353.
ĐẠO PHẬT: MỘT CHÂN LÝ VĨNH CỮU
Đức
Thích Tôn Từ Phụ đã thị hiện ra nơi đời với một mục
đích duy nhất là giúp chúng sanh giải thoát khỏi những đau
khổ của cõi Ta Bà nầy. Tuy Ngài nói rất nhiều về Vũ trụ
quan, nhưng Ngài cũng nói không ít về nhân sinh quan, cũng như
từ, bi, hỉ, xả, tứ diệu đế, bát chánh đạo, thập nhị
nhơn duyên... Chung qui vẫn là nói về một chân lý vĩnh cữu
: giúp chúng sanh giải thoát khỏi những đau khổ phiền não
của cõi Ta Bà. Đức Phật không muốn chúng sanh nghe và tin
theo đạo của Ngài một cách mù quáng. Ngược lại, Ngài muốn
chúng ta hãy lắng nghe cho kỹ, suy nghĩ cho chính chắn, rồi
xem coi cái nào thích hợp thì theo, cái nào không thích hợp
thì bỏ. Ngài không muốn chúng sanh xem Ngài như một ông thần,
ông Thánh, hoặc Thượng đế; ngược lại, Ngài chỉ tự xem
mình như một người dẫn đường, hoặc một ông thầy.
Đạo
Phật: Một Chân Lý Vĩnh Cữu.
Tại
sao gọi đạo Phật là một chân lý vĩnh cữu? Thái dương
hệ và quả địa cầu mà chúng ta đang ở, cũng như vạn triệu
thái dương hệ khác, có thể một ngày nào đó sẽ nổ tung
và tan tành ra mây khói, chứ những lời Phật dạy lúc nào
cũng là một chân lý bất hư, một chân lý vĩnh cữu. Nghĩa
là đối với những thực tại trên đời nầy như thế nào
thì nói đúng như thế ấy, không thêm, không bớt, không nhân,
không nhụy. Với đạo Phật, hết thảy vạn sự vạn vật
trên đời nầy đều biến chuyển vô thường và tùy theo nhân
duyên mà sanh mà diệt. Ngài chẳng những nói đúng sự thật,
mà Ngài còn chỉ cho chúng sanh phương pháp sống đúng với
sự thật. Phương pháp đó là con đường duy nhất để diệt
trừ những khổ đau phiền não để mọi người cùng hạnh
phúc an vui. Tứ diệu đế của Ngài một khi đã được hiểu
thấu và hành trì một cách rốt ráo thì con người sẽ sống
một cách tự tại và thoát ly mọi đau khổ và phiền não.
Chánh pháp của Ngài thanh sạch từ lúc ban sơ và sẽ mãi mãi
thanh sạch.
Những
lời dạy dỗ của Ngài sẽ là ngọn đuốc sáng cho chúng sanh
trong đêm trường tăm tối. Thứ ánh sáng mà cho dù giông tố
bão bùng cũng không thể nào làm tắt hoặc làm giảm ánh sáng
đi được. Với đạo Phật, thân xác con người có thể tan
rửa, nhưng sự giác ngộ không bao giờ hư hoại, vì sự giác
ngộ chính là sự hòa nhập tự nhiên vào chân lý vĩnh cữu.
Ánh sáng mặt trời sẽ theo thời gian mà lu dần, chứ Ngũ
giới, Thập thiện, Bát chánh đạo, Lục hòa, Lục độ Ba
La Mật... trong nhà Phật sẽ sáng mãi. Con đường giải thoát
khỏi đau khổ và phiền não của đạo Phật sẽ mãi mãi rạng
ngời. Những học thuyết khoa học có thể một ngày nào đó
bị mai một và đào thải, chứ luật vô thường, vô ngã của
nhà Phật vẫn là những chân lý rạng ngời và bất hư. Ai
có thể đánh đổ được những lời chỉ dạy nầy? Chẳng
sát sanh hại vật, chẳng lường gạt ai, chẳng ăn trộm ăn
cướp của ai, chẳng quyến dụ vợ con người, chẳng gây
gỗ tranh cãi với ai...Đối với chúng sanh mọi loài thì từ,
bi, hỉ, xả, rộng lòng bố thí, quảng đại khoan dung. Còn
chân lý nào cao hơn chân lý nầy?
Kỳ
thật, người viết bài nầy không muốn nói nhiều, hoặc đánh
bóng những gì vốn dĩ đã bóng láng. Không muốn làm cái chuyện
mẹ hát con khen; tuy nhiên, nếu không nói ra thì e rằng mình
đã không làm trọn vẹn cái tâm nguyện xẻ chia những lợi
lạc mà mình đã được hưởng. Đem kinh nghiệm và sự hiểu
biết của một người chưa quá ngũ tuần mà kết luận rằng
đạo Phật là một chân lý vĩnh cữu, thì e rằng có vẻ hàm
hồ chăng? Tuy nhiên, không còn một ngôn từ nào khả dĩ có
thể dùng được cho những chân lý bất hư nầy cả.
Ai
có thể chối cãi hoặc đánh đổ những lời Phật dạy? Muốn
sống đời thiện lành thì không nên sát sanh hại vật. Muốn
không làm não hại người thì không nên trộm cướp. Muốn
thân tâm mình và người được yên ổn thì không nên hành
động xằng bậy. Muốn sống đời tín nghĩa thì không nên
điêu ngoa xảo trá, hoặc nói ngược nói ngang. Chân lý vĩnh
cữu nầy không phải chờ đến một kiếp nào, mà là ở đây,
ở ngay trong đời nầy kiếp nầy. Chân lý ấy không phải
đợi đến lúc Phật thị hiện mới có, mà có sẳn ở trong
mỗi người chúng ta từ vô thỉ và nó sẽ trường tồn mãi
mãi. Ta đi đâu, đến đâu, địa ngục hay Niết bàn, chân
lý ấy vẫn theo ta như hình với bóng. Có điều chúng sanh
cứ mãi lăn trôi trong luân hồi sanh tử, cứ đi trong vô minh
tăm tối, mà không thấy được cái chân lý tuyệt diệu ấy
mà thôi. Ngược lại, nơi Phật, Ngài đã diệt tận vô minh,
nên chân lý ấy luôn hiển bày. Rồi vì thương xót chúng sanh
mà Ngài đã hết lòng chỉ giáo những điều Ngài biết, những
mong ai nấy đều hiển lộ được chân lý ấy như Ngài. Như
vậy, người tin và tu theo Phật, chỉ cần thường hằng giác
ngộ, thì tự nhiên Phật tánh hiển lộ. Chân lý ấy không
chủ trương sự tham lam, sân hận, si mê, bỏn xẻn và ích
kỷ của con người là do bởi quỷ Sa Tăng gây ra, hoặc giả
gây ra do bởi sự yếu đuối của con người. Ngược lại,
tất cả những xấu xa bỉ ổi nhứt của con người đều
do bởi vô minh mà ra. Người con Phật muốn được hằng sống
với chân lý vĩnh cữu ấy, chỉ cần thường hằng giác ngộ,
chỉ cần thường hằng biết được đời là tập hợp của
một chuổi vô thường. Chân lý ấy không nằm ở ngoài hình
tướng, vì những gì của hình tướng không phải là của
đạo Phật. Ngay cả ngôn từ cũng không thể nào diển tả
hết được về lý chân nầy. Chân lý ấy chỉ đến với
chúng ta qua thực nghiệm tự thân. Nói thế nào thì làm thế
ấy, đấy là chơn lý. Nói từ, bi, hỉ, xả là phải thực
hành từ, bi, hỉ, xả. Nói không sát sanh, không trộm cướp,
không vọng ngữ, không tà dâm, không rượu chè, là phải thực
tâm hành trì những thứ ấy, thì chân lý vĩnh cữu mới có
cơ hiển lộ. Chân lý vĩnh cữu nầy quả là khó khăn cho những
đứa con tại gia vô cùng. Vừa phải biết đạo lý làm người,
mà cũng vừa phải tu hành theo đạo lý làm Phật. Nói khó
không có nghĩa là không làm được. Người con Phật quyết
mang chân lý ấy đi thẳng vào đời, lăn xả vào đời, vừa
tu nhân tích đức, mà cũng vừa tu huệ để đi đến giải
thoát rốt ráo. Người con Phật mang chân lý đó vào đời,
hy sinh cho nhân quần xã hội, nhưng vẫn không quên lời nhắn
nhủ của Thế Tôn: "thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng
sanh."
Chính
chân lý ấy đã giúp cho những người con Phật thấy được
sự giả tưởng của chư pháp. Thấy để biết rằng chẳng
có cái gì là TA, mà cũng chẳng có cái gì là CỦA TA cả.
Chính chân lý ấy đã giúp cho những người con Phật thấy
được nhân quả thiện ác, từ đó biết đường biết nẻo
mà tìm về với thiện pháp, hầu dứt trừ hết thảy mọi
khổ não trong đời. Chính chân lý ấy đã đưa những người
con Phật đến gần với chúng sanh mọi loài mà tỏa rộng
tâm từ ra để cứu khổ ban vui. Cũng chính chân lý ấy đã
giúp cho những người con Phật đoạn tận mọi tham, sân, si,
mạn, nghi, tà kiến. Chân lý ấy không có hình sắc tướng
mạo; nó bồng bềnh, không đến không đi. Nó luôn hiện hữu
trong mỗi chúng ta; tuy nhiên, không chạy đông chạy tây mà
cầu được, cũng không xin mà được. Mỗi người chúng ta,
nếu quyết hành trì rốt ráo lời Phật dạy, quay ngay về
tự thân mà thực nghiệm, thì chân lý ấy sẽ hiển lộ sáng
ngời. Lúc ấy cuộc sống cuộc tu của ta sẽ ung dung tự tại
vô cùng.
Tuy
nhiên, chúng sanh với những kiếp lăn trôi trong luân hồi sanh
tử, với những kiếp phù du ngắn ngủi, lại sanh vào cõi
Ta Bà thiếu đạo lý, đầy dẫy sự bất chánh với những
tham lam, sân hận, si mê, thân tâm thì lúc nào cũng trầm mê
trong trụy lạc, nên việc gặp, hiểu và tin theo Phật pháp
quả là thiên nan vạn nan. Chính vì thế mà đa phần chúng
sanh đều sống trong trùng trùng điệp điệp của khổ đau
và phiền não. Thế rồi não phiền mẹ đẻ ra não phiền con,
não phiền con đẻ ra não phiền cháu; cứ thế mà hành hạ
và đày đọa chúng sanh. Chính vì thế mà cõi Ta Bà nầy ngày
càng Ta Bà hơn. Chúng sanh bị ảo tư•ng khống chế, do đó
cứ ngỡ những gì lóng lánh đều là ngọc ngà vàng bạc hay
kim cương, rồi cứ thế mãi miết chạy theo đuổi hình bắt
bóng, cuối cùng là ôm lấy khổ đau phiền não. Chúng ta nào
hay rằng quanh ta bao nhiêu cái khổ đang rình chờ; nào là sanh,
lão, bịnh, tử; nào là thương yêu mà phải xa lìa; nào là
oán ghét mà cứ phải gặp nhau; nào là sanh ly tử biệt; nào
là mong cầu mà không được toại nguyện... Hỡi những người
con Phật! Hãy quay ngay trở về sống thực với những chân
lý vĩnh cữu của nhà Phật, để thấy rằng tất cả mọi
khổ đau phiền muộn đều bắt nguồn từ những ham muốn
dục vọng. Tham sống nên sợ chết, vì thế mà khổ; ham quần
là áo lụa để rồi không toại chí nên khổ; ham trẻ mãi
nhưng thời gian cứ trôi và trôi mãi, mặt cứ nám, da cứ
nhăn, răng cứ long, tóc cứ bạc... nên khổ. Ham mong khang kiện
khỏe mạnh, mà bịnh hoạn cứ mãi dây dưa nên khổ. Những
người Phật tử chân chính hãy quay ngay trở về với chân
lý vĩnh cữu của nhà Phật mà buông bỏ tất cả những ham
muốn dục vọng, thì tự nhiên hết khổ. Hãy hiểu đúng,
nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, tinh tấn tấn
đúng, nhớ đúng và chính tâm chính niệm như lời Phật dạy,
thì cho dù có sống trong bể khổ đi nữa, cũng không bao giờ
bị khổ đau khống chế. Như vậy chân lý vĩnh cữu nầy không
bao giờ đi chung với tham lam, sân hận, si mê, trộm đạo,
lừa đảo, ngã mạn, xu nịnh, ghen ghét... Chân lý vĩnh cữu
nầy chỉ đi với từ, bi, hỉ, xả và chỉ hiện hữu trong
một cuộc sống an lạc và hạnh phúc mà thôi.
Mục
tiêu tối thượng của đạo Phật là tu giải thoát; tuy nhiên,
không phải ai cũng có đủ cơ duyên để tu giải thoát hết
đâu? Chính vì vậy mà Đức Từ Phụ cũng đã hằng khuyên
nhủ tứ chúng là hãy sống thực với chân lý thì tự nhiên
niềm vui rồi sẽ tới, nổi khổ rồi sẽ tan biến. Đừng
dong ruổi tìm cầu, vì dong ruổi tìm cầu sẽ chẳng được
gì, ngược lại chỉ gánh thêm khổ đau phiền muộn mà thôi.
Tất cả mọi thứ trên đời nầy đều do duyên sanh, rồi
cũng do duyên diệt, chứ không có một thứ gì ngẫu nhiên
cả, đó là chân lý vĩnh cữu và không thay đổi. Hễ đủ
duyên thì sanh, mà hết duyên thì diệt. Người con Phật phải
nhìn thấu triệt như vậy để chỉ tạo thêm duyên cho những
việc thiện lành, chứ quyết không tạo thêm duyên cho việc
ác nổi lên. Chúng ta cũng nên luôn cảnh tỉnh, để nhỡ mà
ý tưởng xấu ác có nổi lên trong ta, ta biết mà không tạo
thêm duyên trưởng dưỡng chúng. Hơn nữa, với giáo lý tuyệt
vời của nhà Phật, không có cái gì xấu, cái gì tốt, chỉ
có sự phân biệt mê dại của chúng sanh. Đó là chân lý vĩnh
cữu. Không có ai sai hay ai ngu, chỉ có sự chấp trước mê
dại của chúng sanh mà thôi. Những ai không thông triệt chân
lý nầy, sẽ vô cùng khốn khổ khi gặp những biến cố xãy
đến trong đời. Tuy nhiên, với những người biết vâng giữ
lời Phật dạy, thông triệt chân lý vĩnh cữu, sẽ an nhiên
tự tại trước mọi biến cố của cuộc đời.
