III
PHẨM ĐỆ
TỬ (1)
XÁ LỢI PHẤT
(2)
Lúc bấy
giờ, Trưởng giả Duy Ma Cật nghĩ thầm rằng :
– Nay ta
bịnh nằm ở giuờng, Thế Tôn là đấng Đại từ, lẽ đâu
không đoái lòng thương xót !
Phật đã
biết ý ông, liền bảo Xá Lợi Phất rằng:
–
Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Xá Lợi Phất
bạch Phật:
– Bạch
Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao?
- Nhớ lại trước kia, con từng ở trong rừng ngồi yên lặng
(tọa thiền) dưới gốc cây, khi ấy ông Duy Ma Cật đến bảo
con rằng : “Thưa Ngài Xá Lợi Phất ? Bất tất ngồi sững
đó mới là ngồi yên lặng. Vả chăng ngồi yên lặng là ở
trong ba cõi mà không hiện thân ý, mới là ngồi yên lặng;
không khởi diệt tận định(3) mà hiện các oai nghi, mới là
ngồi yên lặng ; không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm
phu, mới là ngồi yên lặng ; tâm không trụ trong cũng không
ở ngoài mới là ngồi yên lặng ; đối với các kiến chấp
không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là
ngồi yên lặng; không đoạn phiền não mà vào Niết bàn(4)
mới là ngồi yên lặng. Nếu ngồi được như thế là chỗ
Phật ấn khả (chứng nhận) vậy”.
Bạch Thế
Tôn, lúc ấy con nghe nói những lời đó rồi, im lặng không
trả lời đặng, nên con không dám đến thăm bịnh ông.
MỤC KIỀN
LIÊN (5)
Phật bảo
Đại Mục Kiền Liên:
– Ông đến
thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Mục Kiền
Liên bạch Phật :
– Bạch
Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì
sao? Nhớ lại trước kia, con vào trong thành Tỳ Da Ly ở
trong xóm làng nói Pháp cho các hàng cư sĩ nghe, lúc ấy ông
Duy Ma Cật đến bảo con rằng : “Này Ngài Đại Mục
Kiền Liên, nói Pháp cho bạch y cư sĩ, không phải như Ngài
nói đó. Vả chăng nói Pháp phải đúng như pháp (xứng tánh)
mà nói. Pháp không chúng sanh, lìa chúng sanh cấu(6); pháp không
có ngã, lìa ngã cấu, Pháp không có thọ mạng, lìa sanh tử
; Pháp không có nhơn, làn trước làn sau đều dứt ; Pháp thường
vắng lặng, bặt hết các tướng ; Pháp lìa các tướng, không
phải cảnh bị duyên ; Pháp không danh tự, dứt đường ngôn
ngữ ; Pháp không nói năng, lìa giác quán(7) ; pháp không hình
tướng; như hư không; Pháp không hí luận, rốt ráo là không
; Pháp không ngă sở(8), lìa ngã sở ; Pháp không phân biệt,
lìa các thức ; Pháp không chi so sánh, không có đối đãi ;
Pháp không thuộc nhân, không nhờ duyên, Pháp đồng pháp tánh,
khắp vào các Pháp ; Pháp tuy nơi như, không có chỗ tùy ; Pháp
trụ thật tế(9), các bên (hữu, vô, thường, đoạn) không
động được ; Pháp không lay động, không nương sáu trần(10)
; Pháp không tới lui, thường không dừng (trụ) ; Pháp thuận
“không”, tùy “vô tướng”, ứng “vô tác”(11) ; Pháp
lìa tốt xấu ; Pháp không thêm bớt ; Pháp không sanh diệt
; Pháp không chỗ về ; Pháp ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý; Pháp không cao thấp : Pháp thường trụ không động ; Pháp
lìa tất cả quán hạnh. Thưa Ngài Đại Mục Kiền Liên ! Pháp
tướng như thế đâu có thể nói ư ?
Vả chăng
người nói Pháp, không nói, không dạy, còn người nghe, cũng
không nghe không được. Ví như nhà huyễn thuật nói Pháp cho
người huyễn hóa nghe, phải dụng tâm như thế mà nói Pháp.
Phải biết căn cơ của chúng sanh có lợi độn, khéo nơi tri
kiến không bị ngăn ngại, lấy tâm đạì bi ngợi khen Pháp
Đại thừa, nghĩ nhớ đền trả ơn Phật, chớ để ngôi Tam
Bảo dứt mất, như vậy mới nên nói Pháp”.
