A.
LỜI GIỚI THIỆU
B.
LỜI MỞ ĐẦU
C.
NHỮNG Ý NIỆM VỀ ĐẠO PHẬT
124.
Thế Nào Là Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi Trong Đạo
Phật?
125.
Nhận Biết Chân Tâm
126.
Đạo Phật, Vũ Trụ Và Khoa Học
127.
Phật Giáo Và Chú Đà La Ni
128.
Tính Tự Mãn từ Đâu Có?
129.
Phật Pháp Thậm Thâm Vi Diệu
130.
Phật Tánh Bất Sanh Bất Diệt
131.
Đạo Phật Và Sự Giác Ngộ
132.
Thần Thông Trong Phật Giáo
133.
Chánh Pháp Giải Thoát
134.
Lúc Nào Thì Chúng Ta Mới Bị Đọa Địa Ngục?
135.
Đạo Phật Và Việc Thờ Cúng Tổ Tiên
136.
Đạo Phật Và Sự Truyền Giáo
137.
Kiến Tánh
138.
Phật Học Và Học Phật Có Khác Nhau Không?
139.
Tứ Nhiếp Pháp
140.
Tại Sao Phật Hiện Ra Nơi Đời
141.
Đức Phật Và Con Đường Hạnh Phúc
142.
Nhân Sinh Quan Của Đạo Phật
143.
Lục Đạo Mà Phật Đã Nói Trong Loài Hữu Tình
144.
Bốn Loài Hữu Tình
145.
Ba Cõi
146.
Ngũ Thừa Trong Đạo Phật
147.
Đi Tu Là Đi Chăn Trâu
148.
Đạo Phật Bắt Đầu Từ Đâu?
149.
Sống Tỉnh Thức
150.
Phân Thân Trong Khi Tu Học
151.
Tu Là Phải Biết Chưng Diện
152.
Phật Đã Thực Sự Diệt Độ Chưa?
153.
Bốn Sự Thật Cao Quý
154.
Khái Niệm Về Tu Hành Và Gia Đình Có Gắn Liền nhau Không?
155.
Sự Lựa Chọn Cách Sống Của Người Phật Tử
156.
Tám Con Đường Cao Quí Đưa Ta Đến Giác Ngộ
157.
Người Phật Tử Tại Gia
158.
Năm Món Diệu Hương Để Cúng Phật
159.
Phật Giáo Và Việc Thờ Hình Tượng
160.
Đạo Phật Là Đạo Của Ai?
161.
Tại Sao Phải Tín Ngưỡng Tam Bảo?
162.
Bố Thí Và Bỏn Xẻn
163.
Làm Sao Để Có Cuộc Sống An Vui Và Hạnh Phúc Ở Đời Nầy?
164.
Cái Gì Làm Cho Ta Đau Khổ Nhiều Nhất?
165.
Tại Sao Gọi Đạo Phật Là Đạo Vô Thượng?
166.
Lục Hòa
167.
Mười Điều Lành Trong Đạo Phật
168.
Hoa Vô Ưu
169.
Tình Thương Trong Đạo Phật
170.
Có Phải Lạy Phật Là Cầu Ngài Ban Cho Ta Sự Bình An Hay Không?
171.
Thế Nào Là Sắc Tức Thị Không, Không Tức Thị Sắc?
172.
Làm Thế Nào Để Chấm Dứt Luân Hồi?
173.
Có Một Đấng Thần Linh Tối Cao Không?
174.
Một Ngày Sống Yêu Thương Là Một Ngày Sống Hạnh Phúc
175.
Thế Nào Là Cuộc Sống Đạo?
176.
Bát Quan Trai Giới
177.
Tìm Phật Ở Đâu?
178.
Phật Giáo Và Hạnh Phúc Gia Đình
179.
Ý Nghĩa Của Câu Chú “Án Ma Ni Bát Di Hồng”
180.
Tiểu Thừa, Đại Thừa
181.
Đức Phật Thích Ca Đã Độ Ai Và Sẽ Độ Ai?
182.
Tại Sao Sau Mỗi Thời Khóa Tu Chúng Ta Đều Hồi Hướng?
183.
Tại Sao Nói Tu Là Phản Quang Tự Kỷ?
184.
Đạo Phật Là Một Tôn Giáo Hay Là Một Triết Lý?
185.
Tôi Đến Với Đạo Phật
186.
Tìm Hiểu Về Các Danh Xưng Trong Đạo Phật
187.
Yếu Lý Của Đạo Phật
188.
Người Phật Tử Việt Nam Và Quan Niêm Về Chữ Thiện
189.
Cái “Dục” Nó Làm Ta Khổ Như Thế Nào?
190.
Lười Biếng Và Trụy Lạc Là Bạn Của Khổ Đau
191.
Đạo Phật Bi Quan Hay Lạc Quan
192.
Tại Sao Người Tu Theo Đạo Phật Phải Dưỡng Tánh?
193.
Ta Học Được Gì Ở Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát?
194.
Mười Đại Nguyện Trong Bài Sám Phổ Hiền
195.
Tứ Hoằng Thệ Nguyện
196.
Nhơn Quả Trong Đạo Phật
197.
Những Chàng Cùn Tử
198.
Người Phật Tử Và Cái Tâm Xả
199.
Tội Và Phước Với Người Phật Tử
200.
Nghiệp Báo Và Người Phật Tử
201.
Sự Khác Biệt Giữa Đạo Phật Và Các Tôn Giáo Khác
202.
Người Phật Tử Và Cái Tâm Từ
203.
Người Phật Tử Và Cái Tâm Bi
204.
Người Phật Tử Và Cái Tâm Hỉ
205.
Những Đức Tánh Tốt Của Người Phật Tử
206.
Thế Nào Là Thanh Tịnh Trong Đạo Phật?
207.
Lời Hay Trong Lẽ Đạo
LỜI
GIỚI THIỆU
Lời
giới thiệu cùng quý chư độc giả.
Quyển
sách nầy của Thiện Phúc viết ra,
Mấy
trăm trang để giải lý Phật Đà.
Gồm
chung kết gần một trăm đề mục.
Lời
phân giải để tỏ tường trong đục.
Được
nghe lời giảng dạy của chư Tăng.
Hiểu
biết rành những giới cấm điều răn,
Là
bổn phận người tu cần vâng giữ.
Lòng
Bác Ái phương tiện dùng ngôn ngữ.
Mới
viết ra thành quyển sách khuyên đời.
Hầu
thức tâm chúng sanh khắp mọi nơi.
Biết
Phật pháp, hiểu rành từng chi tiết.
Khen
Thiện Phúc chí công mài miệt.
Vừa
đi làm, giờ rảnh rỗi góp công,
Soạn
viết ra phát xuất tự đáy lòng.
Muốn
ai nấy đều thức tâm tỉnh ngộ.
Đã
chỉ rõ nơi đâu là Tịnh Độ.
Và
nơi đâu là Cực Lạc Niết Bàn,
Và
thế nào Địa Ngục chốn Trần Gian.
Đường
siêu đọa tự nơi ta tìm lấy.
Đức
Phật dạy khắp chúng sanh cả thảy,
Phật
tánh đều cùng giống hệt như nhau.
Dù
Á Âu sắc tóc khác màu da,
Cũng
máu đỏ, nước mắt chung đều mặn.
Đồng
con Phật chớ biệt phân đen trắng.
Vì
chung qui tánh giác vẫn quang minh.
Khắp
muôn loài vạn vật cả chúng sanh.
Nếu
tỉnh ngộ, quyết tu, sau thành Phật.
Giải
yếu lý nói những lời chân thật,
Vừa
khuyên đời, mà cũng nhắc khuyên mình.
Mong
làm sao chứng đắc quả Vô Sanh,
Mới
thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử.
Mong
quý vị hãy để tâm xem thử.
Quyển
sách nầy thật ích lợi vô cùng.
Để
trau dồi giới đức học tu chung.
Lời
đúc kết của nhiều sư thuyết pháp,
Lý
thâm diệu ai nghe đều phù hợp.
Pháp
vị nầy chẳng thụ hưởng riêng mình,
Nay
phổ truyền khắp bá tánh nhân sanh.
Lời
ngọc ngữ kim ngôn thầy giảng dạy,
Được
gom kết những lời hay lẽ phải,
Hầu
khuyên người sớm thức tỉnh tu tâm.
Dứt
bỏ đi những tội lỗi sai lầm,
Là
toại chí, toại lòng con mong ước.
Thầy
giới thiệu ai hữu duyên xem được,
Quyển
sách nầy thật ích lợi vô cùng.
Cần
phổ truyền bá tánh chúng sanh chung,
Nhờ
công đức người ra công soạn viết.
California
ngày 15 tháng Giêng năm 1996
Đức
Pháp Chủ
Hòa
Thượng Thích Giác Nhiên
ĐẠO
PHẬT TRONG ĐỜI SỐNG CỦA CHÚNG TA
Đạo
lý uyên thâm khó thể lường.
Phật
pháp truyền lưu toàn thế giới.
Trong
ngoài tam thế khắp cùng nơi.
Đời
đạo viên dung lý vô thường.
Sống
chung tu học tầm chơn lý.
Của
cả bao loài trong vũ trụ.
Chúng
sanh tiên Phật đồng chung tính.
Ta
Bà giác ngộ thoát lần ra.
California
ngày 22 tháng Giêng năm 1996
Cư
Sĩ Minh Bình
LỜI
MỞ ĐẦU
Kính
Thưa Quý Đạo Hữu,
Giáo
pháp của Phật thật là thậm thâm vi diệu; cho dù có suốt
đời học hỏi cũng chưa chắc gì chúng ta có thể thâm nhập
được một phần Kinh, Luật, và Luận mà Đức Từ Phụ và
các Thầy Tổ đã để lại. Bởi vì thấy rằng vào bất cứ
thời nào và bất cứ ở đâu, những lời Phật dạy vẫn
luôn là những chân lý không thể nghĩ bàn, nên sau khi hoàn
tất quyển Đạo Phật Trong Đời Sống Tập I, tôi đã được
sự khuyến khích của nhiều đạo hữu nên tiếp tục cho ra
quyển II. Trong quyển Đạo Phật Trong Đời Sống Tập II nầy,
chúng tôi cũng xin mạo muội ghi lại những gì mình đã học
hỏi được từ Phật Kinh, cũng như qua các buổi giảng pháp
của Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, các chư Thượng Tọa Thích
Minh Đức, Thích Minh Mẫn, Thích Nguyên Hạnh, Thích Viên Lý,
Thích Minh Đạt, và chư Đại Đức Thích Từ Lực và Thích
Phụng Sơn.
Kính
Thưa Quý Đạo Hữu,
Tôi
luôn tin rằng với quyết tâm và thiện chí giúp đỡ và cùng
nhau tu trì thì chắc chắn một ngày không xa, chẳng những
thế giới chúng ta sẽ không còn là thế giới Ta Bà nữa,
mà cái chuyện chúng ta sẽ gặp nhau ở đất Phật là chuyện
đương nhiên thôi. Tôi cũng hi vọng rằng quyển sách nhỏ
nầy sẽ góp một phần làm vơi đi nước mắt của khổ đau.
Hi vọng sau khi các bạn đã đọc quyển sách nhỏ nầy thì
các bạn cũng sẽ thấy được cái lợi lạc như tôi đã thấy:
với đuốc sáng Từ Bi của Đức Thế Tôn, cho dù hoàn cảnh
có khó khăn cơ cực đến đâu, cơn giông tố đêm Đông rồi
cũng sẽ qua, mùa Xuân rồi sẽ đến, mặt trời rồi sẽ mọc.
Kính
Thưa Quý Đạo Hữu,
Cho
dù những điều đã ghi là những lời dạy của quý thầy
và tham biện từ Phật Kinh; tuy nhiên, không làm sao mà tránh
cho khỏi những thiếu sót và sai biệt nhau về chánh kiến,
vì giáo lý Phật thì quá thậm thâm, mà sức người thì chẳng
khác nào một hạt cát trên bãi sông Hằng. Tôi mong rằng những
người cầm trên tay quyển sách nầy đều là những tâm hồn
hướng thượng, thì những thiếu sót và sai biệt chánh kiến,
dù có cũng chỉ là những hạt sương mai trên đầu cỏ đối
với quý vị. Quý vị sẽ mỉm cười mà đồng ý với tôi
rằng cái mà chúng ta đang đi tìm ở đây là cái đẹp của
một tâm hồn Phật, chứ không phải là những cái thiếu sót
hoặc sai biệt tầm thường nầy.
