh không diệt.
68.
LÀM SAO ĐỂ CÓ ĐƯỢC ĐẠO PHẬT TRONG CUỘC SỐNG HÀNG NGÀY?
Trong
cuộc sống hàng ngày nhiều khi chúng ta tự đẩy chúng ta xa
rời ngay cả những người thân ta, tại sao vậy? Vì ta chỉ
nhìn người bằng cái nhìn của ta hoặc ta đối xử với người
quá câu chấp, không biết thương xót, không chịu bỏ qua,
không chịu vui theo cái vui của người.. Đó là những yếu
tố chính tạo ra hiểu lầm, thù ghét, tranh chấp, buồn giận
và đau khổ.
Để
khỏa lấp đi những hầm hố nầy, chúng ta chỉ cần làm ngược
lại những gì đã xãy ra. Thay vì tàn ác thì ta nhân từ, thay
vì tị hiềm ganh ghét thì ta thương xót, thay vì cố chấp
ganh tị thì ta vui theo cái vui của người, thay vì khư khư
ôm lấy thì ta xả bỏ. Hằng ngày mà ta làm được những
điều nầy tức là ta đã có đạo Phật trong đời sống vậy.
Thế
nào là "Từ Bi Hỉ Xả"?
Từ
Bi là ban vui và làm cho bớt khổ còn Hỉ Xả tức là vui mà
bỏ đi đừng ôm lấy để cho tâm ta được thanh tịnh và
an lạc. Ta phải coi sự vui khổ của người như sự vui khổ
của chính mình, chia vui sớt khổ ấy là lòng từ bi. Ban vui
cứu khổ mà không thấy ta là kẻ ban ân, kia là kẻ thọ ân
ấy mới thật là từ bi. Cứu giúp để mong được đền đáp
là sự đổi chác chứ không phải là lòng từ bi. Hãy tập
cảm thông nỗi khổ của người; thấy người khổ cơ hồ
như chúng ta chịu khổ. Thấy người vui như cái vui của chính
ta. Hãy tập sống như thế ấy chẳng những với người thân
thuộc, mà ngay cả với những người xa lạ. Khi lòng
từ bi thì mọi sân hận tham lam đều bị tiêu diệt. Người
từ bi không sân hận đánh chưởi ai. Người từ bi không tranh
giành hơn thua mà trái lại còn mang tài vật và lòng thương
ra ban bố cho người. Từ bi không bao giờ chứa chấp đau khổ
và tham lam. Một khi từ bi tràn lấn thì tham lam phải rã rời.
69.
CHÁNH PHÁP VÀ CUỘC ĐỜI.
Đạo
và cuộc sống hằng ngày nếu được hòa hợp tự nhiên và
trọn vẹn giữa thân và tâm thì quả thật cuộc đời nầy
là niềm vui sướng hạnh phúc. Chúng ta đều biết tâm ta là
con vượn chuyền cây, ý ta nó chạy vòng vòng và nhanh như
ngựa. Từ vui, buồn thương ghét, oán hận... đến tham
lam, bỏn xẻn, tị hiềm, có khi những ý tưởng đó đến
và đi trong một sát na. Có khi nào ta mơ ước đầu óc có
được chút thảnh thơi, thanh tịnh để cuộc sống ta có được
niềm vui hay không? Có chứ, nhưng nhiều khi chúng ta không biết
phải làm sao. Đạo Phật dạy chúng ta hãy sống trong chánh
pháp đi thì tự nhiên niềm vui suớng hạnh phúc sẽ đến,
vì sao? Vì khi sống trong chánh pháp chúng ta sẽ nhìn những
thăng trầm của cuộc đời là chuyện dĩ nhiên, chúng ta sẽ
thấy không có gì lạ cả, mới cao sang đó rồi bần tiện
đó, mới phú quí đó rồi cơ hàn đó, mới vinh hoa đó rồi
nhục nhằn đó, mới quan quyền đó rồi tù đày đó, mới
vui đó rồi buồn đó, mới độ lượng đó rồi bỏn xẻn
đó, mới trẻ đó rồi già đó...