Khi ông Duy
Ma Cật nói Pháp ấy rồi, tám trăm Cư sĩ phát tâm Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Con không được biện tài như thế,
nên không dám lãnh đến thăm bịnh ông.
ĐẠI CA DIẾP
(12)
Phật bảo
Đại Ca Diếp :
– Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Ca Diếp bạch
Phật :
– Bạch
Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao?
- Con nhớ lại trước kia, khi khất thực trong xóm nhà nghèo,
lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng : Này Ngài Đại
Ca Diếp! Có lòng từ bi mà không phổ cập là bỏ nhà giàu
mà đi đến nhà nghèo. Ngài Ca Diếp ! Ở Pháp bình đẳng nên
đi khất thực theo thứ lớp. Vì không ăn mà đi khất thực
; vì phá tướng hòa hiệp mà bốc cơm ăn ; vì không nhận
mà nhận món ăn của người ; vì tưởng “không tụ” mà
vào làng xóm ; có thấy sắc cũng như người đui ; có nghe
tiếng cũng như vang ; có ngửi mùi cũng như gió ; lúc nếm
vị không phân biệt ; chạm các vật như trí chứng(13) ; biết
các Pháp tướng như huyễn, không tự tánh, không tha tánh,
trước vốn không sanh, nay cũng không diệt. Ngài Ca Diếp ?
Nếu có thể không bỏ bát tà(14) mà vào bát giải thoát(15),
dùng tướng tà mà vào Chánh pháp, dùng một bữa ăn mà
thí cho tất cả, cúng dường chư Phật và các bực Hiền Thánh
rồi sau mới ăn. Ăn như thế, không phải có phiền não, không
phải rời phiền não, không phải vào định ý(15), không phải
ra định ý, không phải ở thế gian, không phải ở Niết bàn,
người thí không có phước lớn, không có phước nhỏ, không
được lợi ích, không bị tổn hại, đó chính là vào Phật
đạo, không nương theo hạnh Thanh Văn. Ngài Ca Diếp ? Nếu
ăn như thế là ăn đồ cúng thí của người không uổng vậy.
Bạch Thế
Tôn ! Lúc đó con nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy tỏ ngộ
được điều chưa từng có, càng sâu khởi tâm cung kính tất
cả các vị Bồ Tát. Con lại nghĩ rằng : “Kẻ danh gia này
có biện tài trí tuệ mới được như thế ? Ai nghe mà chẳng
phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ? Từ ấy đến
nay, con chẳng còn đem hạnh Thanh Văn(17), Bích Chi Phật (18)
để khuyên dạy người, vì thế nên con không kham lãnh đến
thăm bịnh ông.
TU BỒ ĐỀ
(19)
Phật bảo
Tu Bồ Đề :
–
Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Tu Bồ Đề
bạch Phật :
– Bạch
Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? -
Nhớ lại thuở trước, con vào khất thực nơi nhà ông, lúc
đó trưởng giả Duy Ma Cật lấy cái bát của con đựng đầy
cơm rồi nói với con rằng : “Thưa Ngài Tu Bồ Đề ! Đối
với cơm bình đẳng, thì các Pháp cũng bình đẳng, các Pháp
bình đẳng thì cơm cũng bình đẳng, đi khất thực như thế
mới nên lãnh món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm nộ si
cũng không chung cùng với nó, không hoại
thân mình
mà theo một tướng, không dứt si ái sanh ra giải thoát, ở
tướng ngũ nghịch(20) mà đặng giải thoát, không mở cũng
không buộc, không thấy tứ đế(21) cũng không phải không
thấy tứ đế, không phải đắc quả cũng không phải không
đắc quả, không phải phàm phu cũng không phải rời phàm phu,
không phải thánh nhơn, không phải không thánh nhơn, tuy làm
nên tất cả các Pháp mà rời tướng các Pháp, thế mới nên
lấy món ăn. Như Tu Bồ Đề
không thấy
Phật không nghe Pháp, bọn lục sư ngoại đạo(22) kia như Phú
Lan Na Ca Diếp, Mạc Dà Lê Câu Xa Lê Tử , San Xà Dạ Tỳ La
Chi Tử , A Kỳ Đa Xy Xá Khâm Ba La, Ca La Cưu Đà Ca Chiên
Diên, Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử là thầy của Ngài. Ngài theo
bọn kia xuất gia, bọn lục sư kia đọa, Ngài cũng đọa theo,
mới nên lấy món ăn. Tu Bồ Đề ! Nếu Ngài vào nơi tà
kiến, không đến bờ giác, ở nơi tám nạn, không được
khỏi nạn, đồng với phiền não, lìa Pháp thanh tịnh, Ngài
được vô tránh tam muội(23), tất cả chúng sanh cũng được
tam muội ấy, những người thí cho Ngài chẳng gọi phước
điền, những kẻ cúng dường cho Ngài đọa vào ba đường
ác(24), Ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, Ngài cùng
với các ma và các trần lao như nhau không khác, đối với
tất cả chúng sanh mà có lòng oán hận, khinh báng Phật, chê
bai Pháp, không vào số chúng (Tăng), hoàn toàn không được
diệt độ, nếu Ngài được như thế mới nên lấy món ăn.