Tôi
xin chân thành kính tặng những người tôi quen, cũng như không
quen; những người đang có lẽ sống và ngay cả những người
đang đi tìm lẽ sống cho hiện tại và tương lai của mình.
Cái hoài bảo nho nhỏ của tôi là mong rằng tất cả chúng
ta đều sẽ tìm thấy đuốc sáng cho chính mình để soi cho
rõ những kỳ hoa dị thảo trên con đường đi đến Đất
Phật, và hẹn một ngày không xa nào đó chúng ta sẽ tái ngộ
ở một nơi mà không còn sanh diệt.
Cuối
cùng, chúng tôi kính mong chư tôn, thiền đức, pháp hữu ân
nhân, và các bậc thức giả cao minh vui lòng bổ chính cho những
sai lầm thiếu sót để Pháp Giới Chúng Sanh đều hưởng sự
lợi lạc.
Viết
Tại California
Mùa
Hè Năm 1995
THIỆN
PHÚC
124.
THẾ NÀO LÀ ĐẠI HÙNG, ĐẠI LỰC, ĐẠI TỪ BI TRONG ĐẠO
PHẬT?
Sở
dĩ những lời dạy của Đức Phật, đã trải qua hơn hai mươi
lăm thế kỷ nay, mà càng ngày càng trở nên phong phú là nhờ
ở những bản sắc đặc thù của giáo lý nhà Phật. Ngay thời
Đức Phật còn tại thế, từ trong lòng của xã hội thời
bấy giờ, lúc mà hạng cùng đinh chỉ là nô lệ và phải
chịu khuất phục dưới uy quyền của thần linh và giai cấp
quí tộc, thì Đức Thế Tôn đã tuyên bố rõ giá trị ưu
việt của con người và Ngài đã khẳng định rằng con người
có khả năng giác ngộ và thành Phật. Chính Ngài đã tuyên
bố rằng mọi người đều bình đẳng vì mọi người đều
có Phật tính, và không thể có giai cấp nào khác hơn giai
cấp nào trong khi máu của mọi chúng sanh cùng đỏ và nước
mắt của mọi chúng sanh đều cùng mặn như nhau.
Đức
Phật cũng khẳng định rằng không những những người Phật
tử chỉ tin vào sự bình đẳng suông mà họ còn phải thể
hiện, nuôi dưỡng và phát triển nó bằng cái đại hùng,
đại lực, và đại từ bi của pháp nhà Phật. Chính cái đại
hùng, đại lực, đại từ bi nầy đã giúp cho Phật giáo chẳng
những trường tồn trải qua hơn hai mươi lăm thế kỷ nay,
mà nó còn giúp Phật pháp phát huy và đứng vững trước những
khoa học tiến bộ của nhân loại.
Vậy
thế nào là đại hùng? Với phàm phu thì người tài giỏi,
có thể điều binh khiển tướng, trăm trận trăm thắng là
hùng. Cái Hùng của phàm phu là khuất phục cho bằng được
đối phương để được danh tiếng. Tuy nhiên, đối với Phật
giáo, Đức Phật dạy rằng: “thắng vạn quân không bằng
khuất phục được tham vọng và dục tình trong lòng ta.”
Thế gian kim cổ chỉ khuất phục người bằng uy quyền và
võ lực, chứ có mấy ai khuất phục nổi cái dục tình trong
lòng của mình. Chính thái tử Tất Đạt Ta đã điều ngự
lòng mình tinh sạch và thanh tịnh. Tất cả nội chướng ngoại
ma đều tan tành như mây khói trước sức mạnh đại định
của Ngài. Trong thì Ngài dứt sạch hết ma nội tâm, dục vọng
và tham sân si; ngoài thì Ngài chiến thắng tất cả ma vương,
ma nữ, ác thú cũng như những trận cuồng phong. Quả thật
là Ngài đã thực hiện đúng cái câu: “chiến thắng vạn
quân không bằng tự chiến thắng mình. Chiến thắng mình mới
là chiến công oanh liệt nhất.” Chiến thắng tham vọng dục
tình nơi chính mình để đạt cho được sự thanh tịnh và
an nhiên tự tại trước ngoại cảnh ấy mới chính là đại
hùng.
Thế
nào là đại lực? Thói thường, người có sức mạnh phi thường
được gọi là đại lực sĩ. Nhưng theo đạo Phật, chữ đại
lực không có nghĩa như vậy; mà đại lực là người có sức
mạnh nội tâm, có nghị lực chịu đựng, có đức nhẫn nhục
khắc phục mọi hoàn cảnh, cảm hóa chẳng những cho chính
mình mà còn cảm hóa được tha nhân nữa. Vào thời Đức
Phật còn tại thế, chính vua A Xà Thế, Đề Bà Đạt Đa,
và chàng Vô Não đã bao phen tìm cách hại Ngài, thế mà Phật
vẫn thản nhiên, chẳng buồn phiền mà còn phát tâm thương
xót cảm hóa họ nữa. Cô gái giả bụng chửa để vu oan,
mạ nhục Ngài trước hàng vạn thính chúng. Thế mà Ngài vẫn
lặng thinh và bình thản rải tâm từ bi thương sót cho chúng
sanh mê muội. Cuối cùng Ngài đã độ cho cô gái đáng thương
ấy. Đức Thế Tôn đã gặp không biết bao nhiêu là chướng
duyên và nghịch cảnh, thế mà tất cả đều tiêu tan bất
thành trước trí huệ và định lực của Ngài. Ngài quả là
một bậc đại lực. Chính Ngài đã nói rằng nhẫn nhục khiêm
tốn không có nghĩa là khiếp nhược, mà trái lại chúng là
đạo quân trung thành đưa ta đến thanh tịnh và rốt ráo.
Trong kinh chính Đức Phật đã khẳng định: “Kẻ ác có tâm
hại người hiền chẳng khác gì rải cát trước mặt trong
gió ngược, thế nào rồi cát cũng sẽ bay tạt vào mặt mình.
Hoặc giả kẻ ác hại người hiền cũng giống như mình cầm
đuốc mà đi gió ngược vậy, lửa sẽ tự cháy tay mình trước.”
Như thế cho thấy ai có nghị lực sẽ thản nhiên trước những
chưởi mắng thiếu đạo đức của người khác, sẽ bình
tâm trước những thị phi đố kỵ. Ấy chính là bậc đại
hùng. Gọi người đã tự chế được mình là bậc đại hùng
vì chẳng những tự thắng mình là vẻ vang hơn chiến thắng
vạn quân, mà không có ai có thể đánh bại được con người
đã biết tự chế.
Thế
nào là đại từ bi? Đại từ bi có nghĩa là lòng thương bao
la rộng lớn, bủa khắp đến muôn loài. Ấy là lòng vị tha
vô bờ bến. Người có lòng đại từ lúc nào cũng để tâm
thương xót và nghĩ đến người khác. Mà nghĩ và thương xót
một cách bình đẳng chứ không phân biệt thân sơ hay bạn
thù. Người có lòng đại bi lúc nào cũng muốn làm cho người
khác được an vui hạnh phúc. Như lòng mẹ thương con vô bờ
bến cũng có thể gọi là đại bi. Mẹ thương con mà không
nghĩ đến thân mình, không hề nghĩ đến sự đền đáp. Thế
nhưng khi con cái có trái nghịch bất hiếu và làm những điều
tổn hại đến danh giá gia đình thì cha mẹ còn có lúc cũng
buồn giận. Nhưng lòng từ bi của Đức Thế Tôn nó bao la,
nó rải khắp, nó chẳng bao giờ phân biệt chúng sanh nào với
chúng sanh nào. Lòng từ bi của Đức Phật nó như ánh trăng
rằm rải khắp vạn vật, bình đẳng, không phân biệt, không
điều kiện. Phật lúc nào cũng thương chúng sanh hơn tự thương
mình khi chính Ngài đã nói: “Nếu ta không vào địa ngục
thay thế và cứu chúng sanh thì ai thay ta vào.” Còn Ngài Địa
Tạng Vương Bồ Tát đã phát nguyện: “Địa ngục chưa trống
không, ta thề không thành Phật.” Hay mười hai lời phát nguyện
cứu khổ cứu nạn của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hoặc
mười đại nguyện cứu chúng sanh thoát ly khổ não của Ngài
Phổ Hiền Bồ Tát. Hoặc giả lời phát nguyện đại bi của
Ngài Tôn Giả A Nan: “Trong đời ngũ trược, tôi nguyền vào
trước. Nếu còn chúng sanh nào chưa thành Phật, tôi không
nhận lấy quả vị Niết Bàn.” Đó là những tấm gương
đại bi trong đạo Phật. Bất cứ ai trong chúng ta, một khi
đã phát tâm Bồ Tát thì đều nên có tâm đại bi cứu khổ
cứu nạn như các vị Địa Tạng, Quán Âm, Phổ Hiền, và
Tôn Giả A Nan. Chính nhờ ở lòng đại bi của Đức Thế Tôn
mà Ngài đã giáo hóa không biết bao nhiêu là những kẻ nghịch
duyên và ngay cả những người ngoại đạo, trong đó có các
vị Ca Diếp, Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, A Nan, Nan Đà,
A Xà Thế, Đề Bà Đạt Đa, và Tu Bạt Đà La.
Tóm
lại với lòng đại hùng, đại lực và đại từ bi, Đức
Phật chẳng những tự mình giải thoát, mà Ngài còn để lại
cho nhân loại và chúng sanh một triết lý và tôn giáo vĩ đại.
Bất cứ ai, nếu có đủ đại hùng, đại lực và đại từ
bi thì nội tâm sẽ thanh tịnh và tự tại trước chướng
duyên nghịch cảnh. Nghĩa là cảnh giới Niết Bàn cạnh kề
đâu đấy.
125.
NHẬN BIẾT CHÂN TÂM
Mục
đích việc tu học của ta là đạt được giác ngộ và thành
Phật quả, nghĩa là trở về với cái chơn như thường trụ
của ta, nghĩa là cố gắng thấy cho đựơc cái kiến tánh.
Thấy được kiến tánh là thấy được tánh giác hay tâm Phật
của mình. Như vậy tâm đó ở đâu và làm sao để thấy được
nó? Mỗi khi nói về đạo Phật là nói về cái tâm của con
người. Đạo Phật khai mở cho chúng ta biết thế nào là chơn
tâm và làm sao để sống với cái chơn tâm ấy ngay trong cuộc
sống hằng ngày chứ không phải đợi đến lúc về với cảnh
giới Niết Bàn tịnh tịch.
Thường
ta thấy sự việc đến rồi đi, hiệp rồi tan, tan rồi tụ,
sanh rồi diệt, trẻ rồi già. Nhưng cái gì thấy? Có phải
ta thấy hay không? Xin thưa chả có ta nào thấy cả, mà chỉ
có cái tánh thấy biết nó cho ta thấy và biết những sự
việc xãy ra quanh ta thế thôi. Nếu ta chấp là ta thấy thì
quả là một lầm lẫn tai hại vô cùng. Tại sao vậy? Tại
vì khi ta chấp là ta thấy thì cái mà ta gọi là tâm đó, nó
sẽ đẫn dắt ta đi vào những khu rừng vô minh và từ đó
ta sẽ quanh quẩn mãi trong sanh tử luân hồi chẳng bao giờ
có ngày ra.
Tuy
nhiên, thấy sự vật như thế nào? Thấy sự vật như sự
thật của nó, nghĩa là nhìn sự vật bằng cái nhìn “như
thị,” thấy sông, nói sông; thấy núi, nói núi, thế thôi.
