LỜI
GIỚI THIỆU
Quyển Đạo Phật, chỉ rõ ra đời sống
Do thành tâm, Thiện Phúc viết nói ra
Cho các hàng, thức giả khắp gần xa
Tìm biết rõ, những người tu học Phật.
Những lời lẽ, với tấm lòng chân thật
Đường học tu, kinh nghiệm đã trải qua
Được thấm mùi, diệu lý của Phật Đà
Đem ích lợi, cho thân tâm vô tận.
Điều trước nhất, là bớt lòng sân hận
Tánh tham lam, bỏn xẻn với si mê
Y con đường Chánh Đạo quyết nương về
Khỏi lầm lạc, theo tà sư ngoại đạo.
Tâm từ ái, cõi lòng đều cởi tháo
Không tỵ hiềm, thù oán ghét ganh ai
Thương chúng sanh, vạn loại khắp muôn loài
Giữ trai giới, để làm gương mô phạm.
Đã biết tu, phải kiên tâm kềm hãm
Tự chế mình, bớt dục vọng muốn ham
Khẩu, ý, thân, tưởng nói với việc làm
Đều hướng thẳng, con đường chân thiện mỹ.
Tu giữ giới, các hạnh nào cũng quý
Miễn làm sao, lợi lạc cả quần sanh
Giúp đở người, giác ngộ hướng về lành
Tu là tỉnh, nương trở về đạo đức.
Nếu biết tu, được vậy là quý nhứt
Hơn cho tiền, tặng bạc thức ăn nhiều
Vật chất gì, rồi cũng phải diệt tiêu
Chỉ tồn tại, là chân tâm Phật tánh.
Người hiểu đạo, phải cần nên xa lánh
Danh lợi tình, tài sắc cuốn lôi hoài
Muôn kiếp đời, cứ lăn lộn trả vay
Đường sanh tử, mãi ra vào lên xuống.
Nay gặp đạo, không lo tu rất uổng
Trễ kiếp nầy, biết kiếp khác ra sao ?
Nay chuông từ, cảnh tỉnh bước nhanh mau
Dù xuất thế, hay nhập gia tại thế.
Miễn biết tu, thì hạnh nào chẳng kể
Muôn vạn đường, đi thẳng đến Tây Phương
Đó là đường, Chánh Đạo phải cần nương
Qui Tam Bảo, Phật Pháp Tăng quý nhứt.
Cách ăn ở, phải thảo ngay chân thật
Biết khiêm nhường, tôn kính trọng lẫn nhau
Quyển sách nầy, chỉ đủ cách thế nào
Người Phật tử, phải làm sao cho đúng.
Giữ trai giới, xem học kinh trì tụng
Nghe pháp băng, để mở trí khai thông
Thường tham thiền, để tịnh lặng trong lòng
Xua nghiệp chướng, dứt trừ tiêu phiền não.
Quyết đi thẳng, theo con đường Chánh Đạo
Sớm muộn gì, cũng được đáo Tây Phương
Quyển sách nầy, thật quý báu không lường
Xin giới thiệu, cùng bốn phương đọc giả.
Xem học tu, mới thật là cao cả
Không phải là, lý thuyết chỉ nói suông
Nghĩa tu hành, thì hai chữ luôn luôn
Hành cho đúng, mới thành công kết quả.
Lời nhắn nhủ, với quý chư đọc giả
Nên góp phần ấn tống để in ra
Cho mọi người, khắp tất cả gần xa
Được nghiên cứu, học tu nhiều phước báu.
California ngày 1 tháng 11 năm 1999
Đức Pháp Chủ
Thiền Sư Thích Giác Nhiên
420.
TU HÀNH CHÂN CHÁNH
Chân
có nghĩa là thiệt, chánh có nghĩa là ngay thẳng, tu là sửa,
là chuyển nghiệp. Như vậy tu hành chân chánh có nghĩa là
sửa thiệt, là thẳng thắn chuyển nghiệp thiệt. Tại sao
tu mà còn tu thiệt tu giả ? Thật tình mà nói, ai cũng muốn
tu thiệt, chứ có ai lại muốn tu giả bao giờ. Ngặt vì có
người muốn tu cho thật mau, tu tắt, hoặc tu cho đắc nọ
đắc kia. Tự những ham muốn mong cầu nầy đã biến cuộc
tu của ta thành cuộc tu giả rồi. Đạo Phật cho rằng kiếp
chúng sanh nói chung và con người nói riêng là đau khổ, bởi
vì con người cũng như những chúng sanh khác, không ai có thể
tránh được bốn nỗi khổ lớn: sanh, già , bịnh, chết. Tuy
cho rằng kiếp nhân sinh là khổ, đạo Phật lại không chủ
trương yếm thế. Ngược lại, đạo Phật chủ trương đi
thẳng vào đời mà diệt khổ. Chính Đức Từ Phụ đã khẳng
định không có Bồ Đề ngoài phiền não, hoặc giả không
có đời thì cũng chả cần có đạo. Như vậy giáo lý nhà
Phật chỉ có giá trị khi nào nó sống động trong con người,
trong đời sống và trong xã hội mà thôi. Đạo Phật đi vào
đời để lành mạnh hóa con người và xã hội, để diệt
tan những đau khổ phiền não, để phế bỏ những con người
bệ rạc và thay vào đó bằng những con người mạnh khỏe
và tráng kiện hơn về cả thể chất lẫn tinh thần. Đạo
Phật đi vào đời bằng thực tiển, chứ không bằng lý luận
hay tri thức. Học Phật tức là tự học ở chính mình, hoặc
ở “tự ngã” xem coi cái tự ngã vi tế có âm thầm
khống chế ta hay không, nếu thấy có, ấy là ta đang đi sai.
Nói như vậy cũng đã lộ rõ thế nào là chân tu. Tuy nhiên
ta nên đi sâu một chút nữa về chân để xem coi thế nào
mới là gạo trắng nước trong.
Thế
nào mới được gọi là chân tu ? Như trên đã nói đem giáo
pháp Phật đi thẳng vào đời mà hằng sống, chứ không lý
luận hay biện giải, ấy là chân tu. Tu theo Phật một thời
gian mà thấy mình và người quanh mình đều tiến theo chiều
hướng thượng, nghĩa là ta đang lành mạnh hóa con người
và xã hội, ấy là chân tu. Chỉ tự thấy lỗi mình để mà
sửa mà tu, chứ không thấy lỗi người, ấy là chân tu. Thấy
người làm điều tà vạy quấy ác, ta không khởi tâm chê
ghét, mà trái lại còn phát lòng thương xót mà khuyên lơn
vỗ về, ấy là chân tu. Thấy người co cụm để bàn luận
thị phi, ta tìm cách hướng người về chánh đạo, ấy là
chân tu. Những ai tu hành liên tục, lo việc đạo pháp không
ngừng nghỉ và bất vụ lợi, ấy là chân tu. Với người
chân tu, con không là nợ, vợ không là oan gia, mà họ là những
người bạn đồng tu tuyệt vời. Người chân tu luôn vâng
giữ lời Phật dạy, luôn bố thí, trì giới, nhẫn nhục và
thiền định. Vâng giữ tuyệt đối chứ không nay giữ mai
không. Người chân tu luôn dứt trừ tham dục bằng tri túc;
luôn dứt trừ tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến và thay vào
đó bằng từ bi hỉ xả. Người chân tu luôn đi trong Bát Chánh
Đạo, luôn hành thập thiện. Người chân tu luôn tự biết
diệt trừ những niệm ác và niệm sân hận trước khi chúng
phát khởi; ngược lại, luôn trưởng dưỡng và làm cho phát
khởi những niệm thiện lành. Người chân tu không khởi tâm
oán ghét kẻ đã gây tổn hại cho ta, mà ngược lại còn thương
xót cho hành động mê muội tà vạy của họ, nên chi lúc nào
có cơ hội là khuyên giải cho họ quay về với nẻo chánh
đường ngay. Người chân tu luôn mở lòng thương xót và tha
thứ, luôn nhu hòa nhẫn nhục, luôn an nhiên trước những tiếng
thị phi và khen chê bên ngoài. Với người chân tu, tiền tài
danh lợi, địa vị quyền uy, công hầu khanh tướng… chỉ
là phù du huyễn ảo, chúng có để chờ mất. Người chân
tu luôn tự cảnh tỉnh rằng mình hãy còn là phàm phu, nên
chi lỗi lầm sai trái hãy còn nhiều, cảnh tỉnh để mà tránh
hoặc để tự sửa chữa những sai trái ấy. Với người chân
tu, trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, hoặc trong khi đang tiếp
xúc vớ ngoại cảnh, đều là những chỗ diệu dụng để
mà tiến tu. Người chân tu thường là trường chay vì đã
nói tu thiệt mà không chịu mở lòng ra thương xót những chúng
sanh nhỏ bé lạc loài hơn mình thì chưa phải là tu thiệt.
Người tu thiệt không đành lòng làm chuyện gì tổn hại chứ
đừng nói chi ăn thịt chúng sanh. Người tu thiệt, ý không
nghĩ ác, miệng không nói ác, thân không tạo tác ác. Người
tu thiệt, trong gia đình luôn trên thuận dưới hòa, ngoài thương
trường không hãm hại lường gạt ai, không cân bảy tám thành
mười. Người tu thiệt luôn hành trì rốt ráo lời Phật dạy,
luôn hành thiện, không hành ác, luôn giữ cho thân khẩu ý
hằng thanh sạch. Người tu thiệt luôn khiêm nhường, chứ
không cống cao ngã mạn, không ỷ mình mạnh, không ỷ mình
thông minh tài giỏi hơn người, không ỷ mình lanh lợi…để
mong cầu tư lợi. Người tu thiệt luôn phát tâm đại bi thương
xót chúng sanh mọi loài. Người ấy không màn chi quả vị,
mà chỉ nguyện cúng dường thân tâm nầy cho giáo pháp cho
chúng sanh. Người tu thiệt luôn tự tu, tự độ chứ không
khẩn cầu thần linh gia hộ, người ấy không mong vào tha lực
để được rước về Tây Phương Cực Lạc. Người tu thiệt
chỉ luôn biết đi theo con đường diệt khổ mà mười phương
ba đời Chư Phật đã đi, chứ quyết không đi theo con đường
nào khác. Người ấy dám can đảm từ bỏ những hạnh phúc
giả tạm trong cõi Ta Bà nầy để tìm về với chân như vĩnh
hằng, luôn tạo duyên lành cho mình và cho người, không tạo
ác nghiệp, ngược lại luôn cố gắng cải thiện đời sống
của mình và của người về cả thể chất lẫn tinh thần.
Với người ấy, hạnh phúc của người là hạnh phúc của
mình. Với người ấy, từ bi bác ái của Chư Phật là phương
pháp duy nhất để diệt khổ cho đời. Người tu thiệt luôn
tìm cách thay tham lam bỏn xẻn bằng bố thí rộng rãi; người
ấy luôn dùng công sức, tiền của, lời ái ngữ đạo đức
của mình để cống hiến trọn vẹn cho Phật pháp và chúng
sanh.
Tóm
lại, Tu thiệt là thiểu dục tri túc, đa dục chẳng phải
là tu thiệt. Tu thiệt là ưa thích thanh tịnh và nhàm chán
loạn động, thân khẩu ý còn ồn ồn ào ào không phải là
tu thiệt. Tu thiệt là tinh tấn hành trì Phật pháp, lười
biếng hoặc nay tu mai nghỉ không phải là tu thiệt. Tu thiệt
là chế ngự thân tâm, buông lung phóng dật không phải là
tu thiệt. Tu thiệt là định tâm nhứt xứ, nghĩ tưởng mông
lung không phải là tu thiệt. Tu thiệt là đi thẳng vào đời
bằng trí tuệ, u u mê mê ám ám muội muội trong mọi tình
huống không phải là tu thiệt. Phật pháp là chân lý cho lẽ
sống, là một đường lối sống tu tuyệt vời đã được
trao truyền từ mười phương ba đời chư Phật.
Nhựa
sống của Phật pháp tràn đến đâu là mầm non nẩy phát.
Người chân tu cũng vậy, đi vào đời với chân lý cho lẽ
sống, đi vào đời để sống để tu một cách trọn vẹn
cho một kiếp người, chứ không đi vào đời bằng hý luận
biện giải. Kẻ nào đi vào đời dù chỉ một ý nghĩ hoặc
một câu của hý luận biện giải, kẻ ấy đang hành tà đạo.
Là Phật tử với tâm nguyện tu thiệt, hãy luôn nhớ lời
Phật dạy trong Kinh Lăng Nghiêm: “Nếu không trì giới mà
tu thiền định thì Tam Muội đâu không thấy, chỉ thấy trần
lao không ra khỏi; dù có trí huệ đi nữa, thì ấy cũng chỉ
là trí huệ của loài ma.” Hãy can đảm và tinh tiến lên
hỡi những người con Phật! Chính Phật đã nói một khi hành
trì nghiêm chỉnh thì ngoài con đường giải thoát, không có
con đường nào khác. Chính Đức Từ Phụ đã từng khẳng
định trong các kinh điển của Ngài: “Biển cả mênh mông
chỉ có một vị, đó là vị mặn của muối. Giáo pháp vô
lượng cũng chỉ có một hương vị duy nhất, đó là hương
vị của giải thoát.” Những người con Phật hãy can đảm
hơn lên để tự hồi đầu nếu thấy mình chưa tu thiệt.
Hãy thật sự gieo nhân Bồ Đề thì cái quả phải gặt ai
trong chúng ta cũng đều biết: Bồ Đề !
421.
NGƯỜI CON PHẬT
Đạo
Phật là đạo cứu khổ ban vui bằng lòng từ bi bao la vô tận
của chư Phật, chư Tổ và những người con Phật hậu bối.
Vì chỉ có từ bi mới cứu được đau khổ và đem lại an
vui thật sự cho mọi người mọi loài mà Phật Tổ đã nêu
gương sáng cho ngàn đởi sau hậu bối noi theo. Ngài đã thương
người hơn thể thương thân. Ngài đã cứu khổ một cách
vô tư bình đẳng, ban vui không phân biệt thân sơ bạn thù.