Bạch Thế
Tôn ! Lúc đó con nghe những lời ấy rồi mờ mịt không biết
là nói gì, cũng không biết lấy lời chi đáp, con liền để
bát lại muốn ra khỏi nhà ông. Ông Duy Ma Cật nói : Thưa Ngài
Tu Bồ Đề! Ngài lấy bát chớ sợ ? Ý Ngài nghĩ sao ? Như
Phật biến ra một người huyễn hóa và nếu người huyễn
hóa đó đem việc này hỏi Ngài, chừng ấy Ngài có sợ chăng
? - Con đáp : “Không sợ !”. Trưởng giả Duy Ma Cật lại
nói : Tất cả các Pháp như tướng huyễn hóa, Ngài
không nên có tâm sợ sệt. Vì sao ? – Vì tất cả lời nói
năng không lìa tướng huyễn hóa, chí như người trí không
chấp văn tự nên không sợ. Vì sao thế ? - Tánh văn tự vốn
ly, không có văn tự đó là giải thoát. Tướng giải thoát
đó là các Pháp vậy”.
Khi ông Duy
Ma Cật nói Pháp ấy rói, hai trăm Thiên Tử được Pháp nhãn
thanh tịnh. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh
ông.
PHÚ LÂU NA
(25)
Phật bảo
Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử :
– Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Phú Lâu Na
bạch Phật :
– Bạch
Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ?
Nhớ lại trước kia con ở trong rừng lớn, dưới gốc cây
nói Pháp cho các Tỳ Kheo mới học, lúc đó ông Duy Ma Cật
đến bảo con : “Thưa Phú Lâu Na ! Ngài nên nhập định trước
để quán sát tâm địa của những người này, rồi sau mới
nên nói Pháp. Ngài chớ đem món ăn dơ để trong bát báu, phải
biết rõ tâm niệm của các vị Tỳ kheo này, chớ cho ngọc
lưu ly đồng với thủy tinh, chớ nên dùng pháp tiểu thừa
mà phát khởi cho họ, những người kia tự không có tì vết,
chớ làm cho họ có tì vết, họ muốn đi đường lớn, chớ
chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào
dấu chơn trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa
đom đóm. Ngài Phú Lâu Na ! Những vị Tỳ kheo này đã phát
tâm đại thừa từ lâu, giữa chừng quên lãng, nay tại sao
lại lấy pháp tiểu thừa dẫn dạy họ? Tôi xem hàng tiểu
thừa trí tuệ cạn cợt cũng như người mù, không phân biệt
được căn tánh lợi độn của chúng sanh.
Lúc bấy
giờ ông Duy Ma Cật liền nhập tam muội (chánh định) làm
cho những vị Tỳ kheo đó biết được kiếp trước của mình
đã từng ở 500 đức Phật vun trồng các cội đức, hồi
hướng về đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, liền
đó rỗng suốt trở lại đặng bổn tâm (Đại thừa). Khi
ấy, các vị Tỳ kheo cúi đầu đãnh lễ nơi chơn ông Duy Ma
Cật, ông liền nhân đó nói pháp làm cho tất cả không còn
thối lui nơi đạo vô thượng Bồ Đề.
Con nghĩ hàng
Thanh Văn như con không quán được căn cơ của người, không
nên nói Pháp. Vì thế con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
MA HA CA CHIÊN
DIÊN (26)
Phật bảo
Ma Ha Ca Chiên Diên :
–
Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Ca Chiên Diên
bạch Phật :
– Bạch
Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ
lại lúc trước, Phật nói lược qua yếu chỉ các Pháp cho
các Tỳ Kheo nghe, sau khi đó, con diễn nói lại nghĩa ấy, là
những nghĩa vô thường(27), khổ(28), không(29), vô ngã(30),
và tịch diệt(31).