Cái tánh thấy biết ấy nó cho ta biết ta đang làm gì. Ngoài
ra, nó còn cho ta có được cuộc sống hiện tại và sống
một mình của ta. Sống một mình ở đây không có nghĩa là
tự nhốt mình và tự cô lập lấy mình. Mà là sống an trụ
với hiện tại, cho dù ở ngay chốn phồn hoa đô hội. Dù
bất cứ đâu ta vẫn có thể sống được với cái tâm Phật
của mình, nếu ta chịu cố gắng tu hành. Hãy chiêm nghiệm
bài học trong kinh “Người Sống Một Mình,” thì ta sẽ thấy
quí trọng cái hiện tại của ta vô cùng:
Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai
Quá khứ đã qua rồi
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại
Sống chơn thật hiện tại
Kẻ thức giả an trú
Vững chải và thảnh thơi
Phải tinh tiến hôm nay
Kẻo ngày mai không kịp
Cái chết đến bất ngờ
Không thể nào mặc cả
Người nào biết an trú
Đêm ngày trong chánh niệm
Thì Mâu Ni gọi là
Người biết sống một mình.
Ấy
là cái cách sống một mình của những ai biết an trú trong
chánh niệm. Hãy sống trọn vẹn trong hiện tại bằng cách
thoát ra khỏi những ý tưởng vô ích. Ai cũng phải có ý tưởng;
tuy nhiên, ta chỉ nên giữ lấy những ý tưởng chuyên môn
có thể cho ta những hiểu biết để giúp ta, giúp người mà
thôi. Đừng nên giữ lấy những ý tưởng mông lung. Tu là
loại bỏ đi những ý tưởng mông lung; tu là dừng, là đừng
nghĩ đến những ý nghĩ vô ích. Tu là định tâm, đừng để
cho các tạp khí và các thói quen xấu ác nó bám lấy ta. Tu
là biết ta đang làm gì. Tu không có nghĩa là dừng suy nghĩ,
nhưng mà chỉ suy nghĩ những điều thiện, chứ không suy nghĩ
những điều xấu ác. Chỉ suy nghĩ những điều đúng, chứ
không suy nghĩ những điều tà vạy. Tu để thấy rằng chỉ
có sự thấy biết chứ không phải ta thấy biết, để mà
đánh tan đi cái ngã chấp cố hữu của ta. Tu để đạt được
chánh niệm, chánh định. Tu để thấy rằng chân tâm của
ta luôn có mặt và ta quyết đi theo cái chân tâm của ta để
thoát cho ra khỏi cái vòng lẩn quẩn của luân hồi sanh tử.
Hãy chiêm nghiệm lời dạy của Đức Thế Tôn trong Kinh Pháp
Cú:
Trong vòng sống chết vô tận
Ta chạy mãi không nghỉ ngơi
Từ bào thai này qua bào thai khác
Hãy đuổi theo người chủ ngôi nhà
Mà rằng:
Chủ nhà, ta thấy ngươi rồi
Ngươi không thể cất nhà lại được đâu!
Kèo cột gãy hết rồi
Mái sườn sụp đỗ hết
Tâm lìa hết tạo tác
Tất cả diệt trừ xong.
Chủ
nhà ở đây là hành uẩn, hay là những ý tưởng khởi dậy.
Nếu ta biết sớm gạt nó qua một bên thì chúng ta không phải
mãi quanh quẩn trong đường luân hồi sanh tử trong kiếp tương
lai, mà ngay ở kiếp nầy ta cũng được sống với cái hạnh
phúc bao la. Chúng ta sẽ cảm thấy như chính chúng ta đang hòa
nhập vào dòng sông, hoặc là nước biển bao la, hoặc là bầu
trời vô tận. Ôi thật là hạnh phúc biết bao!
Khi
chúng ta thật sự sống với cái tánh thấy biết, chúng ta
sẽ vô cùng linh hoạt, sẽ tham gia vào mọi sinh hoạt gia đình
và xã hội. Tuy nhiên, lúc ấy chúng ta sẽ luôn luôn trong sáng,
nhanh nhẹn, bén nhạy, tỉnh thức, và thấy mọi sự việc
rất rõ rệt. Làm chuyện gì đúng ra chuyện đó. Sống với
chân tâm còn có nghĩa là:
Tại mắt nói là thấy
Tại tai gọi là nghe
Tại mũi gọi là ngửi
Tại miệng gọi là nói
Tại tay gọi là nắm giữ
Tại chân gọi là đi dứng.
Tu
như vậy gọi là thấy rõ chân tâm. Lúc gặp Phật thì nói
Phật; lúc gặp La Hán thì nói La Hán; gặp tổ nói tổ; gặp
ngạ quỷ nói ngạ quỷ. Ta dạo nát hết tất cả các nơi
mà không bao giờ mắc vướng phải một vọng niệm.
Descart,
một triết gia nổi tiếng của Tây phương, đã nói”Tôi suy
tư, tôi hiện hữu,” nhưng tội nghiệp thay cho cái ông Descart,
khi ông ta suy tư mông lung thì tâm ông chỉ dong ruổi theo những
niệm, những vui vui, buồn buồn, thương thương, ghét ghét;
chứ ông nào có biết đến ông đâu. Xin hãy đừng suy nghĩ
mông lung, thì lúc ấy chúng ta mới thật sự sống, lúc ấy
chúng ta mới thật sự thấy được cái hiện hữu của chính
ta. Lúc ấy chúng ta mới thật sự sống cho ta và cho người.
Hãy
thực hành chánh niệm thì tự nhiên tâm ta sẽ lắng dịu,
ta sẽ cảm thấy thương yêu và quí trọng mình và quí trọng
người hơn. Chừng đó ta sẽ cảm thấy cuộc sống nầy tràn
đầy nguồn sống. Ta sẽ sống cho ta và cho người. Thấy biết
chân thật là kho báu cho cuộc sống. Với tánh ấy, thay vì
thương yêu ích kỷ và dục lạc, chúng ta sẽ thương yêu chúng
sanh. Một khi đã thấy biết chân thật thì tự nhiên ta sẽ
ích bỏn xẻn hơn và những ích kỷ, tị hiềm ganh ghét trong
ta tự nhiên tan biến. Cái thấy biết chân thật nó cho ta biết
thật chúng ta đang nghĩ gì, đang làm gì. Thí dụ như lúc đèn
sáng, ta thấy, mà khi đèn tắt rồi cái tánh thấy biết vẫn
còn đấy chứ có mất đi đâu. Tuy nhiên, ta không chịu khó
để ý thấy biết rồi hàm hồ nói là không thấy gì. Quả
tánh thấy biết chân thật là một sự kỳ diệu và nó luôn
luôn có mặt bên ta.
Khi
chưa tu, ta chỉ thấy ta hay, ta đúng. Sau khi tu rồi, ta trở
về với cái tánh thấy biết chân thật của ta, thì ta sẽ
thấy cả hai mặt tốt và xấu, đúng và sai. Khi thấy như
vậy là ta có cơ hội sửa chửa được những sai trái của
ta. Khi ta thật sự sống với cái tánh thấy biết chân thật,
thì cho dù đi đến bất cứ đâu, ở nhà, ở chợ, chúng ta
đều thấy mình là một không gian bao la và tỉnh lặng. Tất
cả những hoạt động diển ra một cách thoải mái an nhiên,
chứ không bị gò bó.
Như
vậy muốn được cái tánh thấy biết chân thật ta phải làm
sao? Xã hội nầy nó làm cho chúng ta phải quay cuồng trong đó.
Nếu ta không hội nhập vào, thì ta sẽ bị nó đào thải,
mà hội nhập vào thì ta phải quay cuồng bấn loạn. Vậy ta
phải làm sao bây giờ? Hãy theo lời Đức Tôn Sư đã chỉ
dạy. Hãy thiền quán để được cái tương đối tỉnh. Để
đừng bị những cái quay cuồng nó tiếp tục lôi cuốn ta
vào khu rừng Vô Minh không có lối ra. Chỉ có thiền quán mới
tâm ta được định tĩnh, từ đó phát sanh trí huệ, và đưa
ta ra khỏi khu rừng vô minh tăm tối mà thôi.
Ngoài
ra, chính cái tánh thấy biết hay chân tâm ấy giúp ta có được
cuộc sống tự do thật sự. Thế nào là cuộc sống tự do
thật sự? Sống tự do thật sự là trong cuộc sống hằng
ngày chúng ta không bị cái gì trói buộc cả. Gông cùm xiềng
xích bên ngoài có lúc ta còn thoát được, chứ tham sân si,
ngã mạn, cống cao thì không biết đến bao giờ ta mới thoát
được chúng đây. Một khi mà ta chưa diệt được tham sân
si, thì ta hãy còn sống trong tù ngục. Thí dụ như ai đó nói
lời khiếm nhã, mà sân si ta nổi lên, ấy là ta đang mất
tự do, ta đang bị người kia sai khiến. Nói cho cùng ra là
ta đang bị người kia nhốt ta vào ngục tù của sân si.
Tóm
lại, xin hãy sống trong chánh niệm và sống an trụ trong hiện
tại thì lòng ta sẽ cảm thấy thảnh thơi, là mỗi bước
chân ta, dù hoa sen chưa nở, nhưng ta thật sự sống trọn vẹn
với cái tâm Phật của ta. Lúc ấy ta làm cái gì cũng bằng
trí huệ, chứ không bằng sự sợ hãi. Ấy mới thấy đạo
Phật là đạo của tâm giải thoát chứ không là tâm dong ruổi.
126.
ĐẠO PHẬT, VŨ TRỤ, VÀ KHOA HỌC
Vũ
trụ từ thời bắt đầu khai triển đến nay tính được theo
khoa học đã có trên mười lăm tỷ năm với biết bao thăng
trầm biến đổi. Từ sau vụ nổ lớn (Big Bang), vũ trụ đã
không ngừng biến chuyển từ trạng thái nầy sang trạng thái
khác. Theo đạo Phật thì vũ trụ không có bắt đầu và vô
cùng tận, nhưng luôn luôn biến chuyển theo luật vô thường
qua bốn giai đoạn: Thành (mới xuất hiện), Trụ (có mặt),
Hoại (hư hao), Không (tan biến). Tất cả những Thành, Trụ,
Hoại, và Không nầy đều do các yếu tố kết cấu với nhau
mà Phật giáo gọi là duyên. Hể duyên thuận thì Thành và
Trụ, ví bằng duyên nghịch thì Hoại và Không, thế thôi.
Và cứ mãi như thế, chứ không ai sinh ra mà cũng không ai diệt.
Nói cách khác, vũ trụ cứ theo luật Vô Thường mà thành hình,
có mặt, tàn tạ, rồi tan rã và cứ thế hết chu kỳ nầy
đến chu kỳ khác, chứ không có thủy có chung gì cả.
Đức
Phật đã dạy rất rõ ràng về tính duyên khởi của vạn
pháp, rất đơn giản và dể hiểu. Tất cả mọi thứ đều
nương nhau mà xuất hiện, hể gặp thuận duyên thì kết hợp,
mà nghịch duyên thì tan rã để tạo ra một chu kỳ khác. Theo
triết lý nhà Phật thì không có gì sanh ra hay do ai sanh ra;
không có gì diệt hay do ai diệt. Triết lý nầy đã được
các nhà vật lý học chứng minh là hoàn toàn đúng theo luật
bảo tồn năng lượng. Và cũng chính các nhà khoa học ngày
nay đã tìm ra được bằng chứng cụ thể để chứng minh
cái thấy của Đức Phật cách nay trên hai ngàn năm trăm năm
là hoàn toàn đúng: Vũ trụ mãi mãi có mặt, nhưng biến chuyển
không ngừng qua các giai đoạn xuất hiện, phát triển, tàn
tạ rồi tan rã, để rồi lại xuất hiện, phát triển, tàn
tạ rồi tan rã và cứ thế mãi mãi không cùng tận.
Tóm
lại, Phật giáo từ xưa, bây giờ và mãi mãi về sau nầy
cũng sẽ vẫn vậy. Hễ nói đến Phật giáo là nói đến khoa
học. Phật giáo không bao giờ chấp nhận bất cứ nguyên lý
nào mù mờ thiếu khoa học. Phật giáo sẽ không bao giờ chấp
nhận có một ai đó có quyền năng tạo thiên lập địa cũng
như hủy thiên phá địa (tận thế). Mà tất cả mọi biến
chuyển đều tuân theo luật vô thường. Ở chúng sanh thì ta
gọi là sinh, trụ, dị, diệt (sinh, lão, bịnh, tử). Ở thiên
nhiên và vũ trụ thì gọi là thành, trụ, hoại, không và cứ
như thế không ngừng nghỉ.