Chân
lý vĩnh cữu nầy cũng giống như ngọc trầm thủy thượng,
hoặc giả bị chôn vùi trong đám cỏ dày đặc của não phiền
đau khổ, mà con người không dễ dàng tìm thấy được. Mỗi
người có một cách sống, lối sống khác nhau, nên phiền
não của mỗi người cũng có khác, nên chi việc trở về tìm
chân lý ấy cũng có phần khác nhau. Đức Từ Phụ đã vì
thương xót chúng sanh, nên Ngài đã chỉ bày cặn kẻ làm sao
để tìm được hương vị ngọt ngào của chân lý vĩnh cữu
nầy. Ngài dạy rằng chính những ngọn lửa tham lam, sân hận
và si mê đã đốt cháy chơn tâm, xui khiến ta làm điều tổn
hại chúng sanh và sống xa rời chân lý. Ngoài ra những ngọn
lửa lo âu sợ sệt cũng góp phần không nhỏ vào việc đốt
mất trí huệ, khiến ta ngày càng xa lìa chân lý.
Muốn
đạt được chân lý vĩnh cữu nầy, chúng ta phải làm gì?
Trước hết chúng ta phải biết vâng giữ lời Phật dạy,
đừng để cho nhen nhúm bất cứ đóm lửa tham, sân, si, mạn,
nghi, tà kiến nào; phải luôn nuôi dưỡng từ tâm, từ ý nghĩ,
lời nói đến việc làm đều phải đúng đắn, thanh sạch
và vô tư. Phải thông triệt tứ diệu đế để thấy từ
đâu có khổ, do đâu mà khổ phát triển, làm sao để diệt
khổ và tiến về nẻo đạo. Phải luôn hành trì bát chánh
đạo để lúc nào cũng hiểu đúng, nghĩ đúng, nói đúng,
làm đúng, sống đúng, cố gắng đúng, chính tâm và chính
niệm để luôn sống đời hướng thượng. Phải thu thúc lục
căn để chỉ thấy những cái đáng thấy, nghe những cái đáng
nghe, nếm ngữi những cái đáng nếm ngữi, suy nghĩ những
cái đáng suy nghĩ mà thôi. Một khi lục căn đã bị thu thúc
thì lục trần và lục thức cũng đành thúc thủ, do đó cả
thân lẫn tâm ta sẽ thanh khiết vô cùng. Phải dẹp bỏ cái
"Ngã" vì chính cái "ngã" nó xúi biểu ta ôm đồm tất cả
mọi thứ, từ tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến... Chính cái
"ngã" nó xúi ta nhận lấy lời thị phi tranh cãi mà sanh ra
đau khổ. Hãy lắng lòng nghe lời chỉ dạy của Đức Từ
Phụ để thấy rằng không có cái gì là ta, mà cũng không
có cái gì là của ta cả, chẳng qua chỉ là sự chấp trước
mê dại của chúng sanh mà thôi. Phải luôn trì giới vì chính
Đức Từ Phụ đã ân cần dạy dỗ là trong thời không có
Phật tại thế, chúng sanh phải lấy giới luật làm thầy.
Giới luật chính là con thuyền Bát Nhã đưa ta về với chân
lý vĩnh cữu; không giữ giới là tự mình đâm lủng thuyền,
còn mong gì tìm ra chân lý? Hãy an bần lạc đạo trong giới
luật của nhà Phật. Hãy mau xa lánh mọi vui thích tạm bợ
của trần thế ta bà, mà tìm về với chân lý vĩnh cữu của
nhà Phật. Phải luôn hành trì lục độ, từ trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định... cho tới khi đạt được chân
lý Phật đà. Bố thí một cách sâu rộng và bình đẳng; bố
thí không phân biệt thân sơ hay bạn thù; bố thí không tiếc
rẻ nhiều ít; không bố thí rồi tự kiêu tự mãn; bố thí
với tất lòng thành; bố thí mà lòng luôn kính trọng và nhớ
ơn người đã cho chúng ta cơ hội làm bố thí. Nhẫn nhục
những cái đáng nhẫn và ngay cả những cái không đáng nhẫn.
Tinh tấn hành thiện, không hành ác. Thiền định để trở
về sống thực với thực tại của chính tự thân mình. Ngoài
ra, muốn tìm về với cái chân lý vĩnh cữu nầy, chúng ta
còn phải hành trì từ, bi, hỉ, xả. Phải dứt bỏ lòng tham
muốn; phải lân mẫn với tất cả mọi loài chúng sanh. Lúc
nào cũng mong muốn mang lại hạnh phúc và an vui cho mọi người.
Luôn tìm cách ban vui và chia sớt nỗi niềm đau khổ của tha
nhân. Luôn vui với cái vui của người. Chính nhờ từ, bi,
hỉ, xả mà mọi tham, sân, si, vui, buồn, thương, ghét sẽ
bị loại bỏ.
Tóm
lại, muốn đạt được chân lý của Phật Đà, con đường
duy nhất của những người con Phật là phải vâng giữ và
hành trì những lời Phật dạy. Phải vững tin rằng với đuốc
sáng từ bi của Phật Tổ, cơn giông tố đêm đông rồi sẽ
qua, mùa xuân rồi sẽ đến, mặt trời rồi sẽ mọc, để
xóa tan đi bóng đen dày đặc của vô minh và phiền não. Những
người con Phật, xuất gia hay tại gia, luôn cương quyết dứt
bỏ tham, sân, si, hận thù, ganh ghét, ngã mạn, cống cao, tà
kiến... Nên nhớ, không hẳn phải đầu tròn áo vuông mới
là đương nhiên tìm được chân lý vĩnh cữu nầy đâu; cũng
không phải ngân nga vài ba câu kinh tiếng kệ mà chân lý hiển
bày; lại càng không quọt quẹt vài ba mớ thiền mà đạt
được chân lý nầy. Đừng tiếp tục tô son trét phấn cho
bề ngoài, mà hãy trở về ngay với chính mình, buông xả và
dứt bỏ tất cả. Hãy giữ cho thân thẳng, cho tâm thanh tịnh.
Hãy xa rời những tham, sân, si và loạn động. Hãy cố gắng
nhu hòa, nhẫn nhục, không chấp nê phân biệt. Hãy luôn cẩn
trọng từ hành vi, cho đến lời nói và ý nghĩ. Hãy nguyện
như lời Phật nguyện năm nào, cho dù tan xương nát thịt đi
nữa, chúng ta vẫn quyết tâm tiến thẳng về đất Phật vì
cơ hội hãn hữu nầy chưa chắc sẽ đến với chúng ta lần
nữa.
354.
TU
Chữ
"Tu" trong Phật giáo thật đơn giản và rõ ràng vô cùng. Tu
là "sửa." Sửa cái gì hư, cái gì xấu, cái gì không còn dùng
được nữa, cho thành tốt và có thể dùng được. Ngay cả
những kẻ cùng hung cực ác, nếu chịu buông bỏ con dao đồ
tể, cũng sẽ có cơ may thành Phật được. Theo Đức Từ Phụ,
tu là hành trì theo các pháp môn của nền đạo để diệt
trừ các mối phiền não và được an lạc. Nghĩa là y cứ
theo nghĩa lý những gì mà Phật đã giảng dạy trong các kinh
điển của Ngài mà tu tập và giữ gìn đạo hạnh. Chính Đức
Thế Tôn đã từng khẳng định : "Nước mắt của mọi người
cùng mặn, máu của mọi người cùng đỏ, tâm của mọi người
đều có tánh sáng suốt và tình thương như nhau." Như vậy
Phật Tổ đã khẳng định quá rõ ràng cho những ai muốn có
cuộc sống hạnh phúc và cuộc tu giải thoát rồi còn gì.
Tuy nhiên, con đường duy nhất đưa người con Phật đến những
mục tiêu cao cả tuyệt vời phải bằng cách thực tiển hành
trì từ, bi, hỉ, xả vào cuộc sống hằng ngày. Thế nhưng
chúng sanh nói chung và con người nói riêng, vẫn tiếp tục
lăn trôi trong tam đồ lục đạo. Tại sao lại như vậy?
Phật
Tổ và mười phương tam thế chư Phật đã thành Phật vì
các Ngài biết tiết chế lòng ham muốn và điều phục thân
tâm, không để cho ngũ dục của thế gian lôi cuốn. Các Ngài
đã không để cuộc đời mình luống qua trong vô ích, hoặc
không bị dập vùi bởi những dục lạc của trần gian. Ngược
lại, các Ngài rộng nguyện dứt bỏ phàm tình để sống đời
vị tha bác ái, lân mẩn chúng sanh muôn loài. Chúng ta có thể
làm được như chư Phật không? Phật Tổ đã không từng khẳng
định : "Phật tánh ở Phật thế nào thì Phật tánh ở chúng
sanh cũng thế ấy. Tuy nhiên, chúng sanh do bởi vô minh che lấp
mờ đi cái trí tuệ sáng suốt, nên đối cảnh hôn mê rồi
khởi lòng chấp nhiễm, đưa thân khẩu dong ruổi đó đây
tạo thêm nghiệp chướng và tội lỗi. Lại nữa, trong cuộc
sống hằng ngày, chúng sanh luôn bị lửa phiền não và tham
sân luân phiên hành hạ, thân cận bạn bè xấu ác, buông thả
cho dục vọng khống chế thân tâm, tự cao tự đại. Thế
mà chả tin vào luật nhân quả và sanh tử luân hồi, làm sao
mà không lăn trôi trong tam đồ lục đạo đây?"
Bây
giờ chúng sanh nào muốn được cuộc sống hạnh phúc và cuộc
tu giải thoát, phải nhận chân rõ ràng rằng từ vô thỉ vẩn
đến ngày nay, chúng ta đã lăn trôi tạo nghiệp, hoặc do sáu
căn, hoặc do thân khẩu ý, hoặc do nội tâm điên đảo bất
chánh. Trong muôn nẻo luân hồi chúng ta đã từng gây ra vô
vàn phiền não cho người và cho ta. Chúng ta đã nhắm mắt
chạy theo tham vọng ích kỷ cũng như tiếng gọi của tham,
sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Chúng ta đã từng vỗ tay tán
thưởng nội ma ngoại chướng và tiếp tay cho chúng mặc tình
thao túng thân tâm nầy cho rã rời tan nát. Trong xã hội văn
minh vật chất hôm nay, con người có thể đưa nhau lên những
tinh cầu xa xôi, nhưng hãy nhìn cho kỷ lại mà xem, nhân loại
càng ngày càng trở nên đau khổ hơn, tình thương chân thật
ngày càng khô cạn đi, con người ngày càng cuồng vọng và
ngập chìm trong sa đọa hơn. Nói cho rõ ra, văn minh vật chất
càng cao bao nhiêu, thì cuộc sống tâm linh và luân lý đạo
đức càng khô cằn bấy nhiêu. Con người sống trên nhung lụa
với đầy đủ phương tiện, nào là nhà cao cửa rộng, nào
là xe mới xe đẹp, nhưng lúc nào cũng cảm thấy lo lắng và
bất an. Con người sống trong khoái lạc tạm bợ, vui ít buồn
nhiều mà không biết. Ngược lại, cứ mãi dong ruổi tìm cầu
và chạy theo nắm bắt những cái bong bóng nước. Trong xã
hội loạn động hôm nay, lòng tham của con người chẳng những
không giúp làm vơi được những trầm thống triền miên, mà
còn góp phần gây thêm đau khổ cho những chúng sanh vốn dĩ
đã đau khổ. Quả tình nhân loại đang sống trong căn nhà
lửa khổng lồ; từ lửa tham, sân, si, đến lửa câu nệ chấp
trước , ngã mạn, cống cao, ái dục... Thế mà đa phần chúng
ta vẫn tỉnh bơ không chút kinh vì. Ngược lại còn vỗ tay
tán thưởng nữa là khác. Những người con Phật có thấy
lửa đang cháy lan và sắp sửa thiêu đốt cả thân lẫn tâm
mình chưa? Chính những đám lửa ấy đã làm mắt ta mờ, tai
ta điếc, nhưng lại mờ điếc trong một chiều hướng vô
cùng bịnh hoạn. Lỗi mình thì mờ, còn lỗi người thì lại
thấy rõ vô cùng. Chuyện mình thì không nghe, còn chuyện người
thì lại cố tình lắng tai nghe rõ vô cùng. Thấy như vậy
mới biết làm con người, ai mà chẳng có vô vàn phiền não,
ai mà chẳng phạm phải những lỗi lầm? Nếu đã thấy rồi
mà vẫn còn tỉnh bơ, không chút kinh vì, ví bằng chẳng thấy
chẳng biết còn hơn.
Hỡi
những người con Phật! Hãy chí tâm đảnh lễ chư Phật. Hãy
lấy tâm Phật làm tâm mình, lấy hạnh Phật làm hạnh mình,
lấy nguyện Phật làm nguyện mình, hầu góp phần thanh tịnh
lấy mình và chúng sanh mọi loài. Tuy nhiên, muốn làm được
những điều nầy, trước nhất phải tự mình tu tâm sửa
tánh. Muốn tu tâm sửa tánh, trước hết phải tìm về nương
nơi Tam Bảo, vì Tam Bảo chẳng những là kim chỉ nam cho ta
trên bước đường tu tập, là ruộng phước cho chúng sanh
muôn loài, là người bạn đồng hành cùng đi với ta trên
đường trở về đất Phật. Hãy chí tâm đảnh lễ hết thảy
chư Phật vì nếu không có chư Phật, chúng ta sẽ không có
con đường nào khác để lựa chọn ngoài mê đồ tăm tối
và vô minh. Hãy chí tâm đảnh lễ chư pháp vì chư pháp chính
là những ngọn hải đăng soi đường dẫn lối cho chúng sanh
lạc loài trong đêm tối mịt mùng. Hãy chí tâm đảnh lễ
chư tăng, những vị giáo đạo tuyệt vời, đã can đảm kiên
trì cầm giữ những ngọn hải đăng của ánh đạo vàng trong
những cơn mưa gió bão bùng.