Lúc bấy
giờ ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng. Thưa Ngài
Ca Chiên Diên ! Ngài chớ nên đem tâm hạnh sanh diệt mà nói
Pháp thật tướng(32). Ngài Ca Chiên Diên ! Các Pháp rốt ráo
không sanh, không diệt là nghĩa “vô thường” ; năm ấm rỗng
không, không chỗ khởi là nghĩa “khổ” ; các Pháp rốt
ráo không có, là nghĩa “không” ; ngã và vô ngã không hai,
là nghĩa “vô ngã” ; Pháp trước không sanh, nay cũng không
diệt, là nghĩa “tịch diệt”.
Khi ông Duy
Ma Cật nói Pháp ấy xong, các Tỳ Kheo kia tâm được giải
thoát. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
A NA LUẬT(33)
Phật bảo
A Na Luật :
– Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
A Na Luật
bạch Phật :
– Bạch
Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? -
Nhớ lại lúc trước con đi kinh hành một chỗ nọ, khi ấy
có vị Phạm Vương tên Nghiêm Tịnh, cùng với một muôn Phạm
Vương khác, phóng ánh sáng trong sạch rực rỡ đến chỗ con
cúi đầu làm lễ và hỏi : “Thưa Ngài A Na Luật ? Thiên nhãn
của Ngài thấy xa được bao nhiêu ?”. Con liền đáp : “Nhơn
giả, tôi thấy cõi Tam thiên Đại thiên thế giới của Phật
Thích Ca Mâu Ni đây như thấy
trái Am-ma-lặc(34)
trong bàn tay vậy. Lúc đó ông Duy Ma Cật đến nói với con:
“Thưa Ngài A Na Luật ? Thiên nhãn của Ngài thấy đó làm
ra tướng mà thấy hay là không làm ra tướng mà thấy ? Nếu
như làm ra tướng thì khác gì ngũ thông(35) của ngoại đạo,
nếu không làm ra tướng thì là vô vi, lẽ ra không thấy ?
Bạch Thế
Tôn !
Lúc ấy con nín lặng.
Các vị Phạm
thiên nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy rồi đặng chỗ chưa
từng có, liển làm lễ hỏi ông rằng “Bạch Ngài ở trong
đời ai là người có chơn thiên nhãn (36) ?”.
Trưởng giả
Duy Ma Cật đáp : “Có Phật Thế Tôn được chơn thiên nhãn,
thường ở tam muội, thấy suốt các cõi Phật không có hai
tướng” .
Khi ấy Nghiêm
Tịnh Phạm vương cùng quyến thuộc năm trăm Phạm Vương đều
phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đảnh lễ dưới
chơn ông Duy Ma Cật rồi bỗng nhiên biến mất. Vì thế, nên
con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
ƯU BA LY (37)
Phật bảo
Ưu Ba Ly :
– Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Ưu Ba Ly bạch
Phật :
– Bạch
Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao?
- Con nhớ lại ngày trước có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh,
lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, đến hỏi con rằng
: “Dạ thưa Ngài Ưu Ba Ly ! Chúng tôi phạm luật thật lấy
làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, mong nhờ Ngài giải rõ
chỗ nghi hồi cho chúng tôi được khỏi tội ấy”. Con liền
y theo pháp, giải nói cho hai vị.
Bấy giờ
ông Duy Ma Cật đến nói với con : “Thưa Ngài Ưu Ba Ly, Ngài
chớ kết thêm tội cho hai vị Tỳ Kheo này, phải trừ dứt
ngay, chớ làm rối loạn lòng họ. Vì sao ? - Vì tội tánh kia
không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Như lời
Phật nói : “Tâm nhơ nên chúng sanh nhơ, tâm sạch nên
chúng sanh sạch. Tâm cũng không ở trong, không ở ngoài, không
ở khoảng giữa. Tâm kia như thế nào, tội cấu cũng như thế
ấy. Các Pháp cũng thế không ra ngoài chơn như. Như Ngài Ưu
Ba Ly, khi tâm
tướng được
giải thoàt thì có tội cấu chăng ?”. Con đáp : “Không”.
