MỤC
LỤC
311.
Sức Mạnh Nào Phá Vỡ Địa Ngục?
312.
Thế Nào Là Chúng Sanh Vô Biên Thệ Nguyện Độ?
313.
Tu, Làm Phật Sự và Làm Công Quả
314.
Chư Phật Đã Tu Hành Như Thế Nào Mà Được Thành Phật?
315.
Các Pháp Đều Hư Huyễn
316.
Phải Suy Nghĩ Thế Nào Cho Chơn Chánh?
317.
Tình Thương Không Vướng Mắc
318.
Con Đường Của Người Tu Phật
319.
Định Luân
320.
Tịnh Chư Nghiệp Chướng
321.
Người Độn Căn Có Thể Tu Thành Phật Không?
322.
Tám Điều Giác Ngộ
323.
Đạo Phật, Con Đường Hạnh Phúc Và Giải Thoát
324.
Mái Chùa Che Chở Hồn Dân Tộc
325.
Người Phật Tử Sợ Gì Và Không Sợ Gì?
326.
Chúng Ta Nguyện Gì Trong Ngày Khánh Đản?
327.
Lăng Nghiêm Chánh Định
328.
Thành Phật Trong Đời Nầy
329.
Người Tu Và Sự Nóng Giận
330.
Chừng Nào Mình Mới Cầu Siêu Cho Mình?
331.
Cách Cúng Dường Cao Quí Nhất
332.
Ai Tìm Lối Thoát Cho Tuổi Trẻ?
333.
Viết Cho Những Người Bạn Trẻ
334.
Trợ Đạo Cứu Đời Nhân Ngày Khánh Đản
335.
Chúng Ta Cần Lắm Những Tịnh Xá
336.
Những Vướng Mắc Không Cần Thiết Của Người Phật Tử
337.
Quyết Về Quê Hương Chân Như
338.
Bốn Loài Quỉ Dữ Phá Hại Bồ Đề Tâm Của Những Người
Con Phật
339.
Kim Cang Chánh Niệm
340.
Làm Cách Nào Cho Phật Tánh Hiển Lộ?
341.
Biện Giải Hí Luận Đi Về Đâu?
342.
Sáu Con Đường Dẫn Tới Địa Ngục
343.
Cuộc Hành Trình Cô Đơn
344.
Vô Tâm
345.
Phát Bồ Đề Tâm
346.
Cầu Nguyện Trong Đạo Phật
347.
Con Đường Giải Thoát
348.
Cuộc Sống Thiện Hạnh
349.
Hãy Quay Về Chăn Giữ Chính Tâm Mình
350.
Đường Vào Đạo Phật
351.
Người Biết Sống Một Mình
LỜI
MỞ ĐẦU
Kính
thưa Quý Đạo Hữu,
Đức
Thích Tôn Từ Phụ vì thương xót chúng sanh mọi loài, nên
Ngài đã tùy theo căn cơ trình độ mà giảng pháp để hóa
độ cho ai nấy đều có thể thoát ra khỏi vũng lầy của
luân hồi sanh tử. Quý thầy cũng đã và đang nối gót Phật
Tổ Gotama mà tiếp tục xiển dương đạo pháp, cũng với tâm
nguyện mong cho ai nấy đều có cuộc sống hạnh phúc và cuộc
tu giải thoát. Phật Tổ và quý thầy đã và đang mở toang
cánh cửa giải thoát cho chúng ta rồi đó; vào hay không là
tùy ở mỗi người chúng ta. Tuy nhiên, lời Phật tổ dạy
vẫn còn văng vẳng: "Thân người khó được, diệu đạo lại
càng khó gặp hơn." Nay được thân người, lại có cơ may
gặp được diệu đạo, không lẽ chúng ta bỏ qua cơ hội
ngàn vàng nầy để cho thời gian luống qua vô ích, thì quả
là uổng cho một kiếp người. Lâu nay tôi có cơ duyên được
mỗi tuần đi nghe pháp từ các thầy cũng như tự thân tham
biện Phật kinh và hằng ngày thiền quán. Vì thấy rằng những
lời chỉ dạy nầy thật vô cùng lợi lạc cho mình và những
người thân, nên phát tâm tiếp tục biên soạn lại để chia
sẻ cho ai nấy đều được lợi lạc như mình.
Kính
thưa quý vị,
Phật
pháp thì thậm thâm vi diệu, mà sức người nào có khác chi
một hạt cát trong sa mạc mênh mông. Thế nên, cho dù có cố
gắng thế nào đi nữa, thì với tài hèn sức mọn nầy, tôi
cũng không làm sao mà nói lên hết được ý của chư Phật
và quý thầy. Tuy nhiên, với tâm nguyện chia sẻ cho mọi người
đều được lợi lạc, tôi mong rằng những sai sót của lần
nầy là những nhân duyên đóng góp cho sự sáng rực của hạt
Kim Cương Pháp Bảo về sau nầy.
Kính
thưa quý vị,
Với
tôi, đạo Phật là con đường duy nhất chẳng những giúp
ta vượt qua những gai gốc của cuộc sống vật chất loạn
động hôm nay, mà đạo Phật còn là con đường duy nhất đưa
chúng ta đến bến bờ giác ngộ và giải thoát. Như vậy,
hễ những ai hằng đem đạo Phật vào cuộc sống thì người
ấy sẽ có cuộc sống hạnh phúc; hễ những ai quyết về
nương nơi Tam Bảo mà tu trì, thì cuộc tu sẽ đưa người
ấy đến giác ngộ và giải thoát. Có một điều mà tôi muốn
chia sẻ cùng quý bạn là từ ngày tôi đến gần với Phật
pháp thì con người tôi bớt hẳn tham, sân, si, mạn, nghi, và
tà kiến. Cuộc sống tôi và những người thân tôi trở nên
an lạc và hạnh phúc hơn nhiều. Chúng ta đã đến với cuộc
đời nầy bằng tiếng khóc của khổ đau, tiếng khóc của
não phiền trong thế giới Ta Bà, tiếng khóc của nghiệp chướng
tiền khiên. Chính tiếng khóc nầy nó báo hiệu cho chúng ta
một cuộc hành trình vô định trong vô minh do bởi nghiệp
chướng tiền khiên, để rồi ta cứ lăn trôi và tạo thêm
hậu quá. Cứ thế mà luân hồi sanh tử. Đức Thích Tôn Từ
Phụ đã khẳng định trong những lần thuyết giảng của Ngài
là thân người khó được, mà diệu đạo lại càng khó gặp
hơn. Do bởi vô minh dẫn dắt mà con người đã tạo ra những
nghiệp chướng tiền khiên, cũng như những nghiệp chướng
gây ra bởi hậu quá. Nghiệp chướng nầy nối tiếp nghiệp
chướng kia; nghiệp chướng sau chồng lên nghiệp chướng trước,
cứ thế mà chất chồng. Chính vì thế mà Đức Phật đã
dạy rằng con người mà được tái sanh trở lại làm người
rất ư là hãn hữu, nhưng bị đọa vào tam đồ ác đạo thì
nhiều vô số kể.
Kính
thưa quý vị,
Nếu
chúng ta không quyết tâm tu tập hành trì theo Phật lần nầy,
chắc chúng ta không có lần nào khác nữa đâu để mà tu với
hành quý vị ạ. Hãy can đảm lên, hãy tự mình thắp
đuốc lên mà đi cho ra khỏi khu rừng vô minh tăm tối nầy.
Hãy vững tin rằng với đuốc sáng Từ Bi của Phật Tổ Gotama,
cho dù hoàn cảnh có khó khăn cơ cực đến đâu, cơn giông
tố đêm Đông rồi sẽ qua, mùa Xuân rồi sẽ đến, mặt trời
rồi sẽ mọc. Với đuốc sáng Từ Bi của Phật Tổ, nếu
ta quyết tâm tu trì thì cho dù chúng ta có đến với cuộc
đời bằng tiếng khóc, chúng ta sẽ ra đi bằng tiếng cười
của an lạc, tự tại và giải thoát. Tuy nhiên, một điều
vô cùng quan trọng cho những ai quyết chí tu theo Phật là đừng
nói, đừng rằng, mà hãy tu trì. Hãy thầm thầm tiến tu theo
những lời Phật dạy. Hãy cố mà thông triệt cho được Tứ
Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Tứ Chánh Cần, Ba Mươi Bảy Phẩm
Trợ Đạo cũng như những pháp môn tuyệt vời của Phật Tổ,
thì không lo gì cuộc sống ta không hạnh phúc, cũng không lo
gì cuộc tu ta không giải thoát. Hãy đừng nói, vì nói cũng
chỉ là vô ích mà thôi. Làm sao chúng ta có thể lấy phàm
ngôn phàm ngữ để diễn tả được thánh ý của chư Phật
đây? Hãy noi gương của Đức Thích Tôn Từ Phụ: Chính Ngài
đã thuyết giảng bốn mươi chín năm, thế mà Ngài đã phủ
nhận chưa từng nói một lời nào trong suốt bốn mươi chín
năm hoằng pháp.
Cuối
cùng tôi xin chân thành tâm nguyện cho ai nấy đều có cơ duyên
gặp được diệu đạo để cùng nhau lần về quê hương vô
sanh mà chúng ta đã một lần dại dột xa lìa.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Viết
tại California mùa Đông năm 1997
Thiện
Phúc
311.
SỨC MẠNH NÀO PHÁ VỠ ĐỊA NGỤC?
Địa
ngục theo Phạn ngữ là Niraya hoặc Naraka, có nghĩa là chỗ
trừng trị và hành phạt những kẻ làm ác hoặc làm khổ
kẻ khác. Địa ngục là nơi chẳng vui hoặc chẳng có thể
vui được vì nơi đó có đủ mọi thứ khổ. Địa ngục là
nơi tăm tối, nơi mà chúng sanh không hề nghe biết chánh pháp.
Địa ngục không phải đợi đến chừng nào mới đọa, mà
là đọa ngay trong đời nầy kiếp nầy. Những kẻ làm ác
ở đời nầy, phải chịu đọa địa ngục hiện tiền. Thí
dụ như ngày ngày ta cứ gây sầu chuốc oán cho người thì
chẳng những người khổ, mà ta cũng khổ; ngày ngày ta cứ
vùi đầu vào những cuộc truy hoan trụy lạc tạm bợ, không
chịu đi nghe chánh pháp để sống đời đạo đức... ấy
là gì nếu không là địa ngục? Địa ngục có nhiều thứ
mà trong hạn hẹp bài nầy không thể kể tên của từng thứ
một; tuy nhiên, từ căn bản, cận biên, cô độc, đến vô
gián đều là địa ngục. Dù không giống nhau về cách bị
đày đọa, nhưng có đày đọa nào mà không khổ đau?
Từ
khởi thủy của thế giới Ta Bà, chúng sanh đã sống trong
miên trường đau khổ. Chúng sanh đã lăn trôi hết thân nầy
đến lốt khác, cứ thế mà trở lên lộn xuống. Trước khi
Phật tổ Thích Ca thị hiện thì cũng có những tôn giáo thờ
trời, hoặc thờ thần; tuy nhiên, tất cả chỉ nhằm mục
đích phục vụ một thiểu số quyền lực hoặc Phạm Thiên,
chứ không giúp ích gì cho đại đa số chúng sanh đang trầm
luân khổ hãi. Về phần chúng sanh thì mạnh ai nấy nuôi dưỡng
phàm phu và chúng sanh tánh, nuôi dưỡng tham, sân, si, mạn,
nghi, tà kiến. Cứ mãi trầm mê trong hình danh sắc tướng,
hoặc giả tiền tài vật chất, đến nỗi không còn biết
đâu là đường ra lối vào nữa. Đến khi Phật tổ thị hiện,
Ngài đã chỉ rõ cho chúng sanh biết đường nào về giải
thoát, lối nào đến địa ngục. Tuy nhiên, chỉ có chúng ta
mới làm được chuyện ấy chứ không ai có thể làm được
chuyện ấy; không ai có thể làm thay ta., ngay cả Phật tổ.
Chỉ có sức mạnh từ mỗi chúng ta mới phá vỡ được địa
ngục mà thôi. Dù rằng không thiếu gì những Bồ Tát đã
thệ nguyện đi thẳng vào địa ngục để cứu độ chúng
sanh, như U Minh giáo chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát chẳng hạn,
Ngài đã nguyện rằng hễ địa ngục mà còn dù chỉ một
chúng sanh thì Ngài chẳng thành Phật. Ấy là hạnh nguyện
cao cả tuyệt vời; tuy nhiên, có chịu ra khỏi địa ngục
hay không là còn tùy ở chúng sanh. Những điều vừa kể trên
cũng đủ cho chúng ta thấy rõ ai và sức mạnh nào có thể
phá vỡ địa ngục.
Chính
mình lăn trôi tạo nghiệp, gây ra tội ác và chính mình xây
địa ngục cho mình, thì cũng tự chính mình phải phá tan gốc
rễ của tội ác, làm phát sanh phước đức và công đức
để phá vỡ cái địa ngục đó, chứ không ai có thể làm
được chuyện nầy. Như vậy, chuyện phá địa ngục không
phải dùng một sức mạnh nào ởở ngoài, mà phải từ trong
ta, tức là mình phải nương theo những lời Phật dạy để
chuyển phàm tâm thành Thánh trí. Nhờ đó mà chúng ta từ từ
xa rời những tội lỗi và ác nghiệp. Muốn làm được chuyện
nầy, chúng ta phải thành tâm quỳ trước đài Vô Thượng
Giác mà sám kỳ tiền khiên, hối kỳ hậu quá. Quyết từ
đây dứt bỏ mọi tội lỗi, mọi ác nghiệp. Đi chùa, tụng
kinh, niệm Phật, làm công quả, làm Phật sự, ngồi thiền...
