Subj:
Tu Tập Công Án
Date:
10/4/2003 1:27:19 PM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả: Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki;
Bản
dịch của Tuệ Sỹ
..."...
Thiên
Kỳ Thụy hòa thượng thị chúng:
Hãy
gột sạch khỏi tâm tất cả khôn ngoan lừa lọc, dứt mình
ra khỏi tham sân do chấp ngã, và đừng để những mối suy
nghĩ phân hai quấy phá, để cho tâm thức được lau chùi sạch
sẽ.
Khi
đã thanh lọc được như vậy rồi, hãy đề khởi công án
trước tâm: "Muôn pháp về một, một về chỗ nào ?"
Hãy
nghiền ngẫm vấn đề này từ thủy chí chung, hoặc bằng
nhiều nghi vấn, hoặc đơn độc một suy nghĩ, hoặc chỉ nghiền
ngẫm cái "một" ở nơi đâụ Bất cứ bằng cách nào, cứ
để cho hết thảy đầu mối của các câu hỏi ghi đậm trên
ý thức của các ngươi, khiến cho nó trở thành cái độc
nhất, là cái đích chú tâm.
Nếu
các ngươi để phân biệt lý luận xen vào chuỗi dây
liên tục bền bỉ của nghi tình, kết quả sẽ làm sụp đổ
hết cả công trình tu tập.
Một
khi các ngươi chẳng để được công án trước tâm, chẳng
có cơ duyên nào để chứng ngộ hết.....
Cốt
yếu bậc nhất là khơi dậy cái đại nghi "một qui về đâủ"....
(Trang
184)
Subj:
Tu Tập Công Án (2)
Date:
10/4/2003 6:51:45 PM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả: Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki;
Bản
dịch của Tuệ Sỹ
...
" ...
Thiền
muốn chùi sạch tất cả những cặn bã tri thức trong tâm
thức của mọi người để họ có thể tiếp thọ sơ phát
tâm bằng tất cả sự thanh khiết và thuần nhất của nó.
Vì mục đích này mà công án, -- vốn dĩ là vô nghĩa
theo lối hiểu biết phàm phu, -- được đề ra cho các môn
đệ. Ý là quay trở về cái không hư nguyên thủy trong
đó chưa có ý thức tác dụng. Đây là một trạng thái vô
sinh.
Thiền
bắt đầu từ đó và Tịnh Độ tông cũng vậy .
(Trang
274)
From:
"Chon.Nhu" <chon.nhu@v...>
Date:
Sat Oct 4, 2003 7:20 pm
Subject:
Re: [tubi] Tu Tập Công Án (2)
CN:
Trở về cái nguyên thủy thì chỉ trở về cái VÔ MINH như
đất đá, cây cỏ, sâu bọ, cá mú, khỉ, đười ươi, ...
mà thôi ông SUZUKI ạ.
Nếu
cái nguyên thủy đã sáng suốt tròn đầy thì tại làm sao
mà nó bị trở thành mê mờ? Nếu đã bị trở thành
mê mờ như vậy thì dầu có tu cho sáng suốt trở lại rồi
mai kia mốt nọ, nó cũng lại mê mờ như từng đã xảy ra,
thì tu vô ích quá !
Ai
là đồ đệ thượng thặng của SUZUKI xin "banh" mắt giùm cho
tui điều này thử coị
CN
From:
Khucdinhhop@ạ..
Date:
Sat Oct 4, 2003 8:10 pm
Subject:
Mê ... Giác ...
Trích
Lăng Nghiêm Tông Thông, tập một. Luận giả: Cư sĩ Tăng Phụng
Nghi; Dịch giả: Thiền sư Nhẫn Tế.
IV.
CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ
Kinh
:
Ông
Phú Lâu Na thưa :
--
Nếu cái Diệu Giác đó, bản tánh là Diệu Minh, cùng với
Tâm Như Lai, không tăng không giảm, mà không cớ gì bỗng sanh
các tướng hữu vi núi, sông, đất đaị Vậy nay Như Lai đã
đắc Diệu Giác Minh Không đó, thì lúc nào lại sanh ra núi,
sông, đất đai và các tập lậu hữu vi ?"
Phật
bảo Ông Phú Lâu Na :
--
Ví như người mê, nơi một xóm làng, lầm phương Nam làm phương
Bắc, thì cái mê ấy nhân do Mê mà có hay nhân Ngộ mà sinh
ra ?
Ông
Phú Lâu Na thưa :
--
Người mê như vậy, cũng chẳng nhân Mê, cũng chẳng nhân Ngộ.
Vì sao thế ? Cái Mê vốn không có gốc gác, làm sao mà nhân
Mê ? Ngộ chẳng sanh ra Mê, làm sao mà nhân Ngộ ?
Đức
Phật nói :
--
Cái người mê kia, ngay trong lúc mê, bỗng có người ngộ chỉ
bày cho khiến tỏ ngộ. Này Phú Lâu Na, ý ông thế nào ? Người
ấy đã thả cái Mê ra rồi, thì đối nơi xóm làng đó, có
còn sanh mê lại không ?
--
Bạch Thế Tôn, không.
--
Phú Lâu Na, mười phương Như Lai lại cũng như thế. Cái Mê
ấy không có gốc gác, tánh nó rốt ráo không. Xưa vốn chẳng
có Mê, chỉ hình như có Mê, có Giác. Giác được cái Mê,
thì Mê diệt mà cái Giác vốn chẳng sanh Mê
Cũng
như người lòa mắt, thấy hoa đốm giữa hư không. Bệnh lòa
nếu hết, thì hoa đốm ở hư không diệt mất. Bỗng có người
ngu, ở chỗ hư không mà hoa đốm kia đã diệt, đợi chờ
hoa đốm sanh ra trở lạị Ông xét người đó là ngu hay là
trí huệ ?