Ông Duy Ma Cật nói : “Tất cả chúng sanh tâm tướng không
nhơ cũng như thế ? Thưa Ngài Ưu Ba Ly ! Vọng tưởng là
nhơ, không vọng tưởng là sạch ; điên đảo là nhơ, không
điên đảo là sạch ; chấp ngã là nhơ, không chấp ngã là
sạch. Ngài Ưu Ba Ly ? Tất cả pháp sanh diệt không dừng, như
huyễn, như chớp ; các Pháp không chờ nhau cho đến một niệm
không dừng ; các Pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như
nắng dợn, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, do
vọng tưởng sanh ra. Người nào biết nghĩa này gọi là giữ
luật, người nào rõ nghĩa này gọi là khéo hiểu.
Lúc đó hai
vị Tỳ Kheo khen rằng : “Thật là bực thuợng trí ? Ngài
Ưu Ba Ly này không thể sánh kịp Ngài là bực giữ luật hơn
hết mà không nói được”.
Con đáp rằng
: “Trừ đức Như Lai ra, chưa có bực Thanh Văn và Bồ Tát
nào có thể chế phục được chỗ nhạo thuyết biện tài(38)
của ông Duy Ma Cật. Trí tuệ của ông thông suốt không lường”.
Khi ấy, hai
vị Tỳ kheo dứt hết nghi hối, phát tâm Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác và phát nguyện rằng : “Nguyện làm cho tất
cả chúng sanh đều được biện tài như vậy”. Vì thế,
nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
LA HẦU LA(39)
Phật bảo
La Hầu La :
– Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
La Hầu La
bạch Phật :
– Bạch
Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? -
Nhớ lúc trước kia, các Trưởng giả tử ở thành Tỳ Da Ly
đến con cúi đầu làm lễ hỏi rằng ? “Thưa Ngài La
Hầu La, Ngài là con của Phật vì đạo bỏ ngôi Chuyển Luân
Vương(40) mà xuất gia, việc xuất gia đó có những lợi ích
gì ?”. Con liền đúng theo Pháp mà nói sự ích lợi của công
đức xuất gia. Lúc đó, ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng
: “Thưa La Hầu La ! Ngài không nên nói cái lợi của công
đức xuất gia. Vì sao ? – Không lợi không công đức, mới
thật là xuất gia. Về pháp hữu vi(41) có thể nói là có lợi,
có công đức còn xuất gia là pháp vô vi(42), trong pháp vô
vi không lợi, không công đức - La Hầu La ? Vả chăng xuất
gia là không kia, không đây, cũng không ở chính giữa ; ly sáu
mươi hai môn kiến chấp(43), ở nơi Niết bàn, là chỗ nhận
của ngưỡi trí, chỗ làm của bực Thánh, hăng phục các ma,
khỏi ngũ đạo(44), sạch ngũ nhãn(45), đặng ngũ lực(46),
lập ngũ căn(47), không làm náo người khác, rời các tạp
ác(48), dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra khỏi
bùn lầy ; không bị ràng buộc, không ngã sở, không chỗ thọ,
không rối loạn trong lòng, ưa hộ trợ ý người khác, tùy
thiền định, rời các lỗi. Nếu được như thế mới thật
là xuất gia”.
Khi ấy, ông
Duy Ma Cật bảo các Trưởng giả tử : “Các ngươi nay ở
trong Chánh Pháp nên cùng nhau xuất gia. Vì sao ? - Phật ra đời
khó gặp”.
Các Trưởng
giả tử nói :
– Thưa
Cư sĩ, chúng tôi nghe Phật dạy : “Cha mẹ không cho,
không được xuất gia”.
Ông Duy Ma
Cật nói :
– Phải,
các ngươi nếu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề(49), đó chính
là xuất gia, đó chính là đầy đủ Giới Pháp.
Bấy giờ
ba mươì hai vị Trưởng g,iả tử đều phát tâm Vô Thượng
Bồ Đề. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
A NAN (50)
Phật bảo
A Nan :
– Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
A Nan bạch
Phật :
– Bạch
Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao
? - Nhớ lại lúc trước, Thế Tôn thân hơi có bịnh phải
dùng sữa bò, con cầm bát đến đứng trước cửa nhà người
đại Bà la môn. Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật đến bảo con
: “Này A Nan ? Làm gì cầm bát đứng đây sớm thế ?”.
Con đáp :
“Cư sĩ, Thế Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa bò, nên
tôi đến đây xin sữa”.