Đạo
Phật dạy ta nhìn cuộc đời bằng con mắt "như thực"
nghĩa là sự vật thế nào thì ta nhìn nó như thế ấy, có
như vậy ta mới không bị vọng niệm nó dẫn dắt ta vào những
vùng đau khổ phiền não. Có như thế, cuộc sống của ta là
cuộc sống tỉnh thức, tâm ta sẽ trong sáng, thoải mái, linh
động. Có như thế, lòng ta sẽ không điên đảo vì những
tương tranh của khổ đau và phiền muộn từ bên ngoài. Có
như thế, tham, sân, si sẽ không có đất dụng võ trong ta.
Như thế cuộc sống trong chánh pháp của ta nếu không phải
là Niết Bàn, là giải thoát chứ là gì?
70.
TÙY HỈ NGHĨA LÀ GÌ? TẠI SAO KHÔNG TÙY HỈ ĐƯỢC LÀ KHÔNG
TỐT?
Tùy
hỉ là vui theo, nhưng mà vui theo cái gì? Có khi vui theo cảnh
trần, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp... để cho nó mặc
tình làm chủ ta, không biết phân biệt chỉ biết vui theo dục
vọng, theo thói quen phóng túng của phàm phu. Cũng có khi vui
theo ác nghiệp mà tạo thêm nghiệp chướng, và có khi vui theo
những việc nhơn từ phước thiện, như khi thấy ai đem của
bố thí cho kẻ nghèo ta tán thành giúp theo. Thấy ai vui mình
cũng vui theo, những sự vui theo nầy là những bước đi đến
con đường thiện nghiệp.
Đúng
nghĩa của tùy hỉ là vui theo cái vui của người khác mà không
bị bất cứ một vọng niệm nào nó dẫn dắt. Ngược lại,
trong cái vui của người khác mà mình cũng muốn dự phần
vào thì không phải là tùy hỉ. Tỉ như có một người bạn
có con thi đỗ bác sĩ, họ báo tin vui cho mình; mình cũng vui
nhưng liền theo đó vọng niệm ganh tị nó dẫn dắt ta đi
đến chỗ không còn tùy hỉ nữa. Ờ con chị đỗ bác sĩ,
em gái tôi cũng mới đỗ dược sĩ...
Khi
ta không tùy hỉ được thì thấy ai vui mình sẽ không vui,
thấy ai hơn mình sẽ không vừa ý. Nếu mình có bảo họ mình
vui thì cũng chỉ là qua loa bề ngoài chứ thực sự mình không
có được trọn vẹn niềm vui của họ. Có đôi khi thấy ai
giỏi hơn ta, giàu hơn ta, ta đâm ra sân hận, đố kỵ, thay
vì mừng cho họ.
Tóm
lại, Đức Phật đã dạy: "hãy vui với cái vui của người
cho dù cái vui đó lớn hay nhỏ, hãy tùy hỉ trọn vẹn, đừng
móng tâm buồn phiền, ganh tị mà tổn đức." Khi ta biến được
cái vui của người thành cái vui của ta thì có phải cuộc
sống ta thêm vui bớt phiền và cứ như thế ta dần dà sẽ
chỉ có vui mà không có não phiền. Ấy là ta đang đi đến
rốt ráo, giải thoát vậy.
Hãy
nghe lời Phật dạy, hãy vui vẻ mà tu, tu với cái lòng
"Từ Bi Hỉ Xả" thì việc chứng đạo sẽ không xa.
71.
NGHĨA CỦA CHỮ "XẢ" TRONG ĐẠO PHẬT?
"Xả"
là bỏ, là không chấp kể. Thói thường, ta hay tự hào đắc
chí mỗi khi toại nguyện cái gì. Có khi bất bình, khó chịu,
cãi vã, xung đột với bạn bè thân thuộc. Ấy là do tánh
chấp trước, tự cho ta là quan trọng, tự cho pháp là quan
trọng. Thế rồi oang oang tự đắc, đi đến đâu cũng tưởng
ta là trung tâm của vũ trụ, chứ nào có biết đâu ta chỉ
là một tên khùng điên đang thuyết pháp trước những người
trí. Thí dụ như ta lúc nào cũng dương dương tự đắc ấy
là chấp ta, tự hào công việc mình đạt được là số một
ấy là chấp pháp.
