MỤC
LỤC
266.
Vô Minh
267.
Ai Bố Thí Cho Ai?
268.
Tánh Thấy Biết Chân Thật
269.
Lý Trí Và Tình Cảm Của Người Phật Tử
270.
Tôn Giáo Của Chơn Lý
271.
Cho Và Nhận Với Người Phật Tử
272.
Xuất Thế Gian
273.
Tánh Khiêm Tốn Và Nhẫn Nại Của Người Phật Tử
274.
Người Quan Sát Vô Tư
275.
Phật Pháp Và Thế Gian
276.
Tu Trong Phiền Não
277.
Vô Thường
278.
Tứ Chánh Cần
279.
Văn, Tư, Tu
280.
Quyết Thành Phật
281.
Bồ Đề
282.
Giới, Định, Huệ
283.
Tu Theo Phật
284.
Luân Hồi
285.
Chiến Thắng Vẻ Vang Nhất
286.
Thành, Trụ, Hoại, Không
287.
Đạo Phật Lòng Tin Và Sự Hiểu Biết
288.
Vu Lan Nhớ Mẹ
289.
Con Đường Của Người Con Phật
290.
Thất Bồ Đề Phần
291.
Thẳng Một Đường Tu
292.
Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ
293.
Thân Phàm Phu
294.
Tâm Kim Cang
295.
Ngã Mạn
296.
Bảy Phương Cách Diệt Trừ Phiền Não
297.
Tâm Bịnh
298.
Tu Là Đi Tìm Cái Gì?
299.
Phật Pháp
300.
Phật Tánh Đồng Đẳng
301.
Chúng Sanh Đa Loại
302.
Cuộc Sống Của Người Phật Tử Tại Gia
303.
Chúng Sanh Pháp Và Phật Pháp
304.
Mục Đích Tối Thượng Của Người Tu Phật
305.
Đời Sống Của Người Phật Tử
306.
Viễn Ly
307.
Lý Thiện Ác Nhân Quả
308.
Người Phật Tử Đến Chùa Bằng Cái Tâm Nào?
309.
Ước Mơ Của Những Người Con Phật
310.
Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo
311.
Thần Quyền Và Tự Quyền Lời Hay Trong Lẽ Đạo
LỜI
GIỚI THIỆU
Tôi
Hân Hạnh được xem qua sách quý.
Do
đạo tâm một Phật tử viết ra.
Quyển
thứ tư chỉ Đạo Phật Thích Ca.
Trong
Đời Sống nhân sinh cần phải biết.
Khen
Thiện Phúc đã gắng công mài miệt.
Vừa
đi làm, vừa nghiên cứu học tu.
Các
khoá thiền, giảng Phật pháp các nơi,
đều
cố gắng tham dự luôn đầy đủ.
Với
kiến thức uyên thâm nhà mô phạm.
Trường
Bồ Đề trên hai chục năm qua.
Đã
am tường giáo lý Phật Thích Ca,
và
đời sống nhân sanh nhiều đau khổ.
Từ
lúc nhỏ sớm hồi tâm tỉnh ngộ,
nên
thích nghề giáo dục tránh nghiệp trần.
Nhưng
nghiệp đời còn bắt buộc chuyển dần,
bao
gian khổ, nguy nan nào kể xiết.
Nhờ
ân trên chư Phật hộ vẹn toàn.
Lòng
tin tưởng có Phật Ngài tế độ.
Giữ
trường trai, qui giới rán cần tu,
và
viết thành quyển sách để khuyên đời.
Mong
chúng sanh còn tối tăm mù mịch.
Mê
đắm đuối theo tiền trần vật chất.
Mãi
chen lấn không tìm ra lẽ thật.
Kiếp
con người ngắn ngủi tự bèo mây.
Mới
thấy đây rồi thay đổi liền đây.
Thấy
sống đó rồi bổng liền mất đó.
Đời
giả tạm có chi đâu gọi có.
Có
ngày nay, mai biến đổi còn chi?
Thế
gian nầy, hết lúc hiệp rồi ly.
Cõi
tạo hóa tuần hoàn đà như thế.
Biết
như vậy: "Sớm Mau Tu Kẻo Trể."
Hỡi
người ơi! Chìm đắm mãi mà chi?
Muốn
cho đời thấu rõ đạo từ bi.
Nên
Đức Phật, Ngài ban vui cứu khổ.
Ai
hữu duyên, sớm hồi tâm tỉnh ngộ.
Nương
thuyền Từ Bát Nhã đáo Tây Phương.
Quyển
sách nầy là chỉ rõ con đường.
Tác
giả viết không làm sao đầy đủ.
Nhưng
gồm thâu lý nghĩa thật là hay.
Vài
trăm trang làm sao được đủ đầy.
Nhưng
tóm lược các điểm nào trọng yếu.
Mong
thức giả xem qua liền thấu hiểu.
Cần
xem qua ba quyển trước nữa thêm.
Muốn
học tu, cần nên phải tìm kiếm.
Thấy
lợi ích, nên in ra bố thí.
Đức
Phật dạy vạn phước điền đều quý.
In
sách kinh là pháp thí đứng đầu.
Phước
đức nầy thật rộng lớn cao sâu.
Xin
hồi hướng cùng khắp trong pháp giới.
Kẻ
hiện tiền được tu hành tấn tới
Người
qua đời, Cực Lạc sớm tiêu diêu.
Khắp
nhân sanh hưởng an lạc mọi điều.
Cả
thế giới năm châu đầy hạnh phúc.
Nay
tóm tắt có đôi lời cầu chúc.
Người
xem qua liền tuệ giác khai thông.
Mở
từ tâm bác ái tánh đại đồng.
Trao
truyền lại cho mọi người hiểu biết.
Bởi
pháp thí rất vô cùng cần thiết.
Hoằng
pháp là nhiệm vụ của người tu.
Lợi
sanh là sự nghiệp phải đạt thù,
của
mọi người con Phật khắp năm châu.
In
kinh viết sách phổ thông truyền.
Thì
mới vào hàng Phật, Thánh, Tiên.
Tự
giác đã đành cần trợ giác.
Giác
thành viên mãn vĩnh trường miên.
Thuyền
Từ vớt chúng bằng kinh pháp.
Đò
Trí đưa người đến bảo liên.
Kỉnh
Phật, trọng Tăng, ban pháp thí.
Biết
rồi phản bổn tánh hoàn nguyên.
California ngày 27 tháng Sáu năm 1997
Đức Pháp Chủ
Hòa Thượng Thích Giác Nhiên
LỜI
MỞ ĐẦU
Kính
Thưa Quí Đạo Hữu,
Đời
là chỗ mê lầm trụy lạc, là giả tạm vô thường, là thay
đổi sanh diệt, là nay còn mai mất, là phiền lụy khổ đau,
là xoay vần tụ tán, là vấn vương thương ghét. Chính vì
thế mà gần hai mươi sáu thế kỷ về trước, Đức Thích
Tôn Từ Phụ đã làm một cuộc cách mạng, đã mở một con
đường, gọi là đạo cũng được mà gọi là triết lý cũng
được. Con đường nầy đã đưa chúng sanh từ chỗ thấp
đến chỗ cao, từ chỗ giả đến chỗ thiệt, từ chỗ tối
tăm đến chỗ sáng sủa, từ chỗ u tối mê muội đến trí
huệ, từ phiền não đến Bồ Đề, từ chỗ phàm phu
đến chỗ thánh thiện và từ chỗ luân hồi sanh tử đến
chỗ giải thoát vô sanh.
Tuy
nhiên, kinh điển Phật quả là thậm thâm và nhiều khi khó
hiểu cho những ai mới tìm về trước đài vô thượng giác.
Vì thế có lắm người đã chùn bước trước bầu trời Phật
pháp thăm thẳm. Nhiều khi nghe cũng hiểu, nhưng không biết
phải thực hành như thế nào, hoặc đôi khi như mờ mịt không
tìm ra manh mối để tu trì. Từ ngày đạo tràng Huệ Quang
mở khóa tu học và thiền quán cho Phật tử vùng Orange County,
tôi có cơ duyên được hằng tuần nghe pháp từ các thầy
ở khắp nơi qui tụ về giảng dạy, nên tôi cố gắng biên
soạn lại những gì đã lợi lạc thiết thực cho chính bản
thân tôi, mong chia xẻ cho ai nấy đều có được sự lợi
lạc như tôi. Pháp của quí thầy như những trận mưa rào
trong sa mạc nóng cháy. Thú thật, tôi không có khả năng làm
mưa như quí thầy, nhưng tôi nguyện làm một ốc đảo giữ
những nước mưa ấy và phân phối lại cho những khách lữ
hành đang đi trong sa mạc. Quí đạo hữu! Phật và quí thầy
đã làm mưa cho khách lữ hành trong sa mạc như chúng ta, uống
hay không uống là tùy · chúng ta, chứ không ai có thể bắt
ép chúng ta được.
Kính
thưa quí bạn,
Đời
vô thường, vạn vật vô thường, thấy đó mất đó, sớm
nở tối tàn. Tất cả tựa hồ như một trường huyễn mộng,
nhưng ta sẽ chẳng bao giờ tìm thấy chân như ngoài cái trường
huyễn mộng nầy đâu. Xin ai nấy hãy thầm thầm tiến tu thì
cho dù phong ba bão táp, hoặc thương hải tang điền, đi đâu
đến đâu, chúng ta cũng sẽ tìm thấy những tâm hồn và nụ
cười tươi mát của những vị Phật quí bạn ạ! Coi vậy
mà chúng ta không còn nhiều thì giờ nữa đâu. Hãy cố tu
tập và hành trì theo Phật để trước nhứt lợi lạc cho
chính bản thân mình, sau đó là lợi lạc cho gia đình, bạn
hữu và những người quanh mình. Hãy rán kết tập Bồ Đề
quyến thuộc với mọi người mình gặp để cùng tạo thiện
duyên cho nhau trên bước đường tu tập. Tu phước, tu huệ
hay tu công đức thế nào cũng được, miễn là tu theo Phật.
Tụng kinh, ăn chay, lần chuỗi, niệm Phật, niệm chú, ngồi
thiền... đều được, miễn sao ta liên tục hành trì, chứ
đừng nay tu mai nghỉ. Hãy cố gắng tu để thấy rằng đời
là phiền não, là bể khổ đáng chán, nhưng người con Phật
không chán đời, mà ngược lại, người con Phật đi vào đời
một cách tích cực và sinh động. Hãy cố tu để vun bồi
đức hạnh, để không vọng ngữ vọng ngôn và làm não hại
chúng sanh. Hãy cố tu để có cuộc sống thanh bần lạc đạo
như Đức Thích Tôn Từ Phụ. Hãy vâng giừ những lời Phật
dạy mà tu tâm sữa tánh, cải thiện hành vi, từ bi hỉ xả.
Hãy sống trong chánh niệm và tĩnh thức để dứt cho bằng
được kiếp sống lăn trôi trong bể sanh tử luân hồi nầy.
Tuy
nhiên, bên cạnh những pháp vũ tinh sạch của Phật pháp do
chính những đứa con chân thật của Ngài ban phát, có quá
nhiều những con ma Ba Tuần, hoặc những kẻ theo tà ma ngoại
đạo, hoặc những kẻ ngã mạn, cống cao và xảo quyệt. Những
người tự xưng Phật nầy thầy nọ hòng cầu danh trục lợi,
gạt gẫm và làm cho biết bao nhiêu người bị lầm lạc
trong thần quyền mê tín, hoặc đồng cốt. Họ cũng làm mưa
vậy, nhưng mưa của họ là những loại mưa hóa học, chẳng
những không đem lại tươi mát cho ta mà còn làm lở lói thêm
tấm thân vốn dĩ đã gầy còm đau khổ của những Phật tử
nhẹ dạ.
Kính
thưa quí bạn,
Dù
thượng căn hay hạ trí, chúng ta hãy cùng hướng về giáo
pháp của Phật Tổ Gotama mà tu trì, hãy siêng năng ôn tầm
kinh điển, thân cận những thiện hữu tri thức và minh sư
để củng cố và phát triển Bồ Đề Tâm nơi ta và nơi người.
Hãy làm một cái gì có lợi ích cho bản thân, gia đình và
xã hội, chứ không để cho thời gian luống qua vô ích. Hãy
gạt bỏ phàm tâm mà phát tâm Bồ Tát. Hãy can đảm quỳ trước
đài vô thượng giác, nguyện từ đây quyết tâm noi theo hạnh
Phật mà tu trì; nguyện tinh tấn xả bỏ tham, sân, si, mạn,
nghi, ác kiến để một ngày không xa nào đó chúng ta sẽ cùng
nắm tay chư Phật thong dong trong cõi vô sanh.
Kính
thưa quí bạn,
Trong
tinh thần tự lợi và lợi tha song hành của Phật giáo, dù
văn mọn tài hèn, tôi quyết tiếp tục biên soạn quyển "Đạo
Phật Trong Đời Sống Tập IV" những mong ai nấy đều sẽ
tìm thấy đuốc sáng Từ Bi của Phật Tổ để cùng nương
nhau tìm về đất Phật.