Ông Duy Ma
Cật nói : “Thôi thôi ! Ngài A Nan chớ nói lời ấy ! Thân
Như Lai là thể kim cang(51), các ác đã dứt, các lành khắp
nhóm, còn có bịnh gi, còn có não gì ? - Im lặng bước đi,
Ngài A Nan ! Chớ phỉ báng Như Lai, chớ cho người khác nghe
lời nói thô ấy, chớ làm cho các trời oai đức lớn và các
Bồ Tát từ Tịnh độ phương khác đến đây nghe được lời
ấy ! Ngài A Nan ! Chuyển Luân Thánh Vương có ít phước báu
còn không tật bịnh, huống chi Như Lai phước báu nhiều hơn
tất cả đấy ư ? Hãy đi Ngài A Nan ? Chớ làm cho chúng tôi
chịu sự nhục đó, hàng ngoại đạo Phạm Chí nếu nghe lời
ấy, chắc sẽ nghĩ rằng : “Sao gọi là Thầy, bịnh của
mình không cứu nổi mả cứu được bịnh ngươi khác ư ?”
Nên lẽn đi mau, chớ để cho người nghe ! Ngài A nan ! Phải
biết thân Như Lai, chính là Pháp Thân(52), không phải thân
tư dục (53). Phật là bực Thế Tôn hơn hết ba cõi, thân Phật
là vô lậu(54), các lậu đã hết, thân Phật là vô vi, không
mắc vào các số lượng, thân như thế còn có bịnh gì ?”.
Bạch Thế
Tôn ! Lúc đó con thật quá hổ thẹn không lẽ con gần Phật
mà nghe lầm ư ? Con liền nghe trên hư không có tiếng nói rằng
: “A Nan ! Đúng như lời Cư sĩ đã nói, chỉ vì Phật ứng
ra đời ác đủ năm món trược (55) nên hiện ra việc ấy,
để độ thoát chúng sanh thôi. A Nan! Hãy đi lấy sữa chớ
có thẹn”.
Bạch Thế
Tôn ! Ông Duy Ma Cật trí tuệ biện tài dường
ấy, cho
nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
Như vậy,
năm trăm vị đại đệ tử mỗi người đếu đối trước
Phật trình bày chỗ bổn duyên(56) của mình, vị nào cũng
khen ngợi, thuật lại những lời của ông Duy Ma Cật và đều
nói : “Không kham lãnh đến thăm bịnh ông”.
Chú thích
của phẩm III
1. Ðệ tử
: Em, con, nghĩa là theo đạo thầy trò, thời Thầy coi trò như
em, nên dùng theo cách đối với người em và cư xử. Trò thờ
Thầy như cha, nên lấy theo đạo lý con người mà phụng sự
Thầy. Thầy trò đối đãi với nhau nên xưng là “Ðệ tử”.
Lại có nghĩa : Giác ngộ sau Phật gọi là em (đệ). Trí giác
ngộ nhờ Phật phát sinh gọi là con (tử). Hai chữ “Ðệ
tử”, ở đây chuyên chỉ cho hàng Thanh Văn. Dẫu biết rầng
Phật là Ðạo sư trong ba cõi, cha lành của bốn loài, thời
ai chẳng phải là đệ tử của Phật. Nhưng vì hàng Thanh Văn
là những bậc xuất gia, theo Phật nghe pháp, hiểu biết, ngộ
đạo chứng quả, nhiếp về số chúng tăng giữ gìn ngôi Tam
Bảo, làm mô phạm cho ba cõi, hằng theo hầu Phật châu du giáo
hóa khắp nơi. Chắng phải như hàng tại gia, tuy tin Phật mà
còn phụng sự quân thân, hàng Bồ Tát dù khế hợp Phật đạo,
mà lại tùy cơ tùy chỗ ứng hiện giáo hóa không định, nên
trong kinh thường gọi Ðệ tử là riêng chỉ cho hàng Thanh
Văn vậy.
2. Xá Lợi
Phất : (Sariputra) Tàu dịch là “Thu tử”, nghĩa là con bà
“Thu Lộ”. Ông là người trí tuệ cao siêu, biệt tài mẫn
thiệp. Khi ông còn ở trong bụng mẹ, đã xui cho mẹ biện
luận giỏi hơn người cậu là Cu Si La (Kansthla). Ðến khi ông
lên 8 tuổi đã có tài diễn thuyết, cả 16 nước không ai
nghi luận bằng. Sau ông theo học đạo Phật, mới bảy ngày
đã thông hiểu các Pháp, nên gọi là Trí tuệ đệ nhất.