Ông
Phú Lâu Na thưa :
--
Hư không vốn không có hoa đốm, mà vọng thấy có sanh có
diệt. Thấy có hoa diệt mất giữa hư không đã là điên đảo
rồị Lại còn muốn bảo nó sanh ra lại thì thật là điên
dại, làm sao mà gọi người điên như vậy là ngu hay là trí.
Phật
dạy :
--
Ông hiểu như thế, sao lại còn hỏi : "Tánh Diệu Giác Minh
Không của Chư Phật Như Lai khi nào lại sanh ra núi, sông, đất
đai ?" Cũng như quặng vàng lẫn lộn với vàng ròng, một
khi vàng đã thành ròng, chẳng trở lại thành dơ tạp.
Như cây đã đốt thành tro, không trở lại thành cây nữạ
Bồ Đề, Niết Bàn của chư Phật Như Lai cũng lại như
thế...."...
THÔNG
rằng :
Kinh
Viên Giác, Bồ Tát Kim Cang Tạng hỏi Đức Thế Tôn rằng :
"Nếu chúng sanh xưa nay thành Phật,
thì tại sao có hết thảy Vô Minh ? Nếu chúng sanh vốn có
Vô Minh, thì vì nhân duyên gì Như Lai lại nói bổn lai thành
Phật ? Các loài dị sanh trong mười phương, vốn thành Phật
Đạo, sau lại khởi Vô Minh, thì tất cả Như Lai khi nào lại
sanh ra tất cả phiền não ?"
Thế
Tôn đáp rằng : "Này trai lành ! Hết
thảy thế giới thủy chung sanh diệt, trước sau Có, Không,
Tụ, Tán, Khởi, Dừng niệm niệm nối nhau, xoay vòng đi lại,
đủ thứ nắm bỏ, đều là luân hồi. Chưa ra khỏi luân
hồi mà tìm hiểu Viên Giác thì tánh Viên Giác kia cũng đồng
trôi chuyển. Nếu thoát khỏi luân hồi, thì làm gì có chuyện
đó !"
Nay
chỗ nghi của ông Phú Lâu Na không khác với Bồ Tát Kim Cang
Tạng mà Thế Tôn chỉ tùy theo cái thấy sanh diệt của ông
mà phá. Đưa tiếp nhau bốn thí dụ :
Thứ
nhất là Giác chẳng trở lại Mê;
Thứ
hai là diệt rồi chẳng sanh trở lại;
Thứ
ba là vàng ròng chẳng trở lại quặng ;
Thứ
bốn là tro chẳng thành lại câỵ
Hai
ý sau diễn lại hai ý chánh trước. Giác
chẳng trở lại Mê, tức là Bồ Đề.
Diệt
chẳng trở lại sanh, tức là Niết Bàn. Đây
là đã ra khỏi luân hồi mà biểu hiện Viên Giác. Tánh Viên
Giác ấy tức chẳng có luân hồi, nên nói Bồ Đề, Niết
Bàn của Chư Phật Như Lai cũng lại như thế.
Chúng
sanh ở trong Mê, chỗ cần yếu là phải Giác. Nhưng từ xưa
vốn không có sự Mê, cái Mê từ
vô thủy, chỉ tương tự như Mê
.
Bởi
vì ngay khi Mê cũng chưa từng bỏ mất, nên nói chỉ tựa hồ
như Mê. Nay cũng không phải là không có Giác. Từ
Mê mà Giác, thì cũng tựa hồ có Giác, vì ngay khi Giác, thì
có đắc gì đâu, nên gọi là tựa hồ như Giác. Giác cái
Mê, thì Mê diệt, đó là Thủy Giác. Giác cho đến chỗ Thủy
Giác và Bổn Giác không khác, thì chỉ là một Diệu Giác.
Thế là chẳng trở lại sanh Mê, chỉ tự chẳng Mê, Giác cũng
thành vô dụng.
(Trang
486)
Trích
từ :
http://www.thuvienhoasen.org/lntt-04-01.htm
From:
"Chon.Nhu" <chon.nhu@v...>
Date:
Sun Oct 5, 2003 4:26 am
Subject:
Re: [tubi] Me^ ... Gia'c
From:
Khucdinhhop@aol.com
To:
hoasen-1@yahoogroups.com ; tubi@yahoogroups.com
Sent:
Saturday, October 04, 2003 10:10 PM
Subject:
[tubi] Mê ... Giác ...
Trích
Lăng Nghiêm Tông Thông, tập một. Luận giả: Cư sĩ Tăng Phụng
Nghi; Dịch giả: Thiền sư Nhẫn Tế.
IV.
CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ
Kinh
:
Ông
Phú Lâu Na thưa :
--
Nếu cái Diệu Giác đó, bản tánh là Diệu Minh, cùng với
Tâm Như Lai, không tăng không giảm, mà không cớ gì bỗng sanh
các tướng hữu vi núi, sông, đất đaị Vậy nay Như Lai đã
đắc Diệu Giác Minh Không đó, thì lúc nào lại sanh ra núi,
sông, đất đai và các tập lậu hữu vi ?"