Đảnh
lễ Phật Pháp Tăng không thôi cũng chưa gọi là tu, mà phải
biết thành tâm sám hối nghiệp chướng, từ phiền não, ác
nghiệp đến khổ báo. Chính những thứ nầy đã luân phiên
xóa mờ trí huệ của chúng sanh và cuối cùng đưa chúng sanh
quanh quẩn trong tam đồ lục đạo. Những người con Phật
hãy can đảm lên! Hãy tự cảm thấy hổ thẹn với những
tiền khiên hậu quá của chính mình. Hãy kinh vì khổ báo,
chán bỏ ác nghiệp và phiền não. Hãy tinh tấn dũng mãnh phát
tâm Bồ đề để đi ngược lại dòng đời sanh tử. Hãy cố
mà quan sát xem coi những nghiệp chướng, phiền não và khổ
báo đã góp gì được vào cuộc sống hạnh phúc và cuộc
tu giải thoát của ta, hay chúng chỉ đưa ta vào địa ngục
A Tỳ, xứ địa của những loài quỷ dữ. Hãy bình tâm xem
coi rồi ta sẽ được gì nếu ta cứ tiếp tục hơn thua trong
phàm tình thế tục? Hãy nghĩ cho kỹ lại mà xem Thế Tôn cũng
từng là một phàm phu như chúng ta, thế sao Ngài lại có khả
năng vượt qua bể khổ sông mê, còn chúng ta vẫn đam mê trần
tục, vẫn mãi lưu chuyển trong luân hồi sanh tử? Tại sao
lại như vậy? Tại vì thân khẩu ý của Thế Tôn tinh sạch
đến độ thanh thoát, Ngài đã nhàm chán sanh tử luân hồi,
Ngài đã thấu rõ vạn pháp là không thật nên Ngài buông bỏ.
Ngài đã thấy rõ trên đường sanh tử của chúng sanh, nó
trùng trùng điệp điệp những mộng mị, mộng đẹp đâu
không thấy, chỉ thấy toàn ác mộng. Ngài đã biết kinh vì
sự ô uế và bất tịnh của thân tứ đại nầy, nó chỉ
là trung tâm tập hợp của khổ đau và phiền não. Chính vì
thấy được những thứ trên, nên ở Phật Ngài đã buông
bỏ đến độ không còn gì nữa để mà vướng với mắc.
Ngài đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan,
uy quyền cao tột, mà quay về với chỉ một chữ "Tu." Ngài
đã nhứt tâm tu và đã trở thành một bậc "Nhứt Thế Trí"
trong cõi trời người.
Còn
chúng sanh và con người chúng ta thì sao? Chúng ta cứ nay lần
mai lựa, nay thân nầy mốt lốt nọ. Tuy được sanh ra làm
con người ở kiếp nầy, nhưng có ai dám đoán chắc là mình
sẽ không làm con trâu con ngựa ở kiếp lai sanh đâu? Chúng
ta cứ vô tình hay cố ý đi vào cõi sanh diệt của thế gian,
chứ nào có hay đâu mạng nầy vô thường còn thua ánh nến
đang lung lay trước gió, không nhứt thiết phải hết sáp nến
mới tắt, mà nó có thể tắt bất cứ lúc nào. Một hơi thở
ra mà không trở vào là xong. Trong cuộc sống hằng ngày ta
cứ oang oang tự đắc, tự cho mình là hay là tuyệt, mình không
có gì để lỗi phải với thế gian, nên cần chi "tu hành."
Hãy suy nghĩ cho kỹ lại mà xem, một cái nhất chân động
tay của ta là bao nhiêu sinh vật lạc loài bé nhỏ phải vong
mạng vì ta. Đó là chưa nói đến những đời quá khứ ta
đã lăn trôi tạo nghiệp, nghiệp ấy theo ta như bóng với
hình, chứ nào có chịu rời ta. Những người con Phật đã
thấy chưa, đã kinh vì chưa? Chính vô minh đã xô đẩy con
người biến phiền não thành ác nghiệp, rồi vì mang những
ác nghiệp mà con người phải bị những quả báo đau khổ
cùng cực. Phải chi phiền nào là cái gì có thật thì cũng
cam, đàng nầy nó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của tham,
sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Không lẽ chúng ta lại vin vào
những sản phẩm giả tạo của tham sân si để tiếp tục
lăn trôi hay sao? Không lẽ những người con Phật lại để
cho tham sân si giết chết tuệ giác của mình hay sao? Không
đâu! Những người con Phật quyết vận dụng thiện tâm, quyết
học theo tâm, hạnh và nguyện của chư Phật và chư Bồ Tát
mà thoát cho ra khỏi vòng kềm tỏa của sinh tử luân hồi
ngay trong đời nầy kiếp nầy. Hãy bắt chước theo Ngài Quán
Âm, tập lắng nghe và thông hiểu nhau cho đời bớt khổ. Hãy
tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn, thay
vì hàm hồ cho rằng mình đã hiểu và đã biết. Hãy tập
ngồi nghe với tâm không thành kiến, không hàm hồ phán xét,
không phản ứng. Hãy cố mà hiểu những gì đã được nói
ra và ngay cả những gì chưa được nói ra. Hãy bắt chước
theo Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tập dừng lại và nhìn
sâu vào lòng sự vật, sự việc và lòng người. Hãy tập
nhìn cái nhìn "Như Thị" để thấy và hiểu rõ những gốc
rễ của khổ đau phiền não. Hãy "Tu" cho được cái gươm
"Trí Huệ" của Ngài Văn Thù Sư Lợi, hầu góp phần giải
thoát cho mình và cho đời. Hãy tu theo hạnh nguyện của Ngài
Phổ Hiền Bồ Tát, đem trái tim và con mắt của một con người
có nhơn có đạo đi vào cuộc sống hằng ngày. Hãy tập ban
vui cứu khổ, xem hạnh phúc người như chính hạnh phúc mình.
Hãy nhớ rằng đau khổ hay hạnh phúc trong thế gian nầy đều
do chính ta tạo nên. Mỗi cử chỉ, lời nói, hành động và
nụ cười của ta có thể làm cho người đau khổ, mà cũng
có thể làm cho người hạnh phúc. Vậy chúng ta chọn con đường
nào hỡi những người con Phật? Tiếp tục lăn trôi tạo nghiệp
và gây đau khổ hay quay ngay trở về "tu " lấy mình, để mình
và người cùng có cuộc sống hạnh phúc và cuộc tu giải
thoát?
Trong
cuộc "tu" của người con Phật, chúng ta có thể từ từ tiến
bước, nghĩa là trước nhất hãy cố tạo cho được một
đời sống an bình hạnh phúc, rồi sau đó hẳn "tu" cho giải
thoát. Tuy nhiên, một khi đã quyết chí tu trì thì người con
Phật phải phát tâm Bồ đề mà tu, chứ không lần lựa chần
chờ. Không vì quả vị Duyên giác, Thanh văn, Bích Chi, Bồ
Tát mà tu; duy chỉ nguyện thượng cầu Phật đạo, hạ hóa
chúng sanh, cho tới khi nào pháp giới chúng sanh đồng đăng
bỉ ngạn mới thôi. Khi "tu" người con Phật phải nhứt tâm
nguyện kim đắc quả thành Bảo Vương, hoàn độ như thị
hằng sa chúng. Cho dù thịt nát xương tan, chúng ta luôn tâm
nguyện:
Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền
não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Hỡi
những người con Phật! Hãy thành thật mà cương quyết với
chính mình, chỉ cần chúng ta quay tr• về mà tu với "Tứ
hoằng thệ nguyện" thì một sớm một chiều nào đó. Pháp
giới chúng sanh sẽ đồng thành Phật quả. Ngược lại, nếu
nói "tu" mà không cương quyết phát nguyện, thì cho dù có lập
bao nhiêu kiểng chùa, mặc bao áo cà sa đi nữa, vẫn phải
lăn trôi và phí đi bao nhiêu công lao cho sự nặng phần trình
diễn mà thôi. Thấy như vậy mới biết cho dù có hành trì
vạn triệu thiện pháp cho những mục đích vị kỷ, ấy chỉ
là cách hành trì của những loài ma trơi. Người con Phật
quyết không tu hành theo kiểu đó. Ngược lại, người con
Phật "tu" chỉ với hai mục đích rõ rệt: thượng cầu Phật
đạo, hạ hóa chúng sanh. Như vậy sự hành trì thiện lành
của người con Phật không vì mong được bất cứ thứ gì
ngoài việc thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh. Làm
được như vậy, người tu Phật ắt phải xa tà mà quay về
với chánh. Làm được như vậy, người con Phật sẽ không
màng cầu cái gì cho tự mình, ngoài chuyện đưa mình và đưa
người thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.
Đức
Thích Tôn Từ Phụ đã khẳng định rõ ràng trong các kinh điển
của Ngài rằng ai cũng có thể hướng thượng, ai cũng có
thể làm Bồ Tát hoặc làm Phật được; có điều là chúng
ta có chịu đem sự hiểu biết của mình ra mà tu và tự cải
tạo thân tâm mình không thôi. Con đường nào nên đi thì Đức
Từ Phụ đã chỉ rõ rồi, giờ là phiên của chúng ta phải
tự mình thắp đuốc lên mà đi và tự mình phát triển những
hạnh lành, không để cầu chứng đắc, mà để làm nơi an
trú cho mình, cho người và cho đời. Hỡi những người con
Phật! Hãy quay về để tự biết khả năng thánh thiện nơi
chính mình. Hãy quay ngay về khai triển tuệ giác nơi chính
mình cho Phật tánh hiển lộ. Đừng tiếp tục dễ duôi trây
lười để cho cuộc đời mình cứ phải trôi theo và lụn
bại dần với thời gian nữa hỡi những người con Phật!
Luôn nhớ và tin tưởng rằng nếu nước có thể tẩy sạch
những bẩn nhơ của thân thể, làm cho ta cảm thấy mát mẻ
dễ chịu, thì giáo pháp của Đức Thích Tôn Từ Phụ cũng
có thể giúp cho những người con Phật tẩy sạch tâm mình
mà lần bước về nẻo giác ngộ bồ đề và giải thoát.
"Tu"
của người con Phật là đơn giản và dễ hiểu như vậy đó:
thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh. Tuy nhiên, muốn
học làm Phật, trước hết phải học làm người; muốn hóa
độ chúng sanh, trước hết phải tự hóa độ mình. "Tu" trong
đạo Phật là thẳng một đường như vậy đó, chứ không
lòng vòng biện giải hí luận. Trong đạo Phật, ăn no rồi
lý thuyết biện giải, chỉ là giởn chơi với địa ngục,
chớ không dính dấp gì đến chuyện "tu hành." Trong đạo Phật,
những ai càng đam mê hí luận biện giải, tâm họ càng loạn
động, thân họ càng nhơ nhớp. Người "tu" Phật phải sáng
suốt nhận ra cho được chân nghĩa của chữ "tu" để không
quanh co trong hí luận biện giải, để thẳng một đường
tu. Hỡi những người con Phật! Đời vốn dĩ đã dẫy đầy
đau khổ và phiền não cũng chỉ vì cuồng vọng của chúng
sanh. Không lẽ chúng chúng ta đến với cuộc đời bằng tiếng
khóc, rồi cũng ra đi bằng tiếng khóc của vô vàn khổ đau
phiền não hay sao? Không đâu! Những người con Phật quyết
phát tâm "tu" với với chí nguyện "thượng cầu Phật đạo,
hạ hóa chúng sanh." Hãy phản quang tự kỷ, sám hối tội chướng
và cầu hướng thượng. Hãy sống và tu trong tinh thần từ
bi hỉ xả của nhà Phật. Hãy quên đi bản ngã thấp hèn nhỏ
nhen của chính mình, để hướng về những ngọn Thái Sơn
của Tứ Nhiếp Pháp và Bát Thánh Đạo. Hãy xả bỏ tự danh
tự lợi, để hướng về những đại dương của Bác Ái và
Lợi Tha. Hãy đem giáo pháp tuyệt vời của Đức Từ Phụ
mà hành trì trong đời sống hằng ngày, để ban vui cứu khổ
cho mình và cho đời. Hãy xả bỏ đi những tham danh, lợi dưỡng,
sân hận, tị hiềm, ích kỷ mà quay về với thanh bần lạc
đạo, tàm quý khiêm cung và tinh tấn thượng cầu Phật đạo,
hạ hóa chúng sanh. Hãy ngưng ngay những say sưa đắm đuối,
lặn ngụp trong vũng lầy sa đọa của tham, sân, si, mạn, nghi,
tà kiến và hãy hít thật sâu vào tâm trí ta những hơi thở
tuyệt vời của chánh đạo. Hãy làm những điều nầy ngay
bây giờ, ngay trong đời nầy kiếp nầy. Chúng ta sẽ không
còn nhiều thì giờ nữa đâu hỡi những người con Phật!
355.
TIẾNG CHUÔNG CẢNH TỈNH NHỮNG PHẬT TỬ TRÍ THỨC
Đạo
Phật, một triết lý sống hạnh phúc và tu giải thoát, một
luân lý học hoàn hảo, một siêu hình học của không gian
ba chiều, thời gian ba chiều... Đạo Phật là tất cả, hễ
cái gì hợp với lẽ phải và chơn lý, cái đó là đạo Phật.
Tuy nhiên, đạo Phật đã không và sẽ không bao giờ là một
học thuyết suông. Nếu chỉ thị hiện ra nơi đời để khai
sáng một học thuyết, chắc là Phật đã không thị hiện.
Mục đích của Phật là nhằm giúp chúng sanh mọi loài cũng
thấy được cái thấy của Phật, để chuyển mê thành ngộ,
chuyển đau khổ thành an lạc, chuyển trầm luân thành giải
thoát, chuyển Ta Bà thành Tịnh Độ... Muốn chuyển mê thành
ngộ, muốn được an lạc và giải thoát, chúng ta phải qua
một quá trình tu tập, chứ không phải bằng học suông.
Có
nhiều người không thực sự thấu hiểu đạo Phật nên vội
trách tại sao đạo Phật không tạo ra những hàng tăng sĩ
có kiến thức và văn hóa cao như hàng giáo phẩm của các
tôn giáo khác? Các tôn giáo khác là các tôn giáo khác, ở
đây chúng ta xin miễn bàn về họ. Tuy nhiên, chúng ta cần
phải nhấn mạnh đến mục đích của việc tu hành theo Phật.