3. Diệt tận
định : (Nirodbasamapatti) cũng gọi Diệt thọ tưởng định
: nghĩa là diệt hết 6 thức tâm vuơng và tâm sở không còn
khởi hiện hạnh. Hàng nhị thừa từ quả thứ ba sắp lên,
tạm tưởng nhập Niết bàn thời nhập định này, thuộc về
thánh quả chớ chẳng phải như vô tâm định của ngoại đạo.
4. Niết Bàn
: (Nirvana) cũng gọi là Nê hoàn. Tàu dịch Diệt độ : Nghĩa
là dứt hết phiền não nghiệp chướng vượt khỏi vòng sanh
tử. Lại dịch là Viên tịch : Ðức đầy đủ khắp trần
sa là “Viên”, bặt dứt nghiệp chướng khổ lụy, gọi là
“Tịch”. Cũng chỉ cho bản tánh tịch tịnh, rời tất cả
pháp sanh diệt khổ lụy.
6. Mục Kiền
Liên : (Mua Dgalyayana) : Tàu dịch : họ Thái Thúc. Ban sơ ông
tu theo ngoại đạo đã lâu mà không công hiệu gì, sau nhờ
ông Xá Lợi Phất thuật lại bài kệ Nhân duyên cho ông nghe,
liền tỏ ngộ : theo Phật tu hành chứng quả Thanh Văn, đặng
phép Thần thông bậc nhất.
6. Chúng sanh
cấu : Các tâm chấp ngã, chấp có chúng sanh. Trên bản thể
chơn pháp không có chúng sanh, nếu chấp có chúng sanh thành
nhơ chơn pháp, nếu ngộ được chơn pháp không có chúng sanh,
thời cái nhơ chấp trước kia không còn nữa.
7. Giác quán
: Cũng gọi là Tầm Từ : Suy nghĩ bằng cách tâm niệm vội
vàng thô động gọi là giác. Suy nghĩ chín chắn bằng tâm
nhỏ nhiệm gọi là quán. Hai món này làm chướng ngại rối
loạn cho tâm định, lại làm nguyên nhân phát khởi ra lời
nói năng. Nếu lìa Giác Quán thì không còn lời nói năng.
8. Ngã sở
: Ngã : Ta, là lối ngoại đạo, phàm phu chấp chính thân ta
có một chủ tể hằng còn, hay ngoài thân có đấng chủ tể
thường còn cùng khắp, thọ dụng tất cả và hay sanh vạn
vật. Ngã sỡ : vật sở hữu, phụ thuộc của Ngã (ta), ngã
là chủ của vạn vật, vạn vật là sở hữu của ngã. Ðây
là do tính chấp có ngã mới có ngã sở.
9. Thực tế
: Cùng cực thật lý của bản thể vũ trụ, Pháp tánh chơn
như.
10. Sáu trần
: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.
11. Không,
Vô tướng. Vô tác : Gọi là tam không. Ba môn này đều nói
về Lý Không, cũng gọi là Tam tam muội.
1) Không
tam muội : Quán các pháp từ nhơn duyên sanh, không có ngã và
ngã sở.
2) Vô tướng
tam muội : Xa lìa những tướng Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc
và tướng Nam, tướng Nữ.
3) Vô tác
tam muội : Ðối với các pháp xả hết tâm mong muốn, không
còn sự tạo tác
12. Ðại
Ca Diếp : Tàu dịch là Ẩm Quang, nghĩa là hào quang chói sáng
trùm hết các ánh sáng khác. Nguyên kiếp trước ông chung đậu
vàng với người ta và ra công thiếp tượng Phật, nhờ công
đức ấy, nên đời đời cảm đặng cái báo thân sắc vàng
ánh chóí. Khi gặp Ðức Phật ra đời giáo hóa, ông nguyện
theo tu hành, sau lãnh thọ đặng chánh pháp. Trong hàng Ðại
đệ tử, ông là đức hạnh bực nhất, cũng là khổ hạnh
bực nhứt nữa.
13. Như trí
chứng : Tức là khi Thật trí chứng chơn lý thành tựu đạo
quả, toàn thân nhẹ nhàng an vui mà không sanh đắm nhiễm ;
ý nói thân chạm lánh các vật tốt, xấu, êm ấm v.v... cũng
không có cảm thọ mê đắm như trí chứng vậy.