Cuối
cùng, tôi xin chí tâm hồi hướng công đức cho những ai có
cơ duyên cầm được quyển sách nầy trên tay, cũng như những
ai chưa có cơ duyên sẽ có cơ duyên trong tương lai để pháp
giới chúng sanh đều trọn thành Phật quả.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Viết
tại California mùa Hè năm 1997
Thiện
Phúc
266.
VÔ MINH
Vô
là không, Minh là sáng. Vô minh có nghĩa là không sáng suốt,
hoặc không thấu triệt được điều hay lẽ phải. Theo đạo
Phật, vô minh là không tỏ ngộ chơn tâm, hoặc hiểu biết
các pháp không đúng như thật, hoặc hiểu sai lầm. Vô minh
lại chia ra làm căn bản vô minh và mạt chi vô minh. Vô minh
đầu tiên trong thập nhị nhơn duyên là căn bản vô minh vì
nó là gốc sanh ra các mạt chi vô minh khác. Tất cả những
phiền não, khổ đau, tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, buồn,
vui, thương, ghét, bạn, thù... đều do vô minh mà ra cả.
Vì
vô minh che lấp chơn tâm nên phiền não nổi lên làm cho thân,
khẩu và ý tạo nghiệp. Cũng chính vì vô minh mà ta đã rong
chơi trong trong khắp các nẽo luân hồi sanh tử. Vô minh nó
bám theo ta như hình với bóng. Nó khiến ta chẳng những không
nhận dạng được căn nguyên của phiền não và khổ đau,
mà vô minh còn khiến ta chạy theo, níu kéo và nắm bắt lấy
chúng nữa là khác. Rồi cũng chính vô minh đưa đẩy bắt
ta phải phục tùng, tôn thờ và làm nô lệ cho bản ngã và
dục vọng. Vô minh bảo ta thân nầy là có thật, là đẹp
đẽ; tâm nầy là trung tâm của vũ trụ; ý nầy là cao thượng;
mặt nầy là đẹp đẽ. Cũng chính vô minh bảo ta cái gì của
ta là chơn lý, của người là tà vạy. Từ đó mà ta tăng
trưởng lòng ích kỷ và bỏn xẻn. Ta chỉ biết có ta mà không
hề biết đến người. Những cảm nghĩ của kẻ khác chỉ
là những con số "không" to tướng với ta.
Vô
minh như trên đã nói, nó theo ta như hình với bóng. Nó không
phải là một thực thể đến từ bên ngoài, cũng không đơn
thuần xuất hiện từ bên trong. Nó là sự phối hợp của
cả trong lẫn ngoài. Vô minh là tên giặc khó nhận diện, nhưng
lại là tên giặc vô cùng nguy hiểm mà chúng ta phải diệt
ngay từ những bước đầu để đi đến con đường giác ngộ
và giải thoát. Vì sao? Vì nếu móc xích vô minh mà bị
chặt đứt thì Hành cũng không, Thức cũng không; Danh sắc,
Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão, Tử đều không
nốt.
Ngoài
ra, vô minh còn là đầu dây mối nhợ gây ra đau khổ và phiền
não. Thực ra ở đời nầy không có cái gì bắt đầu, mà
cũng không có cái gì chấm dứt. Chỉ có sự biến dạng của
hiện tượng, nhưng vì bị vô minh che lấp nên cảm quan của
ta bị lừa, thế thôi! Mới hồi sáng nầy vui vui sướng sướng,
thì chiều lại đã đau khổ một trời. Mới hồi tối nầy
cười cười nói nói,thì đến khuya đã im lìm trong mê sảng.
Đời sống băng hoại, tâm ý rã rời đổ nát, ta nào hay biết.
Tất cả đều do bởi vô minh mà ra. Nói như thế không có
nghĩa là "trăm dâu đổ đầu tằm," mà là nói một cách trung
thực. Tất cả mọi khủng hoảng, lo sợ, tranh chấp, não phiền,
đau thương, tang tóc... ở trên đời nầy đều do bởi vô
minh mà ra cả. Chúng ta không có con đường nào khác để lựa
chọn là phải chặt đứt vô minh nếu chúng ta không muốn
bị nghiền nát bởi bánh xe luân hồi sanh tử. Một khi vô
minh bị ánh sáng của trí huệ đẩy lùi thì phiền não và
khổ đau cũng sẽ không còn.
Làm
sao chặt đứt vô minh?
Mười
hai nhân duyên với những liên quan mật thiết. Cái nầy vừa
làm quả cho nhân trước, mà cũng vừa làm nhân cho quả sau.
Chúng cứ nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Vô minh lại là
một móc xích quan trọng trong mười hai nhân duyên nầy. Thế
cho nên hễ chặt đứt vô minh là cả hệ thống sẽ bị rã
rời. Cách duy nhất để chặt đứt vô minh là thiền quán.
Quán để thấy rằng từ vô thỉ, cái gì cũng không, cái gì
cũng thanh tịnh; rồi vì vô minh mà bản tâm thanh tịnh bị
ẩn khuất, như áng mây che khuất ánh trăng. Lúc ấy căn trần
tự nhiên tiếp xúc, tự nhiên phát khởi đủ thứ vọng động.
Bây giờ quán để trở về với cái gì cũng không và cái
gì cũng thanh tịnh ấy. Quán đến độ "Ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm" mới thôi; nghĩa là vin vào chỗ không mà sanh
tâm. Quán đến độ "đối cảnh vô tâm" thì lúc đó vô minh
không còn đất dụng võ nữa. Lúc ấy con đường đi về quê
hương Phật quả là con đường Cái Quan sáng lóe những hào
quang của các đấng Như Lai vậy.
267.
AI BỐ THÍ CHO AI?
Phật
tử chúng ta ai cũng đều biết đến bố thí; tuy nhiên, chúng
ta cần phải hiểu cho rõ một chút nữa về hai chữ "Bố
Thí" và ai bố thí cho ai?
Bố
là rộng, thí là cho. Bố thí là cho một cách rộng rãi. Cho
không kèm theo bất cứ điều kiện gì. Không vì tướng mà
bố thí; không vì sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp... mà bố
thí, ấy là chân bố thí. Lại cũng không vì phước đức
hay công đức mà bố thí. Bố thí là hạnh đầu tiên trong
sáu hạnh cao quý của người tu Phật: Bố thí, Trì giới,
Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền Định và Trí huệ. Đạo Phật
là đạo của từ bi hỉ xả và tình thương trong đạo Phật
quả là bao la, sâu rộng vô cùng. Phật đã từng dạy rằng
để thể hiện và làm cho lòng từ bi mẩn chúng phát triển,
chúng ta phải thực hành cho rốt ráo pháp môn Bố thí. Cho
cùng khắp, cho tất cả mọi người, mọi vật, mọi loài...
Nhưng
ai bố thí cho ai?
Theo
nghĩa thông thường thì người cho là người người cho, còn
người nhận là người nhận. Nó rõ ràng như ban ngày, không
có gì để thắc mắc. Tuy nhiên, với người con Phật, chuyện
không đơn giản như vậy. Với người con Phật thuần thành
thì nếu không có người nhận, người cho sẽ không có cơ
hội để bố thí, để phát Bồ Đề tâm. Như vậy, cả hai
đều bố thí lẫn nhau; người có của; kẻ đem đến cơ hội
cho người làm điều thiện lành. Đây cũng chính là cái chỗ
vô cùng dễ thương của đạo Phật; dễ thương nếu ta thành
tâm làm việc thiện; dễ thương nếu ta không lý luận vì
hễ còn lý luận là chúng ta cứ còn mãi loay hoay, chứ có
bến bờ đâu để mà đến. Ngoài ra, trong lúc bố thí mà
khởi tâm lý luận thì quả tình đây là một lối bố thí
với dụng tâm, không trong sạch. Chúng ta đã biết bố thí
là do từ tâm mà ra; bố thí, theo lời Phật dạy, còn là một
cách để độ ta và độ người thực tiển nhất. Như vậy
trong lúc bố thí mà còn khởi tâm coi ai bố thí cho ai? Xem
coi trong cuộc bố thí nầy ai là người được tiếng, được
danh? Bố thí với dụng ý như vậy và thái độ như thế ấy
quả không là bố thí tí nào cả.
Bố
thí chân thật phải xuất phát tận đáy lòng từ bi mẫn
chúng của ta, chứ không vì được đăng lên báo mà bố thí,
cũng không vì được tán thưởng mà bố thí, lại cũng không
vì tỏ ra mình tài giỏi mà bố thí. Ngược lại, bố thí
phải lấy tâm bình đẳng, xem chúng sanh mọi loài như nhau,
không vị kỷ, không phân biệt bạn thù, hay thân sơ... Bố
thí mà không tiếc và không còn phân biệt ai cho ai nhận nữa,
ấy mới chính là sự bố thí chân thật và cao quý nhất.
268.
TÁNH THẤY BIẾT CHÂN THẬT
Từ
câu nói của Đức Từ Phụ: "Ta là Phật đã thành, chúng sanh
là Phật đương và sẽ thành," chúng ta thấy rõ mọi chúng
sanh đều có Phật tánh. Tuy nhiên, chỉ vì vọng tưởng và
chấp trước mà ta không thấy được trí huệ và đức tướng
của Như Lai. Đã vậy lại thêm đà tiến bộ kỹ thuật và
văn minh vật chất nên hệ thống tư tưởng và tổ chức xã
hội của con người càng phức tạp; do đó chúng ta càng đi
xa Phật tánh của chúng ta hơn.
Phật
tánh hay tánh thấy biết chơn thật từ vô thỉ vẩn đến
ngày nay nó vẫn vậy; nó không lớn, không nhỏ, không rộng,
không hẹp, không cao, không thấp. Bao la như vũ trụ vẫn là
nó, mà vi tế như một hạt bụi cũng vẫn là nó. Làm sao để
trở về được với cái tánh thấy biết chơn thật ấy?
Tận hưởng các dục lạc thế gian hay tu hành ép xác
và khổ hạnh? Cả hai thái cực nầy đều không nằm trong
giáo pháp của nhà Phật. Theo Phật, chúng ta phải thấy biết
mọi sự kiện trong thiên nhiên, vũ trụ và đời sống của
con người một cách trung thực. Hiểu biết được như vậy,
ta sẽ an nhiên tự tại hơn. Nếu như ta hiểu được rằng
nắng mưa là chuyện của thiên nhiên và vũ trụ, thì cho dù
có nắng, có mưa, có lụt lội hay hạn hán; ta biết ta không
tài nào thay mưa đổi nắng được, nên ta chấp nhận nắng
mưa một cách an nhiên và tự tại. Hiểu được như vậy,
ta sẽ không còn vướng mắc với các ý tưởng đối nghịch
nữa. Lúc đó ta sẽ là người quan sát vô tư, chứ không còn
là nhà phân tích hay phê bình tư tưởng nữa. Hiểu được
như vậy thì không một pháp, một niệm nào có thể làm khơi
dậy lòng tham muốn, giận dữ, sân si, hoặc hận thù trong
ta để có thể đưa ta đến xáo trộn và đau khổ.
Tánh
thấy biết chơn thật nầy rất đơn giản trong cuộc sống
hằng ngày của chúng ta. Sống là sống hạnh phúc, ấy là
tánh tự nhiên sẳn có nơi nơi mỗi chúng ta. Hãy suy gẫm cho
kỹ đi rồi sẽ thấy rằng trong mỗi chúng ta ai mà không muốn
được sống an lành và hạnh phúc? Tuy nhiên, vì tham, sân,
si mà ta cứ mãi dong ruổi đi tìm. Đi tìm cái gì chính chúng
ta cũng không biết. Tìm chưa được cái nầy thì đã mất
cái kia... Chúng ta có cái gì để lựa chọn hoặc để tìm
đâu mà cứ mãi dong ruổi? Càng lựa chọn, càng dong ruổi
thì xáo trộn, mâu thuẩn và xung đột càng nhiều. Xin hãy
quay về với sự trong sáng tự nhiên của tánh thấy biết
chơn thật thì tự nhiên cuộc sống nầy sẽ tràn đầy hạnh
phúc.
Một
khi chúng ta đã quay về với tánh thấy biết chơn thật thì
chúng ta sẽ luôn đi trên con đường trung đạo. Lúc đó làm
cái gì ta cũng tiết độ chứ không thái quá; không ép xác
khổ hạnh, mà cũng không phóng túng buông lung. Như vậy không
phải là an vui và thoải mái lắm sao? Tánh thấy biết chơn
thật nầy lúc nào cũng hiện hữu; hễ ta chịu quay về là
ta sẽ gặp nó ngay. Nó bất sanh, bất diệt, bất tịnh, bất
cấu, bất tăng, bất giảm. Nó vô cùng, vô tận; nó vô thỉ,
vô chung. Nó không có bắt đầu, mà cũng không có chấm dứt.