Ngài đã cứu khổ ban vui một cách hoàn toàn, trọn vẹn và
tự tại.
Chư
Phật là những bậc đại giác nên các Ngài có đầy đủ
đại từ, đại bi, đại trí và đại dũng lăn mình xả thân
vào cõi Ta Bà để cứu độ chúng sanh. Các Ngài đã giải
thoát khỏi mọi hệ lụy của khổ đau phiền não. Các Ngài
đã tự tại an vui. Tuy nhiên, vì thương xót chúng sanh đang
lăn trôi tạo nghiệp cũng như đang lặn ngụp trong biển đời
đau khổ, nên các Ngài đã phát vô thượng tâm quyết dắt
dìu và cứu độ chúng sanh thoát cơn sóng dữ của vô thường
và khổ đau phiền não. Các Ngài đã thấy rõ thân tâm là
huyễn ảo, luôn bị luật vô thường chi phối và hành hạ.
Cả thân lẫn tâm chỉ là một tập hợp của ngũ uẩn bất
tịnh, của tứ đại nhơ nhớp và của vọng tâm sanh diệt
từng sát na. Vậy mà vì u muội si mê nên chúng sanh đã nhận
giả làm chân, nhận thân nầy là trường tồn, tâm nầy là
bất diệt, là thật, là bản ngã. Thậm chí chúng chúng sanh,
nhứt là con người, còn nhận cả ngoại cảnh làm sở hữu
của chính mình. Rồi thì cảnh vẫn trôi, dòng đời vẫn chảy,
chỉ chừa trơ lại những mất còn, thành bại, danh thơm, tiếng
xấu, đẹp xấu, sang hèn… và cũng chính vì thế mà con người
cứ mãi phải khổ đau phiền não. Hạnh nguyện tái sanh độ
đời của chư Bồ Tát thúc đẩy bởi lòng từ bi vô lượng
của các Ngài. Ngược lại, chúng sanh lăn trôi lên xuống,
vào ra trong ba cõi sáu đường là vì sự thúc đẩy của tham,
sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng… Vì tham,
sân, si mà tâm nầy xúi thân hành động bất chấp hậu quả.
Do đó mà nghiệp báo khổ đau phiền não cứ chồng chất lên
nhau, chưa hết khổ đau nầy đã tới phiền não khác. Chư
Phật thành Phật vì các Ngài biết phải tu hành và tiết chế
từ ăn, uống, ngủ, nghỉ. Các Ngài biết thế nào là đủ,
nên các Ngài được an lạc và tự tại. Còn chúng ta nào khác
chi những người đi biển, khát nước mà cứ uống nước
mặn. Chúng ta biết tham ái dục lạc sẽ đưa đến khổ đau
phiền não, thế mà chúng ta vẫn cứ tham ái dục lạc. Chúng
ta vẫn biết tham lam, bỏn xẻn, keo kiết sẽ xô đẩy chúng
ta vào tam đồ lục đạo, thế mà chúng ta vẫn cứ tham lam
bỏn xẻn. Lắm lúc chúng ta cũng nghe và hiểu được những
lời giảng dạy của quý thầy, nhưng ngặt nỗi phàm tâm khó
sửa, nên dù muốn làm hạnh bố thí nhưng phàm tâm cứ trì
kéo, nào là hãy đợi đến khi có được một trăm rồi hẳn
bố thí, bây giờ mới có 99 đồng rưỡi, hãy để dành phòng
khi hữu sự, đến khi được 100 rồi thì vọng tâm bảo phàm
thân hãy đợi đến lúc có được hai trăm rồi hẳn bố thí
cho chắc ăn. Cứ thế mà chúng ta cứ nay lần mai lựa, để
rồi một hôm xấu trời nào đó lăn đùng ra chết, bỏ lại
tất cả, chỉ mang theo những keo kiết bỏn xẻn cho kiếp lai
sanh. Chúng ta nào khác chi “người ngu” để dành sữa trong
vú bò như lời Phật dẫn dụ trong Kinh Bách Dụ vậy. Người
con Phật thuần thành phải biết tranh thủ thời gian nào mình
có được để làm những việc đáng làm ngay từ bây giờ.
Coi vậy mà chúng ta không còn nhiều thì giờ nữa đâu quý
vị ạ ! Gió vô thường vẫn thổi, mưa vô thường vẫn rơi,
quỷ vô thường chẳng chờ chẳng đợi ai đâu.
Chư
Phật nhờ trì trai giữ giới và tinh cần nhẫn nhục mà các
Ngài vượt thoát được sông mê bể khổ. Còn chúng ta chỉ
biết nói chứ chưa bao giờ biết tu. Chúng ta nào có khác chi
những con dã tràng se cát biển Đông, hoặc giả những kẻ
ngu muội đang xây lầu trên cát, hoặc chỉ muốn xây lầu
năm bảy tầng mà không chịu đóng móng xây cừ cho thật vững
chắc. Tâm chúng ta trây lười giải đãi, không chịu tu trì,
mà miệng thì cứ oang oát bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
thiền định… Thậm chí có kẻ còn muốn “ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm” để đi thẳng đến Phật quả, mà không
cần trải qua Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm hay A La Hán.
Thật tình mà nói, chúng ta, những chúng sanh đã lăn trôi,
đang lăn trôi và sẽ tiếp tục lăn trôi nếu chúng ta cứ
mãi “túy sanh mộng tử.” Phật tử chơn thuần nên luôn
nhớ rằng “tu bằng cái miệng,” hoặc “tu bằng hình tướng
bề ngoài” sẽ chẳng đưa chúng ta đến đâu cả, ngoại
trừ tam đồ lục đạo. Muốn vượt thoát Ta Bà mà chúng ta
không thật tâm từ bỏ lửa dữ tham, sân, si, mạn, nghi, tà
kiến, sát, đạo, dâm, vọng thì không thể nào chúng ta vượt
thoát được đâu. Cho dù có đầu tròn áo vuông mà không thực
tâm, thì cũng chỉ là cách tu hình tướng bề ngoài không hơn
không kém, và cửa ngỏ kế tiếp cũng vẫn là tam đồ ác
đạo mà thôi.
Chư
Phật thành đạt quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác
vì trong nhiều đời tiền kiếp quý Ngài đã nhiếp tâm tu
trì. Mỗi khi phạm phải lầm lỗi là quý Ngài thành khẩn
nhận và sửa lỗi. Còn chúng ta, chẳng những không hổ ngươi
nhận lỗi, mà còn trở lại nổi “trận lôi đình” với
những ai thương xót chỉ dạy lỗi lầm của ta. Lắm khi còn
manh tâm báo phục nữa là khác. Phật tử chơn thuần hãy luôn
nhớ lời Phật dạy: “Trên đời nầy có hai hạng người
cao quý như nhau: một là những ai chưa bao giờ phạm lỗi,
hai là những ai phạm lỗi mà biết nhận và sửa lỗi.” Người
con Phật đang tu vẫn còn là những phàm phu thì ai cũng vậy,
trăm năm chưa chắc mình lành, nên luôn vâng giữ lời Phật
dạy, mỗi khi vấp phải lỗi lầm là mỗi lần học thêm kinh
nghiệm quý báu làm hành trang cho cuộc hành trình trở về
đất Phật của chính mình, chứ không cố chấp khư khư,
cũng như quyết không đui tu mù luyện. Hễ có sai thì thành
thật nhận sai và sửa sai, như vậy cơ hội toàn thiện sẽ
gần kề và con đường giải thoát sẽ không xa.
Chúng
ta ai lại chẳng biết gương hết bụi thì gương sáng, trăng
hết mây thì trăng tỏ, chúng sanh hết khổ đau phiền não
thì chúng sanh thành Phật, hoặc tham sân si bị tận diệt thì
từ bi hỉ xả hiển bày. Khổ nỗi vì miếng mồi danh lợi
mà chúng ta đành để cho bại hoại thanh danh, vì tham ái dục
lạc mà chúng ta đem rang đem nướng hết những hạt giống
Bồ Đề; vì ngã mạn cống cao mà chúng ta cam tâm làm ma Ba
Tuần, rảo bước đó đây hủy báng Phật pháp; vì cố chấp
(ngã, tướng, pháp) mà thay vì nhiếp tâm dùng Phật dược
đối trị thói quen mê lầm thì chúng ta lại buông lung cho
phiền não, sân hận, và si mê tự do bộc phát; thay vì nhờm
gớm bất tịnh thì chúng ta lại thân cận sắc dục để kết
thêm nghiệp báo lăn trôi trong vòng tử sanh sanh tử. Phật
tử thuần thành nên luôn nhớ lời Phật dạy trong Kinh Bách
Dụ: “Chúng sanh trong cõi Ta Bà giống như những con bệnh
trầm kha. Nếu không khéo dùng thuốc, thì thuốc gây cho bệnh
thêm nặng. Cũng như vậy, nếu không khéo tu pháp lành, thì
càng tăng thêm nghiệp lụy.” Hãy dùng trí huệ Bát Nhã mà
chư Phật đã trao truyền năm xưa để dẫm nát si mê u muội
của Ta Bà, để không tiếp tục nhận giả làm chân, nhận
bản ngã nhỏ nhen ích kỷ làm sở hữu thường hằng,
và cuối cùng là để xa lìa ác nghiệp hầu tìm về với khiêm
cung từ tốn, từ bi hỉ xả, bác ái vị tha, ái ngữ lợi
hành…
Hỡi
những người con Phật ! Sự thật của kiếp con người đã
quá rõ, dù giàu sang phú quí đến bực nào đi nữa cũng không
chạy khỏi sự chi phối của luật vô thường. Thân nầy,
tâm nầy vô thường từng sát na, từng hơi thở. Một hơi
thở ra mà không thở vào thì đã sang kiếp khác chứ còn chi
? Không có người nào sanh ra mà không già, bịnh, chết. Cũng
như thế, trong trời đất không có cái chi là chẳng hư hoại.
Ai trong chúng ta có thể tránh được già, bịnh, chết, ngay
cả thân tứ đại của Phật ? Thế mà chúng ta cứ vùi đầu
vào trong cuộc đấu trường, giàu hiếp nghèo, sang hiếp hèn,
mạnh hiếp yếu, chúng ta cứ tiếp tục nuôi cái sống của
mình bằng cái chết của người hoặc bằng cách giết hại
chúng sanh; xây dựng hạnh phúc của mình trên đau khổ của
người khác. Có thấy không hỡi những người con Phật ? Ngoài
những cái khổ của già, bịnh, chết ra chúng ta còn phải
đương đầu với không biết là bao nhiêu thứ “họa vô đơn
chí” khác nữa. Một ngày mà chúng ta không hành thiện, là
ngày ấy chúng ta hành ác và mang tai họa đến cho mình và
cho người. Ngoài ra, phước đức và tai họa là hai anh em song
sinh, chúng đi với nhau như hình với bóng. Hễ làm việc thiện
việc phước mà sanh tâm cống cao ngã mạn thì hãy coi
chừng tai họa ập tới liền một khi. Hễ bố thí với tâm
mong cầu lợi dụng, thì cũng hãy coi chừng tai họa sẽ không
tha.
Đức
Phật đã ân cần dạy dỗ tứ chúng trong các kinh điển của
Ngài là thân người khó được, Phật pháp khó gặp. Nên chi
đã được thân người, đã gặp Phật pháp, Phật tử chơn
thuần phải cố mà y nương theo chánh pháp để vượt qua bể
khổ sông mê của cõi Ta Bà ngũ trược ác thế nầy. Người
con Phật phải cố vun bồi đạo đức cũng như trí huệ Bát
Nhã, quyết phen nầy vượt thoát chứ không vì phú quí giàu
sang của đời sau mà chỉ làm phước báu rồi quên bẳng đi
phần tu dưỡng tâm linh. Chính Đức Phật đã dạy, cõi trời
cũng không tránh khỏi cảnh sanh, già, bịnh, chết. Bởi thế
cho nên dù xuất gia hay tại gia, quyết không vì hình tướng
mà tu đạo. Ngược lại, phải cầu thoát ly sanh tử của ba
nẻo sáu đường mà tu đạo. Người con Phật quyết không
chìu lụy thân nầy một cách thái quá, cũng không bỏ bê hành
hạ thân nầy bằng khổ hạnh ép xác. Người con Phật quyết
mượn huyễn thân huyễn tâm nầy mà tu tập. Người con Phật
chơn thuần, nếu vì nghiệp chướng hãy còn sâu dầy, hãy
còn phải nặng gánh gia đình với chồng vợ, con cái. Người
Phật tử tại gia, dù thấy rằng vạn pháp đều hư huyễn,
rốt rồi chỉ có chính mình chịu trách nhiệm cho những hành
động mình làm phải, nhưng đã tạo nghiệp thì phải trả,
nên chi Phật tử tại gia phải cố mà dắt dìu vợ chồng
con cái thành những người bạn đồng tu và đồng giải nghiệp
cho nhau. Những đứa con tại gia của Phật thân vẫn phải
làm việc để nuôi mình, nuôi gia đình và hộ trì Tam Bảo,
nhưng chỉ làm những việc thiện lành, chỉ làm những gì
nên làm và phải làm. Miệng nầy vẫn phải nói, nhưng chỉ
nói những lời ái ngôn ái ngữ, chứ không nói lời hại ai,
không nói lời xằng bậy, không ngồi lê đôi mách, không nói
chuyện vô bổ, lại càng không nên tới chùa bàn chuyện gẫu
phá hoại sự thanh tịnh của thiền môn. Những người con
Phật tại gia vẫn phải suy nghĩ trong cuộc sống bon chen chật
vật hôm nay, nhưng chỉ suy nghĩ những chuyện có lợi cho mình,
cho người và cho đời, chứ không suy nghĩ xằng bậy. Người
con Phật chơn thuần phải luôn nhớ rằng: “Phật pháp rộng
sâu rất nhiệm mầu, trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu.”