14. Bát tà
: 1. Tà kiến, 2. Tà tư duy, 3. Tà ngữ, 4. Tà nghiệp, 5. Tà
mạng, 6. Tà phương tiện, 7. Tà niệm: 8. Tà định. Trái với
Bát chánh đạo thời gọi là Bát tà.
15. Bát giải
thoát : Cũng là bát bội xả. Nghĩa là tám pháp thiền định
này có công năng xa lìa, trãi bỏ tất cả phiền não được
giải thoát những sự triền phược trong ba cõi.
1) Nội hữu
sắc tướng ngoại quán sắc : Vì muốn diệt trừ lòng tham
đắm, người tu hành trước phải quán thân mình là vật nhơ
nhớp, nhưng vì còn lòng tham đối với thân người, nên cũng
phải quán cái thân ngưòi khác cũng như thế.
2) Nội vô
sắc tướng ngoại quán sắc : Mới diệt được sắc tướng
trong thân nhưng lòng tham dục đối với người ở cõi Dục
khó đoạn hết, nên cũng còn quán tướng người khác bất
tịnh.
3) Tịnh
bội xả thân tác chứng : Ðến đây không còn tham trước
tướng bất tịnh ở ngoài, chỉ ở trong cảnh định luyện
tập tâm sắc quang minh trong suốt (Tịnh Bội xả). Tâm đã
sáng suốt thì vui càng tăng trưởng đầy khắp trong thân (thân
bội xả).
4) Hư không
xứ bội xả : Người tu hành diệt được lòng tham muốn sắc
thân bất tịnh của mình và của người, được nhứt tâm
duyên “Không” cùng với “Không” tương ứng, tức nhập
được định “Vô biên hư không xứ”.
5) Thức
xứ bội xả : Do xả Hư không xứ định, nhứt tâm duyên thức.
Lúc nhập định này, tức quán định, nhàm chán không ưa đắm
nữa.
6) Vô sở
hữu xứ bội xả : Do xả thức xứ, nhứt tâm duyên Vô sở
hữu xứ. Lúc nhập định này, tức quán định y nơi năm uẩn
đều không thật nên không còn ái trước nữa.
7) Phi hữu
tưởng, Phi vô tưởng xứ bội xả : Do xả vô sở hữu xứ
định, nhứt tâm duyên phi hữu tưởng, phi vô tưởng. Lúc
nhập định này, y nơi năm uẩn đều không thật, nên tâm
sanh nhàm chán.
8) Diệt
thọ tưởng bội xả : Vì nhàm chán cái tâm tán loạn nên
nhập định cho diệt hẳn tâm ấy đi. Khi đắc định cả
rồi thì thành ra tám đạo giải thoát nên gọi là Bát giải.
16. Ðịnh
ý : Tức tịnh tâm. Tu thiền định xa lìa ý tán loạn.
17. Thanh Văn
: Hàng đệ tử Tiểu thừa y theo chánh giáo của Phật dạy,
tu tập pháp Tứ đế, đoạn Kiến hoặc và Tư hoặc, chứng
chánh quả. Có 4 bực:
1) Tu đà
hoàn (Dự lưu quả), 2. Từ đà hàm (Nhứt lai quả), 3. A na
hàm (Bất lai quả), 4. A la hán (Vô sanh quả).
18. Bích Chi
Phật : Thuộc về trung thừa có 2 hạng :
1) Ðộc
Giác : ra đời không gặp đặng Phật và giáo pháp, do căn
lành sẵn có, ngó thấy cảnh tang thương, hoa tàn, lá úa v.v...
ngộ lý vô thường, phát tâm xuất ly dục trần, tự tu tập
pháp vô thường quán, chứng quả vô sanh khỏi vòng sanh tử
trong tam giới ;
2) Duyên
Giác : Ra đời gặp Phật và giáo pháp, tu tập theo phép quán
12 nhơn duyên chứng quả vô sanh (Ðồng bực A La Hán của Thanh
Văn).
19. Tu Bồ
Ðề : (Shabuti) Tàu dịch là Không Sanh. Bực Ðại A La Hán tỏ
ngộ lý chơn không, bực nhứt trong hàng Thanh Văn.
20. Ngũ nghịch
: 1) Giết cha ; 2) Giết mẹ ; 3) Giết