127.
PHẬT GIÁO VÀ CHÚ ĐÀ LA NI
Tất
cả những pháp mà Đức Thế Tôn đã vạch ra đều có một
công năng như nhau - chuyển hóa những mê mờ thành giác ngộ.
Dù chỉ là một lời nói ngắn, một khi Phật đã nói ra thì
Ngài cũng hàm ý muốn chuyển hóa chúng sanh. Đức Thế Tôn
đã dùng đủ thứ phương tiện, nhưng chung qui vẫn là trăm
sông đổ bể. Nghĩa là pháp của Phật chỉ có một mục đích
duy nhất là chỉ dạy cho nhứt thiết chúng sanh đều trọn
thành Phật Quả. Thế cho nên Thiền, Tịnh Độ, Mật Tông,
hay bất cứ một tông phái Phật giáo nào cũng đều có chung
một công năng. Hể ta chuyên hành trì thì Phật Quả sẽ không
xa.
Chú
Đà La Ni nói riêng cũng nhằm mục đích ấy mà thôi. Đà La
Ni có nghĩa là trì giữ tất cả, hay khả năng gìn giữ. Mà
gìn giữ cái gì? Gìn giữ những thiện căn, các hạt giống
tốt và mọi duyên lành cho quá trình tu tập của ta. Đà La
Ni còn có khả năng nhận chìm hết tất cả những bất thiện
căn, những hạt giống xấu, chận đứng các ác niệm, không
cho chúng phát khởi. Khi trì Chơn Ngôn Đà La Ni, ta tạo ra một
chuỗi âm thanh mà nghe tưởng chừng như vô nghĩa, nhưng thực
ra đây chính là một đại dương tư duy mà Đức Phật đã
cố tình nói lại cho chúng sanh. Chú Đà La Ni do chư Phật trong
vô lượng kiếp trong quá khứ tuyên thuyết và được chính
Đức Thích Ca Mâu Ni giới thiệu lại trước hội chúng trong
thời Ngài còn tại thế. Phật thì có hằng hà sa số chư
Phật, do đó Đà La Ni cũng có rất nhiều. Tuy nhiên, có một
điều mà ta biết chắc là Đà La Ni xuất hiện như một phương
tiện thiện xảo thù thắng để cứu vớt chúng sanh ra khỏi
tất cả những ma chướng, nghiệp chướng và báo chướng.
Chẳng hạn như Chú Chuẩn Đề Đà La Ni “Nam mô tát đa nẫm
tam miệu tam bồ đề cu chi nẫm đát điệt tha . Án chiết
lệ, chủ lệ, chuẩn đề ta bà ha.” Vì lòng đại bi thương
xót chúng sanh trong thời vị lai mạt pháp tội nhiều, phước
ít, nên các Đức Phật đã thương xót mà nói chú nầy.
Tóm
lại, cái lợi của việc trì chú trước tiên là tâm ta không
dong ruổi, vì làm sao dong ruổi cho được khi ta chỉ chuyên
trì; cái lợi kế tiếp là như các bậc Bồ Tát đã nói cho
dù trì chú Đà La Ni mà sanh lòng hủy báng cũng sẽ được
hư·ng sự lợi lạc. Thí dụ như người có ác tâm đi vào
rừng Chiên Đàn rồi chặt, bẻ, dậm, đạp làm gãy đi những
nhánh chiên đàn thì chính bản thân người ấy cũng đã được
thơm mùi chiên đàn rồi. Ngoài ra, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
cũng đã bạch với Đức Phật rằng những ai chuyên trì Chú
Đại Bi Tâm Đà La Ni thì xa lìa nạn chướng, ác nghiệp tiêu
tan, căn lành tăng trưởng, thành tựu thiện căn, mọi sợ
hãi đều tan biến, và mau được đầy đủ tất cả những
chỗ mong cầu. Thấy như thế ta mới biết rằng thần lực
của việc trì chú Đà La Ni, bất kỳ là chú gì từ Chuẩn
Đề, Lăng Nghiêm đến Đại Bi đều mang lại cho chúng ta sự
lợi ích không thể nghĩ bàn.
128.
TÍNH TỰ MÃN TỪ ĐÂU CÓ
Tự
mãn là do ta tự đánh giá mình quá cao, rồi từ đó thấy
ai cũng chẳng bằng mình, thấy ai cũng chẳng ra gì. Cái tánh
tự mãn nó làm cho ta có một cái nhìn “Mục Hạ Vô Nhơn.”
Chẳng hạn như thi sĩ Tô Đông Pha là một thi sĩ nổi tiếng
đời nhà Đường, một hôm đi thăm thầy Phật Ấn, nhưng
thầy đi vắng. Tô Đông Pha bèn vào chùa đợi, nhưng mãi lâu
thầy vẫn chưa về, Tô bèn ứng khẩu đề lại hai câu thơ:
Tô Đông Pha vi Phật tử
Bát phong xuy bất động.
Có
nghĩa là Tô là một Phật tử mà tám gió lay không động được.
Sư Phật Ấn về thấy bèn viết một câu “Ông Tô làm thơ
còn thua ta địch,” và sai chú tiểu mang qua cho Tô. Nhận được
thơ, Tô bèn lật đật chạy qua than phiền với sư Phật Ấn
rằng Tô nầy làm thơ nổi tiếng cả nước, thế mà sư dám
nói là thua cái địch của sư, vậy là làm sao? Vậy là sư
quá đáng lắm. Sư Phật Ấn bèn ôn tồn đáp lại: Đó, ông
thấy chưa? Ông nói ông đại tài và tự xưng tám ngọn gió
thổi không lay, thế mà chỉ vì một tiếng địch nhỏ của
tôi thôi cũng đủ thổi ông bay sang đây. Thế mới biết “Cao
nhân tắc hữu cao nhân trị, hoặc vỏ quít dầy móng tay nhọn.”
Tài của ta chỉ là một hạt cát trong sa mạc mà thôi. Là
Phật tử chân chánh xin hãy luôn luôn tự nhún nhường. Nhún
nhường chẳng những ta được người yêu thích, mà còn tập
cho ta bỏ đi cái tánh ngã mạn cống cao nữa.
129.
PHẬT PHÁP THẬM THÂM VI DIỆU
Sở
dĩ nói Phật pháp thậm thâm vi diệu, không phải ở chỗ chỉ
có tám vạn bốn ngàn pháp môn thôi, mà là triệu triệu pháp
môn. Cứ hễ ta có thể nhận biết được bất cứ điều
gì, ấy là một pháp môn. Từ trái núi, con sông, đóa hoa cho
đến đứa trẻ nít, chàng thiếu niên, hoặc một cụ già.
Tất cả đều là pháp, tất cả đều hàm chứa một bài học
trong đạo Phật. Phật sanh ra nơi đời để khai thị cho chúng
sanh được ngộ nhập cái thấy của Phật, cái tri kiến của
Phật.
Tại
sao Đức Phật lại phải chỉ bày cái tri kiến Phật?
Sở
dĩ Phật phải chỉ cho chúng sanh cái nhìn của Phật là vì
tất cả chúng sanh đều có cái nhìn nhị biên, sai lệch. Tất
cả những đau khổ, phiền muộn ở nơi đời nầy đều do
cái thấy sai lệch ấy mà ra. Đức Thế Tôn đã thấy cái
nhìn của phàm phu là nhị biên, là không đúng, nên Ngài đã
quyết tâm đạt thành chánh quả và tìm ra được một cái
nhìn xác thực để chỉ dạy cho chúng sanh. Cái tri kiến của
phàm phu thấy cuộc đời nầy theo biên kiến, theo dục vọng,
chỉ thấy những gì mình muốn thấy. Những gì cho dù đúng
mà mình không muốn thấy thì cũng cố tình không chịu thấy.
Trong khi ấy, tri kiến Phật là nhìn các pháp (các hiện tượng)
bằng sự thật của nó, nghĩa là nhìn sự vật bằng cái nhìn
“Như Thị.”
Phàm
phu nhìn đóa hoa thì khen hoa thơm, hoa đẹp, còn những bậc
giác ngộ thì nhìn đóa hoa bằng những tương duyên đã tạo
ra đóa hoa đó. Chẳng hạn như mặt trời, nước, gió, người
cắt hoa, người mang hoa ra chợ bán, và người mang hoa đến
chùa cúng Phật.
Phàm
phu làm việc chi đều không để ý đến nhơn duyên, nghiệp
lực (tức là tạo điều kiện) mà khi nghe nói đến quả báo
là sợ. Để không bị quả báo, thì ngay từ bây giờ, làm
gì, nghĩ gì, ta cũng nên nhìn sự vật trên hoàn cảnh hoàn
toàn chứ không chặt chẻ sự việc ra từng nhóm, từng cụm.
Thí dụ như ăn một trái táo, ta nhớ tới người trồng táo,
mưa nắng, người hái táo và người bán táo...
Tóm
lại, ta phải nhìn và đặt sự việc vào đúng hoàn cảnh
của nó để tránh nghi ngờ và hiểu lầm nhau, chỉ có cái
nhìn như thị mới cho ta cái khả năng nầy mà thôi. Chúng
sanh thường chỉ nghe những gì mình thích, còn những gì mình
không thích thì không nghe, mà Phật pháp thì thậm thâm vi diệu.
Chính vì vậy mà Đức Phật đã bày ra phương tiện nhằm
giúp cho chúng sanh chuyển đổi từ từ để đi vào tri kiến
Phật. Thấy cái phải thấy và không thấy cái không phải
thấy. Nghe cái đúng và không nghe cái không đúng. Đức Phật
đã nói những phương tiện có khi tạo cho chúng sanh một cái
duyên, một niềm tin, hoặc một sự an ủi để trong tương
lai họ có cơ hội thâm nhập vào cái thậm thâm vi diệu của
Phật Pháp.
130.
PHẬT TÁNH BẤT SANH BẤT DIỆT
Phật
tánh là tánh thấy biết chơn thật không bao giờ thay đổi.
Chúng ta không thể nào quan sát được cái Phật tánh ấy bằng
bất cứ phương tiện khoa học nào của phàm phu vì nó bao
la rộng lớn như vũ trụ. Phật tánh là tánh trong sáng, tinh
sạch, sẳn có và mãi mãi có ở mỗi người. Phật tánh vô
thủy vô chung và chính từ cái tánh chơn thật ban đầu đó
khởi lên ý muốn biểu lộ thành đời sống cụ thể trong
thân thể con người. Trong con người, Phật tánh được biết
rõ qua ba yếu tố: Thể, tướng và dụng. Thể là tánh trong
sáng, rộng lớn, và trong sạch của Phật tánh. Tướng là
điều cụ thể mà chúng ta có thể quan sát và biết rõ được
Phật tánh nơi mỗi người là lòng thương yêu trong lành, từ
bi, và sự hiểu biết chơn thật, sự thông minh tươi mát và
trí huệ. Ấy là nguồn hạnh phúc sâu thẳm kỳ diệu và an
lạc. Dụng là sự biểu lộ Phật tánh qua những việc làm
tốt lành trong đời sống hằng ngày.
Chúng
sanh mỗi loài đều có Phật tánh; tuy nhiên, mức độ phát
triển tâm linh ở từng loại chúng sanh nó có khác. Phật tánh
ở cây cỏ và loài vật quá thấp nên chúng không biết mình
có Phật tánh, chúng không sống được với tình thương yêu
hạnh phúc, sự hiểu biết, cũng như chúng không thể nào biểu
lộ Phật tánh thành những hành vi lành và tốt trong đời
sống. Do đó thế giới của loài vật là một thế giới tàn
bạo, mạnh được yếu thua. Chúng sống theo luật rừng xanh.