Tánh thấy biết chơn thật ở Phật như thế nào thì ở chúng
sanh cũng như thế ấy. Nó luôn rỗng lặng, tinh sạch và trong
sáng nơi mỗi chúng ta. Vũ trụ bao la là nó, mà hạt bụi vi
tế cũng là nó. Với tánh thấy biết nầy ta sẽ thấy biết
rõ ràng mọi thứ; không có thứ nào có thể khống chế được
thứ nào. Không có thứ nào ưu tiên hơn thứ nào; không có
cái nào đẹp, cũng không có cái nào xấu. Với tánh thấy
biết chơn thật, mọi hiện tượng đều được thấy rõ ràng;
thấy với tâm buông xả; thấy mà không khởi tâm phân biệt
khen chê, đẹp xấu, hay dở. Thấy mà không chạy theo, cũng
như không kềm giữ. Tánh thấy biết chơn thật nầy giống
như bầu trời bao la thăm thẳm; mây đến, mây đi; bầu trời
vẫn còn đấy, vẫn bao la thăm thẳm.
Ngoài
ra, tánh thấy biết chơn thật còn cho chúng ta hiểu rõ tính
cách vô thường của vạn pháp. Bầu trời hôm nay vần vũ,
ngày mai nó có còn vần vũ nữa không? Biết như vậy, chúng
ta sẽ không còn gì để sợ hãi nữa trước những vật đổi
sao vời và những biến chuyển của vạn vật theo dòng thời
gian. Biết như vậy tâm ta sẽ trở nên an trụ và thoải mái
hơn. Biết được như vậy ta sẽ không chạy theo ưa thích
những điều hay tốt, hoặc ghét bỏ những gì thô thiển xấu
xa.
Một
khi đã trở về với tánh thấy biết chơn thật thì tâm ta
luôn tỉnh thức; lòng ta không còn vướng mắc bởi bất cứ
thứ gì. Lúc ấy, tự tâm buông xả, không dính mắc, không
phân biệt, không phân tích, không phê bình, không chê, không
khen, không vui, không buồn, không thương, không ghét, không
giận, không hờn, không tham, không sân, không si... Lúc ấy
chúng ta đang làm gì nếu không phải là đang thực hành một
cách rốt ráo "tánh không" của vạn pháp. Lúc ấy, cho dù ta
có muốn si mê, trí tuệ cũng vẫn đến; cho dù ta có muốn
vọng động, thanh tịnh vẫn cứ tìm về. Lúc đó từ bi hỉ
xả và trí huệ luôn là nguồn suối tươi mát trong cuộc sống
tràn đầy hạnh phúc chơn thật nơi ta. Lúc đó cuộc sống
ta là một cuộc sống an vui bất tận. Lúc đó, dù trong hoàn
cảnh nào ta cũng sống an vui và thoải mái một cách liên
tục và miên viễn.
Tuy
nhiên, để thấu triệt được cái tánh thấy biết chơn thật
nầy, chúng ta phải trải qua một quá trình tu tập lâu dài,
phải thực nghiệm tự thân mới thấy được, chứ không ai
có thể thấy dùm mình được. Phải thực nghiệm nơi tự
thân, chứ không qua kinh điển mà kiến tánh. Hãy cố mà tu
tập như các thầy tổ cho đến độ "không có một chỗ để
cho tâm phát sanh, ấy là chơn tâm, ấy là tánh thấy biết
chơn thật tự thuở giờ." Đừng để cho chúng ta phải trở
thành những con người "túy sanh mộng tử" nữa; nghĩa là sống
say chết mộng. Sống mà không hay, không biết mình đang sống;
hàng ngày, hàng giờ không biết mình đang làm gì. Sống như
vậy quả là uổng cho một kiếp con người. Sống phải tỉnh
thức; phải biết mình đang làm gì? Đang đi đâu? Đang ăn
gì, uống gì??? Phải biết mình có đang ăn dối, nói láo hay
không? Biết để mà sửa đổi; biết nói dối là sai trái
để rồi tự thẹn và không bao giờ nói dối nữa.
Chúng
ta sẽ không còn nhiều thì giờ nữa đâu. Một ngày qua đi
là một ngày ta mất dần đi cơ hội quay về với chính ta.
Đừng đợi đến lúc tay run mắt mờ rồi mới hẳn tính,
thì e rằng không còn kịp nữa đâu để mà tính. Hãy lắng
nghe lời dạy của Đức Từ Phụ: "Nhất thất nhơn thân, vạn
kiếp nan phục." Một khi đã mất thân nầy rồi, vạn
kiếp khó mong tái hồi. Mong cho ai nấy đều sớm quay về với
tánh thấy biết chơn thật của chính mình để không còn phải
phân biệt Ta Bà hay Tịnh Độ nữa.
269.
LÝ TRÍ VÀ TÌNH CẢM CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
Từ
vô thỉ chúng ta đã vì tham, sân, si mà tạo nghiệp. Thân,
khẩu, ý đã liên kết chặt chẻ để đưa ta hết từ kiếp
luân hồi nầy qua đến kiếp luân hồi khác. Trong ba thứ thân,
khẩu và ý thì hai anh thân và khẩu là chậm chạp vì phải
gắn liền với thân nầy. Duy chỉ có anh ý là dong ruổi; nó
đi nhanh còn hơn là ánh sáng, thoáng một cái là nó có khả
năng xuất hiện bất cứ nơi nào trong vũ trụ nầy. Có rất
nhiều người tự thuở giờ nào có biết mặt trăng tròn méo
thế nào mà vẫn có thể tưởng tượng được trên ấy chị
Hằng đẹp xấu ra sao. Thế mới biết những gì đến với
ý là không thể lường biết trước được.
Chính
anh "Ý" nầy đã làm chủ nhân ông hai phần chủ yếu trong
mỗi chúng ta: lý trí và tình cảm. Cái trục trặc chính của
ta là ở chỗ nầy. Một anh ý hay thích dong ruổi mà lại
làm chủ nhân ông của hai trạm kiểm soát trọng yếu của
con người. Trong mỗi hoàn cảnh, anh "Ý" đều biết là có
sự xung đột giữa lý trí và tình cảm, nhưng anh ta lúc nào
cũng để cho tình cảm lấn lướt lý trí. Tại sao? Tại bởi
một lẽ dễ hiểu. Sở dĩ anh "Ý" dong ruổi là để đi tìm
những hình ảnh quyến rũ và cảm xúc; mà tình cảm là sự
quyến rũ và cảm xúc khó ngăn chận trong ta; còn lý trí
thì ngược lại, nó khô khan, nó như là một cái thời khóa
biểu, hoặc một bổn phận. Lý trí kéo ta về với hiện thực,
nó cứng nhắc chứ không xúc tích như tình cảm. Thế cho nên
dù lý trí có là lẽ phải đi nữa, ít khi nào chúng ta chịu
theo nó lắm.
Người
con Phật, một khi đã nắm vững được bản chất của anh
"Ý" và quyết tâm tu trì, thì người ấy nhứt quyết
sẽ không để cho tình cảm và những quyến rũ nhất thời
lấn lượt lý trí và lẽ phải. Người ấy sẽ lội ngược
dòng đời và quyết không để cho tham, sân, si ngăn cản sự
hướng thượng của chính mình. Ngược lại, người ấy sẽ
luôn dưỡng đạo tâm; dứt bỏ cái "Ta"; dứt bỏ lòng
tham; diệt tận những vui, buồn, thương, ghét của phàm phu.
Hơn thế nữa, người ấy sẽ luôn nhẫn nhục và nhu hòa đối
với chúng sanh và các pháp. Ai mạ nhục mình, mình vẫn tỉnh
bơ; trời có nóng, có lạnh, lòng nầy vẫn vậy.
Khi
chưa tu thì ta để cho anh "Ý" buông lung và phóng túng; để
mặc tình cho tình cảm lấn lướt lý trí. Đến lúc tu rồi
thì ta không cho anh "Ý" buông lung nữa; không để cho tình cảm
tha hồ tạo tác nữa, mà ta chỉ nghe theo tiếng gọi của lẽ
phải và chân lý. Lúc tu rồi thì lý trí luôn kiểm soát tình
cảm. Không phải là một tháng chỉ kiểm soát dăm ba ngày,
mà là hết ngày nầy qua năm khác, là mãi mãi.
Xin
đừng chờ, đừng đợi nữa, bởi lẽ có ai trong chúng ta
biết trước được chuyện gì sẽ xãy ra cho ngày mai đâu?
Lá trên cành không nhất thiết phải vàng mới rụng; chúng
ta cũng vậy. Chúng ta như những ngọn nến cháy dở, không
nhất thiết phải đợi đến hết nến mới tắt, mà chỉ
cần một cơn gió nhẹ thoảng qua, nến cũng có thể tắt được.
Vậy hãy chuẩn bị ngay từ bây giờ; phải hiểu cho tường
tận mọi vấn đề. Hãy kiểm soát anh "Ý" từng giờ, từng
ngày, đừng để cho tình cảm mãi lấn lướt lý trí nữa.
270.
TÔN GIÁO CỦA CHƠN LÝ
Nếu
có ai hỏi tôi rằng trong cõi Ta Bà huyễn giả nầy, cái gì
làm tôi cảm thấy thân thương và gần gủi nhất, tôi sẽ
vô cùng sung sướng mà đáp rằng đó là cái tôi đến với
đạo Phật. Nhờ đến được với đạo Phật mà mặc dù
chưa trọn hưởng gia tài của Ngài để lại, nhưng thân tâm
tôi cũng như những người trong tiểu gia đình của tôi giờ
đây đã thanh tịnh và an lạc nhiều rồi.
Đạo
Phật mới nghe ai cũng cười mỉm mà nghĩ rằng đấy là một
tôn giáo cho những ai chán đời và tiêu cực. Vì đạo Phật
không tranh đua hơn kém với ai. Đạo Phật không tạo ra những
yếu lý hoặc điều lệ cho người theo. Đạo Phật cũng không
cấm cản việc tín đồ kết thân hoặc kết hôn với người
của các tôn giáo khác. Những đứa con Phật chưa bao giờ
gây thù kết oán, hoặc tạo ra một cuộc Phật chiến nào.
Trái lại, đạo Phật là tôn giáo của sự hòa đồng và khoan
dung. Đó chính là tôn giáo của chơn lý, của sự thật. Thuở
Đức Phật còn tại thế, có người đã hỏi Ngài rằng trong
thời mạt pháp, nhiều loại ma Ba Tuần len lỏi vào đạo;
chúng cũng hô hào rằng pháp của chúng là pháp Phật; vậy
thì phải làm sao mà phân biệt đâu là Phật pháp, đâu là
tà pháp? Chính Đức Thế Tôn đã không ngần ngại mà rằng:
"Hễ cái gì luôn đúng với sự thật hoặc chơn lý, cái đó
là Phật pháp." Ngài còn thêm rằng: "Đạo Phật chẳng những
giúp cho con người và chúng sanh mọi loài được giải thoát,
nếu công phu tu trì, mà đạo Phật còn dẫn dắt chúng sanh
đến một cuộc sống an lạc, tự tại, toàn thiện và toàn
mỹ nữa." Đạo Phật dạy cho con người vừa sống hòa hợp
với thiên nhiên và vũ trụ mà cũng vừa thích hợp với khoa
học hiện đại. Cho dù khoa học hiện đại có tiến bộ đến
đâu đi nữa, đạo Phật vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường
cho cả nhân loại và khoa học.
Nói
về triết lý cao siêu thì đạo Phật cũng có đầy đủ những
triết lý thậm thâm vi diệu; tuy nhiên, nếu đứng trên phương
diện thực tiển mà nói thì đạo Phật cũng vô cùng thực
tiển. Với đạo Phật, địa ngục hoặc Niết Bàn không ở
đâu xa xôi, cũng không ở một kiếp nào xa vời, mà là ở
đây, ở đời nầy, kiếp nầy. Chính chúng ta đã làm cho địa
ngục có mặt trên mặt địa cầu đẹp đẽ nầy; rồi cũng
chính vì sợ hãi mà chúng ta đã tạo ra những tôn giáo để
mong được cứu rỗi. Với đạo Phật, chuyện nầy là không
tưởng. Tại sao? Cứu rỗi hay không cứu rỗi là ăn thua ở
chính ta mà thôi. Cứ mãi trộm cướp và làm những chuyện
tà vạy rồi đi kiếm người che chở cho ta đừng vào tù hoặc
đừng bị trừng trị, ai dám đứng ra che chở cho ta?
Thật
ra chúng ta phải gọi đạo Phật là triết lý nhà Phật thì
mới đúng vì đứng trên phương diện triết lý thì giáo lý
Phật là một hệ thống triết lý của sự chơn thật và của
cuộc đời. Nó giúp cho chúng ta quay về với con người thật
của chúng ta chứ không tiếp tục làm những tay kịch sĩ nhà
nghề nữa. Nếu ai muốn gọi là đạo thì cũng được, nhưng
đúng tên gọi của đạo Phật phải là "Chơn Lý." Chơn lý
nầy không và sẽ không bao giờ được thuyết giảng suông
qua sách vở, mà chính chúng ta phải thực nghiệm nơi tự thân,
phải hằng sống với nó một cách khiêm tốn và thành thật
thì nó mới hiển lộ.