đều là những phương tiện tiến tu thù thắng; tuy nhiên,
pháp môn thù thắng và mầu nhiệm nhứt để phá vỡ địa
ngục vẫn là tự chiến thắng những nội ma nơi chính ta;
từ tham, sân, si, đến mạn, nghi, ác kiến. Phải thắng cho
được những nội ma ấy thì người con Phật mới có đủ
trí huệ và sức mạnh để phá vỡ địa ngục được. Người
con Phật luôn nhớ rằng người ngoài tham thì ta thấy rất
dễ, chứ cái "Tham" trong ta, ta khó thấy, khó biết lắm. Tuy
nhiên, hãy tự xét với lòng mình xem coi có ngày nào mà mình
không tham trong đời sống hằng ngày? Vì những tiện nghi của
cuộc sống văn minh vật chất mà ta tham tiền, tham quyền,
tham địa vị. Vì muốn cho thân nầy phè phởn mà ta chà đạp
lên bao thân khác. Vì ham hưởng thụ mà ta phải kiếm cho thật
nhiều tiền; lắm khi bất chấp cả đạo đức, hoặc bất
chấp cả những hành vi tội lỗi. Phật tử ơi ! Đời người
hữu hạn và giả tạm. Khi bỏ thân tứ đại nầy, chúng ta
sẽ còn gì? "Tham" chính là những viên gạch xây tường cho
địa ngục. Nếu chúng ta không khéo tu, thì chắc chắn mỗi
ngày chúng ta cứ tiếp tục cung cấp vật liệu để xây cho
địa ngục ngày càng lớn thêm lên. "Tham" mà không toại nguyện
thì đâm ra bất mãn, hoặc sân si, cuồng hận. Chính lòng tham
làm mờ ám lương tri và do đó mà mạn, nghi, ác kiến đồng
phát sinh. Sân si chính là những chất xi măng nối kết những
viên gạch "tham" lại với nhau thành một địa ngục kiên cố
và vô gián. Một khi đã có đủ tham, sân, si, mạn, nghi, ác
kiến rồi thì đâu còn chỗ nào cho từ, bi, hỉ, xả, nhân
hòa, nhẫn nhục nữa. Là Phật tử nên luôn vâng giữ lời
Phật dạy để tự mình phá tan những chất liệu kết thành
địa ngục, để tự mình phá vỡ cái địa ngục của khổ
đau và phiền não. Hãy can đảm lên hỡi những người con
Phật ! Hãy phát tâm thánh thiện; hãy nuôi dưỡng tâm bằng
Bi, Trí và Dũng của nhà Phật; hãy dẹp bỏ những chất liệu
xây địa ngục như tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến; hãy trở
về với cái chơn tâm tự thuở giờ của mình để chẳng
những phá vỡ địa ngục, mà mỗi ngày chúng ta còn góp phần
biến chốn Ta Bà nầy thành cõi Tịnh Độ, hoặc Niết Bàn.
312.
THẾ NÀO LÀ CHÚNG SANH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ?
Đạo
Phật ngoài cứu cánh tối thượng là quả vị Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, còn nhằm đưa chúng sanh trong xã hội
loạn động nầy đến chỗ an lạc và tự tại. Trong Tứ Hoằng
Thệ Nguyện:
"Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền
não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp
Phật vô lượng thệ nguyện học.
Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành."
Đức
Thế Tôn có thực sự muốn cho mọi người tu đều phải độ
hết vô biên chúng sanh hay không? Vâng, nếu có khả năng độ
hết được vô biên chúng sanh quả là tốt; quả là ý của
Thế Tôn; tuy nhiên, ở đây Ngài cũng muốn cho chúng ta trước
tiên hãy cố mà độ tận những chúng sanh ở ngay trong ta trước
cái đã.
Trong
ta có bao nhiêu chúng sanh cần được độ?
Nếu
nói đến chúng sanh trong ta thì không biết bao nhiêu mà nói.
Tuy nhiên, cho dù chúng sanh có vô biên, ta vẫn phải độ cho
tận thì tâm ta mới an. Từ những chúng sanh tham, sân, si, mạn,
nghi, ác kiến đến những chúng sanh sát, đạo, dâm, vọng
và ái dục. Hễ khởi lòng tham thì ta phải biết mà buông
bỏ; hễ khởi lòng sân hận thì nên biết mà buông bỏ, ấy
là chúng ta đã độ được những chúng sanh tham lam và sân
hận rồi. Tương tự, chúng ta phải cố công từng giây, từng
phút thực hành rốt ráo lời Phật dạy: "Chúng sanh vô biên
thệ nguyện độ." Một khi từng chúng sanh một đã an lạc,
thì ta là gì nếu không là an lạc? Tuy nhiên, chuyện độ tận
từng chúng sanh một trong ta không phải là chuyện dễ làm,
do bởi chúng ta thường hay quá thương chính chúng ta mà đâm
ra mù quáng. Thí dụ như dù biết ta tham, nhưng ta vẫn không
buông bỏ, vì buông bỏ thì tiền bạc đâu mà quần là áo
lụa. Nếu buông bỏ thì lấy đâu nhà cao cửa rộng; nếu
buông bỏ thì lấy đâu xe mới xe đẹp... Người con Phật
luôn nhớ rằng dù muốn hay không muốn, thì rồi cũng có lúc
chúng ta phải buông bỏ. Hoặc buông bỏ trong lúc nầy, hoặc
phải buông bỏ lúc cuối cuộc đời. Nếu đợi đến lúc
cuối cuộc đời mới bắt buộc buông bỏ, thì e rằng không
còn kịp nữa. Xin hãy dùng trí huệ Bát Nhã để buông bỏ.
Từng giây phút buông bỏ là từng giây phút ta độ tận những
chúng sanh trong ta vậy. Làm được liên tục như vậy từ bây
giờ cho đến khi bỏ thân tứ đại nầy, thì ta đang làm gì
nếu không độ tận chúng sanh. Một khi vô biên chúng sanh trong
ta đã được độ tận thì không cần được an, tâm vẫn
an; không tìm kiếm chơn tâm, chơn tâm vẫn hiển lộ; không
cầu tìm an lạc, cuộc sống ta vẫn an lạc và tự tại lắm
vậy.
Người
con Phật muốn đạt quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, thì trước
tiên phải điều phục tâm mình để độ tận những chúng
sanh đang lăn trôi trong chúng ta. Phải dùng trí huệ Bát Nhã
để chặt đứt những đau khổ phiền não của thế gian nầy.
Hãy thấy rõ vạn pháp hư huyễn để buông bỏ không luyến
tiếc một thứ gì. Làm được như vậy thì Phật lúc nào
cũng trụ thế trong cuộc sống hằng ngày của ta. Làm được
như vậy, ta là gì nếu không là đang nắm tay các đấng Như
Lai ở cõi vô sanh, vô ưu và vô diệt. Nơi của trống vắng
khổ đau và phiền não của cõi Ta Bà.
313.
TU, LÀM PHẬT SỰ VÀ LÀM CÔNG QUẢ
Theo
Kinh Pháp Hoa, Đức Phật thị hiện nơi cõi Ta Bà vì một đại
sự nhơn duyên: "Khai thị cho chúng sanh được ngộ nhập tri
kiến Phật." Tuy nhiên, chúng sanh muốn được ngộ nhập tri
kiến Phật phải lội ngược dòng đời, hoặc giả như thuyền
chèo ngược nước. Làm sao chúng ta có thể làm được chuyện
nầy? Chúng ta đang sống trong một xã hội văn minh vật chất;
dòng thác văn minh nầy sẳn sàng cuốn trôi xuôi dòng tất
cả. Chính vì thế mà chúng ta muốn lội ngược dòng không
phải là chuyện dễ. Trong một xã hội mà những nơi loạn
động mọc lên như nấm, trong khi những nơi thanh tịnh thì
thiếu vắng, hoặc không phát triển nỗi. Chính Đức Từ Phụ
đã khẳng định trong những kinh điển của Ngài là thời
gian càng xa Phật, lòng người về sau nầy càng dễ bị sa
ngã và quay cuồng trong bất an và những thú vui tạm bợ của
trần thế.
Trong
thời Đức Phật còn tại thế, Ngài đã vì thương xót chúng
sanh mà thành lập những tịnh xá và những đoàn tăng già,
làm nơi nương tựa cho chúng sanh muôn loài về sau nầy. Đâu
phải ai trong chúng ta cũng có đủ duyên lành để xuất gia
và theo đuổi mục tiêu giải thoát. Như vậy không lẽ chỉ
có chư tăng ni mới có thể giải thoát thôi hay sao? Như vậy
câu nói bất hủ của Đức Phật thì sao? "Tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh, đều có khả năng thành tựu quả vị
Chánh đẳng Chánh giác." Đức Phật đã khẳng định với
tứ chúng đệ tử của Ngài rằng ai cũng có Phật tánh và
ai cũng có thể thành Phật được. Tuy nhiên, những người
con tại gia của Phật, muốn thành tựu giác ngộ và giải
thoát, cần phải tích cực giúp quý thầy phát triển chùa
chiền, tịnh xá và những đoàn tăng già nhiều hơn nữa. Chúng
ta đã có quá nhiều hệ lụy và phiền não trong cuộc sống
hằng ngày, từ công ăn việc làm đến trách nhiệm cha mẹ,
vợ chồng, con cái, anh em, bằng hữu và bà con quyến thuộc.
Mỗi tuần chúng ta cạnh kề ít nhất năm ngày với những
chướng duyên phiền não và tham, sân, si... Không lẽ chúng
ta lại buông luôn cho hai ngày cuối tuần chìm trong những quay
cuồng chất ngất hay sao? Xin đề nghị với quý vị là không.
Chúng ta quyết dành bất cứ thì giờ nào có được, góp tay,
góp sức, góp công, góp của vào công cuộc xây dựng tịnh
xá, chùa chiền và phát triển các đoàn tăng già. Chính tịnh
xá và chùa chiền chẳng những là những nơi che chở hồn
dân tộc, mà còn là những bịnh viện chữa trị tâm bịnh
cho những người cùng khổ, là nơi giúp cho chúng sanh nhổ
tận gốc tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Khi tuyệt vọng,
lúc chán chường thì tịnh xá và chùa chiền là nơi giúp ta
trút bỏ tất cả những gì của trần lao ái nhiễm. Chính
từ những tịnh xá và chùa chiền nầy, quý thầy đã giúp
cho chúng ta gột rữa những tâm bịnh, từ kiêu căng, tật
đố, đến sân hận, chấp trước, hẹp hòi, ganh ghét... Chính
từ những tịnh xá và chùa chiền nầy, quý thầy đã trao
truyền lại cho chúng ta vạn triệu thứ Phật dược từ Từ,
Bi, Hỉ, Xả đến Bát Chánh Đạo, Tứ Nhiếp Pháp, Lục Hòa...
Hễ sân hận thì có thuốc từ bi; hễ chấp trước hẹp hòi
thì có thuốc hỉ xả; hễ ngã mạn cống cao thì có thuốc
khiêm cung từ tốn; hễ nóng nảy thì có thuốc nhẫn nhục;
hễ tham lam keo kiết thì có thuốc bố thí lợi tha; hễ tâm
tán loạn thì có thuốc tham thiền nhập định; hễ buông lung
mặc cho tội lỗi thì có thuốc sám hối lục căn; hễ thị
phi ganh ghét đố kỵ thì có thuốc niệm Phật hoặc trì chú...
Như
vậy chúng ta, những Phật tử tại gia, có nên đến chùa,
đến tịnh xá giúp quý thầy trong công việc Phật sự không?
Nên lắm chứ. Như trên ta đã thấy công năng thù thắng của
việc đến chùa. Chỉ đến chùa lạy Phật không thôi là ta
đã trút bỏ được gánh nặng của trần lao cho được nhẹ
nhàng thanh thản rồi, chứ đừng nói chi đến việc đến
chùa làm Phật sự, làm công quả. Người con Phật thuần thành
không ai nỡ đem thị phi, ganh ghét, đố kỵ, công danh, quyền
uy, và địa vị vào chùa. Có nhiều người cho rằng tu tâm,
tu thiền là phải về nhà đóng một cái cốc nhỏ mà tu là
được rồi, cần gì phải đến chùa. Đúng như vậy, chạy
đong chạy đáo làm sao bằng trở về với chính mình, với
chính cái tâm của mình, với chính ngôi chùa của mình. Phật
và chư tổ đã không từng dạy như thế hay sao? Tuy nhiên,
hãy bình tâm mà suy nghĩ thì chúng ta sẽ thấy rõ rằng trong
chúng ta, có mấy ai có khả năng tu tập trong nghịch cảnh,
nghịch duyên đâu? Chúng ta cần lắm những thuận duyên thuận
cảnh quý vị ạ! Chỉ có tịnh xá và chùa chiền mới cho
chúng ta được những thứ ấy. Nếu không tin, xin quý vị
hãy thử tìm vào tịnh xá hoặc chùa, làm Phật sự, làm công
quả với tất lòng thành thì quý vị sẽ thấy. Ngoài việc
giúp quý thầy hộ trì Tam Bảo, chúng ta sẽ luôn có một tâm
hồn an lạc, thảnh thơi, một trí tuệ sáng suốt. Chúng ta
sẽ luôn hòa nhã, khiêm cung, từ ái và lễ độ với tất
cả mọi người. Chúng ta sẽ luôn kính già yêu trẻ và thương
mến người tàn tật. Chúng ta sẽ không bao giờ tranh cãi,
chỉ trích, hoặc gây ồn ào trong những nơi thanh tịnh nầy.
Cho dù có ai đến gây gỗ, tranh cãi, hay chỉ trích, chúng ta
vẫn như như tự tại, vẫn một lòng niệm hồng danh chư Phật
mà tha thứ cho tha nhân.
Có
nhiều người cho rằng những ai đi hết chùa nầy đến chùa
khác để phụ giúp quý thầy làm Phật sự là những người
sơ cơ, tu phước... Thật tình mà nói, mỗi người có một
quan niệm; không quan niệm nào giống quan niệm nào. Mỗi người
có một cách tu; không có cách tu nào giống cách tu nào. Tuy
nhiên, cũng nên nói rõ một chút về chuyện tu và chuyện làm
Phật sự. Tu và làm Phật sự tuy là hai chuyện khác nhau, hai
danh từ khác nhau, nhưng không thể tách rời nhau được. Như
vậy tu cũng là làm Phật sự, mà làm Phật sự lại cũng là
tu. Hiểu như vậy để đừng ai quan niệm sai lệch về những
người tới chùa làm công quả. Làm công quả, làm Phật sự
và tu là một, chứ không hai hay ba. Hiểu như vậy để những
ai cao ngạo cho rằng tu là phải thiền như vầy nè; phải tịnh
như vầy nè; phải niệm Phật như vầy nè..., mới là tu, hãy
sớm quay ngay trở về với nguồn cội của đạo Phật mà
tu.
Tới
chùa nghe pháp, ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh, làm công
quả và làm Phật sự... vừa giúp quý thầy xây dựng chùa
tháp và tự viện, vừa để phát triển đời sống tinh thần,
vừa là một phép tu thù thắng, mà cũng vừa là một loại
cúng dường cao tột nhứt lên ngôi Tam Bảo. Đây chính là
một cách tu rốt ráo nhứt vậy. Làm được như vậy, chẳng
những mình thanh tịnh, người thanh tịnh, mà Phật pháp sẽ
ngày càng củng cố và phát triển thêm lên. Hoặc tới chùa
giúp quý sư nấu ăn, làm vườn, quét chùa, dọn dẹp phòng
ốc..., cũng là Phật sự, cũng là tu. Miễn sao mình đừng
làm loạn động tới người khác, thì chẳng những tự thân
an lạc và phúc đức, mà ngôi nhà Phật pháp sẽ mỗi ngày
thêm một rạng rỡ. Làm được như vậy, vô hình chung mình
đã làm hạnh nguyện giác tha của Bồ Tát: nhờ có bàn tay
và trí óc của những ưu bà tắc và ưu bà di mà tịnh xá
và chùa có đủ điều kiện cho nhiều người đến tu học
để có được một đời sống an lạc và tỉnh thức.