Tu là đi ngược lại dòng đời, là buông bỏ tất cả những
hư danh ảo vị của cuộc đời để đi vào cửa ngỏ của
giác ngộ và giải thoát. Đạo Phật không chống lại chuyện
học hỏi kiến thức chuyên môn ngoài đời; tuy nhiên, đạo
Phật cảnh giác những trí thức phàm phu, coi chừng nếu không
khéo thì hết ngày dài rồi lại đêm thâu, ta chỉ loanh quanh
lẩn quẩn với ba mớ kiến thức phàm tục mà thôi, chứ không
tu hành được gì cả. Thậm chí, nhiều khi đã chứa quá đầy
những kiến thức ngoài đời rồi, đâu còn chỗ nào dành
cho Phật pháp nữa. Thấy như vậy, người Phật tử hãy vô
cùng cẩn trọng về sự khác biệt rõ nét giữa kiến thức
phàm phu và tu hành rốt ráo. Kiến thức phàm phu có thể giúp
ta trong sinh kế hằng ngày, nhưng ít khi giúp gì được cho
ta trong chuyện tu hành lắm. Ngược lại, chính kiến thức
phàm phu là một cản trở lớn lao cho bước đường tu tập
của ta. Lắm khi chính cái kiến thức phàm phu nầy nó dẫn
dắt chúng ta đi vào con đường ngã mạn, cống cao, ta là trung
tâm vũ trụ, ta là tất cả. Dưới mắt ta, thiên hạ là đồ
bỏ. Chính vì thấy rõ những trục trặc nầy mà Đức Từ
Phụ đã nói trong rất nhiều kinh điển của Ngài rằng trong
thời Mạt Pháp sẽ có lắm ma nhiều quỷ, chúng không có ý
định tu hành, mà chỉ tom góp ba mớ hiểu biết rồi đi đây
đi đó biện giải hí luận. Không chịu tu hành cho bản thân
mình thì thôi, đàng nầy chúng còn tìm cách đánh phá những
người quyết chí và thực tâm tu hành. Là Phật tử, nên hiểu
lời Phật dạy, hãy để lại ngoài cổng chùa tất cả những
gì của phàm phu, hãy bước vào chùa với đạo tâm chân thật.
Nên nhớ rằng đi tu là buông bỏ tất cả những tham, sân,
si, mạn, nghi, tà kiến, biên kiến, ác kiến; đi tu là thực
nghiệm tự thân bằng những lời Phật dạy, chứ không chỉ
học như kéc mà chẳng thực hành gì cả. Nghiên cứu về đạo
giáo là điều nên làm, nhưng phải làm trong khiêm cung từ
tốn. Nên nhớ rằng tài ta chỉ là một hạt cát trong sa mạc
mênh mông mà thôi. Ví bằng nghiên cứu mà đưa đến ngã mạn
cống cao, nay chê sư nầy, mai chê tăng kia, thì xin đừng nghiên
cứu chi cho thêm nặng nghiệp. Những người con Phật luôn
nhớ như vậy để một khi đã quyết tâm tu là hãy tự dọn
mình như một tờ giấy trắng, càng trắng chừng nào càng
tốt chừng nấy. Hãy mang những cấp bằng cử nhân, tiến
sĩ, thạc sĩ ra mà xài cho đúng chỗ; hãy mang chúng ra mà giúp
mình, giúp người và giúp đời; đừng dùng chúng để hí
luận thị phi mà phải đi về địa ngục một cách vô duyên.
Hãy
nhìn lại hành trang lên đường của Đức Từ Phụ năm xưa
để tự chuẩn bị hành trang cho mình: ba bộ y bá nạp, một
bình bát và một cây gậy làm bằng nhánh cây khô. Tại sao
một thái tử đương thời, nhứt hô bá ứng như Phật mà
phải mặc đồ may bá nạp? Đây chẳng phải là một bài học
quý giá vô cùng cho những đứa con của Ngài về sau nầy hay
sao? Ngài đã buông bỏ tất cả những phù phiếm của cung
vàng điện ngọc, địa vị, quyền uy, công danh phú quý, để
sống đời thanh bạch và sống một cách khiêm cung từ tốn.
Những người con Phật hãy nhìn theo đó mà sống mà tu. Đạo
Phật sẽ không bao giờ là đạo của kinh sách, hay triết lý
suông để kiến giải và hí luận. Ngược lại, ai muốn tu
theo Phật, phải bỏ hết những văn tự, để trực chỉ nhơn
tâm, kiến tánh thành Phật. Còn câu chấp vào kiến thức văn
tự là còn mê lầm, còn đi trong vô minh của phàm tình thế
tục. Kiến thức phàm phu có thể đưa con người đến những
tinh cầu xa xôi, nhưng không bao giờ mang lại cho ta sự thanh
tịnh và an lạc.
Hãy
nhìn vào Lục Tổ Huệ Năng để thấy rằng kiến thức phàm
phu lắm khi chỉ là gánh nặng cho những kẻ tu hành. Lục tổ
không biết đọc, không biết viết, thế mà những lời chỉ
dạy của Ngài, ngàn đời sau có lắm ông tiến sĩ phải nặng
đầu bóp trán suy nghĩ và thán phục. Nói như vậy không có
nghĩa là đạo Phật phản đối những đứa con Phật trí thức,
mà nói như một tiếng chuông cảnh tỉnh những đứa con ấy
ngay khi mới bước chân hành trình theo Phật. Tu là tự tìm
trở về với cái chân tâm mà chúng ta đã một lần dại dột
bỏ quên. Tu là hành, chứ không là nói. Nếu ai đó thấy rằng
mình hãy còn mê nói mà chưa hành được thì khoan hẳn tu.
Chừng nào thấy được mình có thể buông bỏ hết những
thứ bùi nhùi của phàm tục, chừng đó hãy bước vào, mà
bước vào trong trang nghiêm tịnh độ, trong khiêm cung từ tốn.
Một khi đã bước vào là phải tự dọn mình như một tờ
giấy trắng, rồi từ đó thầm thầm tiến tu trong tinh thần
Bồ Tát đạo; hoặc giả trong tinh thần đại từ, đại bi,
đại hỉ, đại xả của nhà Phật. Hãy lấy những cái mình
hiểu biết đó ra mà phụng sự người và phụng sự đời
y theo những lời chỉ dạy của Đức Thích Tôn Từ Phụ.
356.
ĐỐI TRỊ PHIỀN NÃO
Chúng
ta đang sống trong một thế giới mà hằng ngày những bất
an và phiền não đang vây bủa chúng ta dưới mọi hình thức.
Tại sao lại như vậy? Sanh ra làm con người ai cũng muốn được
an cư lạc nghiệp, ai cũng muốn được sung sướng và hạnh
phúc; tuy nhiên, vì những bức bách của cuộc sống thường
nhựt mà con người sanh ra ham muốn, mong cầu, khao khát, bất
mãn, đố kỵ và xung đột... Từ những dục vọng muốn nghe,
muốn thấy, muốn ngữi, muốn nếm, muốn tranh cãi, muốn xúc
chạm, mà con người ta đã biến thế giới nầy với dẫy
đầy những khổ đau phiền não. Từ những chấp nê mê dại
trong cuộc sống, nên đi đâu đến đâu con người cũng chỉ
gieo rắc phiền não và đau khổ không thôi. Phiền não và đau
khổ là hai anh em song sanh, đã từ vô thỉ hành hạ không biết
bao nhiêu chúng sanh mà kể. Chúng sanh mãi miết trong dục lạc,
trong hơn thua tranh chấp, trong oán thù không dứt, để rồi
cứ mãi lăn trôi trong sáu đường sanh tử.
Phiền
não là gì? Thật tình mà nói, phiền não không là cái gì cả.
Phiền não chỉ là sản phẩm tưởng tượng của tham, sân,
si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng mà thôi. Tâm
lo buồn vọng động, thân lật đật bất an, ý dong ruổi vô
định..., là những báo hiệu của phiền não. Mặc dù chỉ
là sản phẩm tưởng tượng của tham, sân, si..., phiền não
có thể làm ta mê mờ và khiến thân, khẩu, ý của chúng ta
hành động quấy ác để tạo nghiệp và lãnh quả khổ về
sau nầy. Do mê lầm thân nầy có thật, tâm nầy là ta, ý nầy
là ta, khẩu nầy là ta, nên ta cứ dong ruổi tạo nghiệp. Nghiệp
thiện thì ít, mà ác nghiệp thì nhiều. Tâm lo buồn vọng
động, mà lo buồn vọng động cái gì nhiều khi chúng ta cũng
chả biết; tuy nhiên, chính cái vọng tâm nầy nó thôi thúc
ta chạy theo ngũ dục, nó che mờ lương tri, và nó làm cho chúng
ta không còn biết đâu là đường chánh nẻo tà. Chính vì
tưởng rằng thân nầy là ta vĩnh hằng, nên ta ham muốn, mong
cầu, khao khát và tìm đủ mọi cách để duy trì thân nầy,
bất chấp những thủ đoạn tàn nhẫn, xấu xa và phi lý. Thân
tâm đã như vậy thì thử hỏi làm sao mà không phiền não
và đau khổ đây?
Chính
vì đời sống có quá nhiều bất an, biến động và đau khổ,
nên Đức Từ Phụ đã thị hiện để hướng dẫn chúng sanh
vượt thoát ra khỏi những thứ ấy. Ngài đã hé mở cửa
giải thoát cho chúng ta; vào hay không là còn tùy ở mỗi người
chúng ta. Đức Từ Phụ đã hướng dẫn và chỉ dạy rất
rõ ràng làm sao để đối trị não phiền, có chịu và muốn
đối trị hay không là tùy ở chúng ta. Tuy nhiên, cuộc sống
ta trôi qua nhanh như ánh điện chớp. Thoáng một cái mà tóc
ta đã bạc, răng đã long, mắt đã mờ, tai đã điếc và chân
tay đã run rẩy, không lẽ chúng ta cứ mãi sống trong lao tù
của não phiền và đau khổ như thế nầy hay sao? Trong kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật, Đức Từ Phụ đã khuyên nhủ rằng
chính phiền não là giặc nghịch làm hại chúng sanh. Muốn
tránh khỏi sự hại của nó, con đường duy nhất là phải
tu thanh tịnh nghiệp. Tâm trí chúng ta bị chi phối bởi muôn
ngàn sự việc hằng ngày. Khi vui, khi buồn, khi thương, khi
ghét. Tất cả những thứ nầy là gì nếu không là sản phẩm
của tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến?
Đạo
Phật luôn nói đến từ, bi, hỉ, xả, trí tuệ và còn nhiều
thứ thậm thâm khác; tuy nhiên, cái cơ bản nhất của đạo
Phật vẫn là cách đối trị phiền não nơi chính mỗi người
chúng ta. Muốn có từ bi trí tuệ, muốn thâm nhập kinh tạng,
muốn rãi lòng từ đến người khác, thì trước hết chúng
ta phải không còn bị phiền não sai khiến nữa, trước hết
chúng ta phải rãi lòng từ đến cho chính mình cái dã. Trước
hết phải tự thương xót mình bằng cách tự giải thoát mình
ra khỏi những khổ đau phiền não. Làm sao chấm dứt được
phiền não khi mình chỉ thấy có mình, khi mình lúc nào cũng
là trung tâm vũ trụ, khi tánh tự ái, lòng tham dục cho mình
hãy còn quá nhiều? Làm sao chấm dứt phiền não khi lòng ta
vẫn còn ganh ghét, đố kỵ, hận thù? Phật tử ơi! Tham, sân,
si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng có khả năng
biến hóa ra bát vạn tứ thiên trần lao. Từ vô thỉ chúng
đã hành hạ chúng sanh từ thể xác đến tinh thần một cách
liên tục. Từ tham bịnh, sân bịnh đến si bịnh, vân vân
và vân vân. Trên đời nầy vốn dĩ đã có quá nhiều thứ
vô duyên phiền não, từ nắng mưa, nóng lạnh, đói khát, ốm
đau ... của thiên nhiên và con người. Xin đừng gây thêm những
"cố ý" phiền não để hành hạ lẫn nhau chi nữa. Tự mình
không cảm thấy an lạc khi ai đó dùng lời lẽ ác độc để
chưởi rủa mình, thì xin đừng thốt ra chi những lời nguyền
rủa độc ác, hoặc mạ nhục tồi tệ cho người khác. Đừng
phí thì giờ đào xới những triết lý thậm thâm về duy thức,
hoặc về thiền, hoặc về những bộ kinh đại tạng chi cho
hoài công uổng sức, hãy quay về đối trị những phiền não
ngay chính nơi mình cái đã. Đạo Phật không khuyến khích
Phật tử về nhà nghiên cứu kinh điển, để rồi đến sở
làm vẫn còn mong cầu danh vọng, quyền uy, tiền tài và địa
vị. Ngược lại, đạo Phật chỉ thẳng cho chúng sanh thấy
rằng con đường duy nhất để có một cuộc sống hạnh phúc
và cuộc tu giải thoát, là phải tự mình trực diện và đối
trị cho dứt hoàn toàn những phiền não nơi mình. Tự mình
đối trị, chứ không một quyền năng nào có thể đối trị
dùm mình được.
Muốn
đối trị phiền não, trước nhất chúng ta phải thấy phiền
não từ đâu tới và ai làm cho chúng ta phiền não? Một tờ
giấy trắng, nếu chúng ta không viết gì lên, thì muôn thuở
tờ giấy vẫn trắng. Một ly nước, nếu chúng ta không khuấy
lên những cặn cáu, thì lúc nào ly nước ấy cũng trong ngần.
Tương tợ, nếu chúng ta không vì mê muội mà ham sắc, ham
danh, ham tiếng, ham tiền tài vật chất, ham thích mùi thơm
tho, ham ăn ngon mặc đẹp, ham muốn những xúc chạm êm ái
..., thì lấy gì chúng ta bị phiền não và đau khổ? Với đạo
Phật, không gieo nhân, thì không gặt quả; không tạo nghiệp
thì không chuốc lấy khổ đau phiền não. Thật là vô cùng
rõ ràng và đơn giản. Sự đối trị phiền não và đau khổ
của đạo Phật cũng rõ ràng và đơn giản như vậy thôi.