Nói
theo nghĩa thông thường, chữ "xả" là bỏ qua, có bỏ
qua được mới có vui, mới có thanh tịnh. Như vậy ta thấy
hai chữ "Hỉ" và "Xả" nó hổ tương với
nhau trong cuộc sống hàng ngày. Có vui mới có bỏ qua được
nghĩa là có "Hỉ" mới có "Xả."
Khi
ta ôm mãi thì ta được những gì? Thường thì những thứ
ta ôm là những đố kỵ, thù hiềm, ganh ghét, ngã mạn cống
cao.. Ôm những thứ đó thì làm sao mà vui cho được, mà không
vui với phiền não đâu có xa. Như thế khi ta không xả được
tức là phiền não, sân hận, là sanh tử luân hồi. Đức Thế
Tôn đã dạy: "Đừng tìm về quá khứ, đừng tưởng tới
tương lai, quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới."
Ta
ôm cái qua rồi và tưởng cái chưa tới tức là ta đang sống
với cái không thực, trong khi cái hiện tại nó đang ở với
ta thì ta lại quên mất nó đi. Chúng ta đã ôm cái quá khứ
mà sống quá nhiều trong đau khổ, quá khứ đã qua rồi xin
hãy bỏ đi. Ai có thù ghét ta trong quá khứ thì xin hãy
"Xả," bỏ mà đến với họ với cái tâm "Từ Bi."
Ta nào có biết đâu đôi khi họ cũng muốn làm hòa với chúng
ta mà chúng ta không cho họ cơ hội. Biết đâu có khi ta cũng
sai trái chứ đâu riêng người sai trái.
Tóm
lại, học được chữ "Xả" của đạo Phật là
được cái tâm quảng đại cao cả. Ở đó kẻ gần người
xa đều bình đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, mình
và người không khác. Học được cái tâm "Xả"
và thành tựu được cái "Xả" một cách hoàn toàn
thì chứng quả Bồ Đề đâu có xa.
72.
TẠI SAO CHÚNG TA CHƯA SỐNG ĐƯỢC TRONG AN LÀNH?
Sở
dĩ chúng ta chưa sống được trong an lành là vì chúng ta định
mức cho sự an lành, còn định mức là còn chấp. Còn chấp
thì làm sao có được an lành. Ta đặt điều kiện cho
"Từ Bi Hỉ Xả," thí dụ như ai đó làm ta bị nhục thì
họ phải làm gì đó ta mới bỏ được, nghĩa là có định
mức điều kiện nào đó. Đức Phật đã dạy: "Chúng
sanh chỉ có hai cái tâm để lựa chọn, thứ nhất là tâm
phàm thứ nhì là tâm thánh. Tâm phàm thì sầu não, ganh tị,
tham, sân, si... còn tâm thánh thì ngược lại." Tâm thánh
chế ngự mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, khẩu, ý để được
thanh tịnh và an lành. Có được tâm thánh là có được cái
bản thể chơn như thường còn, bất sanh bất diệt, không
nhiểm trước, không dính mắc. Nghĩa là ngay trong kiếp nầy
ta có cuộc sống an lành. Nhưng làm sao để có được cái
tâm thánh ấy? Hãy "Xả" bỏ đi và "Xả"
bỏ vô điều kiện, có như vậy thì tự nhiên tâm ta sẽ thơ
thới nhẹ nhàng. Mà bỏ được một lần, thì hai lần được,
ba lần được để rồi đi tới chỗ lúc nào cũng bỏ được.
Trong
đời sống hằng ngày, nếu chúng ta không thực hiện được
chữ "Xả" thì tự chúng ta sẽ cứ mãi phải đề
phòng nhau, ghìm nhau, hoặc giữ mức nhau thì làm gì có an lành?
Tuy nhiên "Xả" có dễ không? Không dễ, nhưng không
có nghĩa là không thực hiện được. Hãy cố gắng thực hiện
chữ "Xả" trong mọi hoạt động hằng ngày của
ta, hãy trì chí từng bước một thực hiện cho bằng được.