Loài nào mạnh và khôn ngoan hơn sẽ sinh tồn, còn loài yếu
kém sẽ bị tiêu diệt. Nói chi loài thú, ngay cả con người
chúng ta nhiều khi cũng tàn bạo không thua.
Đức
Phật là bậc toàn giác, Ngài thấu hiểu được cái Phật
tánh ấy ở mỗi loại chúng sanh, nên Ngài đã thương xót
mà chỉ dạy cho mọi loài, nhứt là loài người, để biết
mà trở về với cái Phật tánh ấy, nhằm đưa loài người
đến sự an vui toàn thiện và hạnh phúc bao la, nghĩa là giải
thoát.
131.
ĐẠO PHẬT VÀ SỰ GIÁC NGỘ
Đạo
Phật chủ trương tu để cho được giác ngộ, mà ai giác ngộ
cho ai? Có phải hễ ta đến chùa tụng kinh, lạy Phật, cúng
dường chư tăng là sau khi chết Phật sẽ rước ta về cõi
cực lạc hay không? Hoang đường. Vì nếu chư Phật chịu mà
chịu làm như vậy thì chư Phật nào có khác chi những Phạm
Thiên đâu. Không một ai ngoài ta ra có thể tu và giác ngộ
dùm ta cả. Đạo Phật chủ trương sự giác ngộ là của riêng
từng chúng sanh. Đức Phật đã xây nên một xa lộ mang tên
là “Con Đường Đi Đến Giác Ngộ.” Con đường nầy nguy
nga tráng lệ gấp vạn triệu lần những kỳ công mà phàm
phu có thể làm ra được. Tuy nhiên, con đường nầy không
phải ai cũng đi được hết đâu. Chỉ có những ai siêng năng
trì chí thì mới có thể đi trên con đường nầy mà thôi,
còn những ai giải đãi va thiếu sự trì chí thì không bao
giờ nhìn thấy được cái đại lộ nầy đâu.
Đạo
Phật chủ trương bất cứ chúng sanh nào đều cũng có thể
tu theo con đường mà Đức Phật đã chỉ dạy để thành Phật.
Tuy nhiên, loài vật và cây cỏ quá thấp kém, không đủ khả
năng để hiểu biết về cái tánh chơn thật, tức là Phật
tánh nơi mình, nên chư Phật và chư Bồ Tát xuất hiện ra
nơi đời để chỉ dạy cho loài người biết rằng ngoài cái
thế giới mê mờ, vô minh, sống theo bản năng, sống theo những
tham dục, giận dữ và tạo ra ác nghiệp; còn có một thế
giới giác ngộ của tình thương yêu bao la, sự hiểu biết
chơn thật và nguồn hạnh phúc kỳ diệu. Và điều kỳ diệu
hơn nữa là cái thế giới giác ngộ ấy nó không tách rời
khỏi cái thế giới mà ta đang sống. Nghĩa là nếu chúng ta
thức tỉnh mà quay về với cái Phật tánh của ta thì ngay
lập tức tình thương yêu, sự hiểu biết chơn thật, nguồn
hạnh phúc tràn đầy, và cuộc sống an lạc tự tại sẽ đến
với chúng ta ngay trong kiếp nầy. Một khi ta đã có tình thương
yêu, sự hiểu biết chơn thật và hạnh phúc bao la thì ta đâu
có muốn làm điều đau khổ cho ai. Như vậy có phải là chẳng
những lợi lạc cho mình mà còn cho người nữa.
Tóm
lại, mỗi người trong chúng ta nên ý thức rằng mình đang
thừa hưởng một kho tàng vô giá mà Đức Thế Tôn đã để
lại. Xin hãy đừng chạy rong đi tìm mãi đâu đâu. Xin hãy
quay về mà học cho được Tứ Thánh Đế cao quý. Đây là
khổ, Đây là nguyên nhân của khổ, Đây là cách diệt
khổ, Và đây là cách sống an vui kỳ diệu.
Xin
hãy quay về với cội nguồn Phật giáo để thấy rằng ở
trên đời nầy không có cái gì là ta mà cũng không có cái
gì là của ta cả. Tất cả chỉ do duyên khởi mà nên và rồi
cũng do duyên tan mà hết. Nghĩa là thuận duyên thì còn, mà
nghịch duyên thì hết, thế thôi. Thứ nầy là nhân thứ kia,
thứ kia là quả thứ nầy và cứ như thế không cùng tận.
Tất cả mọi thứ đều do trùng trùng duyên khởi mà ra. Hãy
quán cho được mười hai nhân duyên để chặt đứt cho được
cái màn vô minh tăm tối ngay từ bây giờ. Hãy tu và nhứt
quyết tu cho được an lạc ở kiếp nầy. Và xin hãy luôn nhớ
lời khuyến khích của Đấng Từ Phụ: “Ta là Phật đã thành,
chúng sanh là Phật sẽ thành.”
132.
THẦN THÔNG TRONG PHẬT GIÁO
Như
đã nói đạo Phật là đạo của trí tuệ, của khoa học,
như vậy hể cái gì có mù quáng, có mê tín, có giả tưởng
là không phải của Phật giáo. Tuy nhiên, trên đời nầy chuyện
gì lại không xãy ra được. Có những người tự xưng là
Phật tử mà quan niệm rằng tu cho đạt được thần thông.
Hoặc thiền để cho đạt được xuất hồn; hoặc tôn xưng
danh hiệu một Hám Danh Sư nào đó để được giác ngộ ngay
lập tức, và nhiều thứ khác nữa. Thật tình mà nói, những
người ấy họ đâu có tu theo Phật, mà không chừng họ đang
tu theo ma vương hay ác quỷ gì đó. Tại sao vậy? Tại vì đã
nói rằng tu mà còn mong cho được những thứ ấy thì quả
thật là còn quá tham. Hoặc giả họ ngồi thiền mà thấy
hiện ra cảnh giới nầy hay cảnh giới nọ, hoặc giả xuất
hồn để đi về một cõi nào ấy. Những người nầy nên
sớm đi tìm những bác sĩ trị liệu về tâm lý là vừa, đừng
để quá muộn. Tại sao? Tại họ đang lần quần trong ma nghiệp
và họ đang mất đi cái chánh tri chánh kiến của Phật giáo.
Những người như vậy không bao giờ nghe giảng những pháp
chân chánh đâu, họ chỉ để lọt vào tai họ những điều
tà vạy. Họ chỉ muốn đi tìm những cái gì có lợi cho họ
càng nhanh càng tốt.
Tuy
nhiên, nói như vậy không có nghĩa là mình bác bỏ hoàn toàn
chữ Thần Thông trong đạo Phật. Thần thông trong đạo Phật
không có gì cao xa hoặc huyền bí cả. Đức Phật đã đạt
được tất cả những thứ ấy chứ. Ngài nói rằng một khi
mình được đại định là mình sẽ thấy xa, sẽ nghe xa, sẽ
hiểu xa... Bình thường, trong xã hội loạn động, chúng ta
đâu có nghe được những tiếng động nho nhỏ, thế mà khi
ngồi thiền, ta nghe được hết. Ấy là chỗ mà Đức Thế
Tôn muốn nhấn mạnh. Hãy ráng mà tu trì cho được định,
và được thanh tịnh đi, chứ đừng có suy nghĩ viễn vông.
Tu mà chứng đắc được ngũ nhãn lục thông thì phải từ
bậc A-La-Hán trở lên Bích Chi, Bồ Tát Thánh, hay Phật Tổ
(Như Lai), nhưng các Ngài không bao giờ đem ra khoe khoan hay thi
thố. Một khi đã chứng đắc được mười pháp Vô Sanh mới
được gọi là A-La-Hán:
1.
Không mê lầm bổn ngã;
2.
Không nghi ngờ, phiền não;
3.
Không ham nghi lễ cúng kiến;
4.
Không tham dục;
5.
Không tham sắc;
6.
Không tham vô sắc;
7.
Không sân giận;
8.
Không tự cao;
9.
Không xao động;
10.
Không vô minh và si mê.
Nhờ
những phép vô sanh trên mà A-La-Hán không còn luân hồi sanh
tử theo nghiệp lực nữa. Có chăng vì nguyện lực mà các
Ngài đã trở lại nơi đời để hóa độ chúng sanh. Đó,
thần thông của quý Ngài đấy, nó cao đẹp như thế ấy.
Tóm
lại, nếu mà chỉ hiện ra nơi đời để mà truyền dạy những
cái thần thông tầm thường thì chắc chắn Đức Thế Tôn
đã không thị hiện. Thần thông của đạo Phật không là
những cái tầm thường xuất hồn và dị đoan, mà là những
cái rất bình thường chẳng hạn như đi, đứng, nằm, ngồi...
Nhưng trong những cái bình thường ấy, ta thấy cả một kho
tàng Kinh, Luật, và Luận của Đức Thế Tôn đã để lại
cho muôn đời.
133.
CHÁNH PHÁP GIẢI THOÁT
Chỉ
nói đến đạo Phật thôi là ta đã nói đến cái gì hiền
hòa và chân thật, chứ chưa nói đến một kho tàng kinh điển
đã giúp cho nhiều thầy tổ đắc đạo. Là Phật tử, nằm
trong lòng đạo Phật mà chưa biết chánh pháp giải thoát của
Đức Thế Tôn đã truyền lại cho muôn đời thì quả là thiếu
sót quá lớn. Chánh pháp là thực hành theo chánh đạo của
chư Phật ba đời. Còn giải thoát là, về thân thì ăn, mặc,
ở, bịnh... không còn bị vướng bận về vật chất của
trần gian nữa; về tâm thì xa lìa hẳn ngũ dục, không đam
mê ái nhiễm thì mới gọi là chơn giải thoát. Một khi đã
giải thoát là vĩnh viễn thoát ra khỏi Tam Giới (Dục, Sắc,
và Vô Sắc). Chánh pháp giải thoát của Đức Như Lai không
đi ra ngoài ba tạng Kinh, Luật và Luận, mà cho dù suốt một
đời người chuyên đọc cũng chưa chắc đã hết.
Tuy
giáo lý của Như Lai rộng sâu như vậy, nhưng lời dạy nào
của Ngài cũng hợp với chơn lý. Ngài tùy căn cơ của chúng
sanh mà nói pháp, nên pháp nào của Ngài cũng đầy đủ khế
cơ và khế lý. Ngày nay xã hội văn minh tiến bộ có thể
đưa con người đến những tinh cầu xa thẳm, nhưng cái văn
minh tiến bộ nầy không bao giờ làm cho con người ta được
yên ổn. Con người ta vẫn sanh, lão, bệnh, tử và ngay trong
cuộc sống, con người ta đã phải chịu quá nhiều đau khổ.
Giáo lý của Đức Phật, ngoài lãnh vực khế hợp với chơn
lý vũ trụ và giúp cho ta giải thoát ra, nó còn là một loại
sấm truyền cho các nhà khoa học phát minh sâu rộng về thực
thể các hiện tượng. Đạo Phật quả là đã và đang hòa
hợp với với nền văn minh tiến bộ của nhân loại. Giáo
lý đạo Phật chẳng những thích hợp cho việc tu tập giải
thoát mà nó còn thích hợp với nền hòa bình, tiến bộ khoa
học và văn minh nhân loại. Một trong những chánh pháp giải
thoát trong đạo Phật là Thiền. Thiền đã giúp cho Đức Thế
Tôn giác ngộ. Tuy nhiên, tất cả các pháp môn tu của đạo
Phật như Thiền, Tịnh Độ, Mật Tông, Duy Thức, Đầu Đà...
đều lấy giới làm căn bản, có giới thì có định và có
huệ.
Ta
có thể dùng bất cứ pháp môn nào để tu tập, tùy theo căn
cơ của ta. Tuy nhiên, đừng quá cứng nhắc ở một pháp môn
nào. Pháp môn nào cũng được, miễn là hợp với căn cơ của
ta là được. Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã dạy rằng
dù cho người tâm tán loạn mà biết vào chùa, niệm câu Nam
mô Phật, đều có thể thành Phật đạo.