Ngoài
ra, những ai thường xuyên tới chùa giúp quý sư làm Phật
sự với một cái tâm không vướng mắc, nghĩa là không cầu,
hoặc không mong bất cứ một thứ gì đền trả. Những người
ấy chẳng những phước đức tăng trưởng, thân tâm an lạc,
lòng từ bi hoan hỉ; mà trí huệ luôn tăng trưởng. Bồ Đề
tâm bất thối chuyển và thiện hữu tri thức sẽ quí mến
vô cùng. Với những người nầy, dù không cầu, Tam Bảo vẫn
gia hộ; dù không mong, Long Thần Hộ Pháp vẫn phò trì. Tới
chùa làm Phật sự mà không dụng ý, hoặc mưu cầu lợi lạc
cho riêng mình, thì còn hạnh nguyện nào cao cả hơn hạnh nguyện
nầy? Con người ấy không giàu lòng nhơn, thì ai giàu hơn?
Con người ấy luôn sẳn sàng bố thí công sức, tài sản,
thời giờ, lời nói..., chỉ mong làm sao cho ai nấy đều có
được cái an lạc mà họ đang có. Từng giây, từng phút làm
Phật sự, người ấy luôn niệm hồng danh chư Phật, luôn
lợi tha, luôn mong cho ai nấy đều được thọ dụng những
thành quả nầy. Hễ thấy ai đến chùa để tu, để thiền
là tâm người ấy hoan hỉ vô cùng. Tâm niệm của những người
con Phật chân chánh nầy cũng đơn giản vô cùng; từ người
quét chùa đến kẻ dịch kinh. Người quét chùa cho được
sạch sẽ để cho người khác thấy thoải mái mà tiến tu,
thế thôi. Người dịch kinh cũng cố công đem những gì mình
biết ra trao cho mọi người để cho ai nấy đều biết mà
tu... Còn hạnh nguyện nào cao cả hơn hạnh nguyện nầy? Còn
cách tu nào thù thắng hơn cách tu nầy?
Hơn
nữa, nhờ thường xuyên đến chùa làm Phật sự mà có nhiều
cơ duyên nghe được quý sư, quý ni giảng chánh pháp. Do đó
mà những con người nầy luôn phát tâm trì giới, tham thiền,
nhập định; cũng do đó mà trí huệ người ấy luôn tăng
trưởng. Người như vậy thử hỏi thiện tri thức nào mà
không quí mến? Mà kỳ thật, một khi họ tới chùa, làm việc
Phật, thường thì họ gặp thiện hữu tri thức, chứ ít khi
gặp ma lắm. Cho dù ma có đến chùa quấy nhiễu, người con
Phật chơn chính cũng coi đấy như là những nợ nần năm cũ
để vui lòng mà trả cho xong. Nếu ta không chuyển hóa được
những sân hận nơi người thì tốt nhất là ta nên lặng lẽ
bỏ đi, chứ không cớ gì mà ta sân hận lại người cho thêm
nặng nghiệp. Xin hãy suy gẫm để sớm gây nhân lành trong
đời nầy, kiếp nầy. Làm được một việc cho chùa, dù nhỏ,
là ta đang góp phần hoằng pháp lợi sanh, hoặc giả ta đang
thanh tịnh hóa cõi Ta Bà ngũ trược nầy vậy. Xin hãy tới
chùa và tịnh xá làm Phật sự và làm công quả vì mưu cầu
hạnh phúc cho nhân quần xã hội, chứ không cầu phước cầu
đức cho riêng ai. Làm được như vậy thì quả thật làm Phật
sự hay làm công quả là một loại bố thí thù thắng và cao
tột nhứt. Chính những công việc thiện lành nầy sẽ góp
phần đem lại an lạc và hạnh phúc cho rất nhiều người.
Chính nhờ những bàn tay góp phần vào việc Phật sự và công
quả nầy, mà người khác có nơi có chốn để tịnh tu, có
nơi có chốn để lần về con đường giác ngộ và giải thoát.
Mong
cho ai nấy đều phát tâm đến tịnh xá, đến chùa làm Phật
sự, làm công quả để gieo trồng cội phước bồ đề, chẳng
những cho thế hệ nầy, mà còn cho nhiều thế hệ mai sau nữa.
Chẳng hạn như lúc quý thầy đang có chương trình xây dựng
tịnh xá, chùa hoặc trung tâm văn hóa Phật Giáo, quý thầy
cần sự giúp đỡ và yểm trợ về tài chánh. Chúng ta chẳng
những giúp về tài chánh, mà chúng ta còn cần phát tâm đến
chùa góp tay góp sức làm công quả, hoặc giả góp ý kiến
cho ban vận động sao cho chương trình của quý thầy sớm được
hoàn thành mỹ mãn, ấy là cách tu cho mình và cho người thù
thắng nhất, ấy là cách cúng dường lên ngôi Tam Bảo tuyệt
vời lắm vậy. Vì chính nhờ công quả nầy mà bao nhiêu người
khác của thế hệ nầy và những thế hệ mai sau sẽ có nơi
nương tựa cho tâm linh. Hãy cùng nhau ra sức tiếp tay với
quý thầy trong việc hoằng trì chánh pháp. Hãy cùng nhau nâng
cao ánh Đạo Vàng của Phật Tổ, để xua tan bóng tối của
biển đời đầy đau khổ nầy. Xin ai nấy hãy tích cực hưởng
ứng lời kêu gọi của quý thầy và phát tâm tham gia vào Phật
sự và công quả. Hãy cố gắng sắp xếp giờ giấc để ít
nhất mỗi tuần đến được chùa vài ba lần, đem hết khả
năng chuyên môn và tài trí của mình đóng góp vào công trình
lợi ích chung. Xin hãy tùy hỉ phụng hành. Được như vậy
là chẳng những công đức trọn lành, mà chúng ta còn đang
cúng dường đương lai hoặc vị lai chư Phật đấy quý vị
ạ!
314.
CHƯ PHẬT ĐÃ TU HÀNH NHƯ THẾ NÀO MÀ ĐƯỢC THÀNH PHẬT?
Đạo
Phật và giáo lý nhà Phật là những khế kinh vô cùng khoa
học và hợp lý. Chính nhờ những nguyên lý nầy mà mười
phương ba đời chư Phật đã giải thoát rốt ráo. Tuy nhiên,
chúng sanh si mê, độn căn với tâm tư mê muội; nghe nhiều
nhưng chả hiểu bao nhiêu; kiến thức phàm phu cạn cợt, thế
mà còn đi vấn nan Phật pháp nầy nọ. Nên chi việc sống
cho được một cuộc sống trọn lành đã là khó, chứ đừng
nói chi đến việc tu hành cho được giác ngộ và giải thoát.
Người phát tâm tu hành chân chánh nên luôn nhớ rằng những
gì Phật Tổ đã truyền trao là những kim ngôn ngọc ngữ cho
muôn đời. Hành trì hay không là hoàn toàn tùy thuộc ở chính
mỗi người chúng ta, chứ đừng đừng lấy phàm trí mà đùa
giởn với thánh ý nữa.
Trong
Kinh Viên Giác, Phật Tổ đã khẳng định mười phương ba
đời chư Phật, nhờ pháp Đà La Ni (Viên Giác) mà sanh ra các
pháp thanh tịnh. Chính nhờ chánh pháp Đà La Ni mà chơn như,
Bồ Đề và Niết Bàn hiển lộ. Chính nhờ pháp Đà La Ni mà
Phật Tổ đã truyền trao lại cho chúng sanh những phép tu cho
được rốt ráo. Phật Tổ đã nhắn nhủ với Ngài Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát rằng nhơn địa tu hành của các Đức Phật
đều y vào pháp Đà La Ni nầy mà vĩnh viễn đoạn tận vô
minh, được sáng suốt miên viễn và giải thoát rốt ráo.
Nhờ pháp nầy mà người tu Phật không phạm giới, không kiêu
ngạo, không giận dữ với ai, không tị hiềm ganh ghét, không
keo kiết, bỏn xẻn; mà ngược lại, luôn giữ giới, luôn
khiêm tốn, luôn nhu hòa nhẫn nhục, luôn rộng lượng khoan
dung, luôn mở lòng bố thí, luôn cố gắng giúp người bần
hàn. Người tu theo pháp Đà La Ni luôn biết buông bỏ, luôn
biết quán chiếu sự vô thường của vạn pháp, luôn thấy
vạn pháp vô thường như cánh hoa sớm nở tối tàn. Chính
nhờ pháp Đà La Ni mà những người con Phật luôn bố thí,
chứ không tích trữ tài sản, tiền bạc cho riêng mình. Người
tu theo pháp Đà La Ni xem sự bất hạnh của người như sự
bất hạnh của chính mình; người ấy luôn cố gắng làm vơi
đi những đau khổ của người khác. Ngày ngày họ giúp đỡ
những kẻ cô đơn, tật nguyền hay hoạn nạn; giúp đỡ vô
điều kiện, giúp đỡ không mong cầu. Nhờ vậy mà họ luôn
sáng suốt gìn giữ những hạnh lành.
Theo
Đức Từ Phụ, từ vô thỉ cái tánh Đà La Ni vẫn luôn bao
la vắng lặng như cõi hư không vô tận; tuy nhiên, do bởi vô
minh mà phát sanh ra không cùng, không tận những điên đảo,
mộng tưởng. Rồi vì điên đảo mộng tưởng, mà ta nhận
giả làm chân, nhận hư làm thiệt, nhận tà làm chánh... Vì
điên đảo mộng tưởng mà ta nhận tứ đại giả hợp làm
thân mình, cảnh trần duyên căn và thức làm tâm mình, rồi
từ đó chấp ngã, chấp pháp là có thật, để rồi tạo ra
chồng chất ác nghiệp và che mờ đi tánh viên giác. Do đó
mà hết kiếp nầy đến kiếp khác ta cứ lăn trôi trong sanh
tử luân hồi. Đức Phật đã nói rõ ràng cho dù có lộn lên
trở xuống bao nhiêu đời kiếp, bản tánh "Viên Giác" thanh
tịnh của chúng sanh vẫn vậy, vẫn không sanh, không diệt.
Bản tánh ấy vẫn theo ta, dù ta xuống tận cùng địa ngục.
Bản tánh "Viên Giác" vẫn luôn có mặt trong ta, dù ta đang
tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Phép Đà La Ni giúp ta chấm
dứt những thứ chiêm bao mộng mị; chấm dứt những vui, buồn,
thương, ghét; chấm dứt những luyến ái triền miên. Pháp
Đà La Ni đưa ta về tỉnh thức, giác ngộ, sáng suốt và giải
thoát. Pháp Đà La Ni giúp ta thấy rõ vạn pháp hư huyễn. Thấy
để mà buông bỏ không luyến tiếc. Với Đà La Ni, vạn pháp
tự chúng là "không," chứ không đợi ta phải mang chúng về
với dạng "không," hoặc phá hủy chúng. Nhờ quán vạn pháp
hư huyễn, nên chúng ta không tội tình gì mà đi ôm những
cái hư huyễn ấy. Do đó, từng bước, từng bước tham, sân,
si, mạn, nghi, tà kiến đều phải tháo lui. Nhờ vậy mà ta
không tạo nghiệp. Nhờ vậy mà ta chấm dứt được luân hồi
sanh tử. Với Đà La Ni, thấy biết hay không thấy biết, hư
không vẫn vậy, chứ chẳng lay động, vẫn viên mãn khắp
cả mười phương; chấp thấy biết hay không thấy biết làm
gì cho thêm vướng mắc.
Phật
Tổ đã chỉ dạy rõ ràng rằng mười phương ba đời chư
Phật, cũng phải nhơn nơi pháp Đà La Ni mà phát tâm thanh tịnh.
Thế cho nên chúng sanh đời sau nầy cũng phải y nơi đây mà
tu hành mới mong khỏi lạc vào tam đồ ác đạo. Người con
Phật quyết chí vâng giữ lời Phật Tổ, dùng trí huệ "Viên
Giác" mà phá trừ hết vô minh; luôn biết vạn pháp là hư
huyễn, là chiêm bao, mộng mị... nên luôn tỉnh thức, giác
ngộ, sáng suốt và giải thoát rốt ráo.
315.
CÁC PHÁP ĐỀU HƯ HUYỄN
Đạo
Phật chủ trương giác ngộ và giải thoát bằng tu tập tự
thân. Nghĩa là với đạo Phật, mỗi chúng sanh đều có khả
năng chuyển mê thành ngộ, chuyển ác thành thiện và chuyển
Ta Bà ngũ trược thành Tây Phương Cực Lạc hay Niết Bàn.
Người tu theo Phật không nhờ ở ngoại lực hay uy quyền,
hoặc thần năng để chiến thắng ma vương. Ngược lại, người
tu Phật quay lại với chính mình để tu tập tự thân; tuân
thủ lời Phật dạy để tiến tu giải thoát. Chúng sanh từ
vô thỉ đã huân tập đủ thứ điên đảo, mộng tưởng;
cho rằng tứ đại là mình; cho rằng lục trần duyên ảnh
là tâm mình. Cứ như thế mà hết ngày dài rồi lại đêm
thâu, ta đi khắp năm châu góp nhặt những thứ rác rưởi,
chấp vọng làm chân, rồi tạo nghiệp, và rồi cứ mãi lăn
trôi trong sanh tử luân hồi.