Phật
bảo Ông Phú Lâu Na :
--
Ví như người mê, nơi một xóm làng, lầm phương Nam làm phương
Bắc, thì cái mê ấy nhân do Mê mà có hay nhân Ngộ mà sinh
ra ?
Ông
Phú Lâu Na thưa :
--
Người mê như vậy, cũng chẳng nhân Mê, cũng chẳng nhân Ngộ.
Vì sao thế ? Cái Mê vốn không có gốc gác, làm sao mà nhân
Mê ? Ngộ chẳng sanh ra Mê, làm sao mà nhân Ngộ ?
CN:
Chỉ có cái VÔ MINH từ nguyên thủy mới không có gốc gác
(vì vũ trụ không có khởi đầu). Chứ nếu từng đã
biết phân biệt các phương Bắc Nam rõ ràng mà bây giờ sinh
ra lẫn thì phải có NGUYÊN DO sao lại không? hoặc do già óc
não suy yếu, hoặc do bị té động đến não, hoặc bị thuốc
phê đầu óc mơ hồ, v.v và v.v. CÓ QUẢ (biến đổi)
là phải có NHÂN DUYÊN sinh rạ Đạo Phật mà không còn
luật NHÂN QUẢ thì còn gì Đạo Phật.
Kinh
Lăng Nghiêm là một kinh hay, nhưng đoạn này là cát sỏi của
mấy ông Tổ thêm vào đó. Phật và các Bồ Tát không
ăn nói dốt nát thế đâụ
Đức
Phật nói :
--
Cái người mê kia, ngay trong lúc mê, bỗng có người ngộ chỉ
bày cho khiến tỏ ngộ. Này Phú Lâu Na, ý ông thế nào ? Người
ấy đã thả cái Mê ra rồi, thì đối nơi xóm làng đó, có
còn sanh mê lại không ?
--
Bạch Thế Tôn, không.
--
Phú Lâu Na, mười phương Như Lai lại cũng như thế. Cái Mê
ấy không có gốc gác, tánh nó rốt ráo không. Xưa vốn chẳng
có Mê, chỉ hình như có Mê, có Giác. Giác được cái Mê,
thì Mê diệt mà cái Giác vốn chẳng sanh Mệ
CN:
Rõ ràng là "cát sỏi" dính vàọ Phật mà còn
ăn nói "hình như" nữa saỏ Đấng Giác Ngộ gì mà kỳ
zậỷ Ăn nói lý luận lủng củng. Dầu cho
Mê có gốc gác hay không mà nó đã sinh ra để che được cái
Giác thì ai bảo đảm điều đó không xảy ra trở lạỉ
Cũng
như người lòa mắt, thấy hoa đốm giữa hư không. Bệnh lòa
nếu hết, thì hoa đốm ở hư không diệt mất. Bỗng có người
ngu, ở chỗ hư không mà hoa đốm kia đã diệt, đợi chờ
hoa đốm sanh ra trở lạị Ông xét người đó là ngu hay là
trí huệ ?
Ông
Phú Lâu Na thưa :
--
Hư không vốn không có hoa đốm, mà vọng thấy có sanh có
diệt. Thấy có hoa diệt mất giữa hư không đã là điên đảo
rồị Lại còn muốn bảo nó sanh ra lại thì thật là điên
dại, làm sao mà gọi người điên như vậy là ngu hay là trí.
CN:
Cũng là lý luận "cùn" nữa ! Dầu hư không chưa từng
có hoa đốm nên không hề có hoa đốm sinh hay diệt trong hư
không, nhưng nếu con mắt bị nhặm trở lại thì cũng
sẽ thấy hoa đốm trong hư không có trở lại vậỵ Quả
do Nhân nào sinh thì khi có Nhân trở lại thì Quả cũng sẽ
có lạị Đó là luật NHÂN QUẢ.
Phật
dạy :
--
Ông hiểu như thế, sao lại còn hỏi : "Tánh Diệu Giác Minh
Không của Chư Phật Như Lai khi nào lại sanh ra núi, sông, đất
đai ?" Cũng như quặng vàng lẫn lộn với vàng ròng,
một khi vàng đã thành ròng, chẳng trở lại thành dơ tạp.
Như cây đã đốt thành tro, không
trở lại thành cây nữạ Bồ Đề, Niết Bàn của chư Phật
Như Lai cũng lại như thế...."...
CN:
Dĩ nhiên đã thành vàng ròng thì không trở lại vàng quặng.
Nhưng nguyên thủy thì chỉ có vàng
quặng, chưa hề có vàng ròng.
Do
người chế biến mới có vàng ròng.
Cũng vậy nguyên thủy chỉ có VÔ MINH không có GIÁC NGỘ.
Nhưng khi đã GIÁC NGỘ rồi thì không còn trở lại VÔ MINH.
Đừng ai bảo bản lai đã có sự trong sáng. Chỉ là do
mấy ông Tổ chưa hề Giác Ngộ tưởng tượng ra đó thôị
Cho nên chuyện tu mà chìu rửa cái tâm (bằng các công án cho
sạch những tri kiến như ông SUZUKI đã nói) là cách tu của
Thần Tú đã bị Lục Tổ chê cườị
Còn
cái KHÔNG của TRÍ TUỆ giác ngộ thì làm gì còn dính vào
concept thời gian. Nếu nó có quá khứ hiện tại vị lai,
thì nó đã là HỮU mất rồi, còn gì gọi là KHÔNG nữả
Cho nên chuyện "bản lai diện mục"
là chuyện của người chưa Giác Ngộ được cái KHÔNG của
đạọ
Người
Phật tử muốn tu hành đúng đường, đúng cách của Phật
nên nghiên cứu đối chiếu Kinh Tạng Nam Bắc tông cho đầy
đủ để mới có thể không bị lầm lạc.