Một
khi chúng ta đã hiểu được "Chơn Lý" nầy thì chúng ta sẽ
sống và để yên cho người khác sống; chúng ta sẽ thanh tịnh
và cũng để yên cho người khác thanh tịnh. Sống được như
vậy, thế giới Ta Bà nầy sẽ gồm toàn là những người
bạn đồng hành, đồng tu. Lúc đó không có hận thù ganh ghét
nữa, mà chỉ toàn là những nụ cười đầy "Từ, Bi, Hỉ,
Xả."
271.
CHO VÀ NHẬN VỚI NGƯỜI PHẬT TỬ
Phải
chăng khoa học kỹ thuật và đời sống văn minh hiện tại
đã làm cho con người ta ích kỷ và bỏn xẻn hơn; hoặc giả
sống một cách vô hồn hơn? Cũng có một phần; tuy nhiên,
bản chất cố hữu của con người vẫn là muốn cho mình nhiều
hơn cho người. Nói như vậy không có nghĩa là quơ đủa cả
nắm. Trên mặt đất nầy vẫn còn có lắm vị Bồ Tát suốt
đời chỉ biết có cho, chứ không mong cầu được nhận một
thứ gì cả, ngay cả những thứ nhu yếu cho cuộc sống hằng
ngày.
Cũng
phải thành thật mà nhận rằng khoa học càng tiến bộ, văn
minh vật chất càng cao thì cuộc sống của con người càng
khô khan và bủn xỉn bấy nhiêu. Tương tự, lòng tham
của con người trong xã hội loạn động nầy càng lên cao
bấy nhiêu. Giới trẻ thì sống bất cần đời, sống xa hoa
trụy lạc; những người đứng tuổi thì chỉ biết thủ lấy
cho mình, còn thì sống chết mặc bây. Cuộc sống như vậy
quả là một cuộc sống đầy trục trặc. Sống mà chỉ biết
có nhận, chứ không biết cho. Chỉ biết có ích kỷ, chứ
không biết đến vị tha. Chỉ biết có bỏn xẻn, chứ chưa
bao giờ bố thí... Sống như vậy là trưởng dưỡng tham, sân,
si; sống như vậy chỉ gây thêm sóng gió cho đời và biến
cõi Ta Bà nầy Ta Bà hơn. Những người sống như vậy, theo
nhà Phật, là những con người đang trốn chạy chính mình.
Vì sao? Vì họ chưa bao giờ dám thẳng thắn trực diện với
chính họ; hoặc giả chưa bao giờ họ có can đảm đối đầu
với thực tại. Nếu họ có can đảm một chút để đối
đầu với hiện thực thì họ sẽ thấy rằng nếu ai cũng
muốn nhận mà không muốn cho thì lấy ai ra để mà cho;
có phải kết quả bi thảm sẽ là trộm đạo và cướp bóc
hay không?
Những
người con Phật quyết không trốn chạy, mà can đảm nhìn
vào sự thật để thấy hằng ngày chúng ta đã và đang thọ
nhận không biết bao nhiêu là công sức của người khác, từ
nhà ở, chén cơm, manh áo, phương tiện di chuyển, đến phương
tiện y khoa... Mỗi ngày có rất nhiều người làm việc cho
chúng ta; nhờ vậy mà chúng ta mới có thể tiếp tục sống.
Có phải là chúng ta đang thọ nhận nhiều lắm lắm đó không?
Đúng vậy quý bạn ạ! Như thế, muốn cho cán cân cho và nhận
được cân bằng, xin đừng đòi hỏi được nhận thêm, mà
xin hãy cho ra thêm nữa. Ngay cả trong ca dao bình dân mà ta còn
thấy rõ ý thức về cho và nhận, huống hồ là người con
Phật, chẳng hạn như: "Có qua có lại mới toại lòng nhau."
Hiểu được như vậy, người con Phật sẽ ý thức rằng đời
sống nầy là một tiến trình liên tục của sự cho và nhận,
chứ không riêng chỉ nhận mà thôi. Mà kỳ thật, chúng ta
không có sự lựa chọn nào khác. Tại sao? Tại vì nếu chúng
ta chỉ biết có nhận mà không cho lại một thứ gì khác,
thì sẽ đến một lúc không còn gì để nhận. Hoặc giả
nếu ai cũng chỉ nghĩ có nhận thì lấy ai cho?
Với
người Phật tử, cái cho không nhất thiết phải là tiền
bạc hay của cải vật chất mới là cho, mà là bất cứ thứ
gì. Thí dụ như thấy một đàn kiến đang bị nước cuốn
trong một vũng nước, ta bèn gát cây ngan cho chúng bò lên,
ấy là một cái cho tuyệt vời: cho mạng sống. Người Phật
tử có thể nghèo tiền nghèo bạc, nhưng trái tim họ đâu
có nghèo. Như vậy ít nhất chúng ta vẫn còn có trái tim để
cho. Thấy ai lo sợ về việc gì, mình bèn đến gần khuyên
lơn an ủi, ấy là cái cho cao quý rồi còn gì? Thấy ai không
biết về một việc mà mình biết, mình liền cố gắng giải
thích cho họ hiểu, ấy là cho... Những cái cho cao quý nầy
đâu cần phải có nhiều tiền nhiều bạc. Nếu ai trong chúng
ta cũng đều hiểu được như vậy thì đoan chắc rằng chúng
ta luôn luôn có cái để cho. Cho mà không bao giờ mong cầu
được đền trả lại, ấy là cái cho vô cùng cao quý vậy.
272.
XUẤT THẾ GIAN
Chủ
yếu của đạo Phật là chỉ dạy cho chúng sanh giải thoát
mọi phiền não và đau khổ. Hễ ở đâu có mâu thuẩn là
nơi đó có phiền não và đau khổ. Tuy nhiên, giải thoát khỏi
phiền não và đau khổ không có nghĩa là trốn chạy chúng,
nghĩa là ta không trốn chạy những mâu thuẩn. Người Phật
tử một khi quyết chí tu theo Phật thì cũng quyết chí nhận
rõ và đối mặt với phiền não và khổ đau. Một khi đã
quyết chí tu theo Phật là quyết chí xuất thế gian, chứ không
lừng khừng nửa xuất, nửa không. Người xuất thế gian có
khác người thế gian hay không? Khi nói đến xuất thế gian
là nói về tâm xuất thế gian, chứ thân nầy vẫn đây, vẫn
ở tại cái thế gian tạm bợ nầy. Người xuất thế gian
vẫn tích cực và siêng năng làm việc để nuôi mình và nuôi
những người thân; có điều là người xuất thế gian có
phần tỉnh thức và chủ động hơn trong mọi ý nghĩ và hành
động thường nhật; thân tâm họ có chừng mực hơn. Họ
luôn siêng năng tu hành để trưởng dưỡng thiện tâm. Họ
luôn đi con đường trung đạo. Người xuất thế gian cũng
sinh hoạt bình thường như mọi người, cũng ăn, uống, ngủ,
nghỉ... Có điều khác ở chỗ là họ ăn, uống, ngủ nghỉ
trong tỉnh thức, có chừng mực và trong chánh niệm.
Người
xuất thế gian luôn biết rằng đời sống nội tại nó cũng
khẩn thiết không kém chi đời sống vật chất bên ngoài.
Chính vì thế mà người xuất thế gian luôn dành nhiều thì
giờ hơn cho nội tâm. Họ luôn sống trong tỉnh lặng, chăm
chỉ và tự chủ. Họ luôn kiểm soát được những phản ứng
tự thân. Họ luôn biết rằng mọi quyến luyến là do tâm
thức và tình cảm làm phát sanh trước những huyễn cảnh.
Họ không bị ngã và ngã sở khống chế; họ cũng không bị
nghịch cảnh làm điên đảo, sân, si. Người xuất thế gian
sẽ bước đi từng bước chậm rãi; tuy nhiên, họ lúc nào
cũng tự tại nên chẳng bao giờ họ cảm thấy con đường
đi đến giải thoát của họ là xa xôi dịu vợi. Chính vì
thế, cho dù đơn độc lữ hành, họ không bao giờ cảm thấy
lẻ loi.
273.
TÁNH KHIÊM TỐN VÀ NHẪN NẠI CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
Những
người con Phật trong xã hội cận đại phải luôn nhớ rằng
mặc dù Phật không còn tại thế nữa, nhưng những tấm gương
sống rạng ngời của Ngài vẫn còn đây. Một trong những
đức tánh ấy là lòng khiêm tốn và tánh nhẫn nại. Đức
Phật đã nêu lại cho chúng ta một bài học vô cùng quý giá
về cuộc sống nhẫn nại và khiêm tốn của Ngài. Trong lúc
còn tại thế, Ngài đã hằng khuyên chúng đệ tử là hãy
sống nhẫn nại và khiêm tốn; không nên sân hận, hoặc trả
thù trả oán chi ai. Người con Phật phải luôn ôn nhu, hòa
nhã trong mọi trường hợp, trước mọi hoàn cảnh khiêu khích.
Người con Phật phải luôn sống thật đơn giản, càng đơn
giản càng tốt. Hãy nhìn vào Đức Từ Phụ thì sẽ thấy,
Ngài đã từ bỏ cung vàng điện ngọc để sống đời khất
sĩ, ấy là gì nếu không là một sự khiêm tốn thượng thừa?
Ngài đã an nhiên tự tại, mặc cho lũ nội ma ngoại chướng
quấy phá, ấy là gì nếu không là một sự nhẫn nại vượt
bực?
Theo
Phật, chính đức khiêm tốn sẽ dẫn đến ôn nhu, hòa nhã
và nhẫn nại. Khiêm tốn không có nghĩa là đầu hàng, hoặc
ương hèn thua thiệt... Khiêm tốn là tự khắc phục chính
mình; khắc phục những cảm xúc của mình; khắc phục
những tị hiềm nhỏ nhen, những cống cao ngã mạn, những
tự ti mặc cảm. Khiêm tốn còn có nghĩa là tự mình làm chủ
lấy mình, chứ không để cho tham, sân, si quật ngả mình.
Khiêm
tốn thật sự là một dấu chấm vĩ đại; nơi đó không có
hận thù, oan trái, mưu toan, căm giận, bất an, phiền não,
mất mát, oán ghét... Ngược lại trong khiêm tốn ta chỉ nhìn
thấy sự khoan dung, lòng quảng đại, tính dịu hiền... Người
Phật tử với tánh khiêm tốn sẽ luôn sống trong an vui, hạnh
phúc và thanh tịnh. Người sống trong khiêm tốn là người
thật sự sống trong sự giải thoát rốt ráo; giải thoát hoàn
toàn khỏi vòng nô lệ của tham, sân, si, phiền não và đau
khổ.
Tóm
lại, đạo Phật thậm thâm không chỉ riêng ở chỗ đưa chúng
sanh đến chỗ giải thoát, mà còn tạo cho con người một
cuộc sống thực tiển với cá tánh hài hòa, an lạc, thái
bình và hạnh phúc nữa.
274.
NGƯỜI QUAN SÁT VÔ TƯ
Đạo
Phật không những chỉ dành riêng cho những ai mong cầu giải
thoát, mà nó còn giúp cho con người có được cuộc sống
an lạc và tự tại. Một khi chúng ta đã biết rõ tính hư
ảo của các pháp thì lúc đó chúng ta sẽ tin chắc rằng nếu
không sớm hồi đầu, không ai trong chúng ta có thể tránh được
đau khổ. Tuy nhiên, cái quan trọng ở đây là hồi đầu bằng
cách nào? Bằng cách đến chùa nghe pháp, tụng kinh ư? Bằng
cách tham dự vào các khóa thiền quán ư? Hoặc bằng cách quy
y Tam Bảo? Tất cả những cách trên đều cần thiết; tuy nhiên,
cái quan trọng nhất vẫn là thay đổi chính con người của
chúng ta. Thay đổi hoàn toàn cái bịnh chủ quan của phàm phu.
Hãy nhìn tất cả các pháp bằng cái nhìn khách quan vô tư,
chứ không chủ quan, thiên kiến. Một khi chúng ta nhìn sự
vật bằng khách quan và vô tư thì dĩ nhiên cái nhìn ấy không
có thiên vị. Giữa ta và vật được nhìn không có một mối
liên hệ tinh thần đặc biệt nào cả. Giữa tâm ta và vật
có một khoảng cách. Chúng ta hoàn toàn độc lập với đối
tượng, chứ không bị ràng buộc hoặc liên kết. Cái nhìn
khách quan là cái nhìn vô tư; chúng ta hoàn toàn không thêm,
không bớt một chút nhân nhụy gì cho cái nhìn ấy. Lúc ấy,
ta là ta, đối tượng là đối tượng. Không có bất cứ một
mối quan hệ nào có thể làm sai lệch đi cái nhìn của ta.
Người
Phật tử mà luyện tập được rốt ráo cái nhìn khách
quan thì khi trông thấy vật gì chỉ thấy vật ấy mà thôi.