Khó tìm cầu cũng tỉ như rùa mù ngoi lên từ giữa biển khơi
mà tìm được bọng cây để chui vào, nhờ đó mà qua được
bến bờ bên kia. Người con Phật nghe thấy được Phật pháp
mà không chịu y nương theo đó để tu trì thì quả
là uổng cho một kiếp người luống qua. Đã từ vô lượng
kiếp ta lăn trôi, hễ mở mắt là chạy theo ngọai cảnh, vừa
thức dậy thì tai đã vãnh lên để nghe những âm thanh của
ngoại trần. Lắm khi giấc điệp còn nồng mà ý nầy đã
dong ruỗi qua một chuỗi dài chiêm bao mộng mị, mộng đẹp
thì ít mà ác mộng thì nhiều. Chúng sanh chúng ta là như vậy
đó, thân thì buông lung phóng túng, tâm thì dong ruỗi vô định,
miệng thì oang oát không ngừng. Chúng ta chỉ luôn tìm cầu
những cái không tưởng, còn đạo đức là nền tảng cho cá
nhân, gia đình và xã hội thì chúng ta lại tìm cách xa
lìa. Hãy gẫm lại mà xem, nếu chúng ta sống chỉ để ăn,
uống, ngủ, nghỉ buông lung, phóng túng, tranh hơn tranh thua
nhau đến nỗi phải đối xử với nhau một cách tàn tệ thì
chúng ta nào có khác chi những con thú dữ nơi rừng sâu núi
thẳm ? Là người con Phật, chúng ta cương quyết chối bỏ
cuộc sống như vậy. Ngược lại, chúng ta phải biết lắng
nghe những lời dạy dỗ ân cần của chư Phật chư Tổ. Phải
hiểu rõ nguồn gốc của khổ đau phiền não và tội ác chính
là lòng tham dục vô cùng vô tận của chúng sanh. Biết như
vậy để tu trì theo hạnh tri túc của Phật Tổ, để ít nhất
dù chưa giải thoát trong kiếp nầy, chúng ta cũng đã ngự
trị được lòng tham dục, hoặc giả thoát khỏi nanh vuốt
của cơn “túy sanh mộng tử,” hay biển lửa “tham, sân,
si…”
Phật
pháp nói dễ khó làm, dễ đến độ đứa bé lên năm lên
bảy vẫn nói được, nhưng khó làm đến độ tu hành vài
chục năm vẫn còn tìm đường hoàn tục. Chỉ mỗi một câu
“bỏ dữ làm lành, tự tịnh kỳ ý” thế mà phải mất
đến ba a tăng kỳ kiếp chúng ta vẫn chưa làm được. Người
con Phật chơn thuần phải thấy cho rõ những lời Phật dạy
trong Kinh A Nan Vấn Sự Phật Kiết Hung: “Mọi người muốn
tiến tu hướng thượng phải trì kinh giữ giới và cùng khuyến
khích nhau tu trên đường đạo. Đạo chẳng thể chẳng học,
kinh chẳng thể chẳng đọc, điều thiện dù nhỏ chẳng thể
chẳng làm. Điều ác dù nhỏ chẳng thể dễ ngươi làm càn.”
Chúng sanh đã lăn trôi trong vạn triệu kiếp luân hồi cũng
chỉ vì không chịu lắng nghe lời Phật dạy, không chế ngự
được phàm tâm vọng niệm. Chỉ vì cam tâm làm nô lệ cho
vọng niệm mà tâm nầy cứ than phiền trách móc, giận hờn
ganh ghét, đố kỵ hơn thua… Có thấy chưa hỡi những người
con Phật ? Nếu đã thấy rồi thì xin mọi người hãy tưởng
nhớ đến Phật ngay từ bây giờ, ngay lúc hãy còn có khả
năng tưởng nhớ, ngay lúc mắt hãy còn thấy, tai hãy còn nghe,
thân tâm hãy còn linh mẫn và khang kiện. Vì chỉ có lúc nầy
chúng ta mới có đủ khả năng cởi bỏ tất cả những trói
buộc của tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm,
vọng. Nghĩa là cởi bỏ mọi phiền trược của cuộc đời.
Những người con Phật chơn thuần quyết từ chối cuộc sống
trong ích kỷ bỏn xẻn, để rồi cũng lại chết trong bỏn
xẻn ích kỷ. Công hầu khanh tướng, danh vọng quyền uy nào
khác chi những lọn sóng triều, lên lên xuống xuống. Giàu
sang phú quí tợ như sương mai trên đầu cỏ. Tất cả rồi
sẽ bị bỏ lại, chỉ còn lại tâm thức nầy rồi sẽ phải
theo ta đi vào tam đồ lục đạo. Hãy thấy cho rõ hỡi những
người con Phật ! Hãy cố mà bỏ dữ làm lành, cố mà tu luyện
phước huệ, để hiện đời an lạc hạnh phúc, khi rũ bỏ
thân tứ đại nầy sẽ đi về cõi tịnh tịch, nơi không còn
bị chi phối bởi sanh diệt vô thường.
422.
SỐNG VỚI TRI KIẾN PHẬT
Đức
Thích Tôn Từ Phụ thị hiện chỉ với một mục đích duy
nhứt: khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Nhưng
thế nào là ngộ nhập tri kiến Phật ? Tri kiến Phật là chơn
lý, như vậy ngộ nhập tri kiến Phật là ngộ nhập chơn lý,
là đi vào con đường giác ngộ sự thật, để cuối cùng
hòa nhập vào bản thể của chư Phật, thấu đáo sự thật
về vạn hữu vô thường và sống hòa nhập với thiên nhiên.
Từ ngộ nhập tri kiến Phật đến hòa nhập bản thể chư
Phật, đường hãy còn xa. Tuy nhiên, nếu không có ngộ nhập
thì không có hòa nhập. Muốn ngộ nhập tri kiến Phật phải
làm gì? Lăn xả vào đời, tích cực phục vụ quần sanh, hay
đến chùa xuất gia thọ giới, hay vào rừng sâu núi thẳm
xa lánh nẻo đời ? Tất cả đều là những phương tiện,
hoặc tích cực hoặc tiêu cực, nhằm đưa ta tìm về tri kiến
Phật mà chúng ta đã một lần dại dột xa rời. Dù thế nào
đi nữa, xuất gia hay tại gia, hễ một ngày một giờ chịu
tu tập, là ngày giờ đó hằng sống thực với tri kiến Phật.
Dù tụng chỉ một thời kinh, cũng nguyện rằng tụng kinh nầy
để được thâm nhập kinh tạng, trí huệ như biển để được
giác ngộ chơn tánh. Dù chỉ ngồi năm hay mười phút thiền,
cũng nguyện rằng ngồi thiền để cho thân tâm thanh tịnh,
thân khẩu ý trong sạch, để ngày nào đó cũng được hòa
nhập vào tánh rỗng lặng của chư Phật mười phương. Dù
lăn xả vào đời, vẫn luôn vâng giữ những lởi Phật dạy,
luôn đi thẳng vào đời bằng chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm
và chánh định; luôn tinh cần trưởng dưỡng điều thiện
và tận diệt điều ác. Được như thế thì dù ngoài đời
hay trong đạo, chúng ta luôn có dịp trở về sống lại với
tri kiến Phật. Được như thế dù chưa có duyên gặp được
minh sư hoặc thiện tri thức, ít nhứt chúng ta cũng đang ngày
ngày lần bước trên nẻo Bồ Đề của chư Phật. Kỳ thật
ngày nay, ngày của gần hai ngàn sáu trăm năm xa Phật, ngoài
nghiệp chướng sâu dầy, chúng sanh còn bị quá nhiều sự
lừa đảo của ma quỷ. Ma quỷ thời nay cũng hô hào tu tập,
nhưng ngay cả ngũ giới thập thiện chưa chắc chúng đã hành
trì được chút nào. Miệng nầy hô hào không giết hại, nhưng
cũng chính miệng nầy đã lùa vào không biết bao nhiêu là
thân mạng chúng sanh. Thân không cướp đêm thì cũng cướp
ngày. Dâm dục thì chánh tà đều có đủ. Mở miệng ra thì
mười câu đã có đến chín câu là nói láo, nói khoét, nói
lời thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời đâm thọc. Dù
bên ngoài có trời quang mây tạnh, nhưng lòng nầy vẫn cứ
mưa gió bão bùng. Dù người có nói thế nào ta vẫn cứ giân
dữ sân hận. Chúng sanh cứ thế mà hết ngày này qua năm khác
mãi bị dập vùi trong mưa bão của tham, sân, si, mạn, nghi,
tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng… Cứ thế mà hại người,
người hại, oán người, người oán, chưỡi người, người
chưỡi, ghét người, người ghét; đố kỵ người, người
đố kỵ; hoặc đánh người, người đánh… Ôi cái vòng lẩn
quẩn nầy cứ thế mà xoay vần và xoay vần mãi mãi. Ở đời
ai lại chẳng biết “bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu
xuất,” nhưng mấy ai tránh được bệnh hoạn và tai họa
đâu ? Từ gần hai ngàn sáu trăm năm trước, Đức Thích Tôn
Từ Phụ đã nhắc đi nhắc lại với chúng đệ tử rằng:
“Ở đời vì không giữ được cái miệng, không nói đúng
thời, không ăn đúng món… mà chúng sanh phải mang bệnh mang
họa. Các con phải luôn ráng giữ gìn cái miệng trong mọi
tình huống, chứ không nên khinh xuất.” Phật đã dạy quá
rõ ràng như vậy, thế nhưng chúng ta nài biết kinh vì, cứ
lăn trôi tạo nghiệp, cứ để cho một đời luống qua vô
ích, để rồi trong những giây phút cuối cùng, có ân hận
sám hối, thì chuyện cũng đã rồi. Biết sanh lão bịnh tử
là đáng sợ mà không chịu kinh vì thì biết để làm gì ?
Người con Phật chơn thuần hãy nên luôn cẩn trọng, nên luôn
vâng giữ những lời Phật dạy, thân luôn làm những điều
có lợi cho mình, cho người và cho đời; miệng luôn nói điều
phải; ý luôn nghĩ đến những sự tốt lành… Làm được
như vậy là hằng sống với tri kiến Phật. Sống với tri
kiến Phật không là một cái gì cao xa không làm được. Thấy
ai khổ mình cảm thông, khuyên lơn, an ủi, vỗ về. Thấy ai
sợ, mình giúp trấn an cho người bớt sợ. Thấy ai đói, mình
chia xẻ cho người chén cơm cái bánh. Thấy ai khát, mình cho
uống. Thấy ai lạnh lẻo, mình chia xẻ cái mền tấm áo…Làm
tất cả những gì mình có thể làm được từ dắt một người
qua đường, đến lượm nhặt cây gai cái miễng giữa đường,
hoặc cứu giúp những chú kiến đang bị kẹt trong vũng nước…Đó
là mình đang sống với tri kiến Phật. Hãy bình tâm suy nghĩ
hỡi những người con Phật ! Chúng ta cứ mãi xoay vần tụ
tán, mở đầu trên nôi, chấm dứt dưới mồ, hết sáng rồi
tối, hết làm heo rồi làm trâu, hết làm trâu đến làm ngựa,
làm sâu làm bọ… Nay có duyên may đại hạnh được làm người,
không cớ gì mà chúng ta không chịutỉnh giấc u mê. Đức
Từ Phụ đã vì thương xót chúng sanh mọi loài mà khai thị
cho chúng thấy được thế nào là khổ đau của một kiếp
lăn trôi và đâu là nẻo giác ngộ Bồ Đề cũng như giải
thoát tự tại. Thế thì chúng ta còn chần chờ gì nữa mà
không chịu quay về sống với tri kiến Phật ? Sống với tri
kiến Phật không phải để thấy vạn sự vạn vật vô thường
như bóng nước chóng tan để rồi xa lánh sự đời. Ngược
lại, càng thấy chúng ta càng tích cực đi thẳng vào đời
hơn để đoạn diệt phiền não huyễn tưởng, càng thấy sự
huyễn giả của cuộc đời, chúng ta càng thương mình thương
người và thương đời nhiều hơn. Làm được như vậy là
mình đang sống với tri kiến Phật. Khi biết mình lầm lỗi,
dám nhận lỗi và sửa lỗi, tự nhiên mọi ác nghiệp sẽ
tiêu tan, mọi pháp lành sẽ tăng trưởng và tâm ý thanh tịnh.
Làm được như vậy là mình đang sống với tri kiến Phật.
Biết được hình tướng bên ngoài chỉ là huyễn giả, nhưng
lại có khả năng làm loạn động tâm hồn ta, thế nên ta
quyết quay vào bên trong mà tự thanh tịnh. Biết được sân
hận là nguồn gốc gây tội tạo nghiệp nên chúng ta cố gắng
nhu hòa nhẫn nhục, ấy là hằng sống với tri kiến Phật.
Luôn
nhớ rằng dù cảnh đời có êm đẹp bao nhiêu, rồi thì cảnh
ấy cũng qua đi; gia đình xum họp hôm nay rồi ngày mai cũng
phải xa lìa; rượu ngon thịt béo rồi thân nầy cũng phải
về với cát bụi; đàn ca xướng hát đêm nay rồi đêm mai
cũng phải trống vắng cô quạnh; giàu sang phú quí, công hầu
khanh tướng, quyền uy thế phiệt, nhà cao cửa rộng, quần
là áo lụa, kẻ hầu người hạ… mấy ai lột da sống đời
để được hưởng thụ những thứ nầy ? Đời người trong
cõi Ta Bà không hơn gì một giấc mơ, mới xuân đó rồi hạ,
rồi thu, rồi đông; mới trẻ đó rồi già đó; mới khỏe
đó rồi bịnh đó. Tất cả những thương ghét, buồn vui,
thành bại, hơn thua, được mất, vinh nhục, ái dục, ham muốn…
chỉ là nguồn gốc của lo sợ, khổ đau và phiền não. Chưa
có thì quyết tìm cho có, có rồi lại nơm nớp lo sợ mất
mát, nhưng sợ vẫn không thoát, hễ cái gì có là chờ mất,
cái gì sanh là chờ diệt. Ôm ấp sở hữu để rồi khi mất
mát là khổ đau phiền não. Con đường duy nhứt để
dẹp tan những ô nhiễm trần thế là phải quay trở về sống
với tri kiến Phật. Những người con Phật chơn thuần không
nên khinh xuất trong cuộc sống hằng ngày vì một nhân đã
tạo, dù lâu đến mấy a tăng kỳ cũng không mất, đến lúc
nào đó đủ duyên, thì quả báo phải tới, không thể nghĩ
bàn. Thế nên người con Phật, phàm trước khi làm bất cứ
việc gì cũng phải nghĩ tới hậu quả của nó.