Theo
Đức Từ Phụ trong kinh Bát Nhã: "Thị chư pháp không tướng,
bất sanh, bất diệt, bất tịnh, bất cấu, bất tăng, bất
giảm..." Phật đã dạy như vậy từ hơn hai ngàn năm trăm
năm nay, nhưng có mấy ai đã hành trì rốt ráo những lời
dạy dỗ ấy của Ngài? Chư pháp đều hư huyễn; chí đến
cái bản ngã cũng là huyễn giả, vô tưởng hay ảo giác, chứ
làm gì có một cái "ta" thật. Chỉ là sự kết hợp của tứ
đại mà thành. Lục trần duyên ảnh tạo cho ta có một cảm
giác, tri giác... Ấy chỉ là những tạo tác của tâm ý và
thức mà có, chứ làm gì có một cái "tâm" thực. Chư pháp
cứ duyên nhau mà tụ; duyên nhau mà tan, làm cho ta cứ tưởng
như chúng sanh sanh diệt diệt. Chứ kỳ thật chúng chỉ theo
những chu kỳ thành, trụ, hoại, không của luật vô thường
trong nhà Phật. Chính cái ta tưởng ấy là một tiến trình
liên tục của luân hồi sanh tử. Ta càng tưởng nhiều chừng
nào, thì luân hồi sanh tử nhiều chừng ấy. Chừng nào ta
hết tưởng, thì chừng đó chúng ta sẽ nhìn chư pháp bằng
cái nhìn "như thị," chừng đó chúng ta sẽ thấy chư pháp
đều là huyễn giả. Chừng đó chúng ta sẽ thấy cái "Ta"
mà bấy lâu nay ta cứ tưởng là thật, chỉ là ngũ uẩn, có
hợp, vô thường và luôn biến đổi. Cái thân mà chúng ta
ôm ấp bấy lâu nay chỉ là sự kết hợp của tứ đại; nó
chỉ hiện hữu trong một khoảng thời gian hạn hẹp, rồi
tan biến. Hễ thuận duyên thì còn, mà nghịch duyên là rã
rời mụt rữa.
Đa
phần trong chúng ta vì không chịu nhìn thấy sự huyễn giả
của chư pháp mà cứ mãi hẹn lần, hẹn lựa, chứ không chịu
tu. Thôi đợi hưu trí rồi hẳn tu. Đến lúc hưu trí thì lại
hẹn để đi chu du vài năm rồi hẳn tu. Đi chu du xong về lại,
nhìn đàn cháu thấy thương quá nên lại hẹn nữa. Thế rồi
đùng một cái, ra nghĩa trang nằm một mình, mà không còn kịp
để hẹn tiếp nữa. Tù đày lục đạo là như thế ấy. Giả
như không ra nghĩa trang, thì cũng mãi bận bịu với đàn cháu;
tình cảm cứ thế mà trói chặt ta vào sanh tử luân hồi.
Tham ái đến độ không chừng sau khi chết lại đáo lộn trở
lại làm chó giữ nhà cho đám trẻ. Quí vị ơi! Chư pháp là
huyễn giả, Đức Từ Phụ đã dạy và đã chỉ rõ cho chúng
ta như vậy đó, chứ không phải nói không có sách, mách không
có chứng đâu. Hãy vâng giữ kim ngôn ngọc ngữ mà tiến tu,
kẻo thời gian luống qua thật uổng cho một kiếp người.
Hãy
cố mà suy nghiệm cho thấy chư pháp là huyễn giả. Hãy lấy
bất cứ thứ gì trong cõi Ta Bà nầy ra làm thí dụ điển
hình. Bất cứ thứ gì, chứ không hạn hẹp ở một vài thứ.
Chẳng hạn như cánh hồng ngoài sân kìa; sáng nầy thì hoa
nở đẹp thật, nhưng đến chiều tối, hoặc vài hôm sau thì
sao? Hoa sẽ rơi lả tả từng cánh chứ còn gì đâu? Hãy nhìn
lại thân thể của chính mình thì thấy rõ; mới hồi nào
nhựa sống tràn trề, mà bây giờ lụm khụm, lom khom. Mới
hồi nào thân thể tráng kiện, mà bây giờ tai yếu, mắt mờ,
má hóp, chân run. Đợi đến lúc đó thì còn gì là ý chí
để mà tiến tu? Hãy mạnh dạn thấy rằng vui sướng, buồn
khổ, hạnh phúc, không hạnh phúc... chỉ là những trò huyễn
hóa của tâm thức, chứ đâu có thật. Hãy buông bỏ những
thứ huyễn giả ấy đi để tìm về với cái thật ở ngay
chính mình. Hãy nương theo hành trì rốt ráo những gì Phật
dạy để tập xa lìa những cái vui ngắn ngủi giả tạm của
trần thế mà lần về cõi giác ngộ và giải thoát.
316.
PHẢI SUY NGHĨ THẾ NÀO CHO CHÂN CHÍNH?
Chúng
ta đang sống trong một xã hội vô cùng loạn động; văn minh
vật chất và phương tiện đâu chưa thấy, chỉ thấy nhan
nhản những nghèo đói, bịnh tật, lầm than, đau khổ và phiền
não. Từ đâu mà có những thảm trạng nầy? Đức Phật đã
dạy : "Tâm như một nhà hội họa vẻ vời cảnh thế gian."
Từ suy nghĩ tà vạy, ác độc đến suy nghĩ chơn chánh đều
do tâm nầy mà ra cả. Tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố... cũng
do tâm nầy mà có. Con người đã hằng sống với muôn ngàn
bộ mặt vẻ vời; vừa đóng xong tuồng nầy, là mang ngay mặt
nạ vào để đóng lốt khác. Tất cả những tình huống bên
ngoài đều do ta mà có; hễ ta loạn động thì bên ngoài có
cái gì mà tịnh cho được? Theo Đức Từ Phụ, muốn chấm
dứt những tấn tuồng giả tạo và loạn động nầy, con đường
duy nhất mà mỗi người tu Phật đều phải theo, ấy là suy
nghĩ cho chơn chánh.
Thế
nào là suy nghĩ cho chơn chánh? Suy nghĩ chân chánh là những
suy nghĩ đúng với lẽ phải, hợp với đạo lý và không gây
ra tổn hại cho ai. Người biết suy nghĩ chân chánh thì thường
được đạo lý cao siêu; luôn biết rõ đường tà, nẽo chánh;
luôn thấy được những hành vi lỗi lầm của mình để sám
hối. Với người biết suy nghĩ chân chánh thì giới luôn trì
giữ, định hằng tu tập và huệ phát thầm thầm. Từ đó
mà vô minh diệt trừ, phiền não đoạn tận. Theo Phật, chúng
sanh và ngay cả chư Bồ Tát đời sau, muốn ngộ nhập tâm
viên giác thanh tịnh của chư Như Lai, cần phải luôn suy nghĩ
chân chánh và hằng xa lìa các vọng huyễn. Muốn có suy nghĩ
chân chánh, Phật tử phải giữ gìn giới luật cho kiên cố.
Chính Đức Thế Tôn đã khẳng định rằng giới luật là
con thuyền Bát Nhã đưa ta đáo bỉ ngạn. Phá giới là tự
ta đâm lủng con thuyền, thì đừng nói đến việc đáo bỉ
ngạn nữa. Ngoài ra, suy nghĩ chân chánh còn có nghĩa là xa
rời các vọng huyễn, dứt hết tà vạy và tội lỗi. Người
suy nghĩ chân chánh luôn quán thân nầy giả tạm, do tứ đại
duyên hợp mà thành, duyên nghịch mà tan rữa... chứ có chỗ
nào là ta đâu? Người biết suy nghĩ chân chánh vẫn làm việc
để nuôi thân mà tiến tu, nhưng nuôi thân bằng những phương
cách lương thiện, chứ không lao tâm nhọc trí để bồi đắp
và chìu chuộng thân nầy quá đáng. Người ấy vẫn ăn, vẫn
mặc, vẫn xe, vẫn nhà, nhưng ăn mặc bình dị, xe chỉ là
phương tiện di chuyển, nhà chỉ là nơi trú mưa tránh nắng,
thế thôi. Nhọc công chi quần là áo lụa, sơn hào hải vị;
nhọc công chi mà xe đẹp nhà sang. Chính vì vậy mà người
ấy không tranh hơn tranh thua với ai. Nhờ đó mà không tạo
ra ác nghiệp và tội lỗi cho một kiếp lăn trôi. Người có
suy nghĩ chân chánh luôn thấy thân xác nầy là hư huyễn, vật
chất tài sản là vô thường, thì làm gì còn tham luyến? Người
suy nghĩ chân chánh luôn thấy rằng niệm sanh, niệm diệt đều
do tâm nầy mà ra. Trong thân nầy hình như các vọng tưởng
phân biệt tích tụ và duyên theo bóng dáng của trần cảnh
mà đa phần chúng sanh nhận đó làm tâm. Với người biết
suy nghĩ chân chánh, cái tâm hư vọng phân biệt nầy làm gì
có thật. Không có trần cảnh thì nó cũng tan, mà không có
thân tứ đại làm chỗ dung chứa thì nó cũng rã rời.
Người
biết suy nghĩ chân chánh luôn quán thân huyễn, tâm huyễn,
trần huyễn, ngay cả trí cũng huyễn. Tất cả đều là huyễn
giả, nên ta quyết đoạn diệt, thế là viên giác hiển lộ.
Giống như gương đã lau sạch bụi thì cái gì mà không thấy?
Tánh viên giác nầy bất nhị; nó như một cây đờn phát ra
thanh âm trầm bỗng; tuy nhiên, hễ ai đàn hay thì nó phát ra
tiếng hay, còn ai đàn dở thì nó phát ra tiếng dở, dể hiểu
thôi.
Tóm
lại, người biết suy nghĩ chân chánh thì vào bất cứ lúc
nào và bất cứ ở đâu, cả lục căn, lục trần và lục
thức đều thanh tịnh. Do đó mà toàn bộ pháp môn Đà La Ni
đều thanh tịnh. Một khi tám vạn bốn ngàn pháp môn đều
thanh tịnh, thì chẳng những cá nhân và gia đình thanh tịnh,
mà mười phương chúng sanh thảy đều thanh tịnh dưới mắt
người ấy. Với người ấy, còn cái gì có thể ràng buộc
được? Hữu vi, vô vi, sanh tử, giải thoát, hay Niết Bàn có
sai khác chi đâu? Tất cả chỉ là một hư không tĩnh mịch
và vắng lặng. Lúc đó mặc tình niệm sanh, niệm diệt, đau
khổ hay viên giác, sanh tử hay Niết Bàn chỉ là những giấc
chiêm bao.
317.
TÌNH THƯƠNG KHÔNG VƯỚNG MẮC
Trong
cuộc sống hằng ngày, đa phần chúng ta bị quay cuồng bởi
xã hội văn minh vật chất. Chúng ta bị lạc vào mê lộ của
vật chất đến độ không còn biết đường nào ra, lối nào
vào? Tại vì sao mà chúng ta lại lạc vào mê lộ đến nỗi
quên cả đường ra lối vào? Chúng ta có bị lạc vào đó
một cách ngẫu nhiên hay không? Hay là vì tội lỗi của tổ
tiên ông bà mà chúng ta phải vào mê lộ? Hay do một đấng
nào đó bắt ta phải lọt vào? Phật giáo cho rằng vì vô minh
dẫn dắt mà ta phải lọt vào mê lộ. Cũng chính vô minh đã
sai khiến ta đủ điều. Thay vì từ bi hỉ xả, chúng ta lại
tham lam, bỏn xẻn, độc ác tị hiềm, ganh ghét. Thay vì m·
rộng tình thương đến chúng sanh mọi loài không vướng mắc,
thì chúng ta lại mắc hết đầu nầy rồi vướng đầu kia.
Quả là một cuộc sống vô cùng trục trặc! Như vậy muốn
được cái tình thương không vướng mắc ấy chúng ta phải
làm sao? Chỉ có "Diệu Tâm" là cái thực tại cuối cùng đưa
ta ra khỏi chốn trần lao khổ hãi nầy. Chỉ có cách là trở
về với cái diệu tâm ấy thì chúng ta mới có được cái
tình thương không vướng mắc, để đi đến xả bỏ tuyệt
đối, rồi lần về nẽo giác ngộ và giải thoát. Ngoài tâm
ra không thể có Phật. Ngoài tâm ra, không có giải thoát. Như
vậy mong cầu ở một đấng nào đó cứu rỗi là huyền hoặc.
Mong cầu ai đó ban cho mình cái tình thương không vướng mắc
là không tưởng. Trong Kinh Viên Giác, Đức Thế Tôn đã chỉ
rõ muốn được "Diệu tâm" để đi đến Vô Thượng, Chánh
Đẳng, Chánh Giác, con đường duy nhất là hãy cầu tu, cầu
học với những bậc thiện tri thức. Thiện tri thức là những
người hiểu biết chân chánh về Phật pháp. Thiện tri thức
không trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp mà hành
chánh đạo. Chẳng hạn như không vì đẹp xấu, thân sơ mà
bố thí; lại cũng không vì nghe tiếng ca trầm bỗng của kẻ
ăn xin mà bố thí. Thiện tri thức luôn hành trì hạnh lành
và luôn phát đại bi tâm. Đại bi tâm là tình thương không
vướng mắc, là cái tâm thương xót mọi loài mọi vật một
cách vô phân biệt và không vướng mắc. Chẳng hạn như Phật,
Ngài đã đem tình thương không vướng mắc ra mà ban rãi cho
mọi loài. Ngài thương những chúng sanh thiện lành, mà Ngài
cũng thương xót cả những chúng sanh độc ác nham hiểm nữa.
Với tình thương không vướng mắc, cha mẹ thương con không
vì con đẹp hoặc con học hành giỏi dang, mà cha mẹ thương
cả những đứa con xấu xí tật nguyền, học hành dang dở.
Với tình thương không vướng mắc, cha mẹ sẳn sàng dang rộng
đôi tay ra đón nhận những đứa con lạc loài, hư hỏng. Từ
đó gia đình và xã hội chỉ có đại bi tâm, chứ không còn
một thứ gì khác. Ngoài ra, thiện tri thức không bao giờ lý
luận biện giải để bào chữa lỗi mình. Ngược lại, thiện
tri thức luôn biết tự sám hối những lỗi lầm của mình.
Dù gặp thuận duyên hay nghịch cảnh, thân tâm thiện tri thức
vẫn vậy, nghĩa là thắng không kiêu, bại không nản. Bồ
Đề tâm trước sau vẫn vậy. Tuy sống trong trần lao, mà thân
tâm vẫn luôn thanh tịnh. Thiện tri thức không chấp danh, cầu
lợi. Với thiện tri thức, tiền tài, danh vọng và quyền uy
chỉ là gió thoảng mây bay, hay nước chảy qua cầu.
Tóm
lại, người con Phật phải hằng sống hằng tu với cái tình
thương không vướng mắc mà Phật Tổ đã truyền trao. Hãy
nhớ lại di chúc sau cùng của Đức Từ Phụ trước khi Ngài
nhập diệt : "Hãy kiên tâm dõng mãnh buông bỏ tất cả những
vướng mắc, ngay cả tình thương, vì tất cả đều vô thương,
có gì đâu để cho chúng ta vướng mắc?" Đức Thích Tôn Từ
Phụ đã sống và đã tu với tình thương không vướng mắc,
tình thương không ngằn mé. Ngài thương chúng sanh mọi loài
còn hơn cha mẹ thương con đỏ. Chính vì thế mà Ngài đã
đạt thành đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Những
chúng sanh đang lăn trôi như chúng ta, há có con đường nào
khác để sống để tu, nếu muốn lần bước theo Ngài?