From:
Vominhcusi@ạ..
Date:
Mon Oct 20, 2003 7:52 am
Subject:
[vn-buđhism] New Posting October 19, 2003
Chào
Chơn Như,
Đọc
message của Chơn Như, tôi lại nhớ về những kỷ niệm của
thời thơ ấu .
Dạo
đó anh tôi học lớp Nhì, tôi học lớp Ba, trường Tiểu Học.
Một
hôm anh tôi đang làm bài thì có bạn lại thăm, anh bỏ tập
vở đi theo bạn, quên gấp lại . Tôi định sang giúp gấp
vở cho anh, nhưng khi nhìn vào thì tôi thấy anh tôi đang làm
tính, mà có lẽ vì vội vã hay sao đó mà anh tôi ghi thiếu
hẳn một hàng số, thay vì có hai hàng số bên trên rồi đến
một cái gạch ngang rồi mới đến một hàng phía dưới như
những tính cộng trừ nhân chia thập phân mà tôi vẫn làm
hằng ngày thì đàng này anh tôi chỉ ghi có một hàng phía
trên, rồi một gạch ngang, rồi một hàng phía dưới mà thôi
.
Chờ
anh tôi về, tôi đưa tập vở ra chỉ cho anh, thì anh cưới
mà bảo rằng:
--
Đây là tính phân số nên chỉ có một hàng ở trên thôi ,
không giống loại tính mà em vẫn làm đâu, sang năm lên lớp
Nhì được học phân số, em sẽ biết, em à.
Sau
này vào đời có lần đọc sách, tôi lại thấy có câu chuyện
mà nay tôi chỉ còn nhớ mài mại, nhưng cũng là một bài học
hay .
Đại
khái chuyện kể rằng, có một ông quan kia rất hay chữ,
văn chương thơ phú nổi tiếng một thời .
Ngày
kia, ông được lệnh đổi nhiệm sở, tới làm dưới quyền
một vị quan lớn cũng thuộc hàng hay chữ .
Một
hôm, quan lớn đi vắng, nhân có thời giờ rảnh rỗi, ông
quan nhỏ dọn lại bàn giấy cho gọn gàng. Nhìn thấy bài thơ
quan lớn đang làm dở có hai câu :
Minh
nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng
khuyển ngọa hoa tâm
nghĩa
là :
Trăng
sáng kêu đầu núi
Chó
vàng nằm trong lòng hoa
Ông
cho là quan lớn viết sai vì làm sao trăng sáng lại có thể
kêu ở đầu núi, chó vàng lại có thể nằm trong lõi bông
hoa, bèn thuận tay cầm bút sửa lại như sau :
Minh
nguyệt sơn đầu chiếu
Hoàng
khuyển ngọa hoa âm
nghĩa
là :
Trăng
sáng chiếu đầu núi
Chó
vàng nằm dưới bóng rợp của hoa
đọc
lên thấy có nghĩa lý rõ ràng.
Mấy
ngày trôi qua, ông quan nhỏ không thấy ông quan lớn nói lời
cảm ơn, vẫn nhẫn nại chờ.
Rồi
một hôm quan nhỏ được quan lớn đổi nhiệm sở tới tận
một huyện vắng vẻ.
Buổi
sáng lững thững cùng tiểu đồng là dân bản xứ lên núi,
ông nghe tiếng chim kêu lảnh lót, bèn hỏi : "Tên loài chim
đang hót là gì?", thì tiểu đồng thưa : "Đó là chim Minh
Nguyệt".
Vốn
là người thông minh, ông giật mình vội tiếp: "Thế có con
gì tên là Hoàng Khuyển không?", thì người tiểu đồng bèn
chỉ ngay một bông hoa trước mặt, nằm gọn ngay tại nhị
hoa là con sâu tên là Hoàng Khuyển.
Ông
quan nhỏ đứng thừ người, chết điếng.
Ông
quan lớn muốn dạy thuộc hạ bài học kinh nghiệm bản thân,
cho bớt tật kiêu ngạo, nên phải đổi ông quan nhỏ ưa "làm
tài khôn" ra mãi tận chỗ khỉ ho cò gáy để mà "thực
chứng".
Chào
tạm biệt Chơn Như,
VM
From:
phamdluan2000" <phamdluan@ạ..>
Date:
Mon Oct 20, 2003 10:20 am
Subject:
Re: New Posting October 19, 2003
KKT:
Ông quan lớn trong truyện là Vương An Thạch, một nhà cải
cách đời Tống (giống Đặng Tiểu Bình thời nay đã từng
làm Tể Tướng và đòi đem quân đánh VN :
Ông
quan nhỏ là Tô Đông Phạ Tài văn chương thi phú của TDP thì
hẳn mọi người đều biết.
TDP
kiếp trước là Thiền sư chỉ vì một niệm sắc dục khởi
nên sang kiếp này ông có 7 bà vợ
Ông
có người bạn là sư Phật Ấn cũng là một Thiền sư bạn
ông trong kiếp trước nay đầu thai theo để độ TDP
KKT
Subj:
Tu tập Công Án ( 3 )
Date:
10/17/2003 7:28:45 PM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
....".......