Ngoài
ra, người biết sống với tri kiến Phật là người biết
bình tâm chấp nhận cái quả báo đương thời vì quả báo
ấy được lập thành bởi chính nhân mà mình đã gây ra do
chính mình trong hiện tại hoặc trong một hay nhiều đời kiếp
trong quá khứ. Thế nên người ấy vui lòng trả quả, trả
một cách tự nguyện, vui vẻ vì nợ thế gian còn phải trả,
huống là nợ luân hồi ! Người biết sống với tri kiến
Phật luôn biết luôn nhớ rằng thân vô thường, đời giả
tạm, từng phút ta sống sống là từng phút ta chết, một
ngày trôi qua là một ngày ta đang đi gần đến nhà mồ. Biết
để không lần lựa hẹn hò đến tuổi già mới học đạo,
vì mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xuân. Người chịu sống với
tri kiến Phật dù chỉ một ngày thì ngày ấy vẫn giá trị
vẫn đáng trân quí hơn những kẻ một đời chua ngoa tà vạy.
Dẫu biết rằng không phải một đời một kiếp sống với
tri kiến kiến Phật mà được thành Phật; tuy nhiên, con đường
duy nhứt để đi đến quả vị Phật là phải sống với tri
kiến Phật. Cũng như vậy, việc tu tập không phải là việc
của một ngày một bữa, mà phải vận công tu hành trong nhiều
đời nhiều kiếp, tu không ngừng nghỉ, không mỏi mệt, không
thối chuyển, phải từng bước vững chảy và an lạc.
Giáo
lý nhà Phật dù vi diệu thế mấy mà từng cá nhân từng gia
đình không chịu sống với tri kiến Phật, thì vẫn phải
đọa đày trong trầm luân khổ hãi, vẫn không biết đâu là
đường chánh nẻo tà, đâu là hướng thượng còn đâu là
sa đọa, đâu là khổ đau đâu là hạnh phúc, đâu là chánh
tín đâu là mê tín, vân vân. Chỉ có hằng sống với tri kiến
Phật ta mới thấy chư hành là vô thường, chư pháp là vô
ngã, chỉ có sự tịnh tịch của Niết Bàn là chân giải thoát.
Chỉ có hằng sống với tri kiến Phật ta mới dám can đảm
buông bỏ những gì mà Đức Thích Tôn Từ Phụ đã buông bỏ
năm xưa, từ quyền uy tột đỉnh đến lầu đài cung điện
, xa hoa vật chất…Chỉ có hằng sống với tri kiến Phật
ta mới thấy được Phật là một bậc đại giác đáng cho
ta noi theo, từ đó ta mới dám phát tâm đời đời kiếp kiếp
lấy chánh pháp làm thầy, làm đuốc soi đường dẫn lối
cho ta trên bước đường giải thoát. Chỉ có hằng sống với
tri kiến Phật chúng ta mới có đủ khả năng hiểu biết và
vượt thắng tất cả mọi chướng ngại của thường tình
thế tục, vô nhiễm trong tất cả các pháp và chịu buông
bỏ cũng như tận diệt những lậu hoặc. Người biết hằng
sống với tri kiến Phật thì hiện đời chấm dứt được
khổ đau, cuộc sống hạnh phúc sẽ theo ta mãi trong đời nầy,
vẫn đến đời sau và cho đến khi nào chúng ta có thể hoàn
tất những gì còn dang dở của sự nghiệp giác ngộ và giải
thoát. Người biết hằng sống với tri kiến Phật luôn nhận
biết rằng ở đâu có sanh già bịnh chết là ở đó có khổ
đau phiền não, ở đâu có sầu muộn bi ai, ngũ uẩn thạnh
suy, tinh thần căng thẳng, phải gặp gở những gì mình không
thích, phải xa lìa những gì mình yêu mến, không toại nguyện
những gì mình ao ước, ở đó có khổ đau phiền não. Chính
vì thế mà con người ấy luôn là chủ nhân của chính mình,
luôn thấy chân tánh của bổn thể chân như, luôn biết dùng
giáo lý nhà Phật để gột rửa những cấu uế nhiễm trược,
luôn tu tâm dưỡng tánh cho thân tâm được thanh tịnh, luôn
kết bồ đề quyến thuộc bất cứ ở đâu và bất cứ lúc
nào để chẳng những mình an lạc, mà người và đời cũng
được an lạc. Người biết hằng sống với tri kiến Phật
là người biết thật sự sống với những lời Phât dạy.
Thật vậy, được thân người đã là khó, làm được những
lời Phật dạy lại càng khó hơn. Tuy nhiên, trong Kinh Hoa Nghiêm
Đức Từ Phụ đã khẳng định: “Con người là hơn cả vì
con người có khả năng làm nên các pháp lành.” Đức Phật
muốn nhắn nhủ gì với chúng ta hỡi những người con Phật
? Dù được thân người là khó, dù làm được những lời
Phật dạy là khó, nhưng con người có thể làm được. Có
điều là chúng ta có chịu kham nhẫn làm làm những chuyện
khó làm nầy hay không mà thôi. Hãy bình tâm suy nghĩ cho kỹ
hỡi những người con Phật ! Chẳng lẽ chúng ta cứ mãi trầm
luân sanh tử ? Chẳng lẽ chúng ta cứ mãi rày đây mai đó
làm khách phong trần ? Không đâu hỡi những người con Phật
! Chúng ta có Phật, có tri kiến Phật, có những lời chỉ
giáo tuyệt vời của Ngài, có những trưởng tử Như Lai sẳn
sàng hy sinh sanh mạng vì hạnh phúc của quần sanh. Tuy nhiên,
muốn sống thực với tri kiến Phật, chúng ta không có con
đường nào ngoài thực nghiệm tự thân. Mười phương ba đời
chư Phật đã giải thoát bằng con đường nầy, chúng ta há
có con đường nào khác sao quý vị ? Cửa vào đạo phải là
con đường thực nghiệm tự thân, chứ không nói, không hí
luận biện giải vì tri kiến Phật không thể nào đạt được
bằng ngôn ngữ văn tự. Nói một đời không bằng tự mình
hành trì một sát na. Cũng như vậy, mặc áo đẹp không bao
giờ làm cho thân tâm nầy đẹp. Nói hay không bằng tự chủ
động những hành vi tạo tác để biến những loạn động
thành an lạc. Nói thao thao bất uyệt mà gặp cảnh vẫn sanh
tâm thì theo nhà Phật, đó chỉ những con ma trơi nhà Thiền.
Người biết hằng sống với tri kiến Phật là người luôn
an nhiên tự tại trước mọi tình huống từ hơn thua, được
mất, thịnh suy, thành bại, vinh nhục… y như Ngài Vạn Hạnh
Thiền Sư năm xưa:
“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.”
Quả
tình Ngài Vạn Hạnh đã sống đã tu trọn vẹn với tri kiến
Phật nên Ngài mới cương quyết khẳng định rằng thịnh
suy chả là cái gì cả, thịnh suy chỉ là sương mai trên đầu
cỏ không hơn không kém. Hãy bình tâm suy gẫm lại chính mình
xem coi vọng tâm tham lam, ích kỷ, hận thù, ganh ghét, tham đắm,
si mê… đã làm được gì cho chúng ta ? Có chăng chỉ là những
hạnh phúc tạm bợ mong manh để rồi một đời hay nhiều
đời khổ đau phiền não và lăn trôi . Có chăng chỉ là khổ
kụy đọa đày, có chăng chỉ là một đời sống say chết
mộng trong loạn động đảo điên. Người biết hằng sống
với tri kiến Phật là người biết tự mình cởi trói vì
nếu tự mình không cởi trói thì ngay cả Phật cũng chỉ biết
nhìn mà thương xót chứ không cứu được. Người biết hằng
sống với tri kiến Phật vẫn đi thẳng vào đời, vẫn tạo
nên sự nghiệp nhưng không bị cuốn trôi, không bị sự nghiệp
cột trói. Con người ấy dám đi thẳng vào đời, dẫm đạp
lên những cái vô thường để tìm về chốn chơn thường.
Con người ấy vẫn tạo ra tiền của vật chất, nhưng không
keo kiết bỏn xẻn. Ngược lại, người ấy biết đem tiền
của ra bố thí cho những người cùng khổ. Người hằng sống
với tri kiến Phật luôn biết phản quang tự kỷ để thấy
trọn vẹn tâm địa của chính mình, nên tâm hồn luôn an ổn,
mỗi bước chân đi nếu chưa được là sen nở như Phật,
thì những bước chân ấy cũng tràn đầy an lành, vị tha bác
ái. Cuộc sống của người có tri kiến Phật không xây bằng
tham lam, sân hận, si mê, đố kỵ, ganh ghét, ích kỷ, bỏn
xẻn, ngã mạn, cống cao, nghi hoặc, tà kiến…nên cuộc sống
ấy thật đơn giản mà đầy đạo vị. Con người ấy luôn
có đầy đủ những đức tánh hỷ xả, bố thí, lợi tha.
Người biết sống với tri kiến Phật luôn có đầy đủ đại
hùng, đại lực để đoạn trừ tất cả tham, sân, si từ
đó nguồn tâm luôn thanh tịnh, trí huệ luôn sáng ngời. Con
người ấy đang từ từ diệt bớt ác nghiệp và đồng thời
phát triển nguyện lực đại bi của mười phương tam thế
Phật. Chính vì thế nên dẫu không cầu vãng sanh, người ấy
vẫn đang ngự trị ngay trên Thế Giới Cực Lạc vì cả ba
nghiệp thân, khẩu, ý đã trọn vẹn thanh sạch.
Tóm
lại, người hằng sống với tri kiến Phật thì bản thân
luôn hài hòa an lạc và gia đình luôn hạnh phúc. Chính nhờ
hằng sống với tri kiến Phật mà sự liên hệ giữa con người,
thiên nhiên và vũ trụ đều được thăng bằng một cách trọn
vẹn. Con người ấy đang làm gì nếu không là đang vượt
qua mọi công lệ sanh, già, bịnh, chết trong quanh quẩn của
sáu đường ba nẻo ? Chẳng những thế, tham lam, sân hận và
si mê cũng không còn ràng buộc được dù chỉ là mảy
may. Những người con Phật chơn thuần phải luôn tâm nguyện
tâm niệm hằng sống với tri kiến Phật vì đó là cách sống
duy nhất đưa chúng ta đến bến bờ giác ngộ và giải thoát
rốt ráo.
423.
HÀNH GIẢ
Từ
vô thỉ chúng sanh đã lăn trôi tạo nghiệp trong vòng luân
hồi sanh tử. Chúng ta nào khác chi những người đang bị trúng
tên độc, từ độc tham, sân, si, đến độc mạn, nghi, tà
kiến, sát, đạo, dâm, vọng… Thế nhưng chúng ta nào biết
kinh vì. Đã không chịu rút tên độc ra và chữa trị vết
thương thì thôi, đàng này chúng ta còn loanh quanh lẩn quẩn
hỏi xem tên do ai bắn, tên làm bằng sắt, thép, đồng hay
thau ? Vân vân và vân vân. Chính vì thương xót chúng sanh mà
Đức Phật đã thị hiện. Ngài đã đem hết giáo pháp thậm
thâm của nhà Phật mà trao truyền lại cho mọi người. Di
huấn cuối cùng của Ngài trướ khi nhâp diệt là khuyên nhủ
chúng sanh phải nổ lực kiên trì. Ngài đã khẳng định rằng
không có sự giải thoát hay thanh lọc tâm ý nào có thể thực
hiện được nếu không có nổ lực của cá nhân. Nếu cá
nhân tiếp tục u mê thì gia đình phải đồ khổ, bằng hữu
phải nghi kỵ và xã hội phải phân ly. Chừng nào cá nhân
chưa chịu rút mũi tên độc tham, sân, si ra và chữa trị cho
lành vết thương, thì chừng đó gia đình chưa thật sự có
hạnh phúc, và xã hội chưa được yên vui. Chừng nào mà chúng
ta chưa chịu chiến đấu chống lại những dục vọng tham
ái nơi chính mình, chừng đó chúng ta chưa thực sự có từ,
bi, hỉ, xả, bác ái vị tha. Chừng nào mà chúng ta chưa chịu
quay về sống đời đơn giản và trau dồi tâm trí, chừng
đó chúng ta vẫn còn là bạn của sân si và ma quân. Chừng
nào mà mắt ta vẫn còn bị rù quến bởi những đối tượng
bên ngoài, tai ta vẫn còn bị âm thanh dao động, lưỡi vẫn
còn thèm muốn nếm vị ngon ngọt, mũi vẫn còn muốn ngữi
mùi thơm dịu, thân vẫn còn rung động vì xúc chạm và ý
vẫn cón dong ruổi đó đây, chừng đó tam đồ lục đạo
vẫn còn là những trạm dừng chân của chúng ta.