Người
Phật tử thuần thành, không bao giờ than trời trách đất
một cách thụ động. Trong đạo Phật, không có một thứ
gì xãy ra một cách ngẫu nhiên cả. Hạnh phúc hay phiền não
cũng vậy, không tự nhiên mà đến. Chúng chính là hậu quả
của những nhơn, hoặc lành, hoặc không lành của chúng sanh.
Phiền não chính là năng lượng làm quay bánh xe luân hồi.
Vì vô minh, mê muội và chấp trước mà chúng sanh gây phiền
chuốc não và tạo nghiệp, vì nghiệp mà chúng sanh luân hồi,
rồi cứ thế mà luân luân chuyển chuyển trong tam đồ lục
đạo. Cũng vì vô minh mê muội mà chúng sanh gây phiền chuốc
não bằng những nói bậy, nghĩ sai, làm quấy, do đó mà thân
tâm vốn dĩ đã vọng động, càng vọng động hơn. Phiền
nào chính là bọn đạo tặc làm tổn hại huệ mạng và phá
nát pháp thân của những bậc tu hành. Phiền não lại chính
là củi lửa đốt cháy tất cả công đức và trí huệ của
chúng ta.
Đã
thấy rõ phiền não và những tác hại của nó, con đường
duy nhứt của người con Phật là phải đối trị và dẫm
nát phiền não. Đối trị bằng cách nào? Như trên đã nói,
tờ giấy trắng, nếu ta không viết gì lên thì giấy vẫn
trắng. Ly nước, nếu chúng ta không khuấy lên những cặn
cáu, thì cặn cáu sẽ từ từ lắng xuống và nước sẽ trong.
Tương tự, trong cuộc sống hằng ngày, nếu ta không gieo nhân,
thì ta không gặt quả. Hoặc nếu ta không tạo nghiệp thì
ta không chuốc lấy khổ đau phiền não. Nếu ta vĩnh viễn
đoạn tuyệt với tham dục, sân si, ngã mạn, cống cao, nghi
hoặc và tà kiến thì tất cả mọi não phiền đều dứt tuyệt.
Nói thì dễ, nhưng làm có dễ hay không? Xin thưa, làm không
dễ, nhưng không vì thế thế mà người con Phật chùn bước.
Ngược lại, người con Phật thuần thành quyết làm cho bằng
được.
Đoạn
tuyệt tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến bằng cách nào? Tới
chùa đọc kinh, lạy Phật, cúng dường chư tăng ư? Chỉ là
hình thức bên ngoài, chứ chưa chắc đã thực sự giúp chúng
ta đoạn tuyệt những thứ tàn độc ấy. Người con Phật
phải quyết tâm quay về với chính mình mà tu cho được chữ
"nhẫn" một cách rốt ráo, thì tham, sân, si, mạn, nghi, tà
kiến sẽ không còn đất dụng võ, do đó mà sản phẩm của
chúng là phiền não và đau khổ sẽ không sanh. Đối với nghịch
cảnh như nắng mưa, nóng lạnh, đói khát, ốm đau, vân vân,
chúng ta "nhẫn" chịu chứ không than trời trách đất. Đối
với những lời sân hận, chưởi rủa ác độc của người,
ta kham nhẫn chịu đựng, chứ không biện bạch tranh cãi, hoặc
tranh luận hơn thua chi cho thêm thù thêm oán. Một khi "nhẫn"
là phải nhẫn cả thân, khẩu, ý, chứ không được thân nhẫn
mà khẩu và ý vẫn tham, sân, si là không thể được.
Tóm
lại, phiền não chẳng những làm cho cuộc sống ta không an
lạc, hạnh phúc, mà chúng còn thiêu đốt tất cả những gì
quý báu trên cõi đời nầy. Chẳng hạn như vì một lời tranh
cải hơn thua, mà anh em, vợ con, và bằng hữu ly tán. Cũng
vậy, hai lân quốc vì tranh chấp gây não phiền cho nhau mà
chiến tranh có thể bùng nổ và tiêu diệt tất cả. Đức
Phật dạy trong tất cả những kinh điển của Ngài rằng chính
phiền não làm cho con người mất hết nhân tính, làm cho gia
đình ly tán, bằng hữu chia lìa, thầy trò đoạn tuyệt, xã
hội phân ly, quốc gia chinh chiến. Với kẻ không biết gì
về đạo giáo mà ôm lòng phiền não thì còn châm chước được.
Tuy nhiên, với những người con Phật, dù tại gia hay xuất
gia, đã thấm nhuần giáo lý nhà Phật, mà vẫn còn ôm lòng
phiền não, thì cũng giống như trời quang mây tạnh mà sấm
chớp lại đùng đùng nổi lên, là đều không chấp nhận
được. Thế cho nên cách đối trị phiền não tuyệt vời
nhất là "nhẫn" những cái đáng nhẫn và "nhẫn" luôn cả
những cái không đáng nhẫn. Chuyện thật khó làm trong đời,
nhưng người con Phật quyết lội ngược dòng đời và làm
cho bằng được.
357.
ĐÂY LÀ KHỔ, KIA LÀ CON ĐƯỜNG THOÁT KHỔ
Đạo
Phật là con đường đưa con người đến một cuộc sống
hạnh phúc, tỉnh thức và an lạc, một cuộc tu giác ngộ và
giải thoát. Đạo Phật thực tiển và đơn giản vô cùng,
đơn giản như những nụ cười luôn chợt nở trên môi những
nhà sư, đơn giản như hình ảnh khoan thai của các nhà sư
trên bước đường cô thân vạn lý du. Trải qua vạn lý hành
trình từ Ấn Độ sang Tàu, hoặc từ Ấn Độ sang Miến, Thái,
Miên, rồi đến Việt Nam, đạo Phật đã mang quá nhiều sắc
thái địa phương, hoặc đạo Phật đã bị hiểu lầm quá
nhiều về nhân sinh quan. Đạo Phật cho tất cả mọi chúng
sanh, từ yêu đời, chán đời, thương đời, ghét đời...,
chứ không chỉ riêng cho những kẻ chán đời yếm thế, thất
tình, thất nghiệp, thất chí như nhiều người vẫn tưởng.
Đạo Phật thực tiển ở chỗ nó khước từ tất cả những
ý tưởng siêu hình, những hí luận không tưởng, những mong
cầu tha lực vẩn vơ.
Ai
cũng có thể là một tín đồ của đạo Phật, miễn là người
ấy nhứt tâm hướng thượng. Với đạo Phật, hễ ai chán
đời yếm thế, thì Phật chỉ cách cho họ yêu đời và phấn
chấn hơn. Ai đã yêu đời thì Phật chỉ cách cho họ yêu
đời hơn. Phật là vị Tôn Sư dẫn đường hướng đạo cho
cả những kẻ chán đời, lẫn những người yêu đời,để
họ đạt được một cuộc sống hạnh phúc, an lạc và tỉnh
thức; một cuộc tu giác ngộ và giải thoát. Phật dạy rõ
ràng rằng sự thống khổ ở cùng khắp nơi nơi. Vì sao mà
có thống khổ? Làm sao để diệt cho bằng được những thống
khổ nầy? Đạo Phật khẳng định rõ ràng rằng ngay cả Đức
Phật cũng không diệt khổ cho ai được, mà mỗi người chúng
ta, nếu muốn dứt khổ, phải nhứt tâm phụng hành những
gì mà Đức Từ Phụ đã chỉ dạy. Đạo Phật không chủ
trương mạt sát con người bằng những ngôn từ thậm tệ
như con người tội lỗi, con người yếu hèn... Đạo Phật
lại càng không ru ngủ con người trong đau khổ chán chường,
tuyệt vọng bằng những tín điều vô lý và không tưởng.
Ngược lại, đạo Phật vạch rõ cho con người thấy rằng
con người là nhân tố chính trong công cuộc vượt thoát khỏi
những đau khổ triền miên nầy. Đức Từ Phụ đã chỉ rõ
cho chúng sanh sự thống khổ ở cùng khắp nơi nơi. Sanh ra
đã là khổ, bịnh hoạn là khổ, già nua với mắt mờ tai
điếc và chân tay run rẩy là khổ, chết là khổ. Ngoài ra,
trong cuộc sống hằng ngày hôm nay, có rất nhiều cái khổ
luôn chực chờ vây quấn lấy ta. Xa lìa những người thân
thương cũng khổ, tử biệt sanh ly khổ, mong muốn mà không
được toại nguyện cũng khổ, cầu danh cầu lợi mà không
thỏa chí cũng khổ, không ưa nhau mà cứ mãi phải gặp nhau
cũng khổ, vân vân và vân vân. Đức Phật không phơi bày suông
những nỗi thống khổ của con người, mà Ngài vạch rõ cho
chúng ta thấy do đâu mà có khổ. Theo Ngài, nguyên nhân của
mọi thống khổ trên đời nầy là do bởi tham, sân, si, mạn,
nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng mà ra cả. Rồi cũng chính
Đức Phật, vì thương xót chúng sanh mà chỉ dạy cho cách
làm sao để tận diệt những tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến
để tự mình giải thoát khỏi những thống khổ của cuộc
đời. Như vậy con đường thoát khổ Đức Từ Phụ đã xây,
đi hay không đi còn tùy ở mỗi người chúng ta. Nhưng xin nhắc
lại, dù muốn hay không muốn, tất cả chúng ta rồi cũng sẽ
phải một lần lên đường. Tại sao chúng ta lại không sớm
khởi hành ngay từ bây giờ hởi quý bạn? Không lẽ chúng
ta cứ mãi tự nhốt mình trong sanh, lão, bịnh, tử? Không lẽ
chúng ta cứ mãi mong cầu bất toại để rồi khổ, thương
thương xa lìa cho khổ, ghét ghét hội ngộ cho khổ, hoặc giả
ôm giả làm chơn cho khổ? Không lẽ chúng ta cứ mãi trầm
luân khổ hãi như thế nầy sao? Hãy nhìn cho rõ con đường
của Đức Từ Phụ mà đi. Hãy cương quyết đập tan mọi
nguyên nhân sanh ra đau khổ, dập tắt mọi tham, sân, si, mạn,
nghi, tà kiến. Tận diệt đau khổ có phải là đi tìm nguồn
vui hay không? Chúng sanh vì mê muội nên cứ đi tìm những thú
vui tạm bợ ở vũ trường, xi nê, tiệm rượu, phòng trà...,
nhưng sau những thứ đó là cái gì? Sau những thú vui tạm
bợ ấy thì khổ vẫn hườn khổ, mà không chừng lại khổ
hơn vì có bao nhiêu tiền của đã vung vẫy trong những đêm
trác táng, hoặc giả trong những canh bạc, giờ thì mang thân
làm kẻ không nhà, sống ở đầu đường xó chợ. Đức Phật
không chủ trương khổ hạnh, mà cũng không ca ngợi sự xa
hoa nhung lụa. Con đường Ngài vạch ra là con đường trung
đạo. Người con Phật luôn sống hài hòa, sống cho mình và
cho người. Những người con Phật thầm thầm lên đường
diệt khổ, để đi thẳng vào cõi an lạc và giải thoát. Người
con Phật luôn thấy biết chơn chánh, hành động chơn chánh,
cố gắng chơn chánh, nhớ nghĩ chơn chánh và định tâm chơn
chánh. Ngoài ra, người con Phật luôn mạnh mẽ làm việc lành,
lánh việc dữ... Chỉ có như vậy thì những tham giận, kiêu
căng, si mê lầm lạc của từ lâu đời lâu kiếp mới có
cơ được tháo gỡ. Chỉ có như vậy chúng ta mới thấy rõ
được đâu là khổ, kia là con đường thoát khổ.
Người
Phật tử chân chánh nên luôn nhớ lời Phật dạy: "Những
ai miệng thường đọc kinh Phật, nhưng không chịu đãi lọc
tâm tánh; ba nghiệp thân, khẩu, ý thường buông lung; tham,
sân, si không chừa bỏ, là những kẻ theo tà đạo." Những
kẻ ấy, chẳng những theo tà đạo, mà còn tự mình chuốc
lấy thêm khổ đau phiền muộn cho đời nầy và đời sau nữa.
Đạo Phật chỉ cho chúng ta thấy đây là khổ, kia là con đường
thoát khổ. Nhưng kỳ thật, đây và kia là đâu? Nếu chúng
ta biết sống và tu theo Phật thì đây và kia không hề sai
khác. Đây và kia không là cái gì ngoài chúng ta, chúng ta không
phải mất công tìm kiếm đâu đâu. Mong cầu chi những thứ
giả tạm, hãy quay về để nhìn thấy sự an lạc ngay trong
đời sống có chánh niệm của những giây phút hiện tại.
Hãy luôn chợt nở một nụ cười trên môi rồi sẽ thấy
công dụng của nó. Một khi mà nụ cười chơn thật nở ra,
thì mọi thứ tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến đều tháo lui.
Nụ cười chẳng những mang lại an lạc cho ta, cho người,
mà nụ cười còn giúp ta dẹp bỏ những suy nghĩ vô ích và
thừa thải, Với đạo Phật, đời sống cuồng loạn tranh
đua là khổ. Ngược lại, thầm thầm mà sống mà tu với những
giây phút hiện tại là thật sự biết sống, là thật sự
an lạc. Trên đời nầy đã có quá nhiều tập khí của khổ
đau phiền não rồi, đừng tìm chi thêm phiền não cho mình.
Đừng tự đồng hóa mình với tham, sân, si, mạn, nghi, tà
kiến. Hãy bước lên đường Thánh Đạo mà đi để thấy
đời là tươi mát và hạnh phúc vô cùng. Hãy buông bỏ tất
cả mọi toan tính và hy vọng, vì toan tính và hy vọng để
làm gì và để cho ai khi thân nầy còn không có thực? Hãy
làm đi rồi sẽ thấy! Một khi ta buông bỏ sân hận, thì từ
bi sẽ ngập tràn trong ta; buông bỏ tham lam bỏn xẻn thì lòng
ta chỉ còn lại sự quảng đại bao la. Đã thấy được đây
là khổ, xin hãy lấy tâm Phật làm tâm mình, lấy nguyện Phật
làm nguyện mình, và lấy hạnh Phật làm hạnh mình, thì tự
nhiên con đường thoát khổ sẽ hiển lộ. Hãy tinh tấn dũng
mãnh mà tiến lên dẹp bỏ tất cả những nghiệp chướng
của mình. Hãy thẳn thắn nhận sai và sửa sai. Hãy mỉm cười,
dù thuận hay dù nghịch. Hãy kham nhẫn, dù đáng hay dù không,
ấy là thoát khổ, ấy là hạnh phúc, ấy là giải thoát vậy.