Thiền
sư Sở Sơn Thiệu Kỳ nói :
--
Người sơ cơ cần nhất là phải có một vật để nắm mà
vào Thiền ; và vì thế họ được dạy cho pháp môn niệm
Phật. Phật tức tâm, Tâm tức Phật. Tâm và Phật từ đâu
mà có ? Có từ Tâm. Tâm ấy không phải là tâm, không phải
Phật, không phải vật. Vậy là cái gì ?
Muốn
thấy ra, hãy vứt bỏ đi tất cả những cái đã tích chứa
do học tập, tri thức, kiến giải; hãy chỉ hoàn toàn chuyên
chú vào một câu hỏi :
"Ai
đang niệm Phật ?"
Hãy
để cho nghi tình này nghi đến cực độ ; đừng say sưa theo
những nghĩ tưởng mê lầm ; đừng để cho những ý tưởng
phân biệt cùng khởi lên.
Một
khi công phu bền bỉ, liên tục không gián đoạn, thì Thiền
định của các ngươi tất nhiên sẽ được thuần thục, và
nghi
tình của các ngươi nhất định bùng vỡ dữ dộị
Rồi
các ngươi sẽ thấy Niết Bàn và sinh tử, cõi Tịnh Độ và
cõi uế trược, chỉ là hí luận, và ngay từ đầu chẳng
cần gì giải thích hay bình chú , và thêm nữa, TÂM không thuộc
cảnh giới tâm ý thức, do đó là BẤT KHẢ ĐẮC
(Trang
186)
Subj:
Tu tập Công Án (4)
Date:
10/17/2003 7:57:14 PM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
..."...
Theo
thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu, chúng ta được biết như vầy
:
--
Công án tôi thường đặt cho các môn nhân là :
" Vạn
pháp qui Nhất, Nhất qui hà xứ ? "
Tôi
khuyên họ hãy tham cứu câu này . Tham cứu câu ấy tức là
đánh thức một mối nghi tình lớn đối vớ ý nghĩa cứu
cánh của công án.
" Vạn
pháp thiên sai vạn biệt được qui về Một, nhưng rồi Một
trở về đâu ?"
Tôi
bảo họ, hãy đem hết sức mạnh bình sinh mà đeo đuổi mối
nghi này, đừng lúc nào xao lãng. Dù đi, đứng, nằm, ngồi,
hay làm các công việc, đừng để thời giờ luống trôi qua
.
" Rồi
ra cái Một trở về đâu ?"
Hãy
cố mà tìm một câu trả lời chính xác cho câu hỏi này .
Đừng buông trôi mình trong cái vô sự; đừng luyện tập tưởng
tượng phiêu du mà hãy cố thực hiện cho được cái trạng
thái toàn nhất viên mãn bằng cách đẩy nghi tình lướt
tới, bền bỉ và không hở. Rồi các ngươi sẽ thấy mình
như một kẻ bịnh ngặt, chẳng còn muốn ăn uống gì nữa
. Lại như một thằng khờ, không hiểu cái gì ra cái
gì hết.
Khi
công phu đến đây, giờ là lúc tâm hoa của các ngươi bừng
nở.
(Trang
182)
Subj:
Tu tập Công Án (5)
Date:
10/17/2003 9:57:17 PM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
..."...
Dù
vậy, người ta phải tin tưởng ở công án; nếu muốn có
một đường lối hành trì và được nó đánh thức dậy mà
chứng ngộ (satori).
Bây
giờ, vấn đề là : " Làm sao để đẩy công án -- ít ra là
công án đầu tiên -- vào bình diện tâm thức khiến nó chiếm
ngay trung tâm, một khi người ta dốc chí giải quyết ý
nghĩa của nó ?
Dĩ
nhiên đây chẳng có nội hàm luận lý, vì mục đích của
nó là bẻ gãy mọi đường lối
suy luận và nghĩ tưởng. Thí dụ,
khi một hành giả Thiền được dạy cho chữ " VÔ ", y
sẽ phải làm sao với chữ này ?
Dĩ
nhiên y chẳng suy nghĩ về nó, vì lối tư duy hợp lý chẳng
làm gì được.
VÔ
không đề ra một ý nghĩ nào hết, bởi vì không thể tư duy
về nó liên hệ đến con chó, cả đến Phật tính cũng không.
Nó
là VÔ, chỉ có thế.
Công
án không chối, không nhận có Phật tính nơi con chó, dù Triệu
Châu dùng VÔ khi được hỏi về Phật tính.
Khi
chữ VÔ được đặt thành công án cho kẻ sơ học, nó đứng
đấy một mình ; và chính cái đó, ngay từ khởi thủy, các
Thiền sư thường cần dùng đến như một thứ điểm nhãn.
Với
"cây bách" cũng vậy . Nó chỉ là "cây bách", chẳng có tương
quan luận lý nào với câu hỏi :" Sơ Tổ sang Tàu có ý gì?"
... " ...
(Trang
178)
Subj:
Tu tập Công Án (6)
Date:
10/18/2003 8:04:43 AM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
...
" ...
Không
Cốc Long hình như tán thưởng phép niệm Phật và công án,
nhưng khi khuyên dạy các môn đệ tự thực tập công án, ngài
coi nghi tình là sức mạnh chống đỡ công án.
Bởi
ngài nói rằng công án phải được " mặc
mặc tham cứu " , và rằng chữ
VÔ phải được làm sáng tỏ " minh " bằng đợi chờ trong
cuồng nộ (phẫn phẫn dạng); rằng, Thiền giả đừng mang
vào mình cái tư tưởng này : " Tâm này còn tạo tác khi thân
này còn tồn tại trong hiện hữu như huyễn của nó, nhưng
nó sẽ an trụ nơi đâu khi xác chết này ra tro bụi ?".