Chúng
sanh mọi loài, nhất là con người, thường hay nói hơn hay
làm, hoặc giả nói giỏi làm dở. Chúng ta luôn miệng chưởi
rủa những kẻ tham tiền, nhưng đến hồi thấy tiền thì
chúng ta lại trúng ngay “độc tiền.” Chúng ta chóa mắt
vì tiền, thậm chí lắm khi còn quên cả đạo nghĩa, quên
cả tình cốt nhục nữa là khác. Chúng ta luôn miệng hô hào
không tham đắm truy cầu, không ích kỷ tư lợi, không nói
dối đâm thọc, nhưng đến khi quyền lợi cá nhân bị đụng
chạm thì biết ngay. Tham, sân, si không thiếu; mạn, nghi, tà
kiến có thừa; sát, đạo, dâm, vọngluôn đầy đủ. Thật
itnh mà nói, lòng dạ chúng sanh không bút mực nào có thể
viết cho cùng cho cạn được. Chính vì thế mà Đức Từ Phụ
đã nhấn mạnh trong mọi kinh điển của Ngài răng đạo Phật
là đạo dành cho “hành giả” mà thôi. Không có một chỗ
đứng nào dành cho “học giả” hay “thuyết giả” trong
việc giải thoát của đạo nầy. Người con Phật chỉ biết
kiên trì và thành khẩn hành trì đúng theo những lời Phật
dạy để thầm thầm thăng hoa hướng thượng. Hành giả không
nói “ly khổ đắc lạc, liễu sanh thoát tử,” vì cho dù
có nói vạn triệu lần câu nói ấy mà chúng ta không thật
hành “ly khổ” thì làm sao mà “đắc lạc” nói chi đến
“liễu sanh thoát tử ?” Chỉ biết nói tham là xấu ác mà
không biết đoạn trừ tham thì chúng ta nào có hơn chi loài
ngạ quỷ, chỉ biết nói sân hận là xấu ác, chứ chả bao
giờ chịu đoạn trừ sân hận. Như vậy thử hỏi chúng ta
sẽ đi về đâu nếu không phải là theo chân A Tu La mặt đỏ
mặt xanh… Chỉ biết nói si mê là tệ hại mà không chịu
tinh tấn thiền định thì lấy trí huệ đâu mà thoát kiếp
súc sanh ?
Phật
đã không ngừng tu tập trong nhiều đời nhiều kiếp mới
trở thành một bậc “đại giác ngộ,” Chúng ta có tài nào
hơn Ngài để “tức thì khai ngộ,” hay “tu tắc” chăng
? Tất cả những ảo vọng tức thì chứng đắc đều do lòng
ham dục u mê của chúng sanh mà ra cả. Muốn làm Phật trước
nhứt chúng ta phải ráng tu nhân làm sao cho được trọn vẹn
một con người đạo đức bằng cách phải ngày ngày hành
trì nhân đạo. Trong đạo Phật không có lý thuyết suông về
luân lý đạo đức, mà chỉ có hành trì luân lý đạo đức
mà thôi. Như vậy một người chưa từng hành trì ngũ giới
mà dám khinh mạn nói về ngũ giới, đó chỉ là những con
ma thuyết pháp không hơn không kém. Khi Đức Phật nói: “giác
thị Phật, mê thị chúng sanh,” Ngài muốn nhắn nhủ gì với
chúng ta hỡi những người con Phật ? Ngài muốn nhấn mạnh
cho mọi người thấy rằng trong cái giác Phật mê ma ấy, không
phải “biết” suông mà được thành Phật. Giác ở đây
phải là vừa biết vừa hành trì, chứ miệng nói biết mà
thân tâm không chịu hành trì, luôn bị trần lao ngũ dục lôi
cuốn và khống chế, nghịp chướng ngày càng sâu dầy thì
thành cái gì nếu không phải là ma ? Muốn thành Phật trước
tiên phải làm “hành giả.” Có làm được hành giả thì
một ngày nào đó nghiệp chướng sâu dầy mới có cơ tàn
cạn. Trong thời mạt pháp, ma nhiều thánh ít nầy, đi đâu
đến đâu chúng ta cũng chỉ thấy toàn là “học giả,”
“thuyết giả,” chứ ít thấy “hành giả.” Những người
nầy học hay đến nỗichưa chắc gì có ai lý luận bằng họ.
Nói về Bát Nhã thì họ qún triệt thông suốt từ thật tướng
đến quán chiếu hay văn tự Bát Nhã. Tuy nhiên, những hạng
người nầy chẳng những không tu không hành mà họ còn thân
cận thầy tà bạn ác để rảo bước đó đây đối nghịch
và chống báng thầy tốt bạn hiền. Những Phật tử chơn
thuần phải luôn cẩn trọng! Muốn làm Phật chúng ta không
có con đường nào khác ngoài chuyện trước tiên phải làm
“hành giả” vì trải qua trăm ngàn muôn ức kiếp, chúng
ta đã lăn trôi tạo nghiệp, bây giờ cho dầu có tinh chuyên
hành trì trả nghiệp, chưa chắc đã xong, huống là nói suông.
Muốn cho ánh Từ Quang tỏa khắp thân tâm để diệt tận khổ
đau phiền não, con đường độc đạo mà chúng ta phải kinh
qua là hành trì những lời Phật dạy. Chứ miệng cứ lãi
nhãi “tôi bỏ” mà thân ý không chịu bỏ thì rốt rồi
ý vẫn xúi thân sát sanh, trộm cắp, tà dâm; ý vẫn xúi miệng
vọng ngữ, nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời đâm thọc,
hoặc nói lời ác độc. “Hành giả” trong đạo Phật phải
luôn nhớ lời Phật dạy rằng, trước khi hành phải học,
vì hành mà không học là mù quáng. Tuy nhiên, nếu chỉ học
mà không hành thì thân nầy nào khác chi cái đãy đựng sách.
Như vây người con Phật chơn thuần phải luôn nhớ rằng sau
khi học rồi phải chí tâm và tinh chuyên hành trì, phải biết
dụng công từng phút từng giây, vì thời gian trôi qua sẽ
không bao giờ trở lại, ngày tháng trôi qua, mạng giảm dần
như cá cạn nước. Cá ấy phải hóa long trước giờ khô nước,
giếng phải được đào trước khi khát nước, chứ đợi
đến lúc khát nước mới chịu đào giếng thì e rằng đã
quá muộn, chúng sẽ không còn cơ hội uống được nước
giếng đâu. Tệ hại hơn nữa là nếu chúng ta chỉ biết nói
suông chứ không chịu hành trì thì đến một lúc nào đó,
con người chúng ta sẽ chứa chất đầy dẫy những vọng tưởng
đảo điên. Nếu miệng biết nói thiện mà thân làm ác, ý
nghĩ ác, đó chỉ là cung cách của những kẻ đạo đức giả.
Những kẻ nầy còn nguy hiểm gấp trăm ngàn lần những kẻ
chưa biết tu bao giờ. Vì tâm ý của những của những con
người “khẩu Phật tâm xà” nầy sẽ sẳn sàng bao che cho
hành động ám muội của chính họ. Người con Phật chơn thuần
nên luôn nhớ rằng “hành giả” trong đạo Phật luôn tâm
niệm “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh,” chứ
không tu để hưởng phước thiên nhân. Nếu đạo nầy chỉ
để dành tu để hưởng phước, thì Phật Tổ đã không thị
hiện. Nói về phước thử hỏi Thái Tử Tất Đạt Đa nào
có thua ai ? Thế mà Ngài đã từ bỏ tất cả để để tu
hành giải thoát. Như vậy thông điệp Ngài để lại đã quá
rõ ràng: giải thoát mọi hệ lụy của khổ đau phiền não.
Trong
đạo Phật, mỗi người là một “hành giả,” chứ không
ai làm hành giả được cho ai. Phật chỉ là một đạo sư
đưa đường dẫn lối, chứ Phật không là một thần linh
có
quyền ban phước giáng họa. Chính vi thế mà lời cầu nguyện
của hành giả cũng thật là đặc biệt. Cầu là cầu cho chính
hành giả có đầy đủ năng lực tinh tấn tu tâm sửa tánh,
cầu nguyện hợp với lý vô thường và luật nghiệp báo nhân
quả, chứ không cầu nguyện mù quáng và ích kỷ. Cầu nguyện
sao cho hành giả có đầy đủ sáng suốt sống thuận với
đạo pháp và thiên nhiên, luôn hành thiện không hành ác và
luôn giữ cho tâm ý được thanh sạch. Hành giả trong đạo
Phật, dù tu ở chợ hay ở nhà, ở sở hay ở chùa, ở nơi
phố thị hay chốn sơn lâm cùng cốc, đều phải luôn nhớ
lời Phật dạy mà tiến tu, luôn theo đúng chánh pháp, luôn
giữ vững giới luật, đó là hành giả chân chính. Ngược
lại, nếu không theo đúng chánh pháp, không tuân giữ giới
luật, cho dù có niệm Phật hay ngồi thiền đến vạn kiếp,
cũng chỉ là những con ma trơi không hơn không kém. Hành giả
trong đạo Phật là một người tri hành hợp nhất. Nghĩa là
lý thuyết và thực hành phải đi đôi. Trong đạo Phật lý
thuyết không thể tách rời thực hành. Tri và hành luôn đi
song song và nương tựa vào nhau cho đến khi nào thân tâm được
toàn thiện toàn mỹ. Chúng ta phải vừa học hỏi giáo lý
vừa tự tu tâm sửa tánh, vừa đem giáo lý ra áp dụng trong
cuộc sống hằng ngày để cho mọi người cùng được lợi
lạc, đó mới là đúng nghĩa một hành giả trong đạo Phật.
Ngoài ra, hành giả trong đạo Phật, dù xuất gia hay tại gia,
không còn bị những danh xưng làm vướng bận. Những chức
tước hư danh như kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, đại đức, thượng
tọa, hòa thượng, vân vân chỉ là những bờ cản trên bước
đường tu tập giải thoát mà thôi. Hành giả chân chánh cương
quyết không để cho trạng huống “sống say chết mộng”
xãy đến với mình. Con người ấy luôn sáng suốt tỏ rõ
trong mọi vấn đề để thấy rằng vạn sự vạn vật đều
cho ta những lời pháp cao tuyệt. Khi nhìn thấy con trùng con
dế, chúng ta phải quán sát thật sâu vào những thân hình
oằn oại nầy để thấy rằng trong một kiếp quá khứ nào
đó, có một con người khinh khi ngạo mạn, hay chà đạp những
người em bé nhỏ lạc loài, nên bây giờ phải mang thân làm
trùng dế. Khi thấy một con trâu con ngựa đang hùng hục lao
động ngoài đồng, chúng ta cũng phải quán sát cho thật sâu
để thấy rằng nếu bây giờ không khéo, thì trong một kiếp
lai sanh nào đó, rất có thể ta sẽ phải mang thân làm con
trâu con ngựa ấy. Hành giả tu trong mọi trường hợp, mọi
tình huống, từ quán sát một cánh hoa rơi đến chiếc lá
rụng; từ em bé đến ông lão; từ lá xanh đến lá vàng; từ
trời quang mây tạnh đến giông tố bão bùng; từ mèo rượt
chuột, chim ăn trùng, đến người bắt thú, vân vân. Tất
cả đều là những bài pháp dạy ta về luật vô thường,
về thành trụ hoại không, về cá lớn nuốt cá bé. Tất cả
đều dạy ta một chút về thời gian, mạng sống và cuộc
tu hành giải thoát. Lá xanh lá vàng cho ta bài pháp “từng
giây trôi qua là thân nầy mạng một đi từng giây.” Nếu
hành giả hiểu được như vậy thì sẽ không còn tâm trí
đâu nữa để chờ đến già hay đến hưu trí rồi hẳn tu.
Tóm
lại, hành giả trong đạo Phật dù biết ít nhưng vẫn tốt,
vì biết nhiêu hành bấy nhiêu. Con người ấy lúc nào cũng
to ra uy nghi đạo cách hơn người. Con người ấy có khả năng
làm những chuyện mà người thường không làm được, nhẫn
nhịn những chuyện mà người thường không nhẫn nhịn được.
Con người ấy luôn phản quang tự kỷ và tự cảm thấy hổ
thẹn ngay khi vừa mới khởi tâm ích kỷ tư lợi, luôn biết
rõ lỗi mình chứ chẳng bao giờ bàn lỗi người, cái gì tốt
luôn nhường cho người, luôn nhận cái xấu về phần mình,
đó là tập hạnh buông bỏ. Ai trong chúng ta cũng phải nên
luôn nhớ rằng từ vô thỉ chúng ta đã lăn trôi tạo nghiệp,
được thân người đã là chuyện khó, gặp dược Phật pháp
lại càng khó hơn, đúng như lời Phật dạy. Nay đã được
thân người, đã gặp được Phật pháp, mà lại cam chịu
làm “học gia” “thuyết gia” buông mặc cho thân nầy tiếp
tục gây tội tạo nghiệp, ngày càng gia tăng thói hư tật
xấu, để cho một đời luống qua vô ích. Chỉ biết mình
như cá cạn nước chứ không chịu làm gì để vượt thoát
được thảm trạng nầy, quả là uổng cho một kiếp người.
Người
con Phật chơn thuần phải luôn ghi nhớ rằng được thân người
đã khó, muốn làm người tốt lại càng khó hơn, muốn làm
người có tu hành đạo đức phải là nhơn duyên của nhiều
đời kiếp, ví như rùa mù trồi lên giữa biển khơi mà vớ
được bọng cây để được vào bờ vậy. Những người con
Phật chơn thuần phải luôn tâm niệm, dù đời có phong ba
bão táp, ta luôn quyết tâm là một “hành giả” dù phải
lội ngược dòng đời. Trên đường đi đến đất Phật,
càng gặp khổ, càng gặp khó, mình càng dụng công tu hành
nhiều hơn; càng gặp ma chướng trở ngại chúng ta cần nên
nhẫn nại nhiều hơn, nhẫn những thứ đáng nhẫn và nhẫn
cả những thứ không đáng nhẫn. Từ vô thỉ ta chính là người
lăn trôi gây tội tạo nghiệp thì bây giờ cũng chính ta phải
là “hành giả” làm tội nhẹ nghiệp. Giảm tội nhê nghiệp
bằng cách nào cũng được, niệm Phật, trì chú, tụng kinh,
tọa thiền… tất cả chỉ là phương tiện. Điều quan trọng
ở đây là chúng ta phải quyết tâm làm một “hành giả”
thiệt. Làm được như vậy thì bất cứ lúc nào và bất cứ
ở đâu sắc không còn chuyển được mắt, thinh không còn
động được tai, hương không còn lôi cuốn được mũi, vị
không còn làm lưỡi thèm khát, sự xúc chạm êm dịu không
còn làm cho thân thể nầyrung động và trần cảnh không còn
làm cho tâm ý ta dong ruỗi nữa. Làm được như vậy dù chưa
giải thoát rốt ráo đi nữa, thân tâm nầy cũng đã thanh tịnh,
cuộc sống nầy cũng an lạc, tỉnh thức và hạnh phúc lắm
rồi vậy !