Khi nghe tiếng gì, chỉ nghe có tiếng ấy mà thôi. Khi có ý
tưởng nào, chỉ nhận thức có ý tưởng ấy mà thôi... Tỉ
dụ như thấy hòn núi là hòn núi, chứ không thêm không bớt,
không phân biệt. Núi là núi, không cao, không thấp, không đẹp,
không xấu... Ấy là cái nhìn khách quan. Nhìn thẳng vào trần
cảnh mà không bị trần cảnh lôi cuốn, ấy là cái nhìn khách
quan. Chúng ta phải khách quan trong bất cứ trường hợp nào
và bất cứ ở đâu. Khách quan từ sắc, thinh, hương, vị,
xúc, đến ý tưởng. Những gì ta thấy trên đường đi, đường
đời, đường tu... ta đều khách quan. Làm được như vậy,
thay vì bị trần cảnh chế ngự, ta sẽ kinh qua cuộc đời
một cách đứng đắn chứ không lầm lạc. Khi ấy ta sẽ có
cái nhìn vạn vật đúng y như chân tướng của nó, chứ không
còn nhận giả làm chân nữa. Lúc ấy chúng ta không còn là
nạn nhân của si mê nữa. Lúc ấy, không một tư tưởng nào
có thể chen vào tâm ta mà ta không hay biết rõ ràng. Lúc ấy
ta như bầu trời bao la thăm thẳm, mây có bay đến, bay đi,
ta đều hay biết, nhưng ta không mời, không giữ, cũng không
đuổi. Lúc ấy ta sẽ hoàn toàn hòa nhập với thiên nhiên
và vũ trụ bao la.
275.
PHẬT PHÁP VÀ THẾ GIAN
Đạo
Phật không những là con đường tu hành đưa chúng sanh đến
giải thoát, mà còn là con đường đưa con người đến một
cuộc sống hài hòa, ôn nhu, an lạc, tự tại và hạnh phúc.
Người con Phật chân chánh luôn có một thái độ sống tích
cực, sống thực với một phong cách cao đẹp của con người.
Người tu theo Phật không nhứt thiết phải vào rừng sâu núi
thẳm hay lên chốn non cao lánh tục. Trái lại, người con Phật
luôn tích cực nhập thế, hành đạo để cứu mình, cứu người
và cứu đời. Người ấy luôn kiên quyết thực hiện rốt
ráo lời dạy của Đấng Cha Lành: "Phật pháp bất ly thế
gian pháp." Người con Phật luôn can đảm thực hiện sự giải
thoát ngay tại thế gian nầy và ngay trong kiếp nầy, chứ không
lừng khừng chờ đợi ở một kiếp nào xa xôi.
Hãy
đi thẳng vào đời mà hành đạo; hãy sống và tu hành một
cách thật đơn giản. Sống một cách thực tế và nhẹ nhàng
thanh thoát, ấy là tu. Thấy đói, biết đói, nói đói và tìm
một cái gì ăn cho hết đói. Tuy nhiên, người con Phật không
lừa lọc để tìm miếng ăn; người con Phật không tìm miếng
cơm manh áo bằng những phương pháp bất thiện... Hơn nữa,
người con Phật chân chánh, khi thấy mệt, nói mệt; thấy
giận, nói giận... Duy chỉ có một điểm khác với phàm phu
là người tu theo Phật không chạy theo. Đói thì ăn cho hết
đói, chứ không phóng tâm khen chê, ngon dở; mệt thì nghỉ
ngơi cho hết mệt chứ không than trời trách đất, cũng không
ham mê ngủ nghỉ; giận thì nói rõ với người tại sao lại
giận, nói cho người hiểu rồi thôi, chứ không ôm mà cũng
không chạy theo cái giận, không giận hết năm này qua tháng
nọ. Buồn thì nói buồn, rồi thôi chứ không buồn rủ rượi.
Vui thì cũng vui nhưng không mê mệt với nó. Phật pháp gắn
liền với thế gian pháp ở những điểm nầy. Hễ ta phóng
tâm trịch đi một chút là ta tự tách rời Phật pháp ra khỏi
thế gian; làm như vậy là tự mình tách xa bồ đề. Chính
Đức Từ Phụ đã từng dạy: "Tách rời Thế Gian để đi
tìm giác ngộ là tự xa đạo Bồ Đề." Vì vậy, muốn đạt
được giác ngộ và giải thoát thì phải đi thẳng vào đời,
chứ không lẩn tránh, cũng không tự tách mình xa khỏi cuộc
sống thực tại của thế gian.
Như
thế, những ai cố xa lìa thế gian mà tìm chốn non cao núi
thẳm và thanh vắng để tu trì không phải là cách tích cực,
mà chỉ là tiêu cực, thụ động và trốn chạy. Với người
con Phật chân chánh, một khi đã quyết chí tu trì thì sơn
lâm hay thành thị, núi rừng hoang vu hay phố chợ ồn ào đều
là những đạo tràng cho ta tu. Tu trong mọi hoàn cảnh, bất
cứ lúc nào và bất luận ở đâu trong cuộc sống hằng ngày.
Từng bước đi an lạc và tỉnh thức là tu; tu không nhất
thiết phải ngồi yên quán tưởng; mà trái lại, tu là phải
thể hiện một cuộc cải cách tự thân và tự tâm qua hành
động thực tiển. Một thí dụ đơn giản và dễ hiểu nhứt
của sự tu hành là muốn biết hương vị của trà, xin đừng
tưởng tượng chi cho phí thêm thời giờ vốn dĩ đã không
có của chúng ta, hãy tự nâng tách trà lên uống, rồi sẽ
thấy hương vị của nó, thế thôi. Kinh điển chỉ chỉ vạch
cho ta đường nào nên đi; đi hay không là hoàn toàn tùy thuộc
ở ta, chứ lý thuyết viễn vông sẽ không bao giờ đưa ta
đến đâu cả. Muốn có tiền, phải ra công làm lụn, chứ
không có con đường chân chánh nào khác. Muốn có củi, hoặc
phải trồng cây, hoặc phải ra chợ mua...
Đạo
Phật đi thẳng vào đời như thế đó; đi vào đời một cách
tự nhiên và thong dong, chứ không vướng mắc. Muốn có gạo
ăn, hoặc phải trồng, hoặc phải mua, chứ không mưu toan sang
đoạt hay trộm cắp của ai, ấy là đạo. Người con Phật,
chẳng những sống hòa đồng với mọi loài, mà còn hòa nhập
với thiên nhiên, cây cỏ và vũ trụ nữa. Dù ở đâu, dù
thế nào, người con Phật luôn tin rằng với đuốc sáng Từ
Bi của Đức Phật, cho dù hoàn cảnh có khó khăn và cơ cực
đến đâu, cơn giông tố rồi cũng sẽ qua, mùa xuân rồi sẽ
đến, mặt trời rồi sẽ mọc. Người con Phật đi vào đời
với lòng tự tin như thế đó. Sẽ không còn một pháp
nào nữa khi có sự hiện hữu của an nhiên và tự tại. Với
ánh sáng của an nhiên và tự tại, thì tham, sân, si, ngã mạn,
cống cao, tà kiến, tị hiềm, cố chấp, tranh đua, lập dị
đều phải chào thua để nhường bước cho khiêm tốn, bình
dị, hạnh phúc và thoải mái.
Tóm
lại, người con Phật chân chánh luôn đi thẳng vào đời để
phụng sự; phụng sự mà lòng không vướng mắc, cũng như
đi thẳng vào trần cảnh mà không bị trần cảnh lôi cuốn.
Đứng trước mọi pháp mà mình vẫn an trụ như như, ấy là
thực hiện rốt ráo lời dạy của Đức Từ Phụ trong kinh
Kim Cang: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" vậy. Cứ thẳng
đường mà đi chứ không xoay đi ngoảnh lại. Với người
con Phật chân chánh sẽ không vướng mắc ở bất cứ thứ
gì thì chuyện mang Phật pháp đi thẳng vào đời chẳng những
là đúng, mà còn là một nhu cầu cấp thiết trong xã hội
văn minh loạn động hôm nay.
276.
TU TRONG PHIỀN NÃO
Trong
một buổi giảng pháp ở đạo tràng Huệ Quang, Phật tử đã
hỏi thầy Vân Đàm là làm sao để tránh được phiền não.
Thầy mỉm cười mà đáp rằng: "Phật tử ơi! Làm sao tránh
được phiền não đây? Thế giới nầy là thế giới Ta Bà,
là thế giới của phiền não nên chi ở trong Ta Bà mà đòi
không phiền não là chuyện không tưởng. Chỉ có một cách
duy nhất để tránh được phiền não là phải thoát cho ra
khỏi Ta Bà; muốn thoát khỏi Ta Bà là phải tu. Phải tu trong
phiền não quý Phật tử ạ!" Quả là một bài pháp ngắn mà
đầy đủ và tuyệt diệu.
Chính
Đức Từ Phụ đã từng dạy rằng: "Mỗi chúng sanh đều có
thể thành Phật." Tuy nhiên, chúng sanh vì bị vô minh che
lấp cho nên chẳng những không thấy được cái Phật tánh
của mình, mà lắm khi còn có quá nhiều hành động quấy ác,
khiến cho cứ mãi lăn trôi trong luân hồi sanh tử. Nhất là
con người, do bởi tâm lực điên đảo và mưu trí cao sâu,
thế nên họ đã và đang làm cho Ta Bà trở nên Ta Bà hơn.
Cái mưu trí cao sâu và tâm lực điên đảo nầy không chỉ
ảnh hưởng riêng một cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến gia
đình, xã hội, quốc gia và toàn thế giới nữa. Chính lòng
ái nhiễm và tánh tham lam bỏn xẻn của nhân tâm đã tạo
ra cả bầu khổ lạc cho nhân loại vậy. Như vậy, rõ ràng
là chúng ta đang ở trong một căn nhà lửa khổng lồ; mỗi
chúng ta đang thêm dầu cho lửa cháy lan, thế mà vẫn vỗ tay
đồng tình tán thưởng.
Chính
Đức Từ Phụ đã thấy rõ thế gian phiền não như vậy nên
Ngài đã vì thương xót chúng sanh mà thị hiện ra nơi đời.
Nếu thế gian nầy không có phiền não thì Ngài đã không thị
hiện để làm gì? Và có lẽ không ai trong chúng ta cần phải
tu, hoặc giả giáo pháp của Phật cũng không còn cần thiết
nữa. Kỳ thật, thế giới Ta Bà nầy là sự kết hợp của
vô vàn phiền não và khổ đau. Chính vì vậy mà ai trong chúng
ta cũng đều phải tu; chính vì vậy mà giáo pháp của Phật
là vô cùng cần thiết, nhất là trong thời buổi văn minh vật
chất nầy, con người vì tranh giành miếng cơm manh áo, cũng
như phương tiện xa hoa mà chà đạp lên nhau và gây thêm đau
khổ cho nhau.
Vậy
thì chúng ta phải làm sao đây? Chúng ta chỉ còn một cách
duy nhất là phải tu trong phiền não. Thật tình mà nói, dù
muốn hay không muốn, tất cả chúng ta rồi cũng phải tu, không
sớm thì muộn. Vậy thì chúng ta còn chờ đợi gì mà không
bắt đầu từ bây giờ? Đến chùa lễ Phật, nghe pháp, cúng
dường chư tăng và tu tâm... cũng tốt, nhưng chưa đủ. Tu
là phải cố gắng thật sự xuất thế gian. Xuất thế gian
không nhất thiết phải là đầu tròn áo vuông; có nhiều khi
đầu tròn áo vuông đã lâu mà chưa từng bao giờ xuất thế
gian. Xuất thế gian chân chánh là không còn bị chi phối bởi
cái phạm vi dời đổi không thường và luống dối không thật
của các pháp nữa. Những cái không thường chẳng thật ấy
đối với người xuất thế gian như nước đổ lá môn; nước
cứ đổ, nhưng có bao giờ thấm được lá môn đâu?
Tu
là phải tu cả ba nghiệp từ thân, khẩu đến ý. Tu là
phải tu trong bất cứ trường hợp nào và bất cứ ở đâu,
chứ không nhứt thiết là phải lui vào rừng sâu núi thẳm.
Lui vào rừng sâu núi thẳm có khi đạo Phật gọi đó là trốn
chạy, chứ không phải là tu. Trốn chạy loạn động và não
phiền của phố thị để lui vào sơn lâm cùng cốc thì lấy
phiền não và loạn động đâu nữa mà kinh nghiệm, mà thực
nghiệm tự thân, xem coi mình có diệt trừ được phiền não
hay không? Đạo Phật chủ trương tu trong phiền não. Đạo
Phật còn chủ trương Bồ Đề trong phiền não; hễ không
có phiền não thì cũng chẳng có bồ đề.