Để
thấy cái MỘT của vạn pháp rốt ráo nằm ở đâu, người
học phải phản quan tự chiếu
và đặt nghi tình
vào vấn đề để quyết định nơi chốn của nó là " ĐÂU
" .
Tất
cả các Thiền sư kể trên thuộc cuối đời Nguyên và đầu
đời Minh, khi hệ thống công án trở thành một phương pháp
rất vững chãi trong việc chứng Thiền, tùy theo sự duy trì
một nghi tình mãnh liệt đối với ý nghĩa của công án hay
chính cái tâm tình nghi vấn như thế .
Không
phải chỉ giữ vững công án trong lòng, ngưng tụ tất cả
năng lực tinh thần vào đó giống như một thứ nam châm; sự
duy trì phải được thực hiện và nuôi dưỡng bằng một
tiềm lực mạnh của năng lực tâm linh, và nếu không tựa
vào đó thì sự duy trì công án trở thành máy móc và
Thiền mất hẳn sinh lực sáng tạo của nó .
.....".....
(Trang
189)
Subj:
Tu tập Công Án ( 7 )
Date:
10/18/2003 8:51:22 AM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
...
" ...
Chúng
ta có thể hỏi :
--
Tại sao phương pháp có tính cách máy móc lại cũng không hoàn
toàn phù hợp với tinh thần của Thiền ?
--
Tại sao phương pháp nghi vấn được tán thành ?
--
Tại sao cần phải giữ vững nghi tình trong suốt sự thực
tập công án ?
--
Có tương quan nào với chính bản tính của chứng ngộ khởi
lên từ công án ?
Lý
do tại sao các Thiền sư hoàn toàn chú trọng đến tính cách
trọng
yếu của nghi tình, theo tôi, là bởi sự kiện rằng lối
thực tập công án trước tiên là cốt để tái tạo ý thức
Thiền, cái ý thức đã phát khởi một cách tự nhiên trong
lòng của các Thiền giả sơ khai .
Những
vị Thiền giả sơ khai này, trước khi hạ thủ tập Thiền,
chắc chắn họ đã từng là những người thông hiểu triết
lý của đạo Phật; quả thực họ đã thông hiểu đến độ
hết cả hài lòng; vì họ nhận ra rằng trong các học thuyết
này chẳng có gì ngoài phân tích và liễu biệt.
Cái
ước vọng xuyên thủng bức màn vẫn còn mãnh liệt trong lòng
họ.
Tâm,
Phật tánh hay vô thức là gì mà lúc nào cũng bị che giấu
sau những thiên sai vạn biệt, mà chúng ta cảm thấy nó ở
ngay trong lòng mình ?
Họ
muốn nắm ngay nó, thấy thẳng nó như các đức Phật quá
khứ đã từng làm.
Được
thôi thúc bởi khát vọng này, cái nghi tình ấy, họ quay nhìn
lại nội tâm rất hăng hái, rất bền bỉ, để cho cánh cửa
rồi sẽ được mở ra, và họ sẽ thấu suốt.
Cái
sự tình gõ cửa liên hồi như vậy là điều kiện tiên quyết,
lúc nào nó cũng có vẻ sờ sờ ra đấy và chấm dứt khi ý
thức Thiền của họ được chín mùi .
Chủ
đích của tập Thiền là dẫn đến tâm trạng căng thẳng
này, trong một chiều hướng giả tạm, bởi vì các Thiền
sư không chờ đợi một thiên tài Thiền học thoạt nhiên
chỗi dậy, chỗi dậy một cách lẻ loi, giữa những huynh đệ
căn khí tâm linh kém cỏi .
Trừ
phi bản tính thượng lưu của Thiền được hạ xuống một
chút để cho cả đến hạng người căn tính tầm thường
cũng có thể sống cuộc đời của một Thiền sư, nếu không,
Thiền tự nó có lẽ biến mất nhanh chóng khỏi mảnh đất
mà Bồ-Đề-Đạt-Ma và các đồ đệ của ngài đã khổ công
gầy dựng gốc rễ sâu xa của nó ..."...
(Trang
191)
Subj:
Tu tập Công Án ( 8 )
Date:
10/18/2003 11:11:56 AM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
..."...
Thiền
sư Thạch Điền Pháp Tuân (1170 - 1244) nói :
Những
người có thể bước qua đường của Tổ Tông chúng ta thật
hiếm thay !
Nó
sâu thẳm mịt mù hơn cái hố sâu không đáy
Khỏi
cần đưa tay giúp đỡ những khách bộ hành
Hãy
để cho rong rêu trước sân mặc tình xanh lên .
Cố
nhiên cái quan điểm này của Thiền là điều mà chúng ta phải
mong đợi nơi một Thiền sư chân chính.
Nhưng
khi mà rong rêu nơi cửa Thiền chưa từng bị giẫm đạp bởi
bước chân của một chúng sinh nào, thì Thiền sẽ thành ra
cái gì ?
Phải
làm sao cho con đường khả dĩ đi được, ít ra trong mức độ
nào đó.
Phải
khám phá ra một vài phương tiện giả tạm, hầu dễ lôi cuốn
những tâm hồn một ngày nào đó trở thành truyền nhân đích
thực của Thiền.