318.
CON ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI TU PHẬT
Đạo
Phật chẳng những có công năng đưa con người đến chỗ
trống vắng mọi khổ đau phiền não, mà nó còn dung hòa được
tất cả mọi dị biệt của con người trong mọi thời đại,
mọi hoàn cảnh. Ngặt một nỗi cõi Ta Bà nầy có lắm thứ
trục trặc, nên ngay chính Đức Phật, lắm khi chỉ lặng thinh
mà thương xót chứ không làm gì khác hơn được. Thêm vào
đó, có những tôn giáo đang suy vong trước đà tiến bộ của
khoa học kỹ thuật, nên tìm đủ mọi cách chống phá đạo
Phật. Nào là đạo Phật yếm thế, đạo Phật thờ hình tượng,
đạo Phật tiêu cực, hoặc đạo Phật chủ trương thoát ly
khỏi những hệ lụy và ràng buộc với cuộc sống trần tục,
vân vân và vân vân... với hai chủ đích: một là hạ uy thế
của đạo Phật, hai là tìm cách kềm giữ tín đồ của họ.
Tuy nhiên, nếu nói như vậy thì họ có biết gì về đạo
Phật đâu mà phê với phán? Hãy đi vào cuộc tu hành của
những người con Phật chân chánh thì mới thấy được cái
thậm thâm vi diệu của đạo Phật. Hãy thật sự đi vào cuộc
hành trình trở về đất Phật, thì sẽ thấy đạo Phật và
con đường, niềm tin, cũng như cuộc tu cuộc sống của người
tu Phật rất rõ ràng và thức tế, chứ không huyền hoặc
hay mơ hồ khó hiểu. Đạo Phật chủ trương nói lên tất
cả sự thật về cuộc đời nầy. Phật tổ đã dóng một
tiếng chuông dài báo hiệu cho Phật tử thấy và biết cõi
đời ngũ trược ác thế nầy là một bể khổ. Tuy nhiên,
những đứa con Phật không chán đời, mà chỉ chán cái ngũ
trược ác thế, chỉ chán những nguyên nhân gây ra ngũ trược
ác thế và cái bể khổ nầy mà thôi.
Trong
cuộc sống, người con Phật xông thẳng vào đời với tâm
tư tình cảm của Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỉ và Đại Xả.
Người con Phật luôn tỉnh thức để tự mình vừa chiến
đấu chống phiền não, vừa loại bỏ những dục vọng xấu
xa. Xin đừng lầm tưởng là người con Phật phải triệt tiêu
hết tất cả mọi ước muốn. Không, người con Phật vẫn
sống và chiến đấu cho lẽ phải, cho lý tưởng tự do và
cho sự lợi ích chung cho chúng sanh mọi loài. Con đường của
người tu Phật sẽ thiếu vắng tham, sân, si, mạn, nghi, tà
kiến, sát, đạo, dâm, vọng. Vì Phật Tổ đã từng dạy rằng
người tu theo Phật phải cố mà thoát ly ra khỏi những lao
tù của tham, sân, si..., nên người con Phật sẽ chẳng bao
giờ đồng tình với những dục vọng xấu xa. Xin nhấn mạnh
ở đây là người con Phật quyết xa lìa những dục vọng
xấu xa, chứ không và sẽ không bao giờ người con Phật nhìn
đời bằng cặp mắt bàng quan. Ngược lại, người con Phật
vẫn thẳng tiến vào đời với những ước muốn xây dựng
một con người hiền hòa, một gia đình nề nếp, một xã
hội tốt đẹp và một quốc gia phú cường. Người con Phật
chân chánh, đi thẳng vào đời, sống hòa hợp và nhẫn nhục
với chúng sanh mọi loài; nhẫn nhục không có nghĩa là ươn
hèn và tiêu cực. Ngược lại, nhẫn nhục với đầy đủ
đại từ, đại bi, đại trí và đại dũng cảm, theo đúng
lời Phật dạy. Hãy nhìn một chút về quá khứ lịch sử
hào hùng của dân tộc và sự đóng góp quí báu của những
người con Phật; từ những thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần...Người
con Phật chẳng những góp phần dựng nước, mà còn góp phần
giữ nước một cách tích cực và hào hùng. Trải qua hơn một
ngàn năm Bắc thuộc và những cuộc xâm lăng triền miên từ
phương Bắc, nếu không có sự tích cực dấn thân của những
người con Phật, thì giờ nầy số phận của Lạc Việt cũng
không hơn gì những bộ tộc khác của Bách Việt, đã hoặc
bị diệt chủng, hoặc bị Hán hóa từ khuya rồi. Những người
con Phật đi sau luôn nối gót những người con Phật đi trước
mà phá tà hiển chánh.
Tuy
nhiên, trong cuộc tu, người con Phật quyết không hèn yếu
trước mọi tình huống. Ngược lại, người con Phật quyết
từng giờ, từng phút gạn lọc tham, sân, si, mạn nghi, ác
kiến và những tình cảm thấp hèn để hướng thượng và
cuối cùng đạt tới sự giải thoát rốt ráo. Với người
con Phật, không ai giận ai; không ai buồn ai; không ai thương
ai; không ai ghét ai; không ai lo, ai sợ; mà chỉ có sự giận,
sự buồn, sự thương, sự ghét, sự lo, sự sợ. Người con
Phật không thuần hiểu đạo bằng kiến thức, mà con người
ấy hiểu và đi vào đạo bằng sự kiên cố hành trì. Đạo
Phật với người con Phật là con đường mà mình phải đi
mỗi ngày, tiến tới hay thụt lùi, còn tùy ở sự tinh tấn
của mỗi người chúng ta.
Đạo
Phật là đạo của chân thật, thấy sao nói vậy. Đạo Phật
cho rằng cõi Ta Bà nầy đầy đau khổ và phiền não, nhưng
những người con Phật không lẩn tránh; mà ngược lại, trực
diện với đời sống đầy kham nhẫn. Người con Phật tin
tưởng rằng chư pháp thị huyễn, nhưng không có giác ngộ
và giải thoát, hoặc Niết Bàn ngoài thế giới huyễn mộng
nầy. Chính Đức Từ Phụ đã từng dạy rằng nếu không có
Ta Bà ngũ trược nầy thì đấng Như Lai chẳng thị hiện làm
gì, và Phật pháp cũng chả còn cần thiết nữa. Người con
Phật không chạy theo huyễn; mà ngược lại, lấy huyễn ly
huyễn, lấy tứ đại mà tìm về chân tâm, lấy Ta Bà mà lần
về Tịnh Độ. Người con Phật không van xin, cũng không ỷ
lại ở bất cứ ngoại lực nào, mà tự mình quyết định
con đường mình phải đi trong cuộc sống nầy, chứ không
đợi gì đến lúc rũ bỏ thân tứ đại. Người con Phật
luôn tự mình làm chủ lấy mình vì chính Phật đã dạy rằng
Ngài cũng không cứu được ai, nếu người ấy không có quyết
tâm tự cứu lấy mình.
Trong
đạo Phật có bảy con đường mà người con Phật phải tự
mình lựa chọn, không ai có thể lựa dùm mình, hoặc đi dùm
mình được. Ai ôm lòng trưởng dưỡng tham, sân, si, mạn,
nghi, ác kiến và những tình cảm thấp hèn thì đang ở địa
ngục, hoặc đang khăn gói để đi vào địa ngục. Ai mỗi
ngày ôm mối dục vọng vật chất và quay cuồng trong bã lợi
danh mà không toại nguyện, rồi đâm ra phiền não khổ đau,
ăn không ngon, ngủ không yên, ấy là đang ở trong cõi ngạ
quỷ. Ai suốt ngày nầy qua tháng nọ chỉ động lòng ham muốn;
ham muốn bất chấp chính nghĩa hay phi nghĩa, chánh pháp hay
phi pháp; tìm chưa được cái nầy, đã muốn bươi cái kia;
hễ thấy là thèm, là muốn, ấy là đang ở trong cõi súc sanh.
Ai mà cuộc sống đầy sân hận, hờn mát, hờn nóng; tưởng
mình là trùm thiên hạ, rồi coi người không ra gì; có ai nói
hơi nghịch lổ tai một chút là hờn, là giận, ấy là đang
ở trong cõi A Tu La vậy. Người nào khi khóc, lúc cười, khi
vui, lúc khổ, khi thương, lúc ghét, khi tham lam bỏn xẻn, lúc
rộng lòng bố thí, là đang ở cõi Ta Bà ngũ trược nầy đây.
Còn những ai ngày đêm làm việc thiện lành, tâm tư vui vẻ,
thoải mái, ấy là đang sống trong cảnh trời. Cuối cùng,
những ai vâng giữ lời Phật dạy hành thiện, không hành ác,
với cái tâm không phân biệt. Tâm tư an tịnh, cuộc sống
trống vắng mọi khổ đau phiền não, dục vọng và si mê lầm
lạc, một lòng một chí thượng cầu đạo vô thượng và
hạ hóa chúng sanh, ấy là đang sống trong cõi giải thoát của
chư Phật.
Đạo
Phật là như thế ấy, đơn giản và dễ hiểu, chứ không
thần bí. Sự giải thoát của đạo Phật là đây, là đời
nầy, kiếp nầy, chứ không phải đợi ở một kiếp xa xôi
nào. Người con Phật có toàn quyền lựa chọn một trong bảy
con đường; đường nào nên đi, đường nào nên tránh. Hãy
can đảm lên hỡi những người con Phật! Hãy rũ bỏ tham,
sân, si, mạn, nghi, tà kiến, rũ bỏ những cạnh tranh vô lý,
lòng tham ích kỷ và tình cảm thấp hèn vì chúng chỉ tạo
thêm nghiệp lực, làm tăng thêm đau khổ cho mình, cho người
và cho đời.
319.
ĐỊNH LUÂN
Chủ
trương của đạo Phật là chuyển ác thành thiện, chuyển
mê thành ngộ, chuyển vô minh thành trí huệ và chuyển Ta Bà
thành Tịnh Độ, hoặc Niết Bàn. Những người con Phật nương
theo những lời chỉ giáo của Đức Từ Phụ mà tự mình gột
rửa những phiền não, cũng như những cái bất thiện; chẳng
hạn như tham, sân, si, lười biếng, nghi ngờ, sợ hãi, ngã
mạn, cống cao và tà kiến. Người con Phật không ngữa cổ
trông mong ở một thần lực biến hóa nào, hoặc quyền phép
nào, hay nhờ một trợ lực nào từ bên ngoài để làm những
việc nầy cho họ. Chư Phật là những đạo sư, hoặc giả
là những chuyển luân thánh vương. Thần lực của chư Phật
có thể giúp cho chúng sanh lăn trôi, tìm trở về đường ngay
nẻo chánh mà đi, cũng giống như nhiều bàn tay nâng chiếc
bè giải thoát lên cùng một lúc, chứ chư Phật không giữ
vai trò đóng hay mở cửa địa ngục, hoặc thiên đường.
Trong
Kinh Viên Giác, Oai Đức Tự Tại Bồ Tát đã hỏi Phật xem
coi có bao nhiêu thứ lớp tu tập để được viên giác tròn
đầy? Đức Phật đã một lần nữa khẳng định rằng không
riêng gì một mình Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, mà mười phương
tam thế chư Phật thẩy đồng một thể. Phật tánh ở chư
Phật như thế nào, thì Phật tánh ở chúng sanh cũng như thế
ấy, chứ nó không hơn, không kém. Tuy nhiên, chư Phật với
viên giác tròn đầy, nên thể tánh hiển lộ, còn chúng sanh
vì mê muội vô minh, nên không thấy được tánh ấy mà thôi.
Muốn đạt đến chỗ toàn thiện, toàn mỹ, hoặc viên giác
tròn đầy, mỗi chúng ta đều phải tự thân thực nghiệm
cho đến lúc nào cũng yên tĩnh, tinh thần minh mẫn và trí
huệ viên giác. Lúc đó năng lực của chúng ta sẽ tiếp xúc
với một nguồn năng lực vô biên trong tận cùng tri thức;
và lúc đó, mọi việc bên ngoài đều sẽ được thấy rõ,
thấy đúng. Muốn được như vậy, tùy căn cơ và hoàn cảnh
của mỗi chúng sanh, nên phương tiện tu tập cũng có phần
khác nhau. Phật dạy rằng mặc dù tùy duyên mà tu tập, phương
pháp cũng không chạy ra ngoài ba thứ lớp sau đây :
Trước
nhất là tu "Chỉ" Samadhi hay Samatha. Nghĩa là ngừng lại, hoặc
tắt đi. Theo Phạn ngữ, chữ Tam-Ma-Địa có nghĩa là ngừng
tắt cái tâm náo động của mình, mà định tỉnh về một
nơi. Tâm chúng ta lúc nào cũng chạy nhẩy, mơ tưởng; khi thế
nầy, lúc thế nọ. Bây giờ "Chỉ" là để vắng lặng hết
thảy mọi vọng niệm. Tại sao phải "Chỉ"? Từ vô thỉ, tâm
nầy vốn vắng lặng, do bởi vô minh mà tánh vắng lặng nầy
từ từ bị che mờ, cũng giống như một ly nước bị khuấy
lên với những cặn cáu, nên không còn trong suốt nữa. Một
khi đã tu "Chỉ" rồi thì ta thấy rõ niệm niệm là hư ảo,
là không có thật, là bóng dáng của ngoại trần, chứ không
phải là tâm ta, nên niệm đến, niệm đi, mặc chúng; ta không
mời, không thỉnh, không kềm giữ, cũng không đuổi. Nhờ
biết dừng lại nên vọng niệm không còn làm mờ tối tánh
giác của ta nữa. Tâm người tu "Chỉ" là một thể rỗng lặng.
Chính nhờ biết dừng mà Lục Tổ Huệ Năng đã đại ngộ
rằng: "Ngờ đâu tánh mình vốn thanh tịnh! Tánh mình tự thuở
giờ vẫn vậy! Tánh mình vốn tự đầy đủ! Tánh mình vốn
không dao động! Tánh mình hay sanh muôn pháp!" Tuy nhiên, đã
từ muôn kiếp, chúng ta quên bẵng đi tánh giác, rồi đi lang
thang tạo nghiệp. Vì mê muội mà ta nhận bừa tâm thân nầy
là ta, tri giác nầy là ta, thứ đến suy tư nghĩ tưởng, thương
buồn, giận ghét, vui mừng... đều là ta. Từ đó mới có
ta tưởng, ta biết, ta thương, ta buồn, ta ghét, ta vui..., đủ
thứ ta hết thì làm sao mà không dao động? Làm sao mà định
tỉnh cho được? Bây giờ tu "Chỉ," chẳng sợ niệm khởi,
chỉ sợ tự mình dừng chậm, hoặc không chịu dừng mà thôi.