Sống
trong một xã hội tranh đua và chém giết mà ta vẫn tu. Tu về
thân là không nên sát sanh. Cho dù những sinh vật nhỏ, chúng
cũng là những người anh em nhỏ lạc loài của chúng ta. Lúc
chưa tu, từng bước chân dẫm lên bao nhiêu sinh vật, ta không
hề để ý; đến lúc tu rồi, từng bước chân dẫm lên mặt
đất, cho dù có nhẹ nhàng thế mấy, chúng ta cũng đã vô
tình giết hại không biết là bao nhiêu sinh vật nhỏ bé dưới
đôi bàn chân ta. Thế nên, từng bước chân đi là từng bước
nguyện cầu cho những người em nhỏ lạc loài nầy sớm được
về cõi Tây Phương Cực Lạc. Lúc tu rồi, ta thấy ta đã ngày
ngày vô tình giết hại chúng sanh quá nhiều, nên quyết không
cố tình làm hại thêm bất cứ một chúng sanh nào nữa. Tu
về thân là không trộm đạo. Quyền sở hữu là một quyền
thiêng liêng và quan trọng vô cùng vì vật chất cung cấp những
thứ cần thiết cho con người. Đức Phật đã từng khuyên
Phật tử tại gia nên nỗ lực sinh nhai bằng những phương
tiện lương thiện, chứ đừng bao giờ lừa lọc, đổi chín
làm mười, sang đoạt những gì không phải là của mình vì
tất cả những hành động ấy đều là trộm đạo. Tu
về thân còn phải đoạn trừ dâm dục vì dâm dục không những
là cái nhân của sanh tử luân hồi mà còn là đầu dây mối
nhợ của bao oán thù. Chính Đức Phật đã từng dạy: "Với
người xuất gia, muốn chứng quả Vô Thượng Bồ Đề, phải
đoạn trừ dâm dật; tuy nhiên, với người tại gia, chưa thể
dứt đoạn chánh dâm, nhưng phải tuyệt đối đoạn trừ tà
dâm. Tà dâm là lang chạ hoặc ngoại tình với những người
không phải là chồng vợ chánh thức của mình. Ngay cả vợ
chồng chánh thức, cũng phải có tiết độ."
Tu
về khẩu là không nói dối. Người tu nghe sao nói vậy. Việc
phải nói phải, việc quấy nói quấy. Việc có nói có, việc
không nói không. Không vì tiền tài vật chất hay uy vũ mà
ta bị khuất phục. Tu về khẩu là không nói lời thêu dệt,
nghĩa là không dùng lời lẽ trau chuốt, đường mật để
mua chuộc lòng người; hoặc để quyến rủ người làm điều
sai quấy. Tu về khẩu là không nói lưỡi hai chiều; không
đến bên nầy nói xấu bên kia; đến bên kia, nói xấu bên
nầy. Tu về khẩu là không nói lời hung ác. Trên đời nầy
lời lẽ hung ác đã quá nhiều rồi, xin hãy dùng lời lẽ
êm ái mà nói với nhau. Tu về khẩu rất ư là quan trọng;
hãy ngẫm nghĩ câu nói của cổ nhân thì ta sẽ thấy rõ cái
quan trọng của khẩu: "Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu
xuất." Vã lại, lời nói không mất tiền mua, xin hãy lựa
lời mà nói cho vừa lòng nhau. Nếu như tai họa đến với
chúng ta là do từ miệng thì tốt hơn hết là ta nên tịnh
khẩu. Một lời nói ra như mũi tên bắn đi; một khi đã ra
rồi thì khó lòng mà thu hồi lại được. Cũng như ly nước
một khi đã đổ, khó lòng mà hốt lại được cho đầy. Là
Phật tử chân chánh nên lắng nghe lời chỉ dạy của Đức
Từ phụ, hãy nói năng trong chánh pháp, mà im lặng cũng trong
chánh pháp. Xin hãy vô cùng cẩn trọng để đừng mang thêm
khẩu nghiệp. Ngoài ra, khi sự thật được nói lên mà gây
đau khổ và phiền não cho người khác thì người Phật tử
khoan hẳn nói, hoặc không nói. Hãy tìm cách mà nói cho đừng
hại đến chúng sanh khác. Tuy nhiên, khi làm như vậy,chúng
ta phải làm với tâm không dụng ý, không đánh lận con đen,
hoặc không làm vì danh vì lợi.
Tu
về tâm là tu về cái gì vô cùng phức tạp. Tâm không có
hình tướng; nói lớn thì nó lớn; nói nhỏ thì nó nhỏ. Nó
có thể được ví như thái hư hoặc giả như là hạt bụi
vi tế. Nói tới tâm là nói tới một cái gì vô cùng mông
lung, khó diễn tả. Tâm chân như, tâm sanh diệt. Hai tâm nầy
không rời nhau và đều bao trùm tất cả các pháp. Không biết
bao nhiêu là bút mực đã được dùng để nói về tâm,
thế mà vẫn chưa lột trần được tí gì về nó. Ở đây
chúng ta không cần phải dong dài về tâm mà chỉ cần biết
rằng tâm luôn a tòng với tham, sân, si, mạn nghi, ác kiến
để xô đẩy chúng ta lăn trôi không ngừng nghỉ trong vòng
luân hồi sanh tử. Chỉ với bấy nhiêu đó chúng ta phải mất
đến ba a tăng kỳ kiếp mới có cơ tẩy sạch hết tham,
sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Sự kết hợp của những chủng
tử luân hồi từ nho nhỏ, đến vừa vừa, rồi lớn
lớn; chúng kết hợp với nhau quá chặt chẻ khiến cho ta khó
lòng chặt đứt chúng được.
Chúng
ta đang sống trong một xã hội mà tham, sân, si chiếm mất
gần hết tâm của ta. Tuy nhiên, nếu lắng lòng suy nghĩ một
chút, chúng ta sẽ thấy rằng tham, sân, si đều là những vọng
tưởng, chứ chúng nào có thực thể. Chính những thứ giả
danh nầy đã biến chúng ta thành hiện thân của phiền não;
biến thân tâm chúng ta thành sản phẩm của chúng. Nếu không
khéo tu, chúng ta sẽ chẳng những nhận giặc làm con, mà chúng
ta sẽ luôn tiếp tay và trưởng dưỡng chúng. Cái trục trặc
của chúng ta là những cái đáng tu ta lại không tu; ngược
lại ta đi ôm đồm những thứ không đáng, hoặc không cần.
Thí dụ như chân mình còn lấm mê mê, thế mà cứ cầm đuốc
đi vê chân người. Lỗi mình chồng chất, mình chẳng thấy,
chỉ thấy lỗi người. Lỗi mình thì dễ tha thứ, còn lỗi
người thì quyết bươi móc cho đến cùng. Xin hãy tự soi rọi
lại chính mình để thấy tại sao chúng ta lại tham, sân, si...
Hãy khép cửa lại mà tự hỏi chính ta coi giận, hờn, thương,
ghét đã mang lại cho ta những gì? Nếu chúng chỉ mang lại
phiền não và đau khổ, xin đừng vướng mắc chi chúng.
Người
Phật tử luôn biết cải tạo thân tâm và hoàn cảnh để
cho mình và cho người được an lạc. Lúc nào cũng đổi sát
sanh thành phóng sanh; đổi căm thù, hung ác ra từ, bi, hỉ,
xả. Luôn nhẫn nhục trước mọi hoàn cảnh; nhẫn những cái
đáng nhẫn và nhẫn ngay cả những cái không đáng nhẫn.
Làm được như vậy thì cả thân, khẩu và ý đều thanh tịnh;
con người sẽ trở nên thanh thoát, sẽ thoát ly khỏi sanh tử
luân hồi. Hãy dùng pháp của Phật để đối trị những tham,
sân, si. Đối trị bằng cách nào? Bằng cách sống và
kinh nghiệm với chính tham, sân và si ngay trong lòng ta, chứ
không trốn chạy đi đâu cả.
Ai
đối trị dùm ai?
Tự
mình gây ra tham, sân, si thì cũng chính mình phải đối trị
chúng, chứ không ai có thể đối trị dùm ta cả, ngay cả
Phật. Cái quan trọng chủ yếu của người tu Phật là biết
lúc nào mình có phiền não để mà đối trị. Người Phật
tử chân chánh luôn tự tin rằng phiền não chính là những
cơ hội cho chúng ta tu. Mà kỳ thật, nếu không có phiền não
thì thế giới Ta Bà nầy cũng không cần Bồ Đề Tâm, hoặc
giả nó cũng không còn mang tên Ta Bà nữa. Nói thì
nói vậy, chứ phiền não vốn dĩ không có thật; nó chính
là sản phẩm của sự chấp trước và mê hoặc của chúng
sanh. Như vậy khi ta xa lìa chấp trước thì Bồ Đề tâm không
cần tìm mà vẫn phát, vẫn hiện.
Do
bởi mê lầm chấp trước mà đa số chúng ta đã nhận giặc
làm con; nhận tham, sân, si làm lính giữ nhà; thậm chí, nhận
chúng làm mình. Nào là tôi muốn; tôi giận; tôi buồn; tôi
biết; tôi không biết... Xin hãy bình tâm mà tu theo Đức Từ
Phụ. Đức Từ Phụ đã ngồi liên tục bốn mươi chín ngày
đêm dưới cội Bồ Đề; cái chuyện mà Ngài chứng đắc
này nọ, chúng ta không bàn ở đây. Ngay trước mắt, Ngài
đã chuyển tham, sân, si thành Bồ Đề. Điểm chính yếu là
Ngài đã hiên ngang dám mời tham, sân, si đi chỗ khác chơi,
thế nên Ngài giải thoát.
Muốn
diệt tham, sân, si không phải nhờ Phật, lại càng không nhờ
ở quý thầy, mà là nhờ ở ngay nơi mỗi người chúng ta.
Chúng ta phải hành trì, phải sống với kinh từng phút, từng
giờ, chứ không phải là học kinh cho thuộc làu để đi đó
đi đây biện giải hí luận. Người tu Phật không cần những
thứ thế trí biện thông vặt vảnh. Nếu chỉ cần học kinh
cho thuộc lòng để biện bác mà thành Phật được thì những
cái máy điện toán hoặc những cái máy thâu băng đã thành
Phật từ khuya rồi. Cái quan trọng trong việc tu Phật
là phải huệ tu, huệ văn và huệ tư, chứ không thuộc lòng
như cưởng như kéc. Phải hành trì, chứ không nói suông. Khi
tu ta nên tu thật tình, chứ không tu lừng khừng; hoặc tu đại
khái, chừa mai tu tiếp... Nếu chưa thật tâm tu, xin hãy khoan
tu. Nếu còn ý nghĩ tu đại khái thì đừng nên tu vì không
khéo, thay vì làm vơi nghiệp, chúng ta lại cõng thêm ác nghiệp
vào thân. Xin hãy suy đi nghĩ lại cho kỹ, rồi sớm tu, chúng
ta sẽ không còn bao nhiêu thì giờ nữa đâu.
277.
VÔ THƯỜNG
Từ
ngàn xưa lịch sử nhân loại đã từng cho thấy thế giới
nầy đã có không biết bao nhiêu là những nền văn minh tự
cổ chí kim; từ Ai Cập, Babylon, Incas, Maya, đến văn minh cận
đại Âu Mỹ. Tuy nhiên, nền văn minh nào rồi cũng vậy,
hễ lên đến tuyệt đỉnh rồi cũng mai một đi bởi luật
vô thường của vạn vật. Hết lúc thịnh đến hồi tàn suy
chẳng khác chi hoa nở, hoa tàn... Đức Thế Tôn tuy khởi đi
từ những kinh nghiệm của một con người; tuy nhiên, Ngài
đã sớm thấy những chi phối liên tục của vô thường nên
Ngài đã quyết chí phát đại nguyện: tìm đạo giác ngộ
và giải thoát.
Đức
Phật đã vạch rõ cho chúng ta thấy là chúng ta luôn có những
tham vọng; chính những tham vọng ấy đã bám chặt lấy ta.
Chúng ta chỉ chịu buông bỏ chúng sau khi trút bỏ hơi thở
cuối cùng. Thậm chí có lắm khi cho đến hơi thở cuối cùng,
chúng ta vẫn chưa chịu buông bỏ; nhưng vì hơi tàn sức tận
nên chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác; chứ nếu còn
hơi sức, chưa chắc chúng ta đã chịu buông, mà có lẽ hãy
còn muốn bám víu. Tại sao lại như vậy? Sở dĩ có tình trạng
nầy là vì sự lầm chấp của chúng sanh. Cứ tưởng rằng
thân nầy miên viển, của nầy vĩnh hằng. Này là ta, kia là
của ta... Có một đôi khi chúng ta chịu khó suy đi nghĩ lại
và có thấy những điều mình bám víu là vô vọng, thế nhưng
mình vẫn cứ bám víu.