Sự
phát khởi của lối thực tập công án hoàn toàn là một sự
tăng trưởng tự nhiên trong lịch sử của Thiền.
Muốn
thế, nhiệm vụ của một công án phải là cốt tạo ra, gần
như giả trang, cùng một trạng thái ý thức như đã được
kinh nghiệm bởi các Thiền sư xưa một cách ngẫu nhiên. Đấy
là phương tiện đẩy nghi tình vào
một điểm tập trung, hay "đại nghi"
Nơi
công án, không có đầu mối hợp
lý để tựa vào bằng trí năng và biện luận,
và vì vậy, hành giả sơ cơ phải quay ngược luận lý thành
tâm lý, quay ngược lý niệm thành kinh nghiệm cá nhân, quay
ngược cái ngoại diện thành nội thể thâm sâu của chính
mình ..."...
(Trang
194)
Subj:
Tu tập Công Án ( 9 )
Date:
10/18/2003 3:02:34 PM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
..."...
Trong
một tác phẩm tựa đề "Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ",
tác giả là Vô Dị Nguyên Lai (1575 - 1630) viết về những lời
cảnh tỉnh của Thiền sư Bác Sơn, vấn đề nghi tình
được thảo luận rất kỹ. Sau đây lược nêu :
" Trong
công phu chứng Thiền, điều cần thiết là nuôi
dưỡng một khát vọng mãnh liệt muốn hủy diệt cái tâm
còn trong vòng sinh diệt. Khi khát vọng này được khơi dậy,
hành giả nghe ra tuồng như mình đang bị một ngọn lửa hừng
hực vây phủ. Y muốn trốn chạy lại không thể được, đứng
im ra đấy không thể được, suy nghĩ vớ vẩn không thể được,
mong chờ tha lực cũng không thể được. Để khỏi mất thì
giờ, y phải vận hết sức bình sinh mà nhẩy xổ ra, không
e dè gì đến hậu quả.
Một
khi khát vọng ấy được nuôi dưỡng, bước kế tiếp có
tính cách thủ thuật hơn, theo đó, phải khơi dậy nghi tình
và giữ vững nó trong lòng, cho đến phút chót khi đi tới
một giải đáp. Mối nghi này nhắm từ chỗ "sinh từ đâu
đến, chết đi về đâu", và luôn luôn được nuôi dưỡng
bởi khát vọng muốn vượt lên trên sống chết. Cái đó khó
lắm, trừ phi nghi tình được thuần thục và tự bùng vỡ
bằng một trạng thái chứng ngộ.
Phương
pháp làm thuần thục cốt ở chỗ :
1 --
Không bận lòng đến những pháp thế tục
2
-- Không đắm mình trong trạng thái tịch mặc
3
-- Không dao động bởi vạn vật
4
-- Luôn luôn tự cảnh tỉnh như mèo rình chuột
5
-- Tập trung tâm lực vào công án
6
-- Không cố gắng giải quyết công án bằng trí năng trong
khi chẳng có trình tự luận lý nào trong đó
7
-- Không cố mổ xẻ nó
8
-- Không coi nó là một trạng thái vô hành
9
-- Không coi trạng thái sáng tỏ tạm thời là cứu cánh
10
-- Không đọc công án y như tuồng niệm Phật hay tụng chú.
Khi
những chỉ dẫn này được thi hành nghiêm chỉnh, hành giả
chắc chắn đưa nghi tâm đến chỗ thuần thục. Nếu không,
không những không khơi dậy nổi nghi tình, hành giả còn dấn
bước vào những chốn lầm lạc và sẽ không bao giờ có
thể vượt khỏi sự ràng buộc của sống chết, nghĩa là
không chứng được đạo Thiền
(Trang
201)
Subj:
Tu tập Công Án ( 10 )
Date:
10/18/2003 3:02:46 PM Pacific Standard Time
From:
Khucdinhhop
To:
hoasen-1@yahoogroups.com, tubi@yahoogroups.com
Trích
Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ ;
Soạn
giả: Vô Dị Nguyên Lai ;
Dich
giả : Nguyên Chánh.
..."...
Tham
Thiền đề khởi thoại đầu, chỉ biết nghi tình
đập chẳng vỡ ắt không có niệm thứ hai, quyết chẳng nên
nhằm trên kinh sách dẫn chứng, kích động thức tình . Thức
tình bị kích động ắt vọng niệm nổi lên, muốn "đường
ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt" làm sao được !
Đạo,
chẳng nên rời dù trong khoảnh khắc, nếu rời thì chẳng
phải Đạo .
Công
phu chẳng nên gián đoạn, dù trong khoảnh khắc, nếu gián
đoạn thì chẳng phải công phu .
Người
chân chính tham cứu như lửa cháy lông mày, tựa lửa cháy
đầu, đâu có rỗi rảnh để việc khác làm động niệm.
Cổ
đức nói :" Như một người địch với muôn người, đối
diện đâu cho nháy mắt". Lời này rất thiết yếu đối với
người tham thiền, cần phải biết vậy .
Tham
thiền, tự mình tham chưa triệt ngộ, chỉ nên lo giải quyết
cho xong việc tham cứu của mình, chẳng nên dạy người, như
người chưa đến kinh thành mà nói cho người khác nghe về
việc trong kinh thành chẳng những dối người mà cũng là dối
mình vậy .
Tham
thiền ngày đêm chẳng dám biếng trễ như đại sư Từ Minh,
ban đêm buồn ngủ ngài dùng mũi dùi đâm vào mình và nói
:" Người xưa vì Đạo quên ăn bỏ ngủ, còn ta nay là người
gì?"