Nhờ đó mà tâm trí ta luôn sáng suốt. Một khi tâm trí luôn
sáng suốt, thì ta sẽ luôn sống với "cái biết dừng," ta
luôn biết buông xả vọng niệm, không giây phút nào vọng
tâm, ngoại cảnh có thể lôi kéo ta được. Lúc ấy ta sẽ
luôn nhớ lời Phật dạy : "Chánh pháp thượng xả, hà huống
phi pháp." Lúc ấy mặt hồ vắng lặng, nước hồ trong tận
đáy; có cái gì mà ta không thấy? Khi đó mọi ngu muội hay
tội lỗi đều không còn đất dụng võ trong ta. Ngược lại,
từng lời nói và việc làm của ta đều hoàn hảo và hướng
thượng. Lúc ấy ta là gì nếu không là giác ngộ và giải
thoát?
Kế
đến là tu "Quán" Tam-Ma-Bạt-Đề, tức là xem xét để thấy
cho rõ những điều lầm lỗi, quấy bậy của ta mà trừ bỏ
đi, hoặc đem trí huệ mà chiếu kiến cả sự lẫn lý. Nhìn
sâu vào sự vật để thấy bản chất thực của nó. Chẳng
hạn như quán dòng sông nước chảy để thấy rằng vạn pháp
đã qua, khó mong trở lại. Hoặc giả nhìn hình ảnh hoa rơi,
lá rụng, hoa nở, hoa tàn, để thấy sự vô thường của vạn
pháp. Quán để thấy chư pháp không thực, nên chi ta không
bám víu. Mất, còn, có, không, đẹp, xấu, khen, chê, đều
vẫn vậy, có gì đâu để mà bám với víu? Hoa đốm chưa
từng sanh, hoặc chưa từng diệt, chỉ có cái tâm bịnh của
mình tưởng tượng ra hoa đốm mà thôi. Người tu "Quán" luôn
lấy chỗ ly huyễn là diệu dụng cho cuộc tu tập. Ngay cả
cuộc vui, cuộc khổ đều không thật; chúng nó vốn chẳng
sanh, chẳng diệt; ngặt vì tâm ta chạy theo ngoại trần mà
dẫn dắt ta vào cảnh giới vui vui, khổ khổ. Nếu ta biết
quán chiếu để không chạy theo ngoại trần, thì làm gì có
ta vui, ta khổ? Chỉ có sự vui, sự khổ mà thôi. Quán được
như vậy, chúng ta sẽ chẳng vui, chẳng khổ, chẳng dao động;
mà chỉ thuần là an nhiên và tự tại. Tóm lại, Phật dạy
hãy quán vô ngã để không ngã mạn, cống cao; quán khổ để
từ bỏ những ý niệm vui sướng tạm bợ; quán tâm xả để
không bám víu vào tiền tài, vật chất, danh vọng và địa
vị; quán thọ thị khổ để dứt trừ dục vọng; quán sanh,
trụ, dị, diệt để không bám víu trường sanh trường tồn;
quán vô tướng để không chấp tướng. Người tu "Quán" nên
luôn nhớ lời Phật dạy trong Bát Nhã Tâm Kinh: "Ngũ uẩn giai
không. Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt." Tất
cả đều là huyễn giả; cảnh tà hay cảnh tốt cũng là giả;
do tại tâm mình chấp mà ra. Tóm lại, hãy dụng công mà quán
tưởng tới công đức và hạnh nguyện vô thượng của chư
Phật; hãy dụng công mà thấy cho được thân tướng trang
nghiêm của chư Phật để tự mình quay lại với tánh giác
sẳn có nơi mọi chúng ta, chứ không chạy Đông, chạy Tây
mà cầu Phật nữa. Càng cầu càng xa, càng chạy càng vọng
động. Xin hãy lấy cửa "Không" làm cửa pháp, lấy thế gian
làm mộng huyễn, nên chỉ nương theo để từ từ ly huyễn.
Làm được như vậy, thì trăng Lăng Già, trí Bát Nhã sẽ đưa
ta về ngay với ông Phật nơi chính ta.
Cuối
cùng là Thiền-Na (Dhyana), nghĩa là "Chỉ Quán" song tu. Nói cho
rõ ra là tỉnh lự cùng lúc với duy tư. Ngồi yên một chỗ,
hít vào tâm tỉnh lặng, th· ra miệng mỉm cười; đồng thời
quán chiếu một cái gì đó để thấy được thực tánh của
vạn pháp. Lúc thân thể an trụ trong tỉnh lặng, thì tâm ta
như một bộ máy tinh vi, vẫn hoạt động, nhưng hoạt động
trong chánh niệm. Nhờ đó mà cả thân thể lẫn tinh thần
đều được nhẹ nhàng, khỏe khoắn, yên ổn và lặng lẽ
tuyệt vời, chẳng những cho ta, mà người quanh ta cũng cảm
nhận sự an vui thoải mái nữa. Chỉ Quán song tu chẳng những
giúp ta giải thoát về sau nầy, mà ngay bây giờ nó còn giúp
ta không la to, nói lớn trong khi có thể nói chuyện từ tốn;
không kích thích nóng nảy trong khi ta có thể nhu hòa nhẫn
nhục. Sau một ngày làm việc, với tâm thần mệt mỏi, Chỉ
Quán song tu sẽ giúp ta đạt được sự tỉnh lặng tuyệt
vời. Chỉ Quán song tu còn giúp ta nói năng trong chánh pháp,
mà yên lặng cũng trong chánh pháp. Lúc ấy cho dù ta rão bước
trong cảnh ồn ào rộn rịp, tâm ta vẫn an nhàn và tự tại
trong sự im lặng tuyệt vời. Lúc ấy cho dù người có sân
hận và la mắng ta thậm tệ, ta vẫn lẳng lặng bước đi
không một lời hờn trách hay sân hận lại. Với Chỉ Quán
song tu, chúng ta sẽ thấy thân tâm nầy còn nhiều chướng
ngại. Không tiền cũng khổ, mà có tiền cũng khổ. Vì tâm
chướng ngại, nên cả thân lẫn tâm cứ mãi đảo điên mộng
tưởng, làm sao mà giải thoát, hoặc đến được Niết Bàn
đây? Tuy nhiên, với chỉ quán song hành, vì biết thân tâm
nầy huyễn hóa; nếu ta chấp vào là chướng ngại, nên chi
ta không chấp, không vướng mắc. Ngoài ra, người tu theo Chỉ
Quán song hành, không nắm giữ ngay cả sự tỉnh lặng, vì
còn nắm giữ, dù chỉ là sự tỉnh lặng, là còn chướng
ngại. Không cho mình là hay, là giỏi; đến khi đụng chuyện
thì lại sân hận đùng đùng. Không khư khư ôm giữ và cho
rằng những lý lẽ của mình là đúng, là cao đẹp, của người
là sai trái, là thấp kém. Với Chỉ Quán song tu, người tu
an nhiên tự tại đến độ không còn một thứ gì có thể
làm vướng mắc. Với Chỉ Quán song tu, Ta Bà, Tịnh Độ hay
Niết Bàn, không sai khác. Với Chỉ Quán song tu, cuộc sống,
cuộc tu của người Phật tử là một tiến trình gạn lọc
thân, khẩu và ý một cách liên tục. Gạn mãi, gạn mãi cho
đến khi giác ngộ và giải thoát. Tuy nhiên, Phật giáo không
chủ trương nói gạn lọc, mà Phật giáo chủ trương làm gạn
lọc, vì có làm được như vậy ta mới thật sự không hướng
ngoại để cầu tìm sự giải thoát. Hạnh phúc của cuộc
sống và sự giải thoát một kiếp lăn trôi không tùy thuộc
nơi thế gian bên ngoài, mà là ở ngay nơi mỗi người chúng
ta. Hãy quay về nơi chính mình mà tu, Chỉ cũng được, Quán
cũng được, mà Chỉ Quán song tu cũng được, miễn sao ta phát
tâm đại bi mà tu. Nên nhớ vui, buồn, thương, ghét, thiện,
ác..., sống, chết, lo âu, sợ hãi..., không do từ bên ngoài,
mà chỉ là những tư tưởng nơi chính chúng ta mà thôi. Xin
hãy cố gắng vâng giữ những lời Phật dạy để nếu chưa
được giải thoát, cuộc sống của ta ở đời nầy kiếp
nầy cũng là một cuộc sống an nhiên và tự tại lắm rồi
vậy.
320.
TỊNH CHƯ NGHIỆP CHƯỚNG
Thời
đại chúng ta đang sống, có thể nói là một thời đại cực
thịnh của văn minh vật chất. Thời mà tiếng nói con người
chỉ vài giây sau là vang đi khắp hoàn cầu. Thời đại mà
hầu như ở hang cùng ngỏ hẻm nào cũng đều có sách vở,
báo chí, truyền thanh, truyền hình và điện thoại. Tuy nhiên,
tiếng nói của hôm nay không còn là ái ngữ của hôm qua; không
còn là tiếng nói mộc mạc, nhưng đầy tình cảm nữa. Ngược
lại, nó ồn ào, vọng động và mang đầy chướng ngại của
não phiền. Tại sao lại như vậy? Đáng lý đúng nghĩa của
văn minh phải là những gì sáng sủa và đẹp đẽ hơn chứ;
thế nhưng sự thể hầu như hoàn toàn ngược lại. Theo Kinh
Viên Giác, trong phẩm Tịnh Chư Nghiệp Chướng, Đức Thế
Tôn đã nói rõ cho tứ chúng biết rằng tự thuở giờ cái
tâm "Viên Giác" vốn thanh tịnh, nhưng vô minh mê muội đã
khiến chúng sanh càng ngày càng xa lìa "Viên Giác," khiến cho
chúng sanh thay vì ái ngữ, lợi hành; lại đi nói lời ác ngữ,
hành ác nghiệp. Thay vì dùng vật chất như những phương tiện
sống hòa đồng và tiến tu, họ lại đi làm nô lệ cho vật
chất, máy móc và những phương tiện khoa học kỹ thuật khác.
Xã hội văn minh loạn động thật là quá quắt, chỉ vì lời
nói mà vợ chồng ly tán, anh em xâu xé...Theo những tôn giáo
thờ thần thánh, thì không có gì lạ cả; đó là bản chất
cố hữu của con người. Con người là tội lỗi, nên thần
thánh, hoặc bà con của thần thánh là những bậc tinh khiết
thanh sạch, sẽ cứu rỗi họ nếu họ chịu tin và vâng phục.
Chủ thuyết như vậy vô hình chung chẳng những làm nản chí
hướng thượng của con người, mà còn xúi biểu con người
cứ tự nhiên làm bậy; không có gì sai trái vì đó là bản
chất của con người. Với thần quyền, dù muốn hay không
muốn, hễ mang kiếp con người là gắn liền với tội lỗi
và yếu hèn. Muốn được cứu rỗi, phải vâng phục người
khác; người mà mình chưa từng quen biết. Thật là một chủ
thuyết mơ hồ và khó chấp nhận được.
Theo
đạo Phật, giác tâm bản tánh vốn thanh tịnh, nghĩa là không
tội lỗi không yếu hèn, không gì cả. Tuy nhiên, do bởi phiền
não và nghiệp chướng của Ngã, Nhơn, Chúng Sanh và Thọ Giả
mà sanh ra đủ thứ loạn động, vọng che mất chơn, tà che
lấp chánh, ác lướt thiện, vô minh che mất Bồ Đề.
Thế
nào là Vọng Ngã?
Từ
vô thỉ chúng sanh đã lăn trôi trong luân hồi sanh tử; hết
kiếp nầy đến kiếp khác; không còn trí huệ đâu nữa để
thấy rằng thân nầy là giả tạm, chẳng khác chi hoa nở,
hoa tàn. Do bởi không thấy, không biết nên chấp thân nầy
là ta, rồi từ đó ghét ghét, thương thương, vui vui, buồn
buồn. Thế rồi từ sai lầm vọng động nầy, ta đi đến
sai lầm vọng động khác; từ vọng ngữ ta đi đến ác ngữ;
từ suy nghĩ ác ta đi đến hành động ác... Phật dạy rằng
nếu lấy cái thân tâm phàm phu vọng ngã nầy mà cầu đạo,
thì ta sẽ chẳng bao giờ thành tựu. Với cái tâm nầy, người
tu sẽ khởi tâm khinh ghét những người không tu; những người
ăn chay khinh mạn những kẻ ăn mặn; cho rằng ăn mặn như
vậy thì làm sao năng chứng năng ngộ được? Tu mà còn vướng
mắc như vậy thì làm gì có viên giác? Tu mà còn mang nặng
cái tâm năng chứng năng ngộ như vậy thì sở chướng tràn
đầy, làm sao mà hướng thượng đây? Hãy nhớ lời Phật
dạy, hễ muốn tu đạo giải thoát thì có lúc chánh pháp thượng
xả, hà huống vướng mắc và phi pháp.
Như
vậy muốn tu đạo rốt ráo như các đấng Như Lai, thì ngay
những ý niệm giải thoát và Niết Bàn cũng cần phải buông
bỏ.
Thế
nào là Nhân Tướng?
Nhân
tướng là chấp vào những cái mình biết, rồi cho rằng mình
đã ngộ nầy, ngộ nọ. Vì nhân tướng mà ta mới coi trời
không bằng vung, mục hạ vô nhân. Chính cái nhân tướng đã
đưa chúng sanh từ chỗ tự kiêu hãnh đến chỗ ngã mạn cống
cao. Nhưng Phật tử ơi! Nên nhớ rằng hãy còn biết mình ngộ
là mình thật sự chưa ngộ gì cả. Như vậy người con Phật
luôn nhớ tự thân hành trì, mà không khởi tâm chứng ngộ,
ấy là đường về Niết Bàn thật sự vậy. Ấy là con đường
chân chính nhất của đạo Bồ Đề, Vô Thượng, Chánh Đẳng,
Chánh Giác.
Thế
nào là Chúng Sanh Tướng?
Chúng
sanh tướng là cái ngã tướng ẩn thức một cách vi tế nơi
con người của mình. Vì ngã tướng mà ta cho rằng ta đã chứng
ngộ, đã tới một từng trời mà chúng sanh khác chưa tới
được. Chính cái chúng sanh tướng là một trở ngại lớn
lao, là một thứ ma Ba Tuần làm trì trệ bước đường tu
tập của ta.