Những người con Phật hãy lắng lòng nghe lời chỉ dạy của
Đấng Từ Phụ : "Ba cõi không an, như nhà lửa đang cháy."
Thấy được biển khổ mênh mông như vậy để không còn lấy
khổ làm vui nữa, để biết nhàm chán sanh tử luân hồi, ựeă
nhieáp tâm diệt trừ tận gốc ngay từ trong trứng nước những
mầm mống khổ đau, ngay trong đời nầy kiếp nầy.
364.
NGƯỜI PHẬT TỬ VÀ MÙA VU LAN
Vu
Lan đã du nhập vào truyền thống dân gian cổ truyền từ thời
đạo Phật mới được truyền sang Việt Nam, ngay vào những
năm đầu Công Nguyên, nghĩa là cách đây gần hai ngàn năm.
Trước thời có Vu Lan, dân ta đã có truyền thống sống hiếu
hạnh trong suốt từ lập quốc, nhưng sự bày tỏ về tình
cha nghĩa mẹ không được mọi người nhắc đến một cách
công khai trong hội hè đình đám, mà chỉ qua những câu ca
dao truyền khẩu nói lên thế nào là tình cha nghĩa mẹ và
thế nào là chữ hiếu hạnh của của con cái như ỘCông cha
như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo
con.Ợ Hoặc ỘMẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp một,
như đường mía lau.Ợ Hoặc ỘCòn cha còn mẹ thì hơn, không
cha không mẹ như đờn đứt dây. Đờn đứt dây cũng còn
chỗ nối, cha mẹ chết rồi con phải mồ côi.Ợ Đến khi
đạo Phật được du nhập vào Việt Nam, bao nhiêu giá trị
chân lý của Phật pháp đã được áp dụng bên cạnh những
truyền thống cổ truyền cao cả, khiến cho chữ hiếu của
người con Việt trở nên thâm thúy vô cùng. Lúc đó chữ "hiếu"
trong dân gian được dịp hòa nhập vào chữ "hiếu" cao tuyệt
trong đạo Phật để trở thành một chữ "hiếu" đặc thù
của dân tộc. Theo cách hiểu bình dân thì cây có cội, nước
có nguồn, con người có tông tổ. Vậy thì bổn phận làm
con làm cháu là phải hiếu thảo với cha mẹ ông bà, phải
nhớ công ân sanh thành dưỡng dục. Kẻ lỡ đường được
cho uống một ngụm nước còn biết nhớ ơn, huống là công
ơn cha mẹ sâu dầy, làm người sao nỡ quên cho đành? Chữ
"hiếu" hiểu theo Phật pháp còn cao tuyệt hơn thế nữa. Trong
một chuỗi dài lăn trôi, có ai biết được cội đâu, nguồn
đâu, tông tổ đâu? Chính vì thế mà Đức Thích Tôn Từ Phụ
đã luôn nhắc nhở rằng tất cả chúng sanh trong cõi Ta Bà
nầy đều đã từng là ông bà, cha mẹ, con cháu của nhau ở
một kiếp nào đó trong quá khứ. Cũng chính vì thế mà Ngài
đã đặt chữ "hiếu" lên trên tất cả. Ngài đã khẳng định
với chúng đệ tử là trong thời không có Phật tại thế,
phụng sự và cúng dường cha mẹ, tức là phụng sự và cúng
dường chư Phật rồi vậy.
Người
Việt Nam, nhứt là những người con Phật, lúc nào cũng muốn
có một cuộc sống an lành hạnh phúc và một cuộc tu giải
thoát rốt ráo. Nhưng làm sao để có được cuộc sống an
lành hạnh phúc? Làm sao để có một cuộc tu giải thoát? Trong
Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới, Đức Từ Phụ đã dạy rằng
: ỘHiếu là pháp cao tuyệt, là mẹ của chư Phật.Ợ Đức
Từ Phụ đã cụ thể hóa những gì Ngài nói qua việc hóa
độ Vua Cha Tịnh Phạn và nhiều lần thuyết pháp độ cho
hiền mẫu nơi cung trời Đao Lợi. Ngài đã gửi đến cho chúng
ta một thông điệp sống hạnh phúc và tu giải thoát bằng
cách lấy hiếu hạnh làm đầu. Thông điệp của Ngài rất
đơn giản, nhưng rõ ràng và dễ hiểu vô cùng. Hễ hiếu hạnh
không tròn là chưa tròn đạo làm người, khoan hẳn nói đến
chuyện tu giải thoát. Ngài đã tô đậm nét chữ "hiếu" cũng
như chữ bất hiếu. Kẻ bất hiếu sẽ là kẻ bất trung, bất
nhân, bất nghĩa, bất liêm, bất sĩ, bất tín, bất lễ. Kẻ
mà đan tâm bội phản ngay cả công ơn sanh thành dưỡng dục
của cha mẹ, kẻ đó sẳn sàng bội phản bất cứ ai trong
xã hội nầy. Kẻ nhẫn tâm bội bạc cha mẹ là những người
đã trọn đời dưỡng nuôi dạy dỗ mình, kẻ đó sẽ vô
tình bạc nghĩa với bất kỳ ai trong cõi đời nầy. Kẻ nào
dám chê mắng cha mẹ, sẽ không hổ ngươi khi chê mắng bất
kỳ ai. Theo như những lời Phật dạy thì bất hiếu không
chỉ hạn hẹp ở việc không phụng dưỡng mẹ cha, mà nó
còn bao gồm nhiều phương diện khác như cách mình xữ thế
ở đời, cách mình xữ thế, vâng giữ những lời nói của
thánh hiền, và ngay cả chuyện không giúp đỡ cha mẹ thực
hành chánh pháp, hay những chuyện thiện lành cũng là bất
hiếu. Như vậy chỉ một chữ "hiếu" trong đạo Phật đã
là một pháp môn tu hành cao tuyệt cho những người con Phật
rồi còn gì? Và những kẻ bất hiếu sẽ không có một chỗ
đứng nào trong hàng tín đồ của Đức Phật. Ngài đã chỉ
rõ trong các kinh điển của Ngài là phụ mẫu tại đường
như Phật tại thế, nghĩa là cha mẹ hiện tiền như Phật
trụ thế. Phụng dưỡng cúng dường cha mẹ là cúng dường
chư Phật, là thứ cúng dường cao tột nhất.
Trong
Kinh Báo Hiếu, Đức Từ Phụ đã nói rất rõ ràng trong mười
điều về công ơn cha mẹ:
ỘNhớ
ơn chín tháng cưu mang nặng nhọc của mẹ.
Nhớ
ơn mẹ đã chịu đan đớn, rách da xẻ thịt khi sanh ta.
Nhớ
ơn mẹ khi sanh ta quên cả lo âu.
Nhớ
ơn mẹ khi nuôi dưỡng ta, miếng cay đắng mẹ nhận, nhường
miếng ngọt ngon cho ta.
Nhớ
ơn mẹ nằm chỗ ẩm ướt hôi thối do ta gây ra, nhường chỗ
khô ấm cho ta.
Nhớ
ơn ba năm chịu đau đớn hao mòn thân thể cho ta bú, săn sóc
thuốc thang cho ta.
Nhớ
ơn mẹ chịu dơ dáy lo cho áo quần ta được khô ráo sạch
sẽ.
Nhớ
ơn mẹ lo lắng nhớ nhung khi ta đi xa, làm lòng mẹ không được
an ổn.
Nhớ
ơn mẹ đã vì ta mà có thể tạo ra các ác nghiệp.
Nhớ
ơn mẹ đã suốt đời, dù cho con đã lớn khôn, không lúc
nào không nghĩ nhớ, thương yêu ta.Ợ
Nếu
chúng ta bình tâm suy nghĩ thì chúng ta sẽ thấy ân đức sanh
thành dưỡng dục của cha mẹ thật là cao hơn núi Thái Sơn,
rộng hơn biển Thái Bình, không thể nào suốt cuộc đời
chúng ta có thể đền đáp cho hết được. Ngày xưa Tôn Giả
Mục Kiền Liên đã nhờ giác ngộ những lời Phật dạy, xin
quy y Tam Bảo, chuyên tâm tu hành và chứng thành đạo quả.
Nhờ đó mà sau nầy cùng với sự hộ niệm của chư Phật
đã đưa thân mẫu thoát vòng địa ngục. Gương hiếu hạnh
của Ngài Mục Kiền Liên vẫn còn rạng ngời và sẽ còn rạng
ngời mãi mãi. Chính Đức Từ Phụ đã khuyến khích các hàng
đệ tử về sau nầy của Ngài nên noi theo đó mà sống mà
tu, thì cuộc sống sẽ là hạnh phúc, cuộc tu sẽ là giải
thoát. Những người con Phật chúng ta về sau nầy, há có con
đường nào khác hay sao?
Hãy
suy nghĩ lại mà coi thân nầy, tâm nầy, hồn nầy có được
là nhờ ai? Cha mẹ chẳng những ban cho ta tấm thân, mà còn
ban cho ta tất cả những gì các ngài đang có. Ngay từ lúc
biết mẹ mang thai, cha đã lo làm đầu tắt mặt tối, những
mong có đủ tiền để lo cho con sau nầy. Trong lúc thai nghén,
mẹ đã phải chịu trăm nỗi đau đớn để cưu mang ta cho
đến ngày sanh nở. Khi sanh ta ra, cha mẹ đã dầy công nuôi
dưỡng chúng ta chẳng những về thể chất, mà còn về tinh
thần và đạo đức nữa. Lắm lúc vì tương lai, vì công danh
sự nghiệp của con cái mà cha mẹ phải nhịn cay nuốt đắng,
quên ăn mất ngủ, hy sinh tất cả, kể cả thân mạng và danh
dự, cũng chỉ vì con. Sự hy sinh ấy là vô biên vô lượng
và không ngằn mé, nó bao trùm cả không gian và vũ trụ, có
nói cũng không cạn, có viết cũng không cùng. Cha mẹ là gì
nếu không là nguồn suối ngọt, là bầu sửa thơm lành, là
bóng mát, là nơi nương tựa an toàn nhất cho chúng ta? Thế
mà suốt đời chỉ thấy cha mẹ đến với chúng ta, chứ có
khi nào ta đến với cha mẹ với tất lòng thành đâu? Thế
mới biết cha mẹ thương con như biển hồ lai láng, con thương
cha mẹ tính tháng tính ngày. Những người con Phật nếu muốn
tránh được cái cảnh ân hận về sau nầy, xin hãy lắng lòng
nghe lời dạy dỗ của Đức Thích Tôn Từ Phụ: "Phụ mẫu
tại tiền như Phật tại thế." Cha mẹ còn là niềm vui, niềm
hạnh phúc của con cháu to lớn và tràn ngập như niềm vui
của người tu đạo giải thoát đang được sống cùng thời
với Đức Phật vậy. Trong thời Đức Phật còn tại thế,
chính Ngài vẫn thường luôn nhắc tới chữ "hiếu" cao tuyệt
của người con Phật. Chữ hiếu ấy chẳng những vượt lên
trên khuôn khổ của mọi nền luân lý, mà còn vượt hẳn
lên trên cả không gian và thời gian. Nghĩa là bất kỳ ở
đâu, vào bất cứ lúc nào, chữ hiếu trong đạo Phật là
không thể nghĩ bàn. Gần ba ngàn năm nay, chưa một ai có thể
đánh đổ được tánh chất cao tuyệt của "hạnh hiếu" trong
đạo Phật. Mà kỳ thật, làm sao có thể nghĩ bàn khi Phật
dạy hiếu kính là làm lành, lánh dữ, thương người, thương
vật, bố thí, trì giới, kính trọng người già, không sát
sanh, không trộm cắp, không tà dâm vọng ngữ, không rượu
chè cờ bạc, không sân hận oán thù, không ganh ghét đố kỵ,
không tự cao ngã mạn, không ỷ mạnh hiếp yếu, giàu hiếp
nghèo, không chỉ trích hay lăng mạ ai. Hiếu kính là biết
sống kết hợp hòa vui, là tu trì Phật pháp, là tinh cần thiền
định, là thấu suốt sự thật, là tự lợi lợi tha. Và điểm
cao tuyệt nhứt của hiếu kính trong nhà Phật là đạt thành
quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Trong kinh Tâm Địa Quán, Đức
Từ Phụ đã dạy rằng: ỘTrên đời nầy, ai là người giàu,
ai là người nghèo? Còn mẹ hiền là người giàu, mẹ hiền
mất rồi là người nghèo. Còn mẹ hiền là mặt trời trưa,
mẹ hiền qua đời là mặt trời lặn. Còn mẹ hiền là đêm
trăng sáng, mẹ hiền qua đời là đêm không trăng.Ợ Ôi thắm
thía làm sao lời dạy ân cần của Thế Tôn! Từ ân của cha,
bi ân của mẹ, lời nào nói cho hết, bút nào viết cho cạn?
Cha mẹ đã vì con cái mà chịu trăm đắng ngàn cay đến phải
hao mòn thân xác, lắm khi phạm tội cũng chỉ vì con. Thế
nhưng đã có bao giờ chúng ta nói với cha mẹ chúng ta một
lời ngọt ngào tha thiết nào chưa? Chúng ta đã có bao giờ
biểu lộ lòng biết ơn, quý mến và kính yêu cha mẹ chúng
ta chưa? Dù có hay dù chưa, bây giờ vẫn chưa gọi là muộn.
Dù được cài một bông hồng đỏ, hay phải cài một bông
hồng trắng, với chúng ta vẫn chưa là muộn để tu hành hiếu
hạnh. Nói thì dễ, ai cũng nghe được và hiểu được; tuy
nhiên, bản chất cố hữu của Phật pháp vẫn là "nói dễ
khó làm." Những người con Phật hãy bình tââm suy gẫm lại
coi Phật muốn nhắn nhủ gì với chúng ta khi Ngài dạy chúng
ta về hiếu kính? Hãy làm tất cả những gì thiện lành cho
cha mẹ, hãy thương yêu kính trọng, săn sóc, nuôi dưỡng cha
mẹ cả về vật chất lẫn tinh thần, hãy sống cho thật xứng
đáng làm một con người biết khiêm cung từ tốn, không sát
sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, rượu chè be bét, làm
buồn lòng cha mẹ. Hãy tự lợi và lợi tha trong tinh thần
tu hành giải thoát rốt ráo của nhà Phật, để thành Phật
và hồi hướng tất cả công đức nầy đến cha mẹ và cửu
huyền thất tổ.