Tóm
lại, hãy tùy theo căn cơ hoàn cảnh mà chọn pháp môn tu. Pháp
môn nào cũng là pháp của Phật, đừng để tâm vọng động
mà khen pháp môn nầy, chê pháp môn kia. Đừng tưởng Thiền
là duy nhứt, cũng đừng tưởng Tịnh Độ là vua của các
pháp môn. Đừng bao giờ nghe ai đó mà bỏ đi pháp ta đang
tu. Không có pháp môn nào là kiến bò lên núi, cũng không có
pháp môn nào như thuyền buồm xuôi gió. Cái quan trọng là
cái nhiếp tâm tu tập của ta mà thôi.
134.
LÚC NÀO THÌ CHÚNG TA MỚI BỊ ĐỌA ĐỊA NGỤC?
Không
phải đợi đến sau khi ta mất thân tứ đại nầy thì chúng
ta mới bị đọa địa ngục, mà ngay trong lúc nầy và bất
cứ lúc nào ta cũng có thể bị đọa địa ngục được. Những
lúc ta sân hận, tâm ta như thế nào? Thấy ai cũng muốn gây,
thấy ai cũng muốn kiếm chuyện, như vậy ta không bị đọa
địa ngục chứ là gì?
Cái
trở ngại của ta là vô tình hay cố ý, ta thích bị đọa
địa ngục hơn. Thói thường lúc nào ta cũng hay có khuynh hướng
tìm những cái xấu của người, chứ không thường hay thấy
cái hay, cái đẹp của người. Cái gì của người cũng dở,
cái gì của ta cũng hay. Ta là trung tâm của vũ trụ. Dưới
mắt ta thiên hạ chỉ là đồ bỏ. Chính cái trục trặc nầy
của ta mà ta tự đọa ta vào địa ngục. Hãy ráng mà thấy
cho được cái hay, cái đẹp của người thì cả người và
ta sẽ thấy vui hơn, hạnh phúc hơn. Làm được như vậy là
ta đang tránh xa địa ngục vậy. Nếu ta cứ chú tâm vào vũng
bùn lầy thì cho đến bao giờ ta mới thấy những đóa sen.
Khi cầu Phật trụ thế ở mình, xin hãy cầu Phật trụ thế
ở người. Làm như vậy là ta đã tạo duyên lành cho rất
nhiều vị Phật ở tương lai. Nếu chúng ta cứ mãi mê đi
tìm toàn là những điều xấu nơi người thì một lúc nào
đó ta sẽ thấy rằng cả thế giới nầy toàn là những người
xấu không thôi. Tất cả những gì quanh ta chỉ là những xấu
xa, chán chường. Nếu ai cũng đi bươi móc những cái xấu
của người thì cả cái thế giới nầy là cái địa ngục
không hơn.
Thỉnh
Phật trụ thế ở mình và ở người liên quan với nhau. Tại
sao vậy? Vì sự thông cảm không thể nào một chiều, mà phải
từ hai phía. Cái thông cảm nầy phải đến từ người cho
lẫn người nhận. Sự thông cảm giữa con người nó quan trọng
cho xã hội giống như là ánh sáng mặt trời không thể nào
thiếu được cho sự sống vậy. Nên nhớ rằng một người,
cho dù hung ác, tàn bạo đến mức nào, thì trong cái chiều
sâu tâm hồn họ cũng có một chút gì từ bi. Vấn đề đặt
ra ở đây là chúng ta chịu đào sâu đến mức nào, thế thôi.
Người tu theo đạo Phật, muốn tránh cảnh bị đọa địa
ngục, chẳng những nhìn thấy cái phô bày ra, mà còn phải
tìm hiểu cho được cái không phô bày ra. Phải hiểu cho được
những cái nói và những cái không nói. Đó là cái thấy của
trí tuệ, đó là cái thấy mà mọi Phật tử đều nên thấy.
Trong
tương quan hằng ngày chúng ta nên nói ra sự thật. Nói ra sự
thật để mà cùng nhau cải đổi, để cùng tiến bộ, chứ
không nên để trong lòng mà oán hận nhau và gây đau khổ cho
nhau. Là Phật tử, hãy luôn tâm niệm rằng địa ngục và
giác ngộ không cách nhau xa lắm đâu. Hễ một lần mà vọng
niệm khởi lên với những vui, buồn, thương, ghét, tham sân
si, ấy là địa ngục. Hễ niệm đến, rồi niệm đi mà ta
không mắc kẹt, ấy là là định tâm, ấy là giác ngộ.
Tu
cho giải thoát khỏi cảnh địa ngục nên nhớ là ta phải
ráng làm sao như bóng nhạn bay qua hồ. Bóng nhạn dưới đáy
hồ tự nó đến rồi đi. Nhạn không cố tình để bóng dưới
hồ, mà hồ cũng không cố tình giữ bóng nhạn. Trong cuộc
sống hằng ngày, hãy ráng mà nhận diện cho ra được những
gì trong tâm ta, biết ta đang nghĩ gì và đang làm gì. Sống
được như vậy là ta đã sống trong tỉnh thức và an lạc.
Cái niệm tự nó nó không sai, mà cái vội vã phán quyết của
ta mới là phiền toái. Giống như cái niệm chim nhạn bay qua
hồ tâm vậy. Ta biết ngay đấy, nhưng hồ không giữ bóng,
thì nhạn cũng đâu cần lưu bóng lại hồ. Vọng niệm, nó
tự đến rồi tự đi, nếu ta không giữ nó thì làm sao nó
ngự trị được trong ta.
Tóm
lại muốn tránh cảnh đọa địa ngục thì ta phải sống an
trú trong hiện tại.
Đừng
tìm về quá khứ
Đừng
nghĩ tới tương lai
Quá
khứ đã không còn
Tương
lai thì chưa đến
Hãy
an trụ hôm nay.
Hãy
sống an trụ trong hiện tại. Chúng ta không thể nào kiểm
soát được tất cả các niệm đâu. Hãy để cho nó khởi
rồi tự nó tan biến thế thôi. Đừng chạy theo nó, đừng
cố gắng đè nén nó; chúng ta không làm nổi chuyện đó đâu.
Tâm chúng ta giống như một cái túi chứa niệm vậy. Nếu
chúng ta cứ bỏ hết vào túi thì ô hô cái túi ấy làm sao
mà chịu nổi. Thôi thì cứ để cho mọi niệm tự đến rồi
tự đi để cho cuộc sống của ta được an nhiên tự tại.
Tóm
lại, phút phút ta hãy ráng mà giữ cho được chánh niệm;
phút phút hãy ráng mà giữ cho được những niệm lành trong
ta; đừng để bị sa vào cõi địa ngục vô minh, si mê và
hắc ám để rồi phải chịu những hình phạt khổ đau. Hễ
đau ít là địa ngục nhỏ, mà đau khổ nhiều là địa ngục
lớn. Còn nếu ta cứ mãi tạo ác thì chắc chắn đời nầy
đã chịu đau khổ không ngừng rồi, mà khi chết đi lại phải
sa vào Vô Gián địa ngục để ngày đêm nhận chịu đau khổ
triền miên.
135.
ĐẠO PHẬT VÀ VIỆC THỜ CÚNG TỔ TIÊN
Đạo
Phật không chủ trương mê tín dị đoan; tuy nhiên, đạo Phật
khuyến khích Phật tử phải nhớ tới cội nguồn của mình
bằng cách tưởng nhớ và thờ phụng ông bà tổ tiên. Ngoài
ra, sự thờ cúng ông bà tổ tiên cũng còn là tấm gương cho
con cháu bắt chước noi theo. Ông bà đã qua đời rồi mà cha
mẹ còn có lòng hiếu thảo, còn thương tưởng nghĩ đến,
hà huống cha mẹ còn hiện tiền lại nỡ quên sao? Tổ tiên
ông bà là những người trong quá khứ đã góp phần tích cực
trong cuộc sống tươi đẹp của ta ngày nay. Không phải chỉ
ông bà trực tiếp của chúng ta mà thôi, mà còn là ông bà
tổ tiên của nòi giống chúng ta nữa. Kính thờ tổ tiên là
một việc đúng, một việc không thể nghĩ bàn. Không một
ai hoặc một tôn giáo nào có quyền cướp đi cái quyền tối
thượng thiêng liêng ấy của chúng ta.
Đạo
Phật khuyên ta nên thờ cúng trong uy nghiêm mà đơn giản, chứ
không rườm rà và có tính cách mê tín dị đoan. Trong lúc
tưởng niệm đến tổ tiên ông bà, hãy nguyện rằng rồi
con cũng sẽ nối theo chân của tiền bối để kế thừa sự
nghiệp cao cả mà các Ngài đã để lại: Sống cho mình và
cho người, sống làm sao như một đóa sen thơm ngát, vươn
lên từ trong bùn, hút chất bùn để vươn lên mà chẳng hôi
tanh mùi bùn.
136.
ĐẠO PHẬT VÀ SỰ TRUYỀN GIÁO
Đạo
Phật là đạo của tự do tuyệt đối, ai thấy rằng những
pháp môn tu tập của đạo Phật là con đường giải thoát
cho chính họ, thì họ tìm đến với đạo Phật. Tôi chỉ
thấy những nhà sư ở Việt Nam đi từng bước chậm rải
trên khắp những nẽo đường để khất thực. Chứ tôi chưa
bao giờ thấy một nhà sư Phật giáo đi lang thang trên các
vĩa hè đến từng nhà nói rằng: "Chào bạn, tôi có thể nói
chuyện với bạn một phút được không? Bạn đã có bao giờ
nghe nói về Đức Phật chưa? Tại sao bạn không là một Phật
tử,vân vân và vân vân."
Ngay
từ những ngày phôi thai của đạo Phật, đạo Phật đã là
đạo của sự tự do tuyệt đối, không và chưa từng bao giờ
có một ai bị bắt buộc phải theo. Vì như vậy là đi ngược
lại sự tự do tín ngưỡng của con người. Tự do tín ngưỡng
là tự do tuyệt đối, không một áp lực hay ràng buộc từ
bất cứ đâu. Tín ngưỡng không nên và sẽ không bao giờ
nên được rao giảng, hay quảng cáo trên đường phố.
Chúng
ta phải thừa nhận rằng mọi người đều có quyền tự do
và không một ai có thể bị ép buộc hay gây ảnh hưởng để
bắt người phải đi theo con đường của mình, dù chỉ là
gây ảnh hưởng trong thụ động. Hãy để cho mọi người
đến với đạo một cách tự nhiên và không ràng buộc. Đạo
Phật với những giáo lý vi diệu của nó cũng đã nói lên
được cả một trời thánh thiện. Tôi chưa bao giờ nghe thấy
có một cuộc Phật chiến nào cả. Mà thật vậy, những tín
đồ Phật giáo dư biết rằng hễ họ theo đạo Phật thì
họ phải chấp nhận không làm những điều ác, mà chiến
tranh là một điều ác, vậy thì có mấy ai theo đạo Phật
sẽ đi làm chiến tranh bao giờ. Bấy nhiêu đó đủ cho thấy
cái vi diệu của đạo Phật, một tôn giáo không rao truyền,
không ép buộc, mà vẫn trường tồn từ hơn hai ngàn năm trăm
năm nay.
137.
KIẾN TÁNH
Chữ
kiến tánh có nghĩa là ngộ đạo hay là giác ngộ. Tuy nhiên
từ xưa đến nay, cho dù không nói nhưng chúng ta cũng hiểu
là chỉ có Đức Thế Tôn là bậc toàn giác. Cho nên từ sau
khi Phật nhập diệt, danh từ kiến tánh, hoặc người kiến
tánh chỉ dùng để chỉ các Tổ.
Kiến
ở đây không phải là cái thấy tầm thường nữa, vì thấy
được tánh giác có nghĩa là thấy cái gì không có hình tướng,
thì đâu còn phải là cái thấy tầm thường nữa. Kiến tánh
ở đây có nghĩa là giác ngộ và ra khỏi khu rừng Vô Minh.
Người có kiến tánh sẽ không còn chấp nữa. Không chấp
tâm, mà cũng không chấp thân. Người có kiến tánh sẽ thấy
rõ cái tánh không của đạo Phật thí dụ như Lục Tổ Huệ
Năng qua bài kệ của Ngài:
Bồ
Đề bổn vô thọ
Minh
cảnh diệt phi đài
Bản
lai vô nhứt vật
Hà
xứ nhạ trần ai?