Thế
nào là Thọ Giả Tướng?
Thấy
mình đã ngộ là chưa ngộ; thấy mình đã chứng là chưa chứng;
thấy mình đã đắc, là chưa đắc...Giống như con mắt mà
nói thấy được con mắt là điều phi lý vậy! bởi vậy cho
nên người vọng động có khi nào cho rằng mình vọng động
đâu?
Đức
Phật đã chỉ dạy một cách cặn kẻ trong kinh điển là chỉ
vì bốn trở ngại lớn lao trên mà thân tâm ta chẳng bao giờ
được thanh tịnh. Chính vì chúng mà ái ngữ nhường chỗ
cho ác ngữ, lợi tha nhường chỗ cho ích kỷ... Muốn tịnh
chư nghiệp chướng, con đường duy nhất là ta phải tu theo
những phương pháp tu hành của chư Phật; nếu không khéo thì
con đường ta đang đi có thể không phải là đường về đất
Phật. Xin hãy buông bỏ đi những ý tưởng chứng ngộ, để
cho tâm trí chúng ta được sáng suốt hơn. Hãy buông bỏ những
chấp nê và tham ái để thân tâm ta không vướng mắc. Phật
tử chân chánh luôn nhớ rằng hễ một phút nào mình còn cho
rằng mình hơn người, mình chứng nầy ngộ nọ, là phút đó
ta còn đang đi về phía địa ngục. Chỉ có những kẻ sanh
tâm ganh tị và ngã kiến mới tự xưng chứng đắc, chứ người
chân tu cứ thầm thầm mà tinh tấn hàng phục phiền não và
chiến thắng nội ma, ngoại chướng một cách dũng mãnh. Do
đó, dù chưa dứt trọn được phiền não, cuộc sống ta cũng
là an lạc lắm vậy. Cuộc tu của ta, dù chưa đến Niết Bàn,
nhưng thân tâm nầy đã trống vắng phiền não và tịnh tịch
có thua chi cõi Tây Phương Cực Lạc.
321.
NGƯỜI ĐỘN CĂN CÓ THỂ TU THÀNH PHẬT KHÔNG?
Cách
nay trên hai mươi lăm thế kỷ, Đức Thích Tôn Từ Phụ đã
vì thương xót chúng sanh mà Ngài đã hiện ra nơi đời. Ngài
đã để lại một di sản tinh thần vô cùng quí báu cho nhân
loại. Chính Ngài đã từng khẳng định trong các kinh điển
rằng dù muốn hay không muốn, dù thượng căn thượng trí
hay độn căn hạ trí, chúng sanh nào rồi cũng phải tu, rồi
cũng phải thành Phật. Vấn đề ở đây chỉ là sớm hay muộn
mà thôi. Như vậy, người tu Phật không phải vì thông minh
hay không thông minh, lại cũng không phải vì thượng căn hay
độn căn. Giáo pháp của Phật rất bình dị, ai cũng có thể
lãnh hội được. Còn chuyện có chịu lãnh hội hay không lại
là chuyện khác.
Không
phải toàn bộ kinh điển Phật toàn là những điều cao thâm
khó hiểu. Ngược lại, đa phần những điều Phật dạy thật
dễ hiểu, thật đơn giản; ai cũng thực hành được. Đừng
đỗ thừa tại tôi độn căn nên không hiểu nỗi kim ngôn
ngọc ngữ của Thế Tôn. Phật không muốn chúng ta đi nghiên
cứu kinh điển, mà Phật chỉ khuyên chúng ta nên thực hành
những điều dễ thực hành nhứt. Có ai dám nói vì độn căn
nên tôi không biết thế nào là trường trai, giữ giới? Vì
độn căn nên tôi không biết thế nào là hành thiện, không
hành ác? Không biết thế nào là giữ cho thân tâm thanh tịnh?
Phật lý nếu muốn nói thậm thâm vi diệu, thì nó thậm thâm
vi diệu; mà nếu muốn nói đơn giản dễ thực hành, thì nó
cũng đơn giản dễ thực hành như vậy đó. Đạo Phật đâu
có biểu ai phải đi học cho giỏi rồi hẳn tu. Đạo Phật
lại càng không cho rằng thông minh dễ tu hơn ngu độn. Đạo
Phật chỉ yêu cầu Phật tử nên hành trì, chứ không nên
nói suông. Chẳng hạn như nói không tham lam, thì đừng đi
ăn cướp, ăn cắp hay ăn trộm; nói không sát sanh thì không
sát sanh... Đạo Phật khuyên người tu nên dùng cái bi, trí,
dũng của nhà Phật mà tu tập để trưởng dưỡng lòng nhân
ái và sẳn sàng hi sinh vì lợi tha. Đạo Phật không bảo ai
phải dùng thượng trí để biện giải; ngược lại, càng
ít biện giải chừng nào càng tốt chừng nấy. Với đạo
Phật, Phật tánh chỉ hiển lộ khi người tu Phật không còn
miên man trong ngục tù của ngôn ngữ mà thôi.
Ngày
xưa Châu Lợi Bàn Đà Già (Bàn Đặc) đã đi đến quả vị
A La Hán trong khi hai chữ “tảo, chữu,” Ngài vẫn không thuộc
nỗi, chẳng là một tấm gương sáng cho muôn đời hậu thế
tu tập hay sao? Bàn Đặc vì độn căn, nên hễ nhớ chữ “tảo”
thì quên mất đi chữ "chữu.” Hễ nhớ chữ "chữu” thì
quên mất đi chữ “tảo.” Ai cũng sanh tâm chê cười, nhưng
Ngài Bàn Đặc vẫn thầm thầm tiến tu. Ngài luôn hành thiện,
không hành ác, luôn giữ cho thân tâm hằng thanh tịnh. Với
Ngài thì “tảo” Ngài cũng quét sạch, mà “chữu” Ngài
cũng quét sạch; chẳng những sạch đi những rác rưởi trong
sân vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, mà ngay cả những tạp niệm,
vọng niệm nơi chính Ngài cũng tiêu sạch. Cũng chính nhờ
học mãi mà không thuộc được hai chữ “tảo, chữu,” nên
ông Bàn Đặc dễ nhứt tâm hơn người có đa ngôn vạn chữ.
Hơn nữa, thượng trí hay độn căn, không dính dáng gì đến
việc buông bỏ tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo,
dâm, vọng. Thượng trí mà ôm ấp những thứ ấy thì luân
hồi sanh tử vẫn không dứt; độn căn mà chịu buông bỏ
những thứ ấy, thì nhứt tâm bất loạn; trong một sát na
nào đó, có thể đột nhiên khai ngộ những bản tánh sáng
suốt. Thượng trí mà buông lung cho căn, trần, và thức duyên
nhau, thì làm sao mà dứt được vô minh? Độn căn mà chịu
khép bớt lục căn; không cho lục trần và lục thức duyên
nhau khống chế, thì nhứt cử nhứt động đều hợp với
lẽ phải và ai ai cũng đều quí mến.
Tóm
lại, chính Đức Thích Tôn Từ Phụ đã khẳng định Phật
tánh ở Phật thế nào, thì Phật tánh ở chúng sanh cũng thế
ấy; chứ nó không thêm không bớt, không nhiều không ít. Về
sau nầy, Lục Tổ Huệ Năng đã dõng dạc đối đáp với Ngũ
Tổ Hoằng Nhẫn rằng: “Người có Nam Bắc, chứ Phật tánh
không có Bắc Nam.” Như thế Phật và tổ đã trả lời quá
rõ ràng rồi còn gì nữa? Dù thượng trí hay ngu độn, thì
Phật tánh ấy vẫn vậy, có điều là ta có chịu nhiếp tâm
tu trì hay không mà thôi.
322.
TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ
Giác
ngộ có nghĩa là lãnh hội được chơn lý. Giác ngộ có nhiều
thứ bực. Từ kẻ phàm phu, chợt tỉnh ra và nhận biết rằng
vạn pháp là vô thường, để buông xả, không vướng mắc,
ấy là giác ngộ, nhưng chỉ là phần giác. Đến như Đức
Phật thành đạo Chánh Đẳng, Chánh Giác nơi cội Bồ Đề,
cũng là giác ngộ, mà là toàn giác, đại giác, hoặc đại
ngộ.
Tại
sao chúng ta phải giác ngộ?
Đức
Thế Tôn nhận thấy rõ bản chất của cuộc đời là khổ,
nên Ngài đã phát tâm tu trì và giác ngộ. Ngài đã để lại
cho hậu thế một kho tàng giáo điển vô giá cho việc tu trì;
trong đó chúng ta không thể nào không nhắc đến tám điều
giác ngộ mà Phật đã dạy trong Kinh Bát Đại Nhơn Giác. Nói
về kinh văn thì rất ngắn; tuy nhiên, nói về hành trì, có
thể cả đời chúng ta vẫn chưa có thể thực hành một cách
hoàn toàn rốt ráo được.
Đời
sống của chúng ta nào có khác chi hoa nở, hoa tàn; hoặc giả
khi sáng mặt trời mọc, đến khi xế chiều thì mặt trời
lặn. Nếu so với vũ trụ thì một đời người chẳng có
nghĩa lý gì. Nếu chúng ta không chịu sớm tu trì thì e rằng
không còn kịp nữa. Cảnh giới Ta Bà nầy hư ảo cũng chẳng
khác chi cánh hoa sớm nở, tối tàn; hoặc chẳng khác chi một
giấc chiêm bao. Nay Đức Từ Phụ đã giác ngộ và giải thoát,
Ngài đã sẳn sàng chỉ dạy chúng ta những gì chúng ta cần
biết. Trong đó tám điều giác ngộ là những yếu lý rất
ư cần thiết cho bất cứ người con Phật nào. Đức Phật
là bậc toàn giác, nên những lời dạy dỗ của Ngài là những
chơn lý cho mọi người đời sau tu tập. Chúng sanh là mê;
muốn giác, con đường duy nhất là phải nương theo bậc toàn
giác mà đi.
Điều
Giác Ngộ thứ nhứt: Vô thường, vô ngã, và khổ không. Phàm
phu hay đi tìm cái gì bền chắc và trường tồn; tuy nhiên,
trên đời nầy có cái gì là vĩnh hằng đâu? Cõi Ta Bà nầy,
thấy đó, mất đó; nay còn, mai mất. Mới hôm nào hãy còn
là ruộng dâu, nay đã là biển cả. Mới vài tháng trước
đây, xuồng ghe còn qua lại; mà hôm nay sông đã dậy cồn.
Mới hồi nào còn công hầu khanh tướng, mà bây giờ tứ cố
vô thân... Một khi đã ngộ được lẽ vô thường, thì ta
không còn toan tính hơn thua; không còn ôm ấp tiền của; hoặc
không còn chạy theo bã vinh hoa phú quí nữa. Cảnh đời dù
thuận, dù nghịch, ta vẫn vậy; chứ không thắng thì cười
vui thỏa thích, đến lúc bại thì buồn khổ không nguôi. Tuy
nhiên, cái quan trọng ở đây là hành trì liên tục, chứ không
nay trì mai nghỉ. Phải từng ngày, từng giờ nhìn cho được
cái vô thường của vạn pháp, để mà tiến tu. Có như vậy
chúng ta mới dửng dưng và không bị nhiễm trược bởi những
tài, sắc, danh, lợi... Có như thế chúng ta mới an nhiên tự
tại được.
Một
khi đã thấu triệt được vạn pháp vô thường rồi, thì
ta đâu còn chỗ nào để chấp cái “Ngã” của ta? Đã nói
vạn pháp vô thường, thì cái “Ngã” nầy có thường hằng
được không? Làm gì có chuyện nghịch lý ấy? Cái thân nầy
là do tứ đại duyên hợp lại mà thành; hễ thuận duyên thì
còn, mà nghịch duyên là tan rữa chứ còn gì. Cái tâm mà ta
vẫn tưởng nầy là do bởi lục căn bị bỏ ngỏ, nên duyên
quyện với lục trần và lục thức mà khống chế chúng sanh
từ vô thỉ, thế thôi. Theo khoa học thì mỗi ngày có đến
sáu mươi chín ngàn (69.000) niệm đến, niệm đi; chẳng lẽ
ta lại có đến sáu mươi chín ngàn cái tâm khác nhau à? Làm
gì có lẽ ấy! Phật tử ơi! Hãy lắng lòng mà nghe lại bài
Bát Nhã Tâm Kinh, để thấy rằng sắc, thọ, tưởng, hành,
thức..., đều là không, hoặc giả; chúng chỉ tồn tại trong
một thời gian hữu hạn, chứ không thường hằng đâu. Thấy
được như vậy thì còn lòng nào ta chứa thêm tội lỗi vào
thân, hoặc ác nghiệp vào tâm. Như vậy ta không đang xa lìa
sanh tử chứ là gì? Một khi đã quyết chí không cõng thêm
tội lỗi và ác nghiệp, thì lấy gì làm cho ta phiền não và
đau khổ? Không tham tiền tài, danh lợi; không trấn lột của
ai; không sân hận, si mê; không ngã mạn, cống cao; không làm
chuyện tà vạy; nghĩa là không gieo nhân đau khổ, thì lấy
gì gặt quả khổ đau. Như vậy là ta đang làm gì nếu không
là đang xa lần sanh tử luân hồi?
Điều
giác ngộ thứ nhì: Ham muốn nhiều là khổ nhiều. Cái trục
trặc lớn lao của chúng ta là không chịu buông bỏ. Vì không
chịu buông bỏ mà ta cứ mãi tìm cầu. Tìm cầu cái gì có
khi chúng ta cũng không biết. Tìm chưa được cái nầy thì
đã mất cái kia, thế mà chúng ta cứ ham, cứ muốn tìm thêm
mãi. Phật đã dạy rằng người con Phật muốn tiến tu thì
phải cố mà giác ngộ cho được cái chuyện càng ham muốn
là càng khổ. Ham ăn nhiều thì lao nhọc nhiều, ham sắc nhiều
thì sức lực hao mòn nhiều, ham danh nhiều thì mưu toan tranh
danh đoạt lợi nhiều. Càng ham tiền thì càng làm nô lệ cho
tiền, chứ còn thì giờ đâu nữa mà tiến tu. Một khi ham
cầu mà không toại chí thì khổ; tuy nhiên, khi đã toại chí
rồi, đâu đã yên, lại phải lo canh giữ những gì đã đạt
được. Như vậy lại càng khổ thêm. Không chịu buông bỏ
những cái mình đang có thì cũng tạm hiểu được, đằng
nầy chúng ta lại đi ôm đồm luôn những thứ không phải
của mình, những thứ mang đến từ người khác, từ vui sướng,
thương yêu, đến buồn giận, ghét bỏ. Đức Từ Phụ đã
từng ví thân con người như hạt cát mà sức ôm đồm của
con người còn hơn cả tam thiên đại thiên thế giới. Nếu
chúng ta không chịu buông bỏ mà cứ ôm đồm như thế nầy,
thì quả là tội nghiệp cho chúng ta quá! Thân tâm chúng ta
nhỏ bé quá, làm sao chúng ta có thể ôm hết những hành trang
nầy đây quý vị? Là Phật tử, hãy thiểu dục tri túc. Hãy
ít ham muốn, mà thường hay biết đủ để cho cuộc sống
đỡ quay cuồng hơn. Có ít thì sống theo ít, chứ có gì đâu
mà buồn với khổ. Người mà biết ít ham muốn và thường
hay biết đủ là người không chạy đôn chạy đáo tìm cầu,
nên không tạo nghiệp. Như vậy là đã bớt được khổ đau
và phiền não nhiều lắm rồi. Cuộc sống của người ấy
là gì nếu không là an lạc và tự tại?