Những
người con Phật hãy cố mà học theo hiếu hạnh của Ngài
Mục Kiền Liên. Ngay từ bây giờ và mỗi ngày, chứ không
đợi đến Vu Lan. Nếu cha mẹ còn hiện tiền, hãy đến bên
cha mẹ mà nói rằng con thương cha yêu mẹ. Hãy dâng cho cha
một tách trà, hãy trao cho mẹ một bát cơm với tất lòng
yêu kính và phụng dưỡng. Hãy đem đến trao cho các ngài những
nụ cười ân cần và tuyệt đẹp nhứt trần gian. Chúng ta
vốn dĩ đã không may, sanh ra đời không thấy Phật. Tuy nhiên,
Phật đã không từng dặn dò chúng ta là nếu sanh ra đời
không có Phật, mà biết phụng dưỡng cha mẹ, thì cũng như
phụng thờ chư Phật không khác. Người con thật sự hiếu
thảo, ngoài việc hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, còn phải
khuyên cha mẹ tu tâm dưỡng tánh, làm lành lánh dữ bằng cách
quy y Tam Bảo. Tuy nhiên, cách báo hiếu thực tiển nhất vẫn
là tự mình tu tâm dưỡng tánh, để không làm điều gì nhơ
nhuốc đến tông đường. Tự mình phải sống một cuộc sống
thật xứng đáng, một cuộc sống từ, bi, hỉ, xả, bố thí,
lợi tha và vì tha nhân mà sống. Sống như mẹ Việt Nam đã
từng sống với tình thương, che chở, hi sinh, tha thứ và chịu
đựng. Đến khi cha mẹ quá vãng, chúng ta phải hết lòng tinh
tấn tu trì giải thoát, nếu không mong được nhất nhơn giải
thoát, cửu huyền thăng, thì ít ra chúng ta cũng giúp làm nhẹ
bớt đi những nghiệp chướng mà các bậc cha mẹ đã vì ta
mà gây ra.
Hơn
nữa, trong kinh Báo Hiếu, Đức Từ Phụ đã dạy: ỘChúng
sanh đã từng lăn trôi vạn kiếp trong luân hồi sanh tử, từng
là những cha mẹ của ta trong nhiều đời kiếp.Ợ Chính vì
thế mà Đức Thế Tôn đã dạy phải xem nam nhân trong đời
là cha của ta, phải xem nữ nhân trong đời là mẹ của ta.
Trong cuộc xử thế hằng ngày, phải cố gắng làm lành lánh
dữ, phải tạo phước điền bố thí, phải đem lòng từ bi
hỉ xả mà đối với tha nhân, phải vì lợi ích của tha nhân
mà hành xử, ấy cũng là một cách báo hiếu rốt ráo nhất
đối với những người con Phật. Đạo Phật là đạo của
hiếu hạnh, Đức Thích Tôn Từ Phụ là một thí dụ hiển
hình. Sự báo hiếu của người con Phật không những là một
truyền thống cổ truyền cao đẹp, mà còn là một nhiệm vụ
thiêng liêng, một giá trị đạo đức và luân lý đã tạo
ra một mối liên hệ gia tộc từ đời nầy sang đời khác
đã giúp giữ vững dân tộc và đất nước. Trong mùa Vu Lan,
chúng ta không chỉ đơn thuần nghĩ đến công ơn cao dầy của
cha mẹ, mà còn nghĩ đến tiền nhân và những chiến sĩ, hữu
danh cũng như vô danh, những người đã có công xây dựng và
giữ vững một dãy non sông gấm vóc mến yêu, những người
đã hun đúc cho thế hệ chúng ta được tươi đẹp như ngày
nay. Hãy tự xét lại chính chúng ta từ lời ăn tiếng nói,
đến cử chỉ hành động và lối cư xử với nhân quần xã
hội. Hãy rãi tâm từ và mang tâm bi đến với mọi người.
Hãy luôn bao dung hỉ xả trong mọi tình huống của cuộc đời.
Hãy tự phản tỉnh để tránh không làm việc ác, mà chỉ
chuyên làm các điều lành, hãy để cho tâm ý luôn thanh tịnh,
đó là ý nghĩa đúng nhất của người Phật tử và mùa Vu
Lan Báo Hiếu. Là người con Phật, chúng ta không chỉ thương
cha yêu mẹ trong mùa Vu Lan Báo Hiếu không thôi. Ngược lại,
với người con Phật mỗi ngày là một ngày Vu Lan, mỗi mùa
là một mùa Vu Lan, Vu Lan bất tận, Vu Lan cho đến khi nào địa
ngục vị không, hoặc nhứt thiết chúng sanh đều được về
cõi vô sanh, vô ưu và vô diệt.
365.
HÃY VÌ TIỀN ĐỒ ĐẠO GIÁO MÀ CÙNG XIẾT TAY NHAU HỠI NHỮNG
NGƯỜI CON PHẬT
Nhiều
người, trong đó có những Phật tử thuần thành, đã ngộ
nhận về sức mạnh tổ chức của Phật giáo. Họ cho rằng
người tu theo Phật là phải buông bỏ tất cả. Họ cho rằng
chính Phật đã dạy như thế : "Đời vô thường, vạn vật
vô thường. Xuân sang thì cảnh vật tươi đẹp, nhưng đến
hạ, đến thu, đến đông thì sao? Có phải là héo tàn úa
rũ hay không?" Đúng! Y cứ theo lời Phật dạy thì "chánh pháp
thượng xả, hà huống phi pháp." Tuy nhiên, ý Phật muốn nói
gì khi dạy chúng ta câu nầy? Không lẽ Phật lại kêu chúng
ta hãy bỏ đi những lời Ngài đã dạy? Vâng, quả đúng Phật
muốn chúng ta buông bỏ tất cả khi đã đến được bến
bờ giác ngộ và giải thoát, chứ đừng câu chấp chi cho thêm
nặng nghiệp. Tuy nhiên, hãy xét lại cho kỹ mà xem, coi chúng
ta đã giác ngộ và giải thoát chưa? Lúc mà chúng ta hãy còn
lặn ngụp trong biển đời sanh tử của thế giới Ta Bà nầy,
nếu không y cứ theo chánh pháp, thì biết y cứ theo cái gì
đây? Thế mà vì câu chấp nên một số người đã gán cho
Phật giáo một bộ mặt bi quan yếm thế. Họ muốn đi riêng
về lẻ và luôn lên giọng đả kích những ai muốn ngồi lại,
cùng xiết tay nhau, hầu củng cố tiềm năng và sức mạnh
sẳn có của Phật giáo. Họ cho rằng nhân sinh quan và vũ trụ
quan của đạo Phật là không thể nghĩ bàn, ai muốn tu theo
Phật, cứ y cứ theo đó mà tu, chứ đạo Phật không cần
phải được tổ chức theo một khuôn thước nào cả. Quả
là lý luận ngông cuồng của những con người không tưởng.
Hãy
nhìn lại thực trạng Phật giáo Việt Nam hiện tại thì những
con người có tâm huyết với tiền đồ đạo pháp sẽ nghĩ
thế nào? Khoan hẳn nói chi đến việc tổ chức, hãy nói đến
một việc nhỏ thôi: Kinh Nhựt Tụng. Có phải chúng ta là
những người Việt Nam, cùng nói một thứ tiếng, cùng viết
một thứ chữ hay không? Nếu câu trả lời là "phải" thì
tại sao chúng ta lại không có cùng một bộ kinh nhựt tụng
như trường hợp của Tàu, Nhựt, Đại Hàn, Thái, Miên, Ấn,
vân vân. Ở đây không chủ trương bài ngoại, tuy nhiên kinh
chữ Phạn và chữ Hán, chỉ có thể dùng làm tư liệu nghiên
cứu, chứ không thể nào còn có thể được dùng trong việc
đọc tụng nữa rồi, vì đa số quần chúng Phật tử, có
mấy ai thông hiểu được những ngôn ngữ nầy? Còn kinh chữ
Việt, chúng ta đã có quá nhiều rồi, nên đề nghị các chùa
không nên tự ý làm thêm Kinh Nhựt Tụng nữa, mà quý Tăng
Ni hãy ngồi lại với nhau, xem coi trong những cuốn kinh nhựt
tụng có cuốn nào thích hợp nhứt cho dân tộc Việt Nam chúng
ta, thì biểu quyết chấp thuận cho dùng. Quý Phật tử sẵn
sàng lắng nghe và hành trì những chỉ giáo từ chư Tôn Túc.
Một khi chư Tôn Túc quyết định và chỉ giáo là Phật tử
sẽ tuân hành, nhưng trước hết những người có trách nhiệm
với tiền đồ đạo pháp phải ngồi lại với nhau để cùng
chọn ra chỉ một bộ kinh nhật tụng nào ngắn gọn mà đầy
đủ ý nghĩa và xác thực với những lời Phật dạy. Đó
là nói về kinh dành cho Phật tử, còn chư Tăng Ni xuất gia,
mỗi khi tụng niệm riêng, muốn tụng kinh nào cũng được,
Hán cũng được, Phạn cũng được, dài cũng được, mà ngắn
cũng không sao. Điều cần nhứt là quý Tăng Ni phải cân nhắc
lựa chọn cái nào thực tiển và thích hợp, cái nào không.
Trong thời buổi khoa học hiện đại, con người đã gửi được
những vệ tinh lên thám hiểm Hỏa Tinh, mà chúng ta vẫn còn
khư khư giữ lấy những cổ tục không còn thích hợp nữa,
thì e rằng sẽ không lôi kéo được giới thanh thiếu niên
tân học. Ngày xưa Tần Thủy Hoàng, vì muốn thống nhứt chữ
viết của Tàu nên đã phải đốt hết sách vở và giết sạch
những ai còn mang nặng đầu óc địa phương, ngồi chép sách
lại theo chữ viết của địa phương mình. Ngày nay, những
người con Phật chúng ta có thừa những cái bi trí và dũng,
cũng như từ bi hỉ xả của Phật Tổ trao truyền, chúng ta
không cần chi đến hạ sách "đốt sách giết học trò." Chúng
ta có thể làm được điều ấy nếu tất cả chúng ta quyết
một lòng vì đạo pháp. Những người có trách nhiệm hãy
thử tưởng tượng, Phật tử đâu muốn chỉ đi một chùa,
Phật tử muốn phò trì chánh pháp • tất cả những nơi nào
có chùa. Thế nhưng đi từ chùa nầy qua chùa khác, như lạc
vào một thế giới hoàn toàn khác biệt. Dù nói cùng một
thứ tiếng, viết cùng một thứ chữ, nhưng kinh ai nấy đọc,
chùa ai nấy đi, quả là buồn quá phải không quý vị? Chúng
ta ai cũng hãnh diện về đạo Phật, vì đạo Phật là một
đoàn thể tôn giáo lâu đời có hạng trên địa cầu nầy.
Tuy nhiên, hãy nhìn lại mà xem, những tôn giáo sanh sau đẻ
muộn, cho dù giáo lý của họ có thể chỉ là một mớ niềm
tin mù quáng, thế nhưng họ phát triển mạnh và nhanh đến
độ lấn lướt khắp toàn cầu. Quý vị có biết tại sao
lại có thực trạng nầy không? Tại vì họ có một tổ chức
kiện toàn từ cao xuống thấp. Còn đạo Phật chúng ta, với
những chơn lý sống tu tuyệt vời, thế mà chúng ta phải chịu
số phận của một ngọn đèn leo lét suốt gần hai mươi sáu
thế kỷ nay. Những người con Phật có một chút thao thức
đến sự tồn vong của đạo pháp đã thấy chưa? Tại sao
chúng ta lại để cho một tôn giáo sống động, tích cực
và tuyệt vời mà Đức Từ Phụ đã truyền trao, phải chịu
số phận hẩm hiu như vậy?
Ngay
từ thuở ban sơ của Phật giáo, Đức Từ Phụ đã từng khẳng
định rằng tất cả các pháp môn, tất cả những tịnh xá,
chùa chiền và tự viện chỉ là những phương tiện; tuy nhiên,
chính Ngài đã đứng ra tổ chức thật là có quy củ, từ
những hệ thống tịnh xá, đến những tăng đoàn hoằng pháp.
Theo Ngài, mặc dù cứu cánh cuối cùng của chúng sanh là "thành
Phật," nhưng những người con Phật cũng đừng quên rằng,
nếu không có tổ chức và thiếu phương tiện, không sớm
thì muộn chúng ta sẽ phải bị đào thải. Đồng ý đạo
Phật chủ trương đi thẳng vào đời sống tâm linh của con
người, đạo Phật xem nhẹ vật chất phù phiếm. Đạo Phật
đã xuất hiện từ con người và đã phục vụ đắc lực
cho con người. Đồng ý không có sức mạnh nào bằng sức
mạnh tâm linh. Tuy nhiên, Đức Phật là một bậc Thế Gian
Giải, Thiên Nhân Sư, Thiện Thệ, Minh Hạnh Túc, Điều Ngự
Trượng Phu... thế nên Ngài đã quây quần được cả giới
xuất gia lẫn tại gia chung quanh niềm tin và lẽ sống đạo
của Ngài, không một chút khó khăn trở ngại. Còn chúng ta
vì kém phước, sanh ra trong thời không có Phật, không được
nghe những lời dạy dỗ từ chính miệng của Ngài, kinh điển
thì cũng đã trải qua bao thăng trầm với biết bao lần kiết
tập. Nếu chúng ta không chịu xiết tay nhau cùng hướng về
sự tồn vong của Phật pháp, thì không biết rồi đây chúng
ta sẽ đi về đâu?
Trong
quá trình dài của gần hai ngàn năm Phật giáo Việt Nam, các
bậc tiền bối đã cố gắng hết sức mình trong công cuộc
hoằng pháp, song hành với công cuộc bảo vệ đất nước.