Bởi
vì thấu được thể Không, nên Lục Tổ đã ứng thành hai
câu "Xưa nay không một vật, thì chỗ nào mà dính trần ai?"
Người học đạo mà không kiến tánh thì chỉ là kẻ đứng
ngoài cổng. Người tu theo Phật mà không được phần giác
thì chỉ là kẻ đứng trong đêm tối. Những kẻ ở ngoài
cổng và đứng trong đêm tối thì làm sao mà thưởng thức
được mùi vị của đạo, nếu có cố gắng tu lắm thì cũng
chỉ là vô vô minh minh mà thôi. Do vậy, hãy tìm hiểu cho rõ
ràng chứ đừng để tự mình phải đi trong đêm tối.
138.
PHẬT HỌC VÀ HỌC PHẬT CÓ KHÁC NHAU KHÔNG?
Phật
học và học Phật là hai sự kiện hoàn toàn khác hẳn nhau
rất xa. Trước nhất, Phật học là môn học về đạo Phật.
Phật học tức là thông hiểu kinh điển và nghiên cứu giáo
lý; còn học Phật là y theo giáo pháp của Phật mà học và
thực hành để vượt được qua khỏi bể khổ sanh tử, về
nơi an vui, giải thoát.
Tóm
lại Phật học giống như bác sĩ bảo bệnh nhân đọc những
tên thuốc, còn học Phật là bác sĩ cho bệnh nhân cố gắng
uống thuốc cho mau khỏi và trừ tận gốc bệnh.
139.
TỨ NHIẾP PHÁP
Đạo
Phật tự bản chất là đạo cứu khổ. Người Phật tử một
khi đã nguyện bước theo dấu chân Phật là nguyện thực hiện
những hành động vị tha và phụng sự cuộc đời. Tuy nhiên,
nắm vững được những cách thực hiện tâm nguyện, nó còn
quan trọng hơn là tâm nguyện nữa.
Tứ
nhiếp pháp là bốn phương pháp để chinh phục chính ta và
tha nhân. Tứ nhiếp pháp giúp ta mở cửa vào đời để gặp
gôõ tha nhân, góp phần làm vơi đi sầu khổ,và dựng lại
tình thương. Tứ nhiếp pháp gồm Bố thí, ái ngữ, lợi hành
và đồng sự.
Bố
thí hay là sự dâng hiến. Dâng và hiến cái gì mình có thể
có được cho một hay nhiều người trong tinh thần tình nguyện
và vô điều kiện. Tình nguyện bởi ta hành động trên cơ
sở của tâm nguyện đại bi, không vụ lợi, không hậu ý
và không bị khống chế, hay sai khiến bởi cá nhân hay thế
lực bên ngoài. Thấy việc hữu ích, chánh đáng là làm, làm
hết lòng mà chẳng đắn đo, làm với tất cả sự chân thành,
bằng trọn vẹn khả năng và tâm hồn. Còn vô điều kiện
hành động mà chẳng mong cầu được bù đắp, có nghĩa là
thi ân bất cầu báo. Điều nầy trái ngược hoàn toàn với
có qua có lại. Sự bố thí có ba cách: Tài thí, pháp thí và
vô úy thí.
Tài
thí là làm giảm thiểu khổ não về vật chất. Nghèo nàn
và sợ hãi là những nguyên do chính đẩy đưa con người đến
đau khổ. Trợ giúp vật chất chỉ là sự giải quyết cấp
thời của bố thí tài. Bố thí pháp sẽ giúp cho tha nhân có
cơ hội chuyển hóa đời sống của họ. Một đôi ý kiến
của ta có thể giúp đưa người từ chỗ bơ vơ lạc lỏng
về một đời sống tốt đẹp. Cũng có khi sự có mặt của
ta, một lời an ủi của ta mà tha nhân có thêm phấn chấn
và yên ổn trong lúc họ đang sợ hãi, hoặc tinh thần đang
rối loạn, đó là ta đã làm vô úy thí vậy.
Tóm
lại tài thí thì làm giảm thiểu khổ não về vật chất;
pháp thí và vô úy thí thì làm vơi đi những khổ não về
tinh thần. Hãy tùy cảnh, tùy cơ mà xăn tay áo cao lên, làm
một chút gì cho những kẻ đang chìm đắm được thấy nguôi
ngoai và vơi bớt đau khổ. Hãy bắt đầu từ những việc
nhỏ, và phải thành công từ những việc nhỏ ấy cái đã.
Hãy nhớ rằng hạnh phúc cho ta, cho người, có khi chỉ là
một nụ cười. Xin hãy bố thí với nghĩa thật đơn giản
của nó: làm cho lòng mình vui và cũng làm cho lòng người vui.
Hay là hoa nở trong lòng người và lòng ta. Hãy làm những đóa
hoa xương rồng thật đơn sơ mà đầy ý nghĩa, nở trên cành
gai giữa sa mạc khô cằn.
Thứ
nhì là "Ái ngữ," tức là ngôn ngữ dịu dàng, thoải mái,
tha thiết, chân thành, giúp gieo vào đôi tai người nghe những
cảm thông thật sự. Có như thế cả người nói và người
nghe sẽ không cảm thấy nhạt nhẻo, sẽ không là sự chịu
đựng, hoặc một cực hình. Cổ nhân có câu: "Lời nói không
mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau." Ái ngữ
còn cần đến những sự phụ họa từ cử chỉ, ánh mắt
và nụ cười. Ái ngữ chính là sự kết hợp vi diệu của
thân và tâm, nó có khả năng làm thực sự thức tỉnh và
an lạc.
Tóm
lại, ái ngữ là sự phối hợp vi diệu của cách nói khôn
khéo và cái tâm chơn thành. Cái nói khôn khéo thì dễ, ai cũng
có thể làm được. Tuy nhiên, luyện cho được cái tâm chân
thành cần phải trải qua một quá trình tu luyện và theo dõi
chính mình. Ái ngữ còn giúp ta ngăn cản sự dấy động của
khẩu nghiệp và là yếu tố then chốt trong những cố gắng
xóa bỏ hận thù, dựng lại tình thương nơi con người.
Thứ
ba là lợi hành, tức là làm những điều lợi ích. Việc đời
vốn phức tạp, gian nan và đầy thử thách. Chia được một
chút gì với đời là cả một thử thách gian nan chứ không
vừa. Hãy nhìn tấm gương Marie Curie đó, bà đã để lại
cho đời một chút kiến thức và phát minh khoa học, nhưng
bà đã phải đổi lấy bằng cái ung thư và bằng mạng sống
của bà. Tuy nhiên, với đạo Phật, Đức Phật đã dạy rõ
ràng hai chữ lợi hành. Chính cái đơn giản ấy đã dựng
nên những ngọn Thái Sơn của Đại Nguyện: "Hãy cùng làm
những điều lợi ích," chỉ bấy nhiêu thôi mà bao nhiêu Bồ
Tát hóa thân, tăng sĩ nhập thế, và vô số Phật tử đã
và đang lăn xả vào đời để thắp sáng ý hướng cùng nhau
làm thanh tịnh cõi ta bà, làm nguôi vơi sầu khổ và thêm phần
an lạc trong cõi sống vốn đầy bất an nầy. Việc làm lợi
ích là sự biết phản ứng với những thói quen xấu, biết
coi thường danh lợi, biết hành cái hạnh Vô Hành của Bồ
Tát.
Tóm
lại, công việc hữu ích là công việc thắp sáng ngọn đèn
giác ngộ cho tự thân rồi sau đó giúp người xua đuổi bóng
ma tham ái, sân si và mê muội.
Thứ
tư là Đồng Sự, nghĩa là chung sống, nhìn nhận và chấp
nhận nhau, tương kính và thành tâm cùng nhau nuôi dưỡng những
hoài bảo tốt đẹp, bảo vệ sự sống của nhau, cùng thăng
hoa lý tưởng và cùng tương trợ thương yêu nhau. Trong tinh
thần đồng sự vì mọi người thương yêu, tương kính, chấp
nhận, và cùng bảo vệ nhau nên không có ai bị cô lập, hoặc
bị cô đơn, đày ải cả. Người mang tinh thần Đồng Sự
mà áp dụng vào đời sống là người dễ dàng thích nghi,
lấy yếu tố hòa hợp làm trọng để hóa giải những xung
khắc.
Tóm
lại, dưới con mắt của Đồng Sự, chỉ có con người và
tâm thức của con người là đáng quý trọng, còn mọi thứ
khác như chức tước, địa vị, giàu nghèo, sang hèn, thông
minh ngu dốt...chỉ là hư ảo. Trong đời sống Đồng Sự không
có cao thấp, không có khinh trọng, không có kẻ điều hành
và người bị điều hành, mà tất cả được thể hiện bằng
tinh thần bình đẳng, trong ý thức minh mẫn và thái độ tự
nguyện đóng góp. Một khi hư danh càng ít được chú trọng,
thì cái giá trị làm người càng được trau chuốt và nhân
cách thực mới có cơ hiển lộ.
Kết
luận lại là băng ngàn vượt suối còn dễ, nhưng nối liền
những trái tim với nhau, những con người với nhau đâu có
dễ. Tuy nhiên, chính Tứ Nhiếp Pháp đã gíup ta đặt được
những bước chân chửng chạc và tin tưởng trên con đường
nối liền con người và làm đẹp sự sống.
140.
TẠI SAO PHẬT HIỆN RA NƠI ĐỜI?
Đức
Phật xuất hiện vì một đại sự nhơn duyên để giúp chúng
sanh mở bày, chỉ dạy, giác ngộ và thể nhập vào tri kiến
Phật. Phật xuất hiện như một đám mưa lớn có thể làm
thấm nhuần tất cả chúng sanh. Nói cách khác, Phật vì muốn
chúng sanh đều xa lìa đau khổ để được an vui, thanh tịnh
trong cảnh giải thoát Niết Bàn mà Ngài hiện ra nơi đời.
Phật vì đại chúng mà nói pháp cam-lồ thanh tịnh. Pháp ấy
duy có một mùi giải thoát và thanh tịnh. Phật xem tất cả
chúng sanh đều bình đẳng, nghĩa là không một chúng sanh nào
hơn chúng sanh nào. Không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, sang
hèn, quyền quý hay đê tiện. Phật cũng không phân biệt một
người hay nhiều người mà thường diễn, thường nói chánh
pháp. Phật nói pháp không bao giờ nhàm chán. Ngài nói với
người xuất gia, kẻ tại gia, trì giới, phá giới, có lễ
độ, vô lễ độ. Ngài chỉ vì muốn cho chúng sanh tu trì giải
thoát mà nói pháp. Ngài vì muốn làm lợi ích cho thế gian,
khiến thế gian sáng mắt để dứt đi tất cả tà đạo.
Phật
đã dạy chúng sanh những gì?
Phật
dạy chúng sanh chớ làm điều ác, chăm làm các điều lành
và tâm ý lúc nào cũng trong sạch. Lời dạy không oán hận,
không kiện tụng, không bài báng là lời Phật dạy. Giáo pháp
không chấp ngã, không chê bai, khéo dạy dổ dẫn dắt là giáo
pháp Phật. Phật đã dùng pháp phương tiện để giúp chúng
sanh hiểu được và làm thế nào để hàng phục được năm
món ác, tiêu trừ được năm món khổ, dứt bặt được năm
món đốt cháy, khiến năm món phước đức, và lấy điều
lành cải điều ác, cứu khổ sanh tử để được lên cảnh
vô vi yên ổn.
Phật
dạy chúng sanh hãy bỏ tâm buông lung, bỏ rời chấp trước,
chẳng cầu danh lợi, chừa lỗi, làm thiện, xa rời sắc dục,
và dứt trừ tham sân si. Phật dạy chúng sanh hãy làm thầy
tâm, chứ đừng để tâm làm thầy ta vì ở đời ai lại chịu
đi làm đệ tử cho một kẻ ưa buông lung dong ruổi bao giờ.
Thế
gian nầy có phải ai cũng tin Phật hết đâu?