424.
CHÁN ĐỜI HAY YÊU ĐỜI ?
Theo
văn hóa Tây Phương, đời là một ân huệ cần được trọn
hưởng, mất nó là mất tất cả, mất nó là một đại họa.
Chính vì thế mà họ tích cực tận hưởng những gì họ có,
thậm chí họ lại muốn tận hưởng những gì họ chưa có
hoặc không có. Từ đó mà đời sống trong xã hội Tây Phương
vốn dĩ đã đua chen trở nên đua chen tranh lấn hơn. Con người
trong xã hội đó trở nên háo thắng, vị kỷ, duy vật cho
cá nhân chủ nghĩa, từ đó họ bị dẫn tới ham muốn xâm
chiếm những gì không thuộc về mình. Văn hóa Đông Phương,
nhứt là những nơi chịu ảnh hưởng Phật Giáo, đa phần
thích sống đời trầm lặng, luôn tri túc trong đời sống,
nên ít đua đòi vật chất. Hai khung trời Đông Tây với hai
lối sống, hai lối suy nghĩ hoàn toàn khác biệt, thế nên
quan niệm về sự yêu đời hay chán đời cũng khác biệt.
Tây phương thì cho rằng đạo Phật là đạo yếm thế bi quan
khi họ thấy những người xuất gia, dám từ bỏ những gì
mà đời đang ưu đãi họ. Ở đây chúng ta không bàn ai sai
ai đúng, vì đúng sai chỉ là những ngôn từ tương đối mà
thôi. Có khi đúng ở đây thì lại sai ở kia, cũng có khi hôm
qua ta cho là đúng thì hôm nay hoặc ngày mai lại là sai. Ở
đây chúng ta chỉ vạch rõ xem coi đạo Phật yêu đời hay
chán đời ? Gần hai mươi sáu thế kỷ trước, Đức Thích
Tôn Từ Phụ đã từng khẳng định rằng cái mà chúng ta đang
gọi là đời đây kỳ thật chỉ là một chuỗi đời sống
kế tiếp từ kiếp nầy qua kiếp nọ, hết sinh rồi tử, hết
tử rồi sinh, cứ thế mà xoay vòng không ngừng nghỉ. Rồi
Đức Thế Tôn lại khẳng định do đâu mà có luân hồi sanh
tử: do chính nhân quả nghiệp báo của từng chúng sanh. Những
thống khổ hay phước báu của đời hiện tại là do chính
kết quả của những hành động trong những đời trước của
chính mình. Theo Đức Phật, khổ đau phiền não cũng như luân
hồi sanh tử không do ngẫu nhiên mà có. Số phận của từng
chúng sanh là do tự mình định đoạt. Trồng cây lành thì
được quả ngọt, còn gieo gió ắt gặt bão là điều không
tránh khỏi. Tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, ác kiến, biên
kiến, thiên kiến, sát, đạo, dâm, vọng… là tập khí của
nhiều đời nhiều kiếp chứ không phải là sự bắt ép từ
phía nào. Đức Phật là một vị lương y, Ngài đã nhìn thấu
căn bệnh trầm kha của chúng sanh và Ngài đã tìm ra thuốc
trị cho từng căn bịnh một. Tuy nhiên, Ngài đã khẳng định
Ngài chỉ có khả năng cho thuốc, còn chuyện bốc thuốc và
uống thuốc là chuyện của những con bệnh. Những người
con Phật chơn thuần và mong cầu giải thoát hãy tự xem mình
như những con bệnh có đủ can đảm lên non tìm thuốc về
nhà nấu uống, chớ không ngồi yên thụ động cầu Trời
khẩn Phật ban cho mình được hết bịnh. Cử chỉ ấy, thái
độ ấy của người con Phật là tiêu cực hay tích cực, là
chán đời hay yêu đời ? Thật tình và vô tư mà nói,
cử chỉ ấy chỉ có thể xuất phát từ những con người
lạc quan yêu đời, không cam tâm bỏ mặc cho định số và
đầu hàng nghịch cảnh. Trong khi đó, một số người cho rằng
con người đi vào địa ngục hay thiên đàng là do một đấng
toàn năng nào đó quyết định, như vậy có phấn đấu cũng
bằng thừa, tốt hơn hết là nên vâng phục để được Đấng
Toàn Năng thương xót ban ân cứu độ. Theo họ, con người
là yếu đuối, là tội lỗi, nên con người không thể tự
mình thánh thiện hay tự mình cứu vớt được lấy mình. Chính
vì thế họ quan niệm rằng hãy để cho cây sậy biết suy
tưởng nầy ngả rạp theo chiều gió, hoặc giông tố bão bùng
cuốn trôi theo định mệnh. Con người như vậy mới đúng
là con người tiêu cực, thụ động, bi quan, yếm thế.
Phải
thành thật mà nói lắm người chỉ nhìn vào những hình thức
lễ bái bên ngoài của đạo Phật rồi cho rằng đạo Phật
thụ động yếm thế. Kỳ thật, không một Phật tử chơn
thuần nào mà không biết rằng chẳng có lễ bái hay nghi lễ
nào có thể cứu vớt được mình, cho dù cầu trời khẩn
Phật một đời cũng không bằng một phút một giây hành thiện
không hành ác và tự thanh lọc lấy tâm ý của chính mình.
Thiên đàng cũng do mình, mà địa ngục cũng do chính mình.
Người nào dám tự chiến đấu với bản thân bản tâm xấu
xa tội lỗi để trở thành một con người hướng thượng
toàn mỹ, con người ấy phải yêu đời lắm vậy! Ngưòi nào
dám dùng tự sức lực của chính mình chớ không ỷ lại vào
ai trong quá trình tự cải thiện phải là con người tích cực
vô cùng. Một con người dám can đảm nhận lỗi và sửa lỗi,
dám can đảm đem những giáo pháp tuyệt vời áp dụng vào
cuộc sống hằng ngày, để cho cuộc sống ấy trở nên tốt
đẹp và đáng sống hơn, con người ấy phải là một con người
yêu đời và yêu mình lắm vậy. Người dám nhìn thẳng vào
những khổ đau phiền não của cuộc đời, dám ngừng lại
để quán sát xem coi do đâu mà có khổ, làm sao diệt khổ,
con người ấy không yêu đời thì trên đời nầy không còn
một ai yêu đời hơn. Đi xa hơn nữa, con người sau khi đã
tìm được sự an lạc cho mình, dám xông thẳng vào đời độ
tha cứu thế, con người ấy không tích cực thì trên đời
nầy không còn một ai tích cực hơn. Một con người vì muốn
cải thiện cuộc sống mà đem chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh tinh tấn, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm
và chánh định vào cuộc sống hằng ngày, con người ấy phải
vừa yêu đời vừa tích cực lắm vậy. Đời sống vật chất
và tinh thần của một người con Phật chơn thuần phải là
một đời sống linh hoạt, vị tha bác ái hơn bất cứ một
chúng sanh nào trên địa cầu nầy. Cuộc sống của người
con Phật chơn thuần vừa tích cực, yêu đời mà cũng vừa
thánh thiện dễ thương vô cùng. Chỉ những việc không sát
sanh hại vật, không trộm cướp, không tà dâm, không vọng
ngữ, không uống những chất cay độc… không thôi, xã hội
nầy sẽ tự nó biến thành một thiên đàng trần gian rồi.
Đạo Phật kể từ Đức Phật xuống đến những người con
Phật chơn thuần, yêu đời đến độ chưa bao giờ ta thấy
một dấu hiệu tàn bạo, đe dọa, nguyền rủa, hay những răn
đe mất vẻ đạo đức như ở một vài tôn giáo cực đoan
khác. Ngược lại, trong đạo Phật chúng ta chỉ tìm thấy
những ngôn từ êm dịu, thanh tao, nhã nhặn, nhu hòa, nhẫn
nhục và từ, bi, hỉ, xả. Có điều chúng ta phải công nhận
rằng đạo Phật và những người con Phật có một phong thái
yêu đời rất đặc biệt. Những người con Phật yêu người
đến độ lấy cái vui của người làm cái vui của chính mình,
lấy cái khổ của người làm cái khổ của mình. Những người
con Phật cùng dắt dìu nhau đi trong bất bạo động, trong bác
ái dịu hiền, trong khiêm cung từ tốn. Những người con Phật
yêu đời đến độ chỉ lấy ân báo oán và lấy tình thương
xóa bỏ hận thù. Đức Phật còn đi xa hơn nữa trong việc
hướng thượng hóa cõi Ta Bà bằng cách dạy dỗ chúng đệ
tử hãy ăn ở hiền lành hơn với những người hung dữ, hãy
lấy chân thật mà đáp lại sự điêu ngoa xảo trá, lấy ôn
nhu hòa nhã đáp lại sự sân hận đùng đùng, lấy khiêm cung
từ tốn đáp lại sự ngã mạn cống cao của tha nhân… Người
con Phật yêu đời yêu người đến độ họ sẳn sàng hài
hòa và tôn trọng yếu lý của những tôn giáo khác, cũng như
kính nễ tín ngưỡng của người khác. Vì ngay từ đầu, Đức
Từ Phụ đã vạch rõ và chỉ dạy tận tường về “vô ngã,”
Ngài đã khẳng định đạo Phật của Ngài không chủ trương
nâng niu cái “tôi” thì người con Phật chơn thuần làm gì
có vị kỷ ? Đạo Phật đã không chủ trương trau chuốc bản
ngã, thì trong người con Phật chơn thuần làm gì có sự tranh
hơn tranh thua giữa mình và người ? Người con Phật yêu đời
mà không bị vật chất tiền tài làm mất đi tinh thần
đạo lý đẹp đẽ. Người con Phật luôn yêu mình, yêu người
và yêu đời trong tinh thần tự lợi, lợi tha, tự giác, giác
tha của từ bi hỉ xả. Tiếng nói từ bi hỉ xả, bác ái vị
tha trong đạo Phật không phải là những tiếng nói rỗng suông,
hay những âm thanh vô vọng trong sa mạc. Ngược lại, những
ngôn từ ấy luôn biến thành hiện thực nơi những người
con Phật. Sự tích cực tự chuyển hóa bản thân bản tâm
của người con Phật để có được cuộc sống đẹp đẽ
hơn tự nó đã nói lên sự yêu đời dễ thương của đạo
Phật. Đừng ai hiểu lầm hay bóp méo sự thật về mục đích
tối hậu của người tu Phật: Niết Bàn. Niết Bàn của những
người con Phật xuất gia có thể là cuộc tu giải thoát khỏi
mọi hệ lụy của khổ đau phiền não, để rồi đến ngày
cuối cùng của cuộc đời là vãng sanh về cõi vô sanh Cực
Lạc, đó là cõi tịnh tịch của mười phương ba đời chư
Phật. Tuy nhiên, Niết Bàn của những đứa con tại gia, những
người hãy còn vướng bận nợ hồng trần, có thể là một
cái cười cảm thông, một lời ái ngữ lợi ngôn, hay là một
cuộc sống an lạc, tỉnh thức và hạnh phúc. Xin đừng ai
lầm hiểu rằng Niết Bàn trong đạo Phật là một cõi hư
vô tận diệt. Nếu thị hiện để truyền lại chỉ một cõi
“hư vô” cho đàn hậu bối, chắc Phật đã không thị hiện.
Ngài đã thị hiện để truyền trao dạy cho chúng sanh được
ngộ nhập cái thấy và cái biết của chư Phật hầu có đủ
yêu đời trong đại tín tâm, để cùng nhau hành trình trở
về quê hương Cực Lạc mà mình đã một lần dại dột xa
rời.
425.
CHÁNH SẼ THẮNG TÀ
Đức
Thích Tôn Từ Phụ là một bậc đại trí, đại giác, đại
ngộ mới có khả năng quán sát để thấy rằng các kỷ nữ,
cung tần, thể nữ như những thây chết hôi hám; cung vàng
điện ngọc, quyền uy tột đỉnh và tiền rừng bạc biển…
như đôi dép bỏ. Chính nhờ vậy mà Ngài mới phát được
đại hùng và đại lực xuất gia tầm đạo giải thoát. Đến
khi đã là bậc nhứt thiết trí, một lần nữa Phật đã vì
chúng sanh muôn loài mà phát tâm đại từ bi, quyết vì hạnh
phúc của muôn loài mà khai thị cho chúng sanh được ngộ nhập
tri kiến Phật. Dù cho dòng họ ma Ba Tuần cố tình đem
huyễn thuật mê hoặc chúng sanh thế nào đi nữa thì chánh
cũng sẽ thắng tà. Cho dù có kẻ manh tâm ác độc thế mấy;
hoặc giả tà đạo ác sư có cố tình bóp méo sự thật thế
nào; hoặc giả ác tri thức có trùng trùng bủa lưới tham,
sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng… trùm
lấy chúng sanh, vẫn bị diệu pháp đoạn trừ. Dù thế nào
đi nữa thì chánh cũng sẽ thắng tà. Dù chúng ta có cam tâm
lăn trôi vạn triệu kiếp trong ba nẻo sáu đường thì rồi
một ngày nào đó, ở một kiếp nào đó, chúng ta cũng sẽ
phải tu để diệt tà hiển thánh.