Phật giáo Việt Nam đã làm nên những trang sử vẻ vang trải
qua những thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn. Thế nhưng
trải qua bao thăng trầm của lịch sử, trải qua bao cai nghiệt
của thời cuộc, Phật giáo lắm khi phải co cụm thành những
nhóm nhỏ để tồn tại. Chẳng hạn như vào thời Pháp thuộc,
lắm chùa chiền, tự viện phải bỏ hoang và dưới áp lực
bạo tàn của giặc, lắm chư tăng ni đã phải vị pháp vong
thân. Chính vì phải trải qua những giai đoạn nghiệt ngã
ấy, mà mãi cho đến thời cận đại, vấn đề tổ chức
trong đạo Phật đã không có quy củ cho lắm. Nếu có chăng,
chỉ là cục bộ và rời rạc, chứ không toàn diện và nhịp
nhàng như các tôn giáo khác. Đồng ý là đạo Phật chú trọng
về tâm linh, chú trọng về sự giác ngộ và giải thoát, nhưng
ít ra chúng ta cũng phải có tổ chức thế nào cho Phật giáo
đồ thật sự có nơi nương tựa, có nơi bồi dưỡng về
tâm linh, để từ đó may ra mới có cơ được giác ngộ và
giải thoát chứ! Chúng ta phải cố gắng tổ chức làm sao
cho mọi người đều ý thức được rằng việc tới chùa
là việc thiết yếu, chứ không phải đợi đến lúc hữu
sự mới tìm đến chùa, hoặc xin phát tang cầu siêu, hoặc
cầu an, hoặc thậm chí để xin xăm bói quẻ, vân vân và vân
vân. Đừng ai có ý nghĩ tự xem những tổ chức Phật giáo
ngang hàng với những tổ chức tầm thường của phàm phu tục
tử. Làm sao những người con Phật chơn thuần có thể so sánh
được như vậy?
Tổ
chức Phật giáo phải vượt lên trên hết mọi tị hiềm tranh
chấp của thường tình thế tục. Chúng ta không cần đến
một vị Giáo Hoàng, nhưng ít ra tổ chức Phật giáo phải
là một tổ chức hoằng pháp có tầm cở không kém chi Vatican.
Phật đã từng vạch mở cho chúng ta thấy cả ba ngàn tam thiên
đại thiên thế giới, thế mà chỉ duy có việc tổ chức
cho có quy củ, không lý gì chúng ta đành nhắm mắt xuôi tay,
phó mặc cho tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến chúng khống chế
và sai khiến chúng ta hay sao? Những người con Phật có chút
thao thức cho tiền đồ đạo pháp, hãy cùng xiết chặt tay
nhau, trong phạm vi mình có thể làm được, đặc biệt là
Phật giáo Việt Nam. Chúng ta đã có một tổ chức mang tên
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, tại sao chúng ta lại không
có được một quyển kinh nhựt tụng thống nhất hở quý
vị?
Nói
như thế không có nghĩa là chỉ trích hay chê trách bất cứ
ai. Tuy nhiên, những ai còn có chút gì thao thức với đạo
pháp, đều phải ôn cố tri tân để vạch ra bước đường
tồn tại trong tương lai. Hãy nhìn về quá khứ để thấy
rằng vào hơn thế kỷ trước đây, trên đất Mỹ nhứt là
tại miền nam California nầy đã có hàng trăm chùa của những
người Trung Hoa đi xây dựng đường sắt xuyên lục địa
Mỹ Châu. Thế nhưng vì thiếu tổ chức mà chỉ trong vòng
năm mươi năm sau đó, sau khi những vị trụ trì viên tịch,
thì những ngôi tự viện ấy đã lần lượt biến thành những
quán ăn hoặc tiệm rượu. Quý vị có thấy tội nghiệp cho
những ngôi chùa đó không quý vị? Lịch sử đã bắt đầu
tái diễn ở Nam California nầy, nhưng lần nầy, không với
cộng đồng Trung Hoa, mà là với cồng đồng Việt Nam chúng
ta, quý vị ạ! Một vị sư tịch, ngôi chùa bị tranh chấp
giữa Phật tử và thân nhân của vị sư ấy và cuối cùng
ngôi chùa đã biến thành ngôi nhà, buồn quá quý vị hở!
Có
lẽ nỗi niềm thao thức của người viết cũng giống như
thao thức của của đại đa số Phật tử, ao ước sao cho
quý vị có trách nhiệm với tiền đồ Phật giáo, hãy lưu
ý nhiều hơn đến những lề lối sinh hoạt, kinh tế và chính
trị, song song với cuộc sống an lạc và hạnh phúc cho Phật
giáo đồ. Đồng ý đưa toàn khối Phật giáo vào thành một
khối thuần nhứt không phải là chuyện dễ, nhưng ít ra chúng
ta phải có tổ chức, phải tổ chức thành một khối, hoặc
một hệ thống tương đối từ cao xuống thấp, trong đó chúng
ta phải ngồi lại với nhau trong tinh thần nhân bản và từ
bi hỉ xả của nhà Phật, lấy khiêm cung hòa nhã làm kim chỉ
nam cho mọi hoạt động. Xin quý vị có trách nhiệm với tiền
đồ Phật giáo, hãy quan tâm cho một tổ chức Phật giáo kiện
toàn hơn là xây nhiều chùa chiền và tự viện lẻ tẻ và
cục bộ. Hãy thật sự trao cho Phật giáo đồ tình thương
và đạo đức. Có lẽ Phật giáo đồ sẽ cảm thấy hạnh
phúc hơn, sung sướng và an lạc hơn nếu chúng ta chỉ có một
vài ngôi chùa thật lớn và thật đúng nghĩa là chùa, trong
đó vài trăm tăng chúng cùng sống cùng tu trong tinh thần lục
hòa của nhà Phật, trong đó chư tăng ni có tổ chức thành
nề nếp quy củ, để từ đó làm gương sáng dẫn dắt Phật
giáo đồ, những người đang quay cuồng trong xã hội loạn
động hôm nay.
Khi
quá nhiều chùa chiền được dựng lên trong nợ nần chồng
chất, trong lúc quý thầy phải lo sao cho có đủ tiền trả
nợ, thì Phật tử cũng không làm sao tránh khỏi những nỗi
xốn xang. Quý thầy không yên tâm tu, thì làm sao những người
Phật tử trong xã hội quay cuồng nầy có được cái yên tâm
để mà tu? Thời đại văn minh nầy, chắc chắn chúng ta không
thể trở về con đường "khất thực độ sanh," nhưng nếu
có tổ chức, thì ngay tại Orange County nầy, chúng ta có thể
có được năm ngôi chùa đúng nghĩa. Phật tử không đòi hỏi
những người có trách nhiệm phải tổ chức một cách gượng
ép, đem những điều lệ không hợp tình hợp lý mà áp đặt
cho từng địa phương. Tuy nhiên, Phật tử mong cầu những
người có trách nhiệm, hãy ngồi lại với nhau mà hoằng pháp,
hoặc ít ra cơ bản cũng phải có được sự phối hợp nhịp
nhàng, chứ đừng kình chống nhau. Ở đây tuyệt nhiên chúng
ta không nói đến quyền hành, vì những người con Phật chân
chánh còn thiết chi đến quyền uy danh vọng? Mà ở đây chúng
ta chỉ nói đến mọi người đều tương kính lẫn nhau, trong
tinh thần nhìn tha nhân như một vị Phật tương lai, trong tinh
thần khiêm cung từ tốn, chứ không mục hạ vô nhân.
Xin
quý vị có trách nhiệm hãy bình tâm mà suy nghĩ để thấy
rằng trong quá khứ, dù có nhiều cố gắng, nhưng các bậc
tiền bối cũng đã mắc phải những khủng hoảng nội bộ
trầm trọng, khiến cho dân tộc chúng ta mất đi rất nhiều
cơ hội an cư lạc nghiệp. Chính vì những khủng hoảng nội
bộ nầy mà đoàn ngủ Phật giáo bị rời rạc, không chặc
chẻ, không phải mới đây, mà là hằng thế kỷ nay. Quý vị
có trách nhiệm với tiền đồ đạo giáo hãy thẳng thắn
mà nhìn nhận rằng vì thiếu tổ chức, thiếu trình độ và
thiếu lãnh đạo, đã khiến cho Phật giáo Việt Nam chẳng
những không lôi kéo được quần chúng Mỹ như Phật giáo
Tây Tạng, mà còn không tự thích nghi được với những tình
thế mới. Xin hãy vì đạo pháp mà dẹp bỏ đi những cái
nhìn cạn cợt và thô thiển về một tổ chức Phật giáo.
Phật tử không yêu cầu quý thầy làm chánh trị, Phật tử
chỉ yêu cầu quý thầy gầy dựng nên một đội ngủ Phật
giáo có quy củ và rồi quý thầy hãy đứng sau lưng mà yễm
trợ cho những đứa con Phật tại gia làm chính trị giúp mình,
giúp người và giúp đời. Xin quý vị có trách nhiệm hãy
nhìn cho kỹ lại để thấy rằng hiện trạng chùa chiền mọc
lên như nấm, nhưng tăng tài không được đào tạo đúng mức,
sự truyền bá Phật pháp chỉ hạn hẹp trong giới cao niên,
hoặc quá lứa trung niên, chứ không thật sự bén rễ vào
giới thanh thiếu niên. Như thế ấy thì Phật giáo hải ngoại
sẽ đi về đâu chắc ai trong chúng ta cũng đều thấy rõ?
Nếu mới một ngày một bữa đặt chân lên đất nước nầy,
thì cũng không nói làm gì, đằng nầy chúng ta đã có mặt
ở đây trên hai mươi năm, nghĩa là một thế hệ rồi còn
gì? Thế mà chúng ta đã có chương trình nào thích ứng được
cho giới thanh thiếu niên trẻ hay chưa?
Những
người Phật tử tìm đến chùa, mong được tựa nương vào
Tam Bảo, hầu có được cuộc sống an lạc hơn, chứ người
Phật tử không cần đâu những danh xưng hảo huyền. Tuy nhiên,
cùng nói một thứ tiếng, cùng viết một thứ chữ, mà Phật
tử chùa nầy qua chùa khác, như lạc vào một thế giới hoàn
toàn xa lạ, quả là trục trặc. Đồng ý Phật giáo Việt
Nam có đến mười tông phái và mỗi tông phái đều có cách
sinh hoạt cũng như tu tập khác nhau; tuy nhiên, khác nhau là
khác nhau về hình thức, chứ Phật pháp thì tuyệt nhiên không
nơi nào khác với nơi nào. Đồng ý chúng ta không cần một
tổ chức có tính chất giáo quyền trung ương, nhưng chúng
ta cần lắm sự thống nhứt về kinh nghĩa, để cho Phật tử
tụng đọc dễ dàng, dễ hiểu, từ đó con đường tiến tu
cũng mở rộng hơn. Đa phần Phật tử đến chùa là những
người ở lớp tuổi 50 hoặc 60. Tại sao lại như vậy? Dễ
hiểu thôi, không nói đâu cho xa, hãy nói những gì đã xãy
ra ở các chùa, ngay tại trung tâm Orange County thuộc miền Nam
California nầy thì chúng ta sẽ thấy. Các em sinh viên trẻ cũng
như các vị ở lớp tuổi ba mươi, bốn mươi cũng đã đôi
lần vãng lai đến chùa tìm chơn lý, nhưng đa phần chỉ tới
một hai lần rồi thôi. Tại sao lại như vậy? Có lẽ họ
không tìm được những phương thức thực tiển ở chùa vì
khi nghe tụng niệm thì không hiểu, một phần do bởi những
thời kinh dài lê thê, sau mỗI khóa lễ là chân cẳng tê cóng,
không còn nhúc nhích cục cựa gì được; phần khác do bởi
những kinh văn bằng Hán hoặc Phạn ngữ; rồi lại thêm một
phần khác nữa là do bởi hãy còn nhiều chùa quá mang nặng
đầu óc mê tín cổ truyền, không còn hợp thời với lứa
tuổi thanh thiếu niên nữa. Đồng ý những kim ngôn ngọc ngữ
của Đức Từ Phụ là không thể nghĩ bàn, nhưng chính Đức
Thế Tôn đã từng nhắn nhủ với chúng đệ tử của Ngài
là muốn tồn tại, phải thích ứng. Như vậy nếu chúng ta
muốn cho những lời vàng ngọc của Thế Tôn được trao truyền
đến tận tai mọi người, trước nhứt chúng ta phải chọn
những phương thức nào dễ dàng và thích hợp với mọi người
mọi giới trong hoàn cảnh mới nầy. Điều nầy thiết tưởng
quý vị có trách nhiệm có thể làm được, nếu chúng ta chịu
dẹp bớt đi cái "ngã" của chính mình. Nói không cần tổ
chức là nói vậy, vì chúng ta đã gặp quá nhiều khó khăn,
nhứt là tại Mỹ nầy, đất nước thì rộng lại thêm hoàn
cảnh cay nghiệt, không được chính quyền lưu tâm yểm trợ
như các tôn giáo khác. Thêm nữa, các chùa địa phương phải
tự túc về tài chánh, đây là mặt khó khăn nhứt để cho
ra đời một tổ chức có hệ thống từ cao xuống thấp, từ
trung ương xuống địa phương, vì ai cũng nghĩ rằng mình tự
túc, chứ có ai giúp mình đâu mà phải lắng nghe, hoặc chịu
sự chi phối. Nói như vậy là tại vì cái ngã của mình quá
lớn. Hãy thử nhìn Cơ Đốc Giáo mà xem. Họ không rải các
phái đoàn đi truyền giáo khắp thế giới sao? Các nhà thờ
địa phương của họ không tự túc về tài chánh, mà còn
hơn tự túc. Hoàn cảnh sinh hoạt của họ ở địa phương
không gặp lắm cai nghiệt hay sao? Nhưng tại sao họ làm được?
Tại sao các linh mục chỉ lãnh số lương vừa đủ để chi
tiêu, còn thì tất cả đều được gửi về làm giàu cho Vatican?
Nếu nói rằng các linh mục vì đạo pháp, thì các thầy bên
Phật giáo đã không vì đạo pháp hay sao? Nếu không vì đạo
pháp thì làm sao quý thầy cát ái ly gia cho được?
Vạch
rõ những điều nầy không để chỉ trích một ai, mục đích
duy nhất là mong làm sao cho những người có trách nhiệm hãy
suy nghĩ lại mà thương cho Phật tử và đạo p