Cổ
nhân vẽ một vòng tròn bằng phấn, Đạo chẳng tỏ ngộ,
chẳng bước chân ra ngoài . Người thời nay buông lung tình
ý, chơi đùa lêu lổng, cho đó là hoạt bát, thật đáng thương
!
(Trang
31)
To:
anh KhucDinhHop, Chon Nhu, VoMinhCuSi và các bạn,
Sau
khi TT vào xem đề tài “Tu tập Công án” của anh KhucDinhHop
thấy sự thắc mắc về Phật tánh của bạn Chơn Như và anh
VoMinhCuSị Nên xin có vài hàng trao đổi vấn đề trên với
các anh chị, văn bất tận ý, nếu có điều sai xót, rất
mong sự bổ khuyết.
Khi
nói về Phật Tánh hay Như Lai Tạng những người học giáo
lý cần phân biệt cho thật rõ. Theo “Đại Thừa Khở Tín
Luận” (trang 36, Phật Học Phổ Thông khóa thứ X, XI) Nói
về nghĩa Giác, gồm 5 nghĩa tôi chỉ nói sơ lược qua 4 nghĩa
sau đâỵ
Từ
địa vị phàm phu chưa tu hành thì cái Phật tánh này trong
chúng sanh có mà có chẳng đáng kể so với hàng Nhị Thừa,
Bồ Tát, và Phật nên gọi là Bất Giác, trở về được với
bản lai diện mục, cái giác sẳn có từ vô thỉ thì gọi
là Bản Giác, tiến đến các quả vị của hàng bồ tát (52
quả vị) thì gọi là Thỉ Giác. Thỉ Giác cũng nghĩa là Tự
giác và Giác Tha là danh hiệu của Bồ Tát. Khi tu chứng tiến
đến quả vị Giác Ngộ Viên Mãn thì gọi Cứu Cánh Giác,
thành Phật. Điểm này HT Tuyên Hóa giảng “Phật Thuyết
A Di Đà Kinh” ngay phần đầu cũng thuyết rất đầy
đủ, khế lý.
Do
đó cái Phật tánh nơi chúng sanh hay bản giác sẳn có hoàn
toàn không đồng với cái Giác của Đức Phật và cái Giác
của hàng Bồ Tát. Chúng ta thường nghe câu nói sau đây và
được hiểu như một sự định nghĩa “Tâm, Phật, và
Chúng sanh tam vô sai biệt” tuy có ba tên hiệu, nhưng đều
chỉ một thứ. Ví dụ: Cái xe Corola, Camry, và Sienan (Toyota
Van) đều là xe cả nhưng công xuất các máy và sự chuyên
chở của các xe lại khác nhaụ Cũng vậy cái Bản Giác của
chúng sanh, cái Thỉ Giác của Bồ Tát và cái Cứu Cánh Giác
của Đức Phật bản thể đều là Giác cả nhưng sự giác
của mổi bậc khác nhaụ
Tóm
lại: Bản giác hay bổn lai diện mục của chúng ta dù có cái
giác nhưng mà còn mê, còn vọng tưởng hay vô minh. Vì Vô minh
nên có điên đảo vọng tưởng mà sanh ra các thứ chúng sinh,
chúng sinh tùy theo nghiệp thức điên đảo khác nhau mà hiện
ra trong sáu cỏi; Trời, A tu La, Người, Ngạ quỉ, Súc sanh,
và Địa ngục.
Do
nghĩa chữ “Giác rất rộng lớn” các bản dịch kinh Lăng
Nghiêm, Kinh Viên Giác ...vv theo TT do cách dịch có phần phán
giáo đã làm Phật Tánh, Bản Lai Diện Mục, hay Bản Giác từ
vô thỉ vốn sẳn có của chúng sanh với Cứu Cánh Giác của
Đức Phật thành một, làm nhiều người học khó hiểụ Nếu
Phật Tánh, bản giác (có tánh Phật) từ vô thỉ được đồng
như Tánh Giác ”Viên Mãn” của chư Phật sao lại sanh
ra vô minh, vọng tưởng điên đảo ?
Khi
biết Bản Giác hay Phật Tánh của chúng sanh từ vô thỉ, vốn
có giác nhưng chưa được giác viên mãn do vậy mới sanh vọng
tưởng điên đảo, biến ra sơn hà đại địa, và chúng sanh
trong sáu cỏi thì chúng ta sẽ không còn khó hiểụ
Trên
đây vài hàng trao đổi về vấn đề Phật Tánh mà bạn CN
thắc mắc qua các đoạn trích dẫn từ các kinh Lăng Nghiêm,
kinh Viên Giác. Nếu có điều thiếu xót, rất mong sự bổ
khuyết của các anh chị và các bạn
Tâm
Trí LQCN
Bài
Đọc Thêm:
Giới
Thiệu Về Tổ Sư Thiền, Tâm Diệu
Công
Án Thiền và Vấn Đề Nhận Thức, TT. Thích Đức Thắng
Chơn
Tâm Trực Thuyết, Tỳ Kheo Thích Ðắc Pháp dịch
Thiền
Thất Khai Thị Lục, Lai Quả Thiền Sư
Thiền
Quan Sách Tấn, Sa Môn Châu Hoằng - Việt Dịch: HT. Thanh Từ
Qui
Sơn Cảnh Sách, Thiền Sư linh Hựu - HT. Thanh Từ Việt dịch