Tu
nghĩa là cải tà làm chánh; cải ác làm thiện; cải tham, sân,
si làm bao dung, nhu hòa, sáng suốt… Đức Phật đã lấy thanh
tịnh thiên nhãn để nhìn thấy chúng sanh sinh tử luân
hồi. Ngài đã thấy rõ chúng sanh tùy nghiệp thiện ác mà
nhận lấy quả báo trong một đời hoặc nhiều đời. Hễ
tạo tác lành và giữ tròn ngũ giới thì được tiếp tục
làm người; hễ giữ trọn thập thiện thì được sanh vào
cõi trời; ví bằng tạo tác ác thì phải sa vào tam đồ ác
đạo, là chuyện không thể nào tránh được. Chính Đức Từ
Phụ đã từng khẳng định trong các kinh điển của Ngài:
“Nhơn thân nan đắc.” Phật đã giải thích rõ ràng trong
tam đồ lục đạo mà sinh ra được làm người là một đại
hạnh cho việc tiến tu vì cõi trời thì quá sướng nên khó
lòng tu hành, cõi A Tu La thì dẫy đầy sân hận, súc sanh thì
quá tham dục, ngạ quỷ và địa ngục thì quá khốn khổ nên
cũng không tu được. Chính vì thế mà khi được sanh làm người
nhưng lại không khéo, không tin tội phúc nhân quả, làm điều
chẳng lành, bám víu tà kiến nghi hoặc, quả là uổng quá
cho một kiếp người.
Muốn
cho chánh thắng tà ngay trong đời nầy kiếp nầy, con đường
duy nhứt là phải tự mình quay về với ông Phật nơi chính
mình, để cùng ông tâ phá tham dục, trị sân hận, dẹp si
mê, trừ tà kiến… Tuy nhiên, đúng như lời Phật dạy, Phật
pháp nan văn, quả đúng như vậy! Trong cõi Ta bà nầy Phật
pháp quả là dễ nói, dễ giải, dễ hiểu, dễ biết, nhưng
khó quán triệt và khó thực hành vô cùng. Chỉ có những con
người với đầy đủ bi trí dũng mới mong kham nổi. Trên
đời nầy ai lại không biết vô thường, sinh trụ dị diệt,
hoa nở hoa tàn, sanh lão bịnh tử ??? Ai lại không biết một
ngày trôi qua là mạng nầy giảm dần như cá cạn nước ?
Ai lại không biết tham lam là con đường dẫn tới sa đọa
? Thế nhưng vẫn có người đến chùa lừa thầy gạt sư để
lấy tiền của bá gia bá tánh mưu cầu lợi ích cá nhân cho
bản thân và gia đình. Ai lại chẳng biết Phật pháp là pháp
chân thực bất hư, bất hoại, không thể nghĩ bàn. Thế nhưng
vẫn có người đến chùa luận bàn, tranh cãi, hí luận. Phật
đã dạy quá rõ ràng rồi còn gì, vạn pháp thường rỗng
lặng. Vậy thì muốn bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền
định… cứ nín lặng mà làm, chứ oang oát chi cho thêm nặng
nghiệp. Ngay từ những ngày đầu giác ngộ, Đức Từ Phụ
đã khẳng định rằng muốn “chánh thắng tà,” không phải
chỉ cạo đầu nhuộm tóc mà được, không phải đầu tròn
áo vuông là đương nhiên có thể lội được vào bể pháp
của chư Phật. Ngược lại, cư sĩ tại gia như Duy Ma Cật,
Huệ Năng, Bàng Long Uẩn, vân vân, vẫn có khả năng thong dong
tự tại trong biển pháp thâm diệu của nhà Phật được.
Vì ở các Ngài gạo đã trắng, nước đã trong, còn gì nữa
đễ mà cầu với bàn. Đã thế, các Ngài lại còn đầy
đủ lòng tin, sự hiểu biết cũng như hết lòng hành trì rốt
ráo những lời Phật dạy. Các Ngài đã tới đỉnh rốt ráo,
thế nhưng nhứt nhứt các Ngài vẫn không dám khinh vì. Đối
với các Ngài, sự buông bỏ là yếu tố quyết định mọi
vấn đề. Đối với các Ngài, chánh pháp thượng xả hà huống
phi pháp. Thấy như vậy để những người con Phật chơn thuần
chúng ta, một khi đã quyết chí tu hành là quyết chí thượng
xả tất cả. Khi tu chỉ một bề cầu tu, chứ không cầu pháp,
không cầu biện giải hí luận, cũng không cầu bất cứ thứ
gì trên đời nầy. Người con Phật chơn thuần, khi quyết
chí tu là chỉ một bề thầm thầm ly khổ. Vì nếu không khéo,
chúng ta chỉ buông thế gian pháp để một bề khư khư ôm
giữ Phật pháp, ôm giữ đến độ giải thoát cũng không màng.
Nếu không khéo, thay vì dốc lòng tu tập, chúng ta chỉ ngày
đêm mong cầu hí luận. Hễ cầu pháp thì không sớm cũng muộn,
chúng ta sẽ tự cho rằng pháp mình hay, pháp người dở, pháp
mình chân thực, pháp người tà ngụy.
Người
con Phật chơn thuần, muốn “chánh luôn thắng tà, phải quyết
chí thầm thầm ly khổ, phải hạ thủ công phu sao cho sắc,
thinh hương, vị, xúc, pháp không còn khả năng xâm chiếm và
ngự trị tâm nầy. Tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát,
đạo, dâm, vọng chưa sanh phải cố làm sao cho chúng đừng
sanh. Nếu chúng đã sanh phải cố làm sao tận diệt chúng càng
sớm càng tốt. Vì hiểu rằng Phật pháp là không thể nghĩ
bàn, nên không bao giờ người con Phật dám để tâm nghi hoặc.
Khi chưa thông hiểu thì phải tìm hiểu cho thông, khi đã thông
rồi thì chỉ một bề đêm ngày hạ thủ công phu một cách
cấp thiết, chứ không lừng khừng lần lựa. Coi vậy mà chúng
ta không còn nhiều thì giờ nữa đâu mà chần với chừ !
Một phút ta sống là một phút ta chết. Một ngày trôi qua,
mạng ta giảm dần như thủy thiểu ngư. Chúng ta phải tận
dụng từng giây, từng phút, từng sát na có được mà tu tập,
tu tập và tu tập cho đến khi công viên quả mãn, chứ quyết
không thơ thẩn mong cầu, dù là mong cầu an lạc, cực lạc
hay bất cứ thứ gì. Phật đã từng dạy trong các kinh điển
của Ngài rằng tâm chúng sanh còn long đong lật đật hơn vượn
chuyền cây hay ngựa phi nước đại. Nếu ngay từ bây giờ
chúng ta không chịu điều phục và hộ trì thì chắc chắn
về sau nầy sẽ gặp muôn ngàn bất lợi, vì cho dù chúng ta
có là một học giả hay thuyết gia lỗi lạc thế mấy thì
rồi tâm nầy cũng sẽ nhiễm trược và sa đọa vào tam đồ
ác đạo. Chính vì thế mà Đức Từ Phụ đã khuyên nhủ tứ
chúng hãy cố công phu sao cho những điều thiện chưa sanh được
sanh, những điều thiện đã sanh được tăng trưởng; những
điều ác chưa sanh không có cơ hội sanh khởi, những điều
ác đã sanh phải bị đoạn tận ngay từ trong trứng nước.
Quá
trình tiến tu cho “chánh thắng tà” không phải là một ngày
một bữa và cũng không dễ dàng như chúng ta vẫn tưởng.
Tu sao cho không còn lưu luyến tài, sắc, danh, thực, thùy; tu
sao cho không còn vướng víu đến quyền uy phù ảo; tu sao cho
một cử chỉ nhỏ cũng không còn phóng dật. Tu sao cho lúc
nào ý cũng nghĩ thiện, miệng cũng nói thiện, thân cũng làm
thiện. Tu sao cho thân lúc nào cũng ly tham đoạn dục, ý lúc
nào cũng lìa bỏ mọi vọng niệm. Nếu còn chăng chỉ là niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm bố thí, niệm
quảng đại bao dung, niệm công quả công đức thiện lành
mà thôi. Người con Phật chơn thuần phải cương quyết tu
sao chỉ còn một cái thấy biết duy nhứt: chánh kiến. Từ
thân, khẩu, ý đều đồng loạt chấp nhận hành trì theo chánh
kiến. Tu sao cho mọi suy nghĩ đều đúng với lẽ phải, mọi
lời nói đều chân thật, công việc làm ăn chân chánh chứ
không lường giựt dọc, hành động phù hợp với luân lý
đạo đức… Ngoài ra, muốn chánh thắng tà thì người tu
Phật phải tinh chuyên hành trì cũng như thanh lọc tâm ý sao
cho định tỉnh và trong sạch, phải luôn tập trung tư tưởng
vào những vấn đề chính đáng, có lợi cho mình cho người
và cho đời. Tu sao cho khi bố thí, cứ vì đại bi tâm mà bố
thí, chứ không còn phân biệt ai cho ai nhận, không còn vì
sắn, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí, không phân biệt
sang hèn nghèo giàu hay thân sơ bạn thù mà bố thí. Tu sao cho
được thiểu dục tri túc, diện mạo lúc nào cũng đoan chánh,
ngôn ngữ lúc nào cũng hòa nhã. Tu sao cho lúc nào cũng tỉnh
giác, lúc nào cũng an trú trong chánh niệm, và lúc nào cũnng
nhiệt tâm nhiếp phục tham, sân, si. Tu sao cho tín, tấn, niệm,
định tuệ đồng thời phát triển và phát triển không ngừng
nghỉ. Tu sao cho vô minh đoạn tận, ngã mạn không còn, khổ
đau phiền não đều được nhổ sạch. Tu sao cho dù một cử
chỉ vi tế cũng biết tàm quí khiêm cung. Tu sao cho thất giác
chi (Trạch pháp, Tinh tấn, Hỷ lạc, Khinh an, Định, Xả…)
đều đưa đến ly tham, lìa dục, cũng như từ bỏ điên đảo
mộng tưởng. Tu sao cho dòng tư tưởng dù vi tế cũng không
còn thị phi tranh chấp. Người con Phật tu được như vậy
mới có cơ may thấy được thế nào là khổ, vì sao có khổ,
rồi từ đó mới nhổ được tận gốc những kiết sử từ
vô thỉ, và cũng từ đó chánh mới có cơ thắng được tà.
Người con Phật tu được như vậy cho dù chưa được giải
thoát rốt ráo, đời sống nầy cũng là an lạc và hạnh phúc
lắm rồi vậy. Mong lắm thay!!!
426.
XUÂN NHỚ MẸ
Cứ
mỗi độ Xuân về là lòng tôi bồi hồi nhớ đến người
Mẹ hiền thiên cổ của tôi, nhớ đến những mùa Xuân nghèo
trên quê mẹ với bao kỷ niệm êm đềm của thời thơ ấu.
Kỷ niệm về mẹ thì tôi có không biết bao nhiêu mà kể cho
siết, với cả một vùng hạnh phúc chất ngất mà mẹ cha
đã yêu thương che chở trong suốt đoạn đời thơ ấu. Giờ
thì tất cả chỉ còn là dĩ vãng, có chăng chỉ còn lại những
hồi tưởng lắng đọng trong tâm tư ưu sầu cảm thương vời
vợi của một kẻ tha hương.
Đời
người như một giấc mơ,
Trăm
năm nào khác cuộc cờ đổi thay.
Đúng
như lời của một bài kinh Phật ! Thời gian thấm thoát thoi
đưa, mới đây mà tuổi đời đã gần năm mươi, thế mà
tôi cứ tưởng chừng như mới hôm nào. Mới hôm nào tôi hãy
còn bé và còn sống trong sự đùm bọc của tình cha nghĩa
mẹ. Dù tất cả đối với tôi bây giờ đã là dĩ vãng, nhưng
tôi vẫn còn nhớ, nhớ mãi miền quê nghèo, nhớ ngôi nhà
lá năm xưa, nhớ bầu trời thương yêu dịu ngọt mà tôi đã
vẫy vùng trong suốt thời thơ ấu. Bây giớ xa quê với cuộc
sống tha hương, bôn ba giữa chợ đời xa lạ. Bây giờ khi
cả cha lẫn mẹ đã khuất bóng, tôi mới thấm thía với câu
nói của một đại thiền sư: “Dù lớn thế mấy mà mất
mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ lạc lỏng,
cũng không hơn gì trẻ mồ côi.”Thật đúng vậy ! Từ ngày
mất mẹ, tôi cảm thấy như đang bơ vơ lạc lỏng trong cuộc
sống như một trẻ mồ côi không hơn không kém.
Tôi
sanh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, nghèo lắm, nghèo
da diết. Gia đình tôi lại rất đông anh chị em, nên cả cha
lẫn mẹ tôi phải tần tảo vô cùng cực khổ mới nuôi được
chúng tôi nên hình nên vóc. Nhất là mẹ tôi, người đã suốt
đời tận tụy vì con cái. Người đã dầm sương dãi nắng,
hai vai trĩu nặng với gánh hàng rong để nuôi con. Vì nghèo
và vì con mà người đã không quản ngại một nắng hai sương,
quảy gánh ra đi từ sáng sớm và trở về khi mọi người
đã yên giấc ngủ. Mẹ đã dãi dầu mưa nắng, mẹ đã nhận
lấy hết mọi khổ nhọc của cuộc đời cho đàn con được
đầy đủ, được no cơm ấm áo. Mẹ đã lao lực đến tận
cùng sức chịu đựng của một con người, mẹ đã vắt cạn
hết những gì mẹ có thể vắt được nơi tấm thân gầy
còm của mẹ, để lo được cái ăn cái học cho những đứa
con của mẹ mà chưa một lần tôi nghe mẹ than phiền. Mẹ
đã gánh nỗi cơ hàn vất vả suốt cả đời người, nhưng
lúc nào con cũng thấy nụ cười nhân hậu trên đôi môi mẹ.