Phật
đã nói người nào ưa nghe pháp mà chẳng nhàm chán thì giác
ngộ được pháp bất khả tư nghì. Khi nghe thì phải: Đi nghe
đúng thời, ham nghe, chăm lòng nghe, cung kính nghe; chẳng vì
chỉ trích, tranh luận hoặc hơn thua mà nghe. Khi nghe chẳng
nên khinh người nói và đạo pháp; khi nghe phải diệt trừ
ngũ dục, dứt cội vô minh; chẳng tự khinh. Điều cần nhất
là khi nghe phải đủ tín tâm. Có như vậy thì vị thuyết
pháp mới là hảo lương và pháp mới thật sự là thần dược.
Tuy
nhiên, chúng sanh cũng lắm kẻ đa nghi và vì chính ở cái chỗ
đa nghi nầy mà chẳng học được. Nghi thầy mà chẳng hay
kính thuận; từ đó mà cho dù có gặp Tam Bảo, tức là vào
núi châu báu cũng chẳng ích gì, vì có lòng tin đâu mà lấy
được của báu.
Làm
sao để thấm nhuần được Phật pháp?
Phật
đã dạy muốn vào trong núi châu báu để lấy của quí thì
phải có tay mà lấy. Cũng vậy, muốn được thấm nhuần Phật
pháp thì phải có lòng tin. Vào biển Phật pháp, lấy lòng
tin làm gốc; qua sông sanh tử, lấy giới pháp làm thuyền.
Được
lòng tin Phật pháp như xây dựng được lâu đài bền chắc
để chống đở những bão táp phong ba. Phật tử muốn được
lòng tin như lâu đài bền chắc, xin hãy bỏ làm điều ác
xấu và năng tu các pháp lành. Trong Kinh Niết Bàn, Phật đã
dạy rằng người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ
tăng trưởng vô minh, mờ ám; người hiểu giáo lý mà không
có lòng tin thì dể tăng trưởng tà kiến. Cho nên lòng tin
và hiểu biết phải đi đôi mới gọi là được thấm nhuần
Phật pháp. Lòng tin và hiểu biết là cội gốc của tu hành.
Trong
Kinh Tăng Nhứt A-Hàm, Phật dạy nếu ta thấm nhuần Phật pháp
và hành trì những gì mà mình đã thấm nhuần, thì cái chuyện
được vào cảnh giới Niết Bàn có thể đến với ta ở đời
nầy. Một khi thấm nhuần và hành trì đi đôi, có nghĩa là
ta tin và làm những gì Phật đã làm để đạt thành chánh
quả thì thử hỏi làm sao mà ta không phát trí huệ như Phật.
Cho dù ta không phát trí huệ như Phật, nhưng ít nhất tâm
ta không buông lung, mà trái lại còn được thông suốt và
thanh tịnh nữa.
Tóm
lại nghe pháp và suy nghĩ nghĩa lý của pháp là nhơn duyên
của lòng tin vậy. Lòng tin bao gồm: ưa nghĩ chơn pháp, tin
Phật có vô lượng công đức, thường nhớ và gần gủi cúng
dường chư tăng vì họ là những người tiếp nối giềng
mối Phật pháp, cung kính phát khởi căn lành, tin pháp có nhiều
lợi ích, thường nhớ tu hành cho rốt ráo, tin Tăng hay tu hành
hạnh lợi tha, và thường ưa gần gủi các vị Bồ Tát cầu
học hạnh như thật. Người có lòng tin thật mới là Phật
tử. Muốn có lòng tin thật phải nghe và nghĩ cho tường tận.
Nghe mà không nghĩ không phải là lòng tin đầy đủ. Tuy nhiên,
cái quan trọng trong việc thấm nhuần Phật pháp là trước
tiên ta phải tin có đạo pháp và có chứng quả đạo. Nếu
tin có đạo mà không tin có chứng đạo thì chưa gọi được
là thấm nhuần Phật pháp.
Thế
nào gọi là Bồ Đề Tâm?
Bồ
Đề Tâm là con đường lớn có thể đưa được người vào
cõi Niết Bàn. Bồ Đề Tâm là con mắt sáng giúp người thấy
đường chánh nẽo tà. Bồ Đề Tâm là mặt trăng sáng soi
rõ các tịnh pháp viên mãn. Bồ Đề Tâm là nước Cam-lồ
rửa sạch tất cả dơ bẩn não phiền. Bồ Đề Tâm là ruộng
phước tốt nuôi dưỡng thiện nghiệp trong sạch của chúng
sanh. Bồ Đề Tâm là hạt giống mà các Đức Phật sanh ra
diệu pháp. Chính trăng Bồ Đề trong mát, soi rốt ráo hư không:
"Chúng sanh tâm nước sạch, bóng Bồ Đề hiện ngay."
Cứu
cánh của Đức Thích Ca Mâu Ni trong các buổi thuyết pháp của
Ngài?
Đức
Phật đã dạy: "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ
thành." Trong Kinh Trường A-Hàm, Đức Phật cũng đã dạy: "Nếu
pháp nầy chỉ có Thế Tôn thành tựu, mà tỳ kheo chẳng đặng
thành tựu; hay tỳ kheo đặng thành tựu mà tỳ kheo ni chẳng
đặng thành tựu; hoặc tỳ kheo ni đặng thành tựu mà ưu
bà tắc, ưu bà di chẳng đặng thành tựu, thời pháp ấy chẳng
được hoàn toàn."
Như
thế ta đã thấy rõ cứu cánh trong các buổi nói pháp của
Đức Thế Tôn. Tuy nhiên, chúng sanh hãy còn nặng nghiệp, muốn
được thành Phật, muốn đến cõi Niết Bàn, trước hết
phải tin và vâng theo các lời Phật dạy. Có như vậy ta mới
được trí huệ, tinh tấn và thông suốt. Có như vậy ta mới
trừ được kiêu mạn và tham sân si. Có như vậy ta mới dứt
hẳn được hết nghiệp chướng phiền não đã vây lấy ta
từ vô thỉ.
Cứu
cánh của Phật không chỉ một mình Phật hoặc chư Bồ Tát
được vào Niết Bàn, mà Ngài muốn tất cả chúng sanh đều
được an lạc ở cõi Niết Bàn. Phật muốn mọi chúng sanh
đều đạt đến chỗ Tự Giác, nghĩa là sự giác ngộ cho
chính mình; Giác Tha, không những giác ngộ cho chính mình thôi,
mà còn tìm phương pháp giác ngộ cho kẻ khác; và Giác Hạnh
Viên Mãn, nghĩa là hai công hạnh Tự Giác và Giác Tha đã đạt
đến quả vị viên mãn.
141.
ĐỨC PHẬT VÀ CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC
Từ
hơn hai ngàn năm trăm năm nay chúng ta có cái mai mắn không
cùng tận là chúng ta đã và đang thừa hưởng cái con đường
đi đến chân hạnh phúc mà Đức Phật đã vạch ra. Không
phải chỉ với sáu năm tu khổ hạnh trong vùng rừng núi, và
cũng không phải chỉ có bốn mươi chín ngày đêm dưới cội
Bồ Đề mà Ngài đạt thành chánh quả đâu. Mà là từ vô
lượng kiếp về trước Ngài đã tu, Ngài đã tìm cách mở
ra cho được con đường đi đến chân hạnh phúc.
Con đường đi đến chân hạnh phúc là con đường thế nào?
Là con đường mà tâm ta quay về với cái tánh tự nhiên của
ta. Cái tánh ấy vốn rộng lớn bao la như vũ trụ, tràn đầy
tình thương yêu trong sáng, tràn đầy sự hiểu biết chân
thật và nguồn hạnh phúc bao la sâu thẳm. Chính Ngài đã mở
cánh cửa kỳ diệu của đời sống con người ấy. Ngài đã
chỉ vạch cho chúng ta thấy rằng chúng ta có đầy đủ những
thứ mà chúng ta đang mong muốn tìm kiếm. Ngài dạy chúng ta
rằng chỉ cần để tâm mình trong sáng, tỉnh thức, linh động
và bén nhạy thì tự nhiên tâm ta sẽ tỏa chiếu sự thông
minh, sự hiểu biết chân thật, tình thương yêu tươi mát
rộng lớn, và niềm an vui vô cùng vô tận sẽ trải dài ra
trước mắt ta.
Cái
con đường hạnh phúc ấy nó không nương tựa vào điều gì
cả, nó giống như bầu trời không một áng mây che, ánh sáng
tỏa chiếu khắp muôn phương. Chính Đức Phật đã chiêm nghiệm
được cái con đường hạnh phúc ấy và Ngài muốn cho mọi
chúng sanh đều chiêm nghiệm được như Ngài. Ngài đã nhấn
mạnh rằng cái khả năng chiêm nghiệm và thành đạt đến
con đường chân hạnh phúc ở mỗi chúng sanh đều đồng đều,
không phân biệt huyết thống, màu da, chủng tộc, giàu nghèo,
hèn sang. Phật tánh sẳn có ở mỗi chúng đều bình đẳng
như nhau.
142.
NHÂN SINH QUAN CỦA ĐẠO PHẬT
Nhân
sinh quan hay hữu tình quan trong đạo Phật là cái nhìn của
Phật về các loài hữu tình. Hữu tình hay chúng sanh chỉ chung
cho tất cả các động vật có sinh mạng, không phải chỉ
riêng loài người mà thôi. Hữu tình có sáu đường, bốn
loài và ba cõi. Sáu đường hay lục đạo: Trời, Người, Súc
sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục, và A-tu-la.
Chúng sanh vì tạo các nghiệp khác nhau rồi bị nghiệp lực
thúc đẩy, dẫn dắt đến sáu loài đầu thai từ cõi nầy
đến cõi khác. Sanh rồi tử, tử rồi sanh, như bánh xe xoay
vần không bao giờ ngừng nghỉ, cho nên các Đức Phật gọi
đó là luân chuyển trong lục đạo.
Trong
lục đạo có ba đường lành là Trời, Người và A-tu-la; và
ba đường ác là Súc sanh, Ngạ quỉ và Địa ngục.
Chúng
sanh lại chia ra làm bốn loài từ Thấp sanh, Hóa sanh, Noãn
sanh và Thai sanh.
Lại
nói ba cõi của hữu tình là Cõi Dục, Cõi Sắc, và Cõi Vô
Sắc.
143.
LỤC ĐẠO MÀ PHẬT ĐÃ NÓI TRONG LOÀI HỮU TÌNH
Phật
đã dạy nhơn sanh do mê lầm tạo ra hành động, do hành động
bị dẫn đến quả khổ của sanh tử ở trong lục đạo, khó
mà thoát ra. Mê lầm tức là vô minh, si ám. Hành động tức
là hành vi tạo tác. Vì xung động mê lầm nên con người phát
sinh các thứ hành vi, sự dồn chứa hành vi sẽ sanh ra lực
có khả năng dẫn dắt chúng ta luân hồi; hoặc vào địa ngục,
hoặc làm ngạ quỉ, hoặc làm súc sanh, hoặc vào cảnh giới
A-tu-la, hoặc đầu thai làm người, hoặc sanh lên cõi trời.
Sanh
về cõi trời có nghĩa là sáng suốt, thanh tịnh, tự tại.
Người sanh về cõi trời được thọ vui nhiều hơn khổ. Sự
ăn mặc, lầu đài cung điện đều sung sướng tốt đẹp cả.
Người sanh lên cõi trời không thiếu thốn về vật chất.
Chúng sanh nào giữ được năm giới và thực hành mười điều
thiện sẽ được sanh lên cõi trời hưởng thọ phước báo,
đương nhiên là phước báo thắng diệu hơn ở cõi nhân gian.
Sanh
vào cảnh giới A-tu-la, nghĩa là tánh tình xấu xa, phước không
bằng chúng sanh ở cõi trời. Ai sanh về cõi nầy, phước báo
gần giống như cõi trời, nhưng tánh tình vẫn còn thích chuyện
đấu tranh. Người có phước báo, nhưng có nhiều tham vọng,
dối trá, kiêu mạn, tâm thường chứa đầy tức giận, chấp
trước sẽ được sanh vào cõi nầy.
Cõi
người, tức là được l