Đức
Thế Tôn đã khuyên dạy chúng sanh một cách hết sức rõ ràng
trong kinh điển rằng: "Mọi vật, mọi pháp trên đời nầy
luôn biến chuyển; biến chuyển không ngừng nghỉ; biến chuyển
với tốc độ mà khả năng phàm phu của chúng ta không và
sẽ không bao giờ nắm bắt được chúng đâu." Hãy nhìn những
tang điền thương hải, những sông hóa cồn, những đám mây
trôi đến, trôi đi... Tất cả đều biến đổi trong tích
tắc. Thời gian trôi qua thế nào thì mọi vật cũng trôi qua
như thế ấy. Giáo lý nhà Phật gọi những biến chuyển và
đổi thay nầy là "Vô Thường." Tất cả những gì hiện hữu
trên thế gian nầy đều chịu chung số phận: biến đổi và
hư hoại, hoặc không thường còn, hoặc không mãi mãi ở trong
một trạng thái nhất định. Ngược lại, các pháp luôn thay
hình đổi dạng từ trạng thái nầy qua trạng thái khác; từ
hình thể nầy qua hình thể khác. Trời nóng thì nước sẽ
bốc hơi, mà lạnh quá thì nó sẽ đông lại thành băng, chứ
đâu được ở mãi trạng thái lỏng. Hãy quan sát một làn
sóng biển thì chúng ta sẽ thấy rõ ràng từ sinh, trụ, dị,
diệt. Từ mới khởi sóng (sinh); đến lúc sóng nhô lên cao
(trụ); rồi sóng hạ dần (dị); và rồi sóng tan biến đi
(diệt). Tương tự, trong thân thể ta, các tế bào sanh ra, phát
triển, yếu dần, rồi chết hẳn. Các tế bào trong cơ thể
ta, hoặc chính ta có khác chi những gợn sóng ba đào ấy đâu?
Mỗi giây phút chúng ta sống là mỗi giây phút chúng ta chết
dần. Một ngày trôi qua là một ngày ta đi gần hơn đến nhà
mồ. Từng giây, từng phút trôi qua là từng giây phút hoại
diệt trong ta. Tóc ta mới hồi sáng nầy còn xanh như những
ngọn cỏ non, thế mà đến tối đã bạc trắng nào khác chi
những đám cỏ khô úa, héo tàn. Nếu chịu khó để ý một
chút thì ta sẽ thấy rằng thân nầy chóng lớn, chóng già
và chóng tàn hơn ta dự tưởng. Hơn thế nữa, thân nầy chẳng
khác chi ngọn nến đang cháy dở; đâu phải đợi đến lúc
hết nến mới tắt, mà chỉ cần một cơn gió nhẹ thoảng
qua, nến cũng có thể tắt được.
Cái
trục trặc chính của chúng ta là dù có biết sự vô thường
của vạn pháp, chúng ta vẫn nhắm mắt đưa chân mà phủ nhận,
hoặc làm ngơ, để rồi phải rước lấy khổ đau. Dù biết
chúng ta sẽ già yếu, xấu xí với thời gian, nhưng chúng ta
vẫn cố bám víu và ưa thích cái non trẻ mà ghét cay, ghét
đắng cái già, cái xấu. Chúng ta không chấp nhận luật
biến đổi của vô thường để rồi khư khư ôm giữ một
cách tuyệt vọng những gì không ôm giữ được. Búa thời
gian nào có tha ai? Chính Đức Thế Tôn đã nhìn thấy sự vô
thường của vạn pháp nên Ngài đã chẳng những tự cảnh
tỉnh mình, mà còn dóng một hồi chuông dài để cảnh tỉnh
mọi người. Tiếng chuông ấy vẫn còn vang dội cho đến ngày
hôm nay và sẽ còn vang dội mãi mãi.
Người
con Phật, một khi đã quyết chí tu theo Phật, phải luôn tự
cảnh tỉnh để thấy rằng thân nầy vô thường, chỉ do tứ
đại duyên hợp mà có; thuận duyên thì còn, mà nghịch duyên
thì mất. Thân đã vô thường như thế thì tâm nầy còn vô
thường hơn thế nữa. Niệm đến, niệm đi còn vi tế và
nhanh gấp vạn triệu lần những gì xãy ra nơi thân. Niệm
thay đổi từng sát na với ngoại trần từ vui, buồn, thương,
ghét đến tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến... Mới sát na trước
ta đang nhớ đến ông bà ông vải của thời quá khứ, thì
sát na sau đà lo ngại cho tương lai của cháu chắc rồi. Thật
là đúng y như trong kinh Phật:
Tâm
người như vượn chuyền cây,
Hoặc
như ngựa dong không cương.
Hãy
bình tâm mà suy nghĩ thì sẽ thấy rằng cái ta không có trong
luật vô thường. Cái ta là cái gì? Là cái của năm trước
hay của năm nay? Của sát na trước hay của sát na sau? Không
có câu trả lời đâu quý bạn ạ! Tất cả đều vô thường,
đều tạm bợ và giả tạo. Thấy như thế thì chúng ta sẽ
không còn ham muốn chi những vui, buồn, thương, ghét. Thấy
như thế thì những thịnh những suy cũng sẽ giống như những
hạt sương mai trên đầu cỏ thôi. Thấy như thế thì những
tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến sẽ không còn đất dụng
võ trong ta. Thấy như thế, chúng ta sẽ không còn tự cho mình
là trung tâm vũ trụ nữa; do đó chúng ta sẽ không còn mơ
mộng chà đạp lên hạnh phúc và cuộc sống của người khác;
mà ngược lại, chúng ta sẽ cùng nhau nỗ lực biến Ta Bà
thành Tịnh Độ; biến cõi nước tạm bợ nầy thành cõi nước
của yêu thương và từ, bi, hỉ, xả.
278.
TỨ CHÁNH CẦN
Hơn
hai mươi lăm thế kỷ trước đây, Đức Thế Tôn đã thấy
rõ cái trục trặc chính của con người, cái nguyên nhân gây
ra những đau khổ triền miên và đưa đẩy con người lăn
trôi trong luân hồi sanh tử từ hết kiếp nầy qua kiếp khác.
Ngài đã thấy rằng chỉ vì không hành xử đúng hai chữ thiện
ác mà con người cứ mãi trục trặc, xã hội cứ mãi khủng
hoảng và bế tắc. Chính vì thế mà Ngài đã dạy rằng: "Muốn
tu đến rốt ráo giải thoát thì trước tiên mọi chúng sanh
phải thực hành cho kỳ được bốn điều cần thiết chánh
yếu sau đây: việc ác chưa sanh, đừng cho phát sanh; việc
ác đã sanh, phải tìm cách đoạn diệt. Việc thiện chưa sanh,
phải ráng cho nó phát sanh; việc thiện đã sanh, phải trưởng
dưỡng cho nó mãi phát triển. Làm được như vậy, không đòi
giải thoát vẫn giải thoát; không đòi thanh tịnh, vẫn thanh
tịnh."
Làm
con Phật, chúng ta quyết lấy câu chỉ dạy trên đây của
Ngài làm phương châm tu tập. Tinh cần không để cho khởi
sanh các ác pháp chưa sanh; tinh cần đoạn tận các ác pháp
đã sanh. Mà ác pháp là cái gì? Ác pháp là những điều dữ,
hoặc những điều có thể làm tổn hại cho mình và cho người,
trong hiện tại cũng như ở vị lai. Chúng ta biết rằng nếu
khởi tâm ham ăn gà dai, vịt dai mà đi tìm mua những con gà,
vịt sống để làm thịt, ấy là tổn hại đến chúng sanh,
nên không bao giờ khởi tâm như thế. Tuy nhiên, giả dụ như
ác niệm như thế đã khởi lên trong ta thì chúng ta hãy cố
bình tâm mà suy nghĩ rằng chúng ta là những người con Phật,
đã quyết tu trì, đã thọ tam qui ngũ giới, không lẽ lại
quên đi lời hứa với chính ta là không sát hại chúng sanh.
Thấy và hiểu được như thế thì cho dù ác niệm đã khởi,
chúng ta cũng có thể đoạn diệt được chúng ngay từ trong
trứng nước. Nếu có khởi tâm gian tham mà ta chịu bình tâm
suy nghĩ một chút thì sẽ nhớ lại rằng mình đang tu theo
Phật, đang giữ giới không tham lam. Lại nữa, của mình mà
có lỡ bị mất mát mình cũng buồn rầu, đau khổ, sao lại
nỡ lấy chi của kẻ khác khiến cho họ phải buồn rầu đau
khổ. Người con Phật quyết không làm vậy đâu. Khi muốn
khởi tâm đi bẻ hoa bắt bướm nhà người, lại nhớ tới
lời Phật dạy không tà dâm vì tà dâm chẳng những gây đau
khổ cho người, mà còn là nhân cho những kiếp luân hồi lăn
trôi nữa. Thấy và hiểu như vậy ta quyết không làm những
chuyện tà dâm đâu. Khi nói dối để được lợi mình mà
hại người là điều không thiện; thế mà mình đã quỳ trước
đài vô thượng giác nguyện trọn đời ăn ngay nói thẳng,
nên phải cố gắng giữ cho trọn lời thệ nguyện. Tóm lại,
ta quyết không để cho phát khởi những gì nghịch với từ
bi, bình đẳng và chơn lý. Nếu lỡ chúng phát khởi trong ta,
chúng ta phải thấy cho được mà đoạn diệt ngay.
Đối
với những thiện pháp thì ngược lại; chúng ta phải tinh
cần làm phát khởi các thiện pháp chưa sanh, và làm tăng trưởng
các thiện pháp đã sanh. Nhiều khi chúng ta có những ý định
hay đẹp, nhưng vì bản tính rụt rè, nhút nhát, sợ sệt,
hoặc thiếu nghị lực nên chúng ta không thực hiện được
những ý định cao đẹp trên. Với những bản tánh ấy, cho
dù ta có tài giỏi bao nhiêu, chúng ta vẫn không giúp ích gì
được cho ai. Người con Phật phải lắng nghe lời Phật dạy:
Tinh cần làm phát khởi các thiện pháp chưa sanh và làm tăng
trưởng các thiện pháp đã sanh, ấy mới xứng đáng là con
Phật. Người con Phật trưởng dưỡng thiện pháp bằng cách
nói bố thí là làm bố thí; nghĩ đến ái ngữ là nói lời
ái ngữ, chứ không thô lỗ cộc cằn. Xin đừng giải đãi,
đừng đợi, đừng chờ nữa, chúng ta sẽ không có bao nhiêu
thì giờ nữa đâu mà chờ với đợi. Làm việc thiện lành
giống như trồng lúa, còn tạo tác ác cũng giống như
loài cỏ dại; cho dù ta có chăm bón thế nào, những nhánh
lúa nầy cũng bị cỏ dại lấn lướt. Có lắm kẻ với bao
nhiêu ý định thiện lành, nhưng vì giải đãi, thiếu nghị
lực nên đã mang theo dưới đáy mồ những ý định thiện
lành nầy. Nói thiện lành, mà không làm thiện lành, ngược
lại chỉ làm những điều quấy ác thì cửa địa ngục vẫn
mở rộng đón ta vào. Như vậy đã là con Phật, chúng ta quyết
luôn hăng hái phát triển và hành trì những điều thiện lành
vì hễ một khi ta đi với thiện lành là ta không đi với xấu
ác.
Tóm
lại, tứ chánh cần nói dễ khó làm, nó giống như thuyền
đi ngược gió, hoặc giả như người tu phải đi ngược lại
với dòng đời. Tuy nhiên, không phải khó làm mà không cố
làm. Cơ hội được thân người và gặp được Phật pháp
có trở lại với chúng ta lần nữa hay không? Không ai trong
chúng ta dám cả quyết là có. Vậy thì ngay trong đời nầy
kiếp nầy, chúng ta phải phát đại nguyện; phải làm cho bằng
được những lời Phật dạy để thành Phật ngay trong đời
nầy kiếp nầy.
279.
VĂN, TƯ, TU
Bất
cứ tôn giáo nào cũng đều hướng con người đến chân thiện
mỹ; tuy nhiên, với đạo Phật, ngoài việc hướng con người
đến chơn thiện mỹ và cuộc sống an lạc, còn đưa con người
đến chỗ giải thoát rốt ráo nếu chịu công phu tu trì đúng
đường, đúng hướng. Như vậy người Phật tử tốt sẽ
luôn phát nguyện rèn luyện thân tâm; học và làm theo lời
Phật dạy; phát triển lòng từ bi rộng lớn để đi đến
tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn.
Làm
sao để đi đến chỗ rốt ráo tự giác, giác tha và giác hạnh
viên mãn? Bất cứ môn học nào cũng đều phải có phương
pháp rất rõ ràng, huống hồ là môn học giải thoát. Muốn
học toán, phải biết số, rồi mới đi từ từ đến cộng,
trừ, nhân, chia, giải tích, vi phân... Muốn học chữ, trước
hết phải hoặc biết chữ cái, hoặc biết những bộ chính
(như trong chữ Tàu)... Cách nay trên hai mươi lăm thế kỷ,
Đức Phật đã dạy cho chúng sanh một phương pháp học và
tu Phật, mà mãi cho đến bây giờ, vẫn còn là một chân lý.