Điều
giác ngộ thứ ba: Phải luôn biết rằng bản chất của tâm
ta là mong cầu không nhàm chán. Túi tham của con người không
có đáy. Đứng về mặt số lượng mà nói, thì cả tam thiên
đại thiên thế giới nầy nhập lại, cũng chưa chắc đã
bằng một cái túi tham của chúng sanh. Tham đến độ bất
chấp cả luân lý đạo đức. Tham đến độ bất chấp tội
lỗi. Phật đã dạy nếu muốn đi vào quả vị vô thượng,
thì trước nhất phải biết thanh bần lạc đạo, biết an
vui trong cảnh nghèo để tiến tu. Phải luôn gìn giữ đạo
đức như gìn giữ con ngươi của chính mình. Lúc nào cũng
lấy giới, định, tuệ làm gốc. Đối với người phát tâm
vô thượng thì tiền của vật chất không là gì cả, chúng
không có một chỗ đứng nào trong tâm của kẻ tu hành. Chẳng
những tự mình giác ngộ về tri túc và thanh bần lạc đạo;
người tu theo Phật luôn giúp đỡ người khác được giác
ngộ như chính mình vậy. Tri túc và thanh bần lạc đạo không
là thần thông, chứ là gì? Nó giúp cho người tu Phật chẳng
những không đắm mê ngũ dục, mà còn tự thân tu tỉnh, phá
mê phá chấp, đoạn trừ đau khổ phiền não và tội lỗi
trong cuộc tu cuộc sống hằng ngày.
Điều
giác ngộ thứ tư: Lười biếng là bạn của trụy lạc và
ma vương. Người tu theo Phật phải luôn nhớ rằng cuộc tu
nầy không một ngày một bữa; mà là trường kỳ tu tập.
Có thể hết đời nầy đến kiếp khác cũng không chừng.
Người tu theo Phật cũng giống như người kéo cây lấy lửa,
nếu nay kéo mai nghỉ, thì biết đến chừng nào mới có lửa
đây? Một khi đã giác ngộ ra rằng lười biếng là bạn của
trụy lạc và ma vương, thì người con Phật sẽ tinh tấn tu
hành không mệt mỏi., tu cả ngày lẫn đêm mà không biết
nhàm chán. Tinh tấn phát khởi những điều thiện chưa sanh,
tinh tấn hành trì những điều thiện đã sanh. Tinh tấn hành
trì những điều thiện đã sanh không thôi chưa đủ, người
con Phật phải tinh tấn không cho phát khởi những điều ác
chưa sanh và tinh tấn đoạn diệt những điều ác đã sanh.
Nhờ tinh tấn hành trì những điều thiện và đoạn diệt
những điều quấy ác mà cả thân, khẩu, ý của người tu
theo Phật đều thanh sạch. Do đó mà tham, sân, si, mạn, nghi,
ác kiến đều tuần tự rút lui. Từ đó mà những con ma Ba
Tuần, ma phiền não, ma sắc, thọ, tưởng, hành thức; chí
đến ma sanh, ma lão, bịnh, tử, ma phiền não, ma thiên, ma địa...
cũng không còn bạn để chơi nữa, nên cũng tự động rút
lui.
Điều
giác ngộ thứ năm: Ngu si là bạn của luân hồi sanh tử. Nào
có ai muốn ngu si, ngặt vì tập khí của nhiều đời nhiều
kiếp, nên những tham sân làm mù quáng mất lý trí. Do đó
hết ngày dài rồi lại đêm thâu, ta đi khắp năm châu, gom
góp những rác rưởi mà lại cho là của báu. Hoặc giả có
kẻ ngã mạn cống cao, không biết nói biết, không thấu triệt
vẫn nói thấu triệt. Vì ngu si mà chấp thân tứ đại nầy
là thật, là vĩnh hằng, rồi còng lưng gây nghiệp để duy
trì nó. Như vậy làm sao mà dứt đường sanh tử đây? Những
người con Phật, một khi đã quyết chí tu, là quyết chí tận
diệt vô minh để tiến đến giác ngộ cho bằng được cái
lẽ ngu si là bạn của luân hồi sanh tử. Vì thế người con
Phật thường thường học Phật để khởi phát trí huệ và
Bồ Đề tăng trưởng. Phật đã từng dạy tứ chúng rằng
con đường duy nhất để phá tan vô minh là phải hằng nghe
nhiều, học nhiều và tu trì nhiều. Chứ nghe rồi học mà
không chịu tu, chẳng những không phát chân trí huệ, mà còn
sanh tâm ngã mạn cống cao nữa là khác. Nghe và học để biết
rằng chỉ vì si mê nên có sanh tử, chỉ vì vô minh và ái
dục mà chúng sanh thay đổi hết thân nầy đến lốt nọ.
Nghe và học để thấy rằng vô minh và ái dục là hai nhân
tố chính đưa chúng sanh vào biển khổ sông mê. Vì mê muội
mà ta lăn trôi tạo nghiệp. Vì mê mờ mà ta cứ mãi nhận
giả làm chân. Vì mê mờ mà ta cứ tưởng dây là rắn. Vì
mê mờ mà ta cứ mãi xa rời sự thật và xa rời chính ta.
Xa rời cho đến một lúc nào đó ta bị lạc hẳn vào một
khu rừng không có lối ra: rừng vô minh. Vô minh làm ta mê mờ,
không còn nhìn đúng sự thật nữa. Trắng thì ta lại cho là
vàng, đỏ lại nói đen, giả nói thiệt... Chất rượu cai
đắng độc hại, ta lại uống vào mà còn vỗ tay reo vui tán
thưởng nữa là khác. Là con Phật, ta quyết nhìn cho ra lẽ
thật để mà tiến tu, quyết vâng giữ những lời Phật dạy.
Quyết thành tựu biện tài từ pháp, nghĩa đến nhạo thuyết
để nối gót Phật tổ Gotama và quý thầy, hoằng hóa lợi
sanh. Người con Phật, một khi đã phát tâm tu là quyết tâm
tận diệt ngu si để chẳng những tự mình giác ngộ, mà còn
giúp người khác cùng giác ngộ. Người con Phật quyết không
ngu si sợ hãi những cái khổ đau giả tạm của nóng, lạnh,
đói, khát, để rồi đi tìm những cái vui cũng giả tạm của
tiền bạc, của ăn sang mặc đẹp... Ngược lại, người con
Phật quyết chặt đứt ngu si ám độn của mình và của người
để tìm đến với cái vui vĩnh hằng của cõi vô sanh vô diệt.
Điều
giác ngộ thứ sáu: Nghèo khổ và hoạn nạn hay xui khiến con
người ghen ghét với người và với đời. Người nghèo khổ
thường hay bị bức bách bởi những nhu cầu vật chất. Vì
cần tiền nuôi thân, nuôi gia đình mà bán rẽ sức lao động,
lắm khi bán cả máu tươi của mình..., rồi sau đó sanh tâm
oán hận, oán hận những người giàu sang, oán hận luôn cả
đời. Vì không thấu triệt lý nhân quả nên họ cứ than trời
trách đất, chứ không chịu tìm hiểu xem coi tại sao mình
nghèo? Có thể mình nghèo vì đời trước mình bỏn xẻn, keo
kiệt, thiếu bố thí. Vậy thì ngay bây giờ mình hãy tập
hạnh bố thí quảng tu. Nghèo có bố thí được không? Được
chứ. Dù nghèo cách mấy, làm gì chúng ta không có vài ba hạt
cơm dư cho đàn kiến, đàn cá, hoặc đàn chim. Hãy nhín lại
vài hột mà bố thí mỗi bữa. Trong khi bố thí cho kiến, cá
hoặc chim, thì ta cũng nên nguyện cho chúng tiến lên làm người
mà tu tập. Cho dù ai đó có bĩu môi chê trách lối tu nầy,
ta quyết không thối chí hoặc lùi bước. Dẫu biết vài hột
cơm chả thấm vào đâu so với vàng muôn bạc ức, nhưng vài
hạt cơm của một người có tâm thành, nó quý báu gấp vạn
triệu lần vàng muôn bạc ức của những kẻ cống cao ngã
mạn và phỉ báng Phật pháp. Người tu theo Phật quyết thấy
rõ điều nầy, để dù nghèo xác xơ cũng quyết thanh bần
lạc đạo, chứ không sanh tâm đố kỵ, hoặc thấy người
quyền quí là sanh tâm oán ghét, hoặc lúc nào cũng tự ti mặc
cảm với những kẻ hơn mình. Là Phật tử, quyết thông triệt
lý nhơn quả để phá tan nhân bỏn xẻn và xả bỏ tâm tự
ti mặc cảm. Làm được như vậy là ngay trong đời kiếp nầy
ta đoạn trừ được cái nhân nghèo khổ. Nên chi cho dù chưa
được giải thoát, cuộc sống ta cũng an lạc và tự tại
lắm rồi vậy. Ngoài ra, ta còn phải phát tâm hỷ xả và thương
xót cho những kẻ nghèo. Nếu họ đem lòng oán hận, ta nên
lấy lòng từ bi bình đẳng mà đối xử lại. Phải cố mà
giúp đỡ họ một cái gì đó, làm vơi đi nổi khổ trong hiện
tại rồi sau đó từ từ phân giải cho họ liễu ngộ Phật
pháp. Hãy noi theo hạnh Phật mà tu. Với Phật, lòng thương
đến mọi chúng sanh đều bình đẳng; tuy nhiên, Ngài quan tâm
nhiều đến những kẻ không biết đạo lý hơn là những Bồ
Tát đã liễu đạo. Chúng ta cũng vậy, nên quan tâm giúp đỡ
những kẻ nghèo, hoặc giả kém đạo đức. Làm được như
vậy, chẳng những tự mình giác ngộ, mà còn giúp người
giác ngộ nữa.
Điều
giác ngộ thứ bảy: Phải xuất thế gian một cách chân chánh.
Thế nào là xuất thế gian? Tại sao phải xuất thế gian? Có
nhiều người cho rằng xuất thế gian là phải đầu tròn áo
vuông. Vâng, đầu tròn áo vuông là xuất thế gian về hình
tướng, còn xuất thế gian chân chánh lại là một vấn đề
khác. Ý nghĩa rốt ráo của chữ xuất thế gian là xuất hồng
trần gia. Hồng trần gia là căn nhà lửa, nơi có đầy đủ
tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, sát, đạo, dâm, vọng. Xuất
hồng trần gia là muốn thoát ra khỏi những thứ ấy, đơn
giản và dễ hiểu thôi. Phàm phu tục tử là những người
chưa xuất thế gian, nên vẫn còn tham, sân, si, mạn, nghi, tà
kiến, đó là chuyện bình thường. Tuy nhiên, với những người
đầu tròn áo vuông, mà vẫn còn ôm ấp những thứ ấy, là
chuyện không tưởng. Không tưởng như trời quang mây tạnh,
mà sấm chớp nổi lên ầm ầm, là điều không bao giờ chấp
nhận được. Thế cho nên, người xuất thế gian thật sự
sẽ không bị ô nhiễm bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Người ấy luôn phát nguyện chân chánh xuất thế gian, luôn
tự giác, giác tha, không bao giờ tự mãn. Người ấy luôn
giữ giới và không bao giờ thối chuyển Bồ Đề tâm. Niệm
đến, niệm đi, tất cả đối với họ đều như nước chảy
qua cầu, như gió thoảng mây bay, nên họ không bị vướng
mắc bởi trần lao. Người xuất thế gian chơn chánh sẽ thầm
thầm tiến tu, chứ không mong cầu một thứ gì, dù thuận
hay dù nghịch. Vì thông triệt lẽ vô thường nên họ không
cầu khỏe mạnh, không cầu không bịnh hoạn, không cầu không
hoạn nạn... Cầu làm gì khi chư pháp chỉ là huyễn giả,
như sương mai trên đầu cỏ. Tóm lại, người xuất thế gian
chân chánh, ngoài việc rời bỏ căn nhà thế tục, xuất hồng
trần gia để thật sự xa rời tham, sân, si, mạn, nghi, tà
kiến; họ còn đoạn diệt ngã chấp, tướng chấp, pháp chấp
nữa. Một khi đã giác ngộ được việc xuất thế gian chân
chánh, thì tự nhiên họ sẽ: “bất ưng trụ sắc, thinh, hương,
vị, xúc, pháp để sanh tâm, mà là ưng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm.” Nghĩa là họ tu hành rốt ráo cho đến nỗi không
để cái tâm bám víu vào đâu cả. Một thí dụ điển hình
và cụ thể của sự xuất thế gian chân chánh vào thời cận
đại là Bồ Tát Thích Quảng Đức. Ngài đã tự tại và vô
ngại đến độ không còn thấy cái chết là cái chết nữa,
Ngài đã dũng cảm đem thân mình làm đuốc sáng soi đường
cho những kẻ vô minh được thức tỉnh. Là Phật tử, tại
gia hay tại chùa, nên quyết tâm nuôi chí xuất trần siêu việt.
Hễ giữ được năm giới là quyết giữ cho rốt ráo; giữ
được mười giới, hai trăm giới, hai trăm năm chục giới,
ba trăm bốn mươi tám giới..., đều quyết giữ cho rốt ráo,
ấy là thực sự xuất hồng trần gia, chứ không đợi chi
đến đầu tròn áo vuông.
Điều
giác ngộ thứ tám: Đời là vô thường, sanh tử cũng vô thường,
phiền não đau khổ cũng vô thường, có chi phải lo âu sợ
hãi. Vô thường có nghĩa là không t