Chuyện gì cũng do thói quen mà có, thì tu cũng không vượt
ra ngoài định luật ấy. Tu là chuyển hóa những điều xấu
thành tốt, sai thành đúng. Tu là học những điều nên làm
và không học những điều không nên làm.
Hãy
dùng cái "Dũng" của nhà Phật mà hành trì cho bằng
được cái "Từ Bi Hỉ Xả" ngay trong cuộc sống
hằng ngày của ta, đừng để cho những huyễn ảo tiếp tục
lôi cuốn ta vào một cuộc sống không an lành, đầy não phiền
của thế tục, và tiếp tục sanh tử luân hồi nữa.
73.
TA TRỐN CHẠY CÁI KHỔ HAY TA DIỆT NÓ?
Khổ
là những gì làm cho mình đau đớn, khó chịu như ốm đau,
đói khát, buồn rầu, sợ hãi... Cái khổ của thế gian là
vô cùng. Sinh ra với thân tứ đại đã là khổ, mà hoàn cảnh
chung quanh càng làm cho ta khổ hơn. Thời gian làm cho ta héo
gầy cũng là khổ; tâm ta biến chuyển từ vui đến buồn,
từ thanh tịnh đến náo động cũng là khổ. Theo đạo Phật
thì sanh ra là khổ, già và nhan sắc tàn phai là khổ, bịnh
hoạn hành hạ thân xác là khổ, chết cũng làm cho con người
sợ hãi ấy cũng là khổ, thương nhau mà xa cách chia lìa cũng
khổ, mong cầu mà không được toại nguyện cũng khổ, hờn
ghét mà phải mỗi ngày gặp nhau cũng là khổ... Cuộc đời
là khổ đau như thế ấy, như vậy thì ta phải làm sao? Chạy
trốn chúng hay diệt chúng? Chúng ta đang sống trong ba cõi,
mà bất cứ cõi nào cũng có cái khổ riêng của nó. Khi ta
còn trầm mê trong thế tục hễ khi quá khổ đau thì tìm cách
tránh, rồi đến khi qua cơn khổ thì vùi đầu vào những cuộc
vui tạm bợ, nhưng ta nào có biết vui để rồi chờ cái khổ
khác đến. Thường thì chúng ta trốn chạy cái khổ ở những
phòng trà, quán rượu, nhưng sau quán rượu phòng trà là cái
gì? có thể là xì ke, ma túy hoặc ngục tù cũng không chừng.
Có khi yên thân trở về nhà, nhìn bốn bức tường với bao
nhiêu thứ chồng chất trong đầu. Quả thật cái cõi ta đang
sống nó giống như căn nhà lửa, hễ mê muội thì bị nó
thiêu đốt, còn tỉnh thức thì ta sẽ dập tắt nó.
Phật
dạy chúng ta nên biết rõ căn cơ cội nguồn của cái khổ;
biết cái khổ không chưa đủ, mà phải biết nguyên nhân phát
sanh ra khổ để diệt nó ngay từ đó, để thoát ly cho khỏi
nó mà giải thoát. Thấy đạo Phật diệt cái khổ như vậy
đó, thì những ai chán đời, nản chí, buông xuôi, than vắn
thở dài đều không phải là con Phật.
74.
ĐẠO PHẬT ĐẶT QUAN TRỌNG VÀO NIỀM TIN, NHƯNG TIN CÁI GÌ?
VÀ TIN NHƯ THẾ NÀO?
Trong
đạo Phật, niềm tin phải là chánh tín, chứ không mê tín.
Niềm tin phải dựa trên trí tuệ chứ không ai sao tôi vậy.
Trước khi tin phải hiểu rõ niềm tin dựa trên sự phân tích
và những kinh nghiệm thực tiển. Đức Thế Tôn đã khai mở
cho ta thấy được những gì ta đã trải qua như sanh, lão,
bịnh, tử ... và Ngài dạy chúng ta những phương cách đi đến
rốt ráo, đi dến giải thoát, còn chuyện có ngộ và có nhập
những gì Ngài đã nói hay không lại là chuyện khác. Chuyện
đó chỉ có chúng ta mới làm được, chứ không ai khác có
thể làm được cho ta, ngay cả Đức Phật.