Bóng
dáng hạnh phúc của mẹ là các con mẹ học hành giỏi giang
và ngoan ngỗn, còn thân mẹ có ra sao mẹ cũng cam. Đôi mắt
mẹ luôn thâm quầng vì thiếu ngủ. Lúc nhỏ mỗi lần đi
học về, tôi thường hay ghé chợ chiều để được mẹ cho
ăn quà. Rất nhiều lần tôi bắt gặp mẹ ngủ gục bên gánh
cháo, nhưng ngày đó tôi hãy còn ngây thơ và hồn nhiên quá,
nên chưa hiểu đủ để nói được một câu gì an ủi mẹ.
Mẹ tôi đó ! Một người mẹ cả đời còm cõi vì chồng
vì con. Một người mẹ cả đời gánh chịu tât cả, hy sinh
tất cả, quên cả thân mình để lo cho chồng cho con. Ăn thì
mẹ chỉ ăn những gì thừa mứa, còn cái nguyên vẹn ngon hảo
thì mẹ đã nhường hết cho các con. Mẹ đã suốt đời nhịn
ăn, nhịn mặc, nhịn đi chơi, thậm chí bịnh mà mẹ cũng
ráng cho lướt qua chớ không dám thuốc thang, vì tất cả tiền
mẹ kiếm được chỉ để lo cho các con chứ không có khoản
nào dành cho riêng mẹ. Mẹ lo cho các con ăn học, mẹ mua quần
áo lành lặn cho các con, còn thân mẹ thì rách rưới. Có khi
nào con thấy mẹ mặc được một cái áo cho lành, hay một
cái quần cho tốt đâu. Vì chồng vì con mà suốt đời mẹ
buôn gánh bán bưng, đầu tắt mặt tối, nhịn cay nuốt đắng.
Những
lúc con trở bịnh, mẹ một mình lặn lội trong mưa đi tìm
thang thuốc cho con. Những lúc chập chờn trong cơn mê sốt,
con vẫn thấy mẹ túc trực bên giường với đôi mắt đầy
lo âu. Mẹ chính là nguồn suối, nguồn năng lực trong đời
con. Mẹ là cội rễ của mọi yêu thương trong đời con. Không
có sự dạy dỗ của mẹ, có lẽ giờ nầy con không có được
cuộc sống biết yêu thương và vị tha đâu mẹ ạ ! Tất
cả những gì con và các cháu của mẹ có được hôm nay là
hoàn toàn của mẹ. Mẹ đã dành trọn cả cuộc đời cho con
cho cháu, không đong đo, không tính toán. Mẹ đã bất kể những
khó khăn, gian lao và nghiệt ngã của trường đời, đã nhịn
đắng nuốt cay, để chỉ mang về một chất ngọt ngào và
tràn đầy yêu thương cho các con của mẹ.
Mẹ
ơi làm sao con quên được vào những năm đầu thập niên sáu
mươi, lúc ba đang thất nghiệp, gia đình mình sa sút trầm
trọng, tưởng chừng như không thể nào vượt qua được.
Lúc ấy bà Cô Út có đề nghị với ba mẹ là cho con và em
Minh đến tá túc, giúp đở việc nhà, nói theo kiểu bình dân
là đi ở đợ, dù bà có hứa là vẫn cho tụi con tiếp tục
đi học, nhưng mẹ đã thẳng thắn, cương quyết và nhẹ nhàng
cám ơn lòng tốt của bà mà rằng:
--Thưa
cô, con còn đôi tay, đôi chân, con còn có thể nuôi
và cho các con của con ăn học được mà.
Thế
rồi một mình mẹ với đôi vai trĩu gánh. Mẹ phải đi vay
tiền trả góp để mua sách cho con học. Lúc ấy mỗi lần
Tết đến, tụi con mong ham bao nhiêu thì mẹ rầu lo bấy nhiêu,
nhưng tụi con vẫn hồn nhiên vô tư nào hay biết gì ! Chỉ
cần mỗi năm sắm cho các con mỗi đứa một bộ đồ mới
là mẹ phải mua đến mười mấy bộ rồi còn gì !
Mẹ
phải còng lưng thêm vì đôi gánh hàng của mẹ phải nặng
hơn. Nhưng rồi năm nào tụi con cũng đều có đồ mới, có
thịt kho, có dưa, có pháo, chứ nào ngờ đâu mình đang vắt
cạn dần sức của mẹ.
Năm
con lên lớp đệ tam (lớp 10) cũng là lúc mà gia cảnh mình
bi đát quá, nên con đã xin với ba mẹ cho con được nghỉ
học để đi làm phụ giúp với ba mẹ nuôi cho các em khôn
lớn, dù rằng hồi đó con đương là một trong những học
sinh xuất sắc nhứt của trường trung học tỉnh. Mẹ còn
nhớ không ? Mẹ đã khóc và nài nỉ con bỏ đi ý định nghỉ
học. Mẹ nói:
“Như
các con thấy đó, các con vì duyên nghiệp mà sanh ra trong gia
đình nghèo. Mẹ cha nghèo quá nên không có của hồi môn để
lại cho các con đâu, nhưng mẹ có tấm thân nầy. Dù có dầm
sương dãi nắng mẹ cũng cam, miễn sao các con được đi học,
có chữ nghĩa với đời. Mẹ không muốn sau nầy các con nuôi
cháu của mẹ cực khổ như mẹ đã nuôi các con bây giờ.”
Mẹ
ơi ! Trên đời nầy còn sự hy sinh nào lớn lao hơn lòng mẹ
cho con ? Núi Thái Sơn có cao, cũng không cao bằng sự hy
sinh của mẹ cho con. Biển Thái Bình có rộng, cũng không rộng
bằng tình mẹ thương con.
Mẹ
tôi sanh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, lại thêm
hoàn cảnh đất nước thời đó còn bị Tây đô hộ, nên
người không có cái diễm phúc được đi học nhiều như anh
em chúng tôi về sau nầy, nhưng với tôi, mẹ là hình ảnh
một nhà giáo tuyệt vời. Mẹ dạy dỗ, mẹ nuông vhìu, mẹ
bao dung tha thứ. Cây roi duy nhứt của mẹ dành cho các con là
nước mắt của mẹ. Mỗi khi các con nghịch ngợm, mẹ rầy
không xong là mẹ khóc, vì mẹ biết rằng nếu không khéo,
con sẽ bị ba đánh đòn cho một trận nên thân. Mỗi lần
con bị ba đánh là mỗi lần ba mẹ rầy rà nhau mấy bữa.
Mẹ bảo ba đánh con như đánh kẻ thù, dù ba chỉ đánh nhẹ,
mẹ vẫn nói: “Con tôi bị đòn, nó chưa đau, tôi đã đau.”
Mẹ ơi ! Mê là người mẹ đẹp nhứt của con trên đời nầy.
Con không biết và không còn nhớ mẹ của con lúc còn trẻ
có đẹp hơn ai về sắc dáng hình hài hay không, nhưng tâm
hồn mẹ đẹp quá. Biển cả mênh mông và đẹp thế nào thì
tâm hồn mẹ cũng đẹp như thế ấy! Biển cả còn có khi
dậy sóng ba đào, chứ mẹ của con thì luôn êm dịu. Mẹ luôn
dang rộng đôi cánh ra để gánh lấy tất cả phong ba bão tố
cho các con được ấm êm. Oâi tình mẹ sáng và dịu êm như
ánh trăng lung linh huyền dịu.
Mẹ
chẳng những là nơi ban phát tình thương cho con cái, mà mẹ
còn là một hải cảng tuyệt vời cho con về nương tựa trong
những lúc mưa dồn sóng vỗ của cuộc đời. Hình ảnh mẹ
là một cái gì thiêng liêng cao quý mà không một bút mực
nào có thể diễn tả hết được. Chẳng phải tiếng “mẹ”
là tiếng mà con vẫn hay thốt ra đầu tiên mỗi khi gặp phải
việc gì khó khăn rắc rối hay sao ?
Tiếng
mẹ với con là một biểu tượng tuyệt vời. Muôn đời mẹ
vẫn là một kỳ quan vĩ đại và tuyệt hảo nhứt trong con.
Bây giờ cho dù có nói gì, có viết gì cũng không cùng không
cạn được sụ tán thán về mẹ. Lòng mẹ bao la vô bờ vô
bến. Mẹ là vũ trụ, mẹ là tất cả, mẹ là Phật. Lòng
mẹ bao la hơn biển Thái Bình, tình mẹ tha thiết hơn dòng
suối hiền, đúng như lời của một bài hát về mẹ. Mẹ
như dòng suối mát dịu, cứ tuôn chảy và tuôn chảy những
nước cam lồ nuôi dưỡng thân con lúc còn nhỏ, và tưới
mát tình cảm chai sạn phong trần vì đói no vinh nhục khi lăn
lóc ngoài đời. Với con, mẹ là Bồ Tát vì suốt cuộc đời
mẹ chỉ biết hiến dâng mà không đòi hỏi bất cứ thứ
gì đền trả lại.
Trong
suốt cuộc đời, mẹ chỉ biết ban cho mà không đòi trả
lại bất cứ thứ gì. Mẹ đã bôn ba từ chợ sớm, đến
chợ trưa, rồi chợ chiều. Sáng bán bánh mì, chiều bán cháo,
cứ thế mà mẹ lầm lủi nuôi con trong mấy chục năm liền.
Mẹ đã gánh cả một trời yêu thương trên đôi vai mòn mỏi.
Mẹ đã gánh cả một trời mơ ước cho các con mẹ được
thành nhân chi mỹ. Mẹ đã gánh nắng gánh mưa cho các con của
người được yên ấm. Mẹ đã gánh tất cả những hệ lụy
của cuộc đời cho các con mẹ được yên vui. Vì con mà thân
thể mẹ hao mòn, mẹ cũng không màng. Vì con mà năm canh chầy
thức đủ vừa năm, mẹ cũng không quản. Vì con mà mẹ phải
gánh cả bình minh lẫn hoàng hôn của vũ trụ, gánh cả mặt
trời lẫn ánh trăng khuya. Mẹ là tình thương bao la. Thân thể
mẹ có thể héo mòn theo thời gian, nhưng tình thương mẹ không
bao giờ mòn héo. Vì con mà chỗ ướt mẹ nằm, dành chỗ ráo
con lăn. Lắm khi vì con mà mẹ phải gây tội tạo nghiệp cũng
không chừng. Còn nhiều thứ vì con mà mẹ phải hy sinh lắm.
Vì con mà ngay cả sinh mạng mẹ, mẹ cũng không màng.
Mẹ
ơi, làm sao con quên được một lần con đang ngồi chơi dưới
hàng dừa trước ngõ, ngay vừa lúc mẹ về cũng là lúc một
trái dừa từ trên cao rụng xuống. Mẹ đã bất kể an nguy,
chạy vội lại bao trùm lấy con và bảo con đừng sợ, có
mẹ đây ! Vì con mà ngay cả sinh mạng mẹ, mẹ cũng không
tiếc. Mẹ chính là Phật hóa thân vì có lúc nào mà mẹ
không nghĩ đến sự an lạc và hạnh phúc của các con đâu
? Trái tim của mẹ là trái tim của Phật, chính nơi đó tuôn
ra đủ thứ từ, bi, hỉ, xả, công bình, bác ái… Ngoài chín
tháng cưu mang, mẹ còn cả đời lầm lủi nuôi con. Lòng mẹ
như biển rộng bao la, như trời cao không cùng tột. Tình thương
mẹ dành cho các con là thứ tình thương chân thật tuyệt đối,
là suối nguồn êm dịu, trong lành và tươi mát.
Cũng
như bao nhiêu bà mẹ Việt Nam khác, mẹ đã một đời tận
tụy hy sinh, đã nhẫn nhục chịu đựng vì chồng vì con và
cho chồng cho con. Mẹ đã cho con tất cả những gì mẹ có.
Lời hát ru của mẹ cho con thời thơ ấu là những chất liệu
êm dịu nồng nàn và ngon ngọt như chuối ba hương, như xôi
nếp một, như đường mía lau. Mẹ đã cho con từ thuở lọt
lòng, đến lúc nằm nôi, rồi tập tễnh đi những bước vào
đời, và mãi về sau nầy khi con đã vào đời.
Một
lần hai mẹ con lên Sài Gòn, lúc đó con đã mười chín hai
mươi tuổi gì rồi, nhưng mỗi lần băng qua đường là mẹ
vẫn nắm chặt tay con. Con mắc cở vội vùng ra khỏi tay mẹ,
thì mẹ âu yếm nhìn con mà rằng: “Mẹ sợ xe cộ nhiều
quá, nhỡ có gì thì nguy cho con của mẹ!” Mẹ chỉ sợ nguy
cho con, còn mẹ thì ra sao mẹ cũng không màng. Mẹ ơi bây giờ
con mới thấm thía với câu nói của người xưa: “Con dù
lớn thế mấy, thì con vẫn là con của mẹ. Từng bước chân
con đi là từng nhịp thở con tim của mẹ.” Nhưng giờ nầy
mẹ còn đâu nữa hở mẹ ? Mẹ đã lo cho các con đến hơi
cùng sức kiệt rồi, nên mẹ không chừa lại một hơi thở
nào cho riêng mẹ.
Dẫu
rằng giờ nầy mẹ đã không còn, nhưng với con, mẹ luôn
là một nhà giáo dục vĩ đại. Mẹ dạy con từ ăn, nói, đi,
đứng, đến yêu thương. Mẹ dạy con yêu con và yêu cả những
người quanh con. Chính mẹ là người đã dạy con bài học
“từ bi” đầu đời. Mẹ có còn nhớ không ? Hồi con còn
bé, trong những ngày đầu đi học, có lần tan học, mẹ đến
rước con. Trên đường từ trường về nhà, con đã tinh nghịch
dẫm đạp lên những chú kiến đang bò trên đường. Mẹ đã
dịu dàng can ngăn con mà rằng:
“Con
ơi ! Con còn có phước vì mỗi khi đi học về đều được
mẹ hoặc dì Sáu rước. Còn mấy chú kiến kia, có lẽ mẹ
mấy chú đang bận tha mồi, và cũng có lẽ giờ nầy m