Chẳng những là chơn lý cho việc tu học theo Phật, mà còn
cho bất kỳ một môn khoa học nào: nghe, suy nghĩ cho hiểu thấu
và hành trì cho rốt ráo. Theo Hán tự gọi là văn, tư và tu.
Tại sao phải nghe, hiểu rồi mới tu?
Chính
Đức Thế Tôn đã khẳng định rằng nếu chúng sanh nào không
hiểu giáo pháp của Ngài mà cứ nhắm mắt tu theo thì chỉ
là tu mù, kết quả sẽ chẳng đi đến đâu. Mà trước tiên
phải nghe coi Ngài nói gì; suy nghĩ xem coi những điều Ngài
nói có hợp với mình hay không; rồi hẳn tu theo Ngài thì mới
mong đạt được quả vị chánh đẳng chánh giác.
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu xem thế nào là Văn? Văn
là nghe; không phải nghe những chuyện thị phi của phàm phu,
mà là nghe giáo lý Phật Đà; nghe những lời kim ngôn ngọc
ngữ của Thế Tôn, được giảng giải bởi chư tôn thiền
đức, hoặc những thiện hữu tri thức. Hoặc có thể chính
ta đọc được những lời Phật dạy qua kinh điển, khiến
cho ta hiểu biết thêm về những sự thật cao quí trong Phật
pháp. Tuy nhiên, chỉ nghe, chỉ đọc rồi nhắm mắt làm theo
là mù quáng. Phật dạy rằng muốn hiểu rõ chân lý, chúng
ta phải suy nghĩ cho chính chắn, ấy là Tư.
Như
thế Tư là gì? Tư là suy xét và phán đoán những lời Phật
dạy được các thầy tổ hoặc thiện tri thức giảng giải.
Suy xét và phán đoán xem coi những điều nầy có hợp với
lẽ phải và chân lý hay không. Nếu quả thật là hợp với
lẽ phải và chân lý thì chừng đó chúng ta mới tin theo; chừng
đó chúng ta mới dùng những giáo pháp của Ngài như những
ngọn đuốc sáng để soi rõ những kỳ hoa dị thảo trên đường
đi đến đất Phật. Chừng đã hiểu và tin theo giáo pháp
của Ngài thì chúng ta quyết chí theo Ngài mà không còn một
mãi mai nghi ngờ nữa. Lúc ấy chúng ta sẽ đi thẳng; đi không
buồn ngoảnh lại. Thí dụ như một khi đã hiểu rõ về luật
vô thường, chúng ta sẽ vui vẻ mà trả những nợ nần năm
cũ, chứ không kỳ kèo bớt một thêm hai chi cho thêm nặng
gnhiệp. Khi đã biết rõ luật vô thường thì chúng ta sẽ
không lo âu sợ sệt trước những sanh, lão, bệnh, tử, hoặc
trước những cái nhức đầu, sổ mũi nữa; mà ngược lại,
chúng ta sẽ xem chúng và nhận chúng như là những thông điệp
khuyến tu. Do đó, sự tu hành của chúng ta sẽ tinh tiến và
chóng có kết quả hơn. Với lòng tin vững chắc: thế gian
là vô thường, thì chúng ta chẳng những sẽ dửng dưng trước
sự sinh, trụ, di, diệt của thiên nhiên và vũ trụ, mà chúng
ta sẽ dửng dưng với những cái vô thường ở ngay chính ta.
Từ đó chúng ta sẽ không còn coi trọng cái ngã hoặc ngã
sở nữa. Sau khi ta đã có khả năng dửng dưng với thiên nhiên,
vũ trụ và chính ta thì cái việc tu chỉ là con đường thẳng
tấp đưa ta đến giải thoát mà thôi.
Thế
nào là tu? Sau khi xem xét và phán đoán những lời Phật dạy
là đúng, là hợp với lẽ phải, là chơn lý, bấy giờ
chúng ta sẳn sàng cho một cuộc hành trình trở về. Trở
về tìm lại bản lai chân diện mục; trở về tìm lại chính
mình. Thí dụ như sau khi biết rõ lẽ vô thường của nhà
Phật là một chơn lý không thể nghĩ bàn thì cho dù cái gì
xãy đến với ta, ta cũng mỉm cười mà chấp nhận. Những
cơn sốt, sổ mũi, nhức đầu, nóng lạnh... đối với ta chỉ
là những bức thông điệp nhắc nhở chúng ta tu mau kẻo trể,
thế thôi. Do thấy lẽ vô thường nó không thiên vị
một ai; do thấy nến không nhứt thiết phải hết mới tắt,
mà chỉ cần một cơn gió nhẹ thoảng qua cũng làm tắt nến,
nên chúng ta quyết chí tu trì, chứ không chịu ngồi yên chờ
chết. Chúng ta sẽ nỗ lực làm lợi mình, lợi người. Do
nhận rõ luật nhân quả luân hồi của nhà Phật là đúng,
là một chân lý không thể nghĩ bàn, nên ta quyết tâm tu trì
để không còn bị lôi cuốn vào cái vòng lẩn quẩn ấy nữa.
Chúng ta sẽ tu một cách tinh chuyên để vượt ra khỏi sức
hút của luân hồi sanh tử, như chiếc phi thuyền vượt ra
khỏi sức hút của trái đất để tự do bay vào không trung
của vũ trụ.
Tóm
lại, một người học tu theo Phật không thể nào thiếu một
trong ba thứ văn, tư và tu; chúng như chiếc đỉnh ba chân,
hễ thiếu một chân, chiếc đỉnh ấy sẽ đổ nhào. Vậy
thì đi chùa không chưa đủ; đi chùa phải nghe pháp; nghe pháp
cũng chưa đủ; nghe rồi phải suy nghĩ coi pháp đã nghe có
hợp lý hay không? Xem coi pháp ấy có hợp với căn cơ trình
độ của mình không? Hoặc giả mình có hiểu pháp không? Cái
nào chưa hiểu, chưa rõ thì hỏi lại cho hiểu, cho rõ. Đã
hiểu rõ rồi thì phải cố công tu trì và thực hành
cho rốt ráo. Một khi đã triệt để áp dụng văn, tư và tu
vào cuộc hành trình trở về của mình thì chẳng bao lâu sau
chúng ta sẽ có khả năng chế ngự chính bản thân ta, gạn
lọc những điều xấu ác, những bợn nhơ, cặn cáu... Do đó
ta dù chưa giải thoát rốt ráo, cuộc sống ta cũng đã an nhiên
và tự tại lắm rồi vậy.
280.
QUYẾT THÀNH PHẬT
Ngoại
trừ Phật, A La Hán và Bồ Tát, còn thì tất cả đều phải
trôi dạt, chìm nổi trong vòng sanh tử luân hồi. Tại sao Phật,
A La Hán và Bồ Tát lại tự chủ đối với sanh tử, mà chúng
sanh thì cứ mãi lăn trôi? Tại vì các ngài đã đoạn trừ
hết vô minh, công đức các ngài đã đầy đủ, tánh giác
đã chứng ngộ đến chỗ hoàn thiện, hoàn mỹ, đã thành
tựu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác; còn chúng
sanh thì vô minh chưa dứt, công đức lúc vơi, lúc cạn thì
làm sao mà thoát được sanh tử đây, chứ đừng nói chi đến
chuyện hoàn thiện hoàn mỹ, hoặc chứng quả vô thượng chánh
đẳng?
Trong
các kinh điển Phật giáo, chúng ta thường nghe nói đến "Tức
tâm tức Phật," "Vô tâm thị Phật," "Tâm chơn như, tâm
sáng là Phật..." Nói, hoặc nghe nói thì dễ, chứ tu trì cho
được cái tâm chơn như đâu phải dễ. Nếu dễ thì giờ
nầy chúng ta đâu còn làm chúng sanh. Tuy nhiên, dễ hay không
dễ gì, một khi đã phát tâm tu trì là phải tu cho đến khi
thành Phật mới thôi. Phát tâm thành Phật là hạnh đầu và
cũng là hạnh cao quý nhất của người tu theo Phật. Lại nữa,
người tu theo Phật mà không phát tâm thành Phật, chứ phát
tâm thành cái gì đây? Không lẽ lại phát tâm thành ma Ba Tuần!
Người con Phật mà chưa phát tâm thành Phật là còn lừng
khừng, ai sao tôi vậy... Như vậy chưa phải là con Phật. Ai
đi chùa, tôi cũng đi chùa; ai niệm Phật, tôi cũng niệm Phật;
ai tụng kinh, tôi cũng tụng kinh... Như vậy có một lúc nào
đó ai đi casino, tôi cũng đi casino; ai đi Las Vegas, tôi cũng
đi Las Vegas. Đó chính là cái nguy hại của những kẻ lừng
khừng. Thà khoan hẳn tu, chứ đừng tu theo những "Thích Đại
Khái." Tu như vậy, nghiệp trước chưa hết, nghiệp sau
đã dập dồn.
Một
khi đã quyết tâm tu Phật, dù xuất gia hay tại gia, phải nhận
biết rõ rằng: "Phát tâm thành Phật" là hạnh nguyện căn
bản. Chính sự phát tâm nầy sẽ đưa ta đến những thao thức
ôn tầm chánh pháp, thấy rõ đâu là con đường đưa đến
chân lý. Một khi đã biết rõ chánh pháp và chơn lý rồi thì
con đường tu trì sẽ dễ dàng và thênh thang hơn.
Có
phát tâm thành Phật ta mới phấn chấn vạch bỏ bức màn
vô minh để thấy rằng những khoái lạc vật chất, giàu có,
ăn ngon, mặc đẹp, quyền uy, danh vọng, chức tước, địa
vị... chỉ là những giọt nước mưa xuyên qua ánh mặt trời,
trông thì giống như những hạt kim cương, nhưng có bao giờ
ta nắm bắt được chúng đâu? Có chăng chúng chỉ làm mát
tay ta trong giây lát mà thôi. Cũng từ cái phát tâm thành Phật
nầy mà ta mới thấy được cõi Ta Bà nầy là một bể khổ
mênh mông; trong đó nhơn tình lầm than, đói khổ, rét mướt;
xã hội đầy dẫy những bất công với cảnh cá lớn nuốt
các bé, thú lớn ăn thú nhỏ, người ăn thú, và người bóc
lột người. Từ thấy như vậy đó, phát tâm thành Phật sẽ
trở thành quyết tâm thành Phật và do đó công cuộc tu trì
của ta sẽ trở nên mãnh liệt hơn. Chúng ta quyết làm những
con chim bay bổng trên vòm trời bao la thăm thẳm, cao tít mù
khơi. Chúng ta quyết hòa nhập với thiên nhiên và vũ trụ.
Người
con Phật một khi đã hiểu rõ con đường mình đi sẽ chẳng
những tự mình phát tâm thành Phật, mà còn làm cho mọi chúng
sanh phát tâm thành Phật nữa. Chẳng những tự mình thoát
khỏi những mê lầm, ngu tối và đau khổ, mà còn giúp người
khác thoát khỏi những ngu tối và khổ đau của cõi Ta Bà
nầy. Muốn làm được điều nầy, người con Phật luôn nhớ
điều kiện căn bản là "gieo nhân nào, gặt quả đó." Gieo
nhân thiện, gặt quả thiện; gieo nhân ác, gặt quả ác; gieo
nhân Phật thì đương nhiên phải gặt quả Phật thôi. Nhân
như thế nào thì quả cũng như thế ấy. Đã gieo nhân Phật
mà muốn thành cái gì khác Phật cũng không được. Lại nữa,
đã biết Phật là cao thượng vô cùng vì thế ta cứ hướng
thượng, hướng về Phật mà tiến lên, chứ không được
dăm ba chút rồi tự ngã mạn cống cao... Hãy cố gắng hướng
thượng, dù biết rằng trông xuống mình có hơn dăm ba người,
nhưng trông lên thì quả tình là mình chẳng bằng ai. Người
Phật tử hướng thượng bằng cách nói thiện là làm thiện;
nói bố thí, làm bố thí; nói giữ giới, là giữ giới; nói
từ bi, làm từ bi; nói hỉ xả, là hỉ xả... Hướng thượng
như thế ấy và hướng thượng một cách rộng rãi. Có phát
tâm được như vậy mới thực sự gọi là tu Phật. Từ quyết
tâm ấy ta mới thẳng tiến, chứ không loanh quanh nữa.
Tóm
lại, một khi đã quyết tâm thành Phật thì con đường tu
của ta nó sẽ sáng sủa thênh thang. Cho dù chưa đến
quả vị Phật, ta và toàn thiện, toàn mỹ đã gần như là
một vậy. Cuộc sống ta là cuộc sống cao cả với sự phát
triển của những tinh hoa trên đời. Ta vượt lên tất cả
mọi sự; ta và vũ trụ đã là một vậy.
281.
BỒ ĐỀ
Trên
phương diện Phật lý mà nói thì ai trong chúng ta cũng đều
có Phật tánh; tuy nhiên, nếu chúng ta không tu trì đúng cách
thì cái Phật tánh ấy sẽ chẳng bao giờ hiển lộ. C