Đức
Phật dạy ta về lẽ vô thường của sự vật, không phải
Ngài chỉ nói suông mà Ngài chỉ cho chúng ta thấy thực cái
vô thường. Nay còn mai mất, sớm nở tối tàn, "mới đó vầng
đông vừa ló dạng, quay đầu bóng nguyệt đã tròn xoe." Những
khi ta gần gủi người thân, ta cho rằng sự gần gủi ấy
là tuyệt đối, nhưng than ôi sự thực đâu phải vậy, mà
sự thực là thấy đó rồi mất đó, còn đó rồi tiêu đó,
thương đó rồi ghét đó, vui đó rồi buồn đó, có cái gì
là tuyệt đối đâu? Đức Thế Tôn đã giác ngộ được lẽ
vô thường và muốn chúng sanh cũng thấy được như Ngài,
thấy để mà tin, tin để mà tu, và tu để mà chuyển hóa
những xấu ác thành thánh thiện để đi đến chỗ giác ngộ
rốt ráo như Ngài.
Trong
đạo Phật, niềm tin là do sự hiểu biết tuyệt đối mà
tin chứ không tin mù quáng, không mê tín và không dựa vào
tha lực và quyền năng tối thượng nào cả. Quyền năng tối
thượng như xưng ta là con cháu Thượng Đế chẳng hạn, ai
chứng minh được chuyện đó? Mà nếu không chứng minh được
thì ngay bây giờ ta hãy tự lo lấy cho ta cái đã rồi hẳn
nhờ đến người khác.
Tóm
lại, hãy hiểu cho rõ giáo lý của Đức Phật để mà tin,
một niềm tin có thể biến ta thành học trò của "Tam Bảo."
Có là học trò của "Tam Bảo" thì mới có cơ hội
được giải thoát, cũng như có học mới có thành vậy.
75.
CHÚNG TA CÓ PHẬT TÁNH HAY KHÔNG?
Chúng
ta ai vốn cũng có sẵn Phật tánh, nhưng vì dòng đời cứ
trôi cứ đẩy ta xa lìa cái Phật tánh sẵn có ấy. Tâm ta
vốn sẵn thanh tịnh. Mặc dù cái câu "Nhơn chi sơ tánh
bổn thiện," nó không bộc hết được ý nghĩa của cái Phật
tánh lúc ban đầu, vốn vắng lặng, vốn tịnh tịch của ta,
nhưng nó cũng là một thí dụ điển hình cho cái tấm gương
chưa nhuốm bụi trần lúc ban đầu. Nó cho ta thấy là tâm
ta vốn bất biến, không sanh không diệt, lúc nào cũng có thể
tánh sáng suốt thuần tịnh của chơn như, dù có bụi hay không
thì gương vẫn là gương, dù có nhuốm bụi trần hay không
thì chơn tâm vẫn là chơn tâm thanh tịnh.
Phật
đã dạy rằng chơn tâm vốn thanh tịnh, bao la, rộng rãi như
hư không vô tận. Đó là tánh thanh tịnh sẵn có không phải
do tu mới có được, nó huân tập ở bên trong. Khi chúng ta
biết
mà tìm đường trở về với cái chơn tâm ấy tức là trở
về với cái Phật tánh vẫn có của ta vậy. Tuy nhiên chúng
sanh vì không ngộ được Phật tánh, vì mãi mê vọng tưởng
như chàng cùng tử đã bỏ nhà lưu lạc, bốn năm chục năm
sau quay về thì thân ta giờ nầy xác xơ quá mà nhà ta thì
sang trọng quá. Chàng cùng tử là ai? Là ta đó, còn căn nhà
sang trọng là gì? Là chánh pháp giúp đưa ta về với cái Phật
tánh của ta.
Tóm
lại, chúng ta ai cũng có Phật tính và ai cũng muốn trở về
với cái Phật tánh của mình như chàng cùng tử dù bốn năm
mươi năm lăn lóc vì miếng cơm manh áo, có khi vì tiền tài
danh vọng mà cứ chạy liên tục. Tuy nhiên, có một lúc nào
đó ta cũng nghĩ đến, có khi quay về hẳn với cái Phật tánh
ấy mà cũng có khi lừng khừng không muốn quay về với nó.
06-05-2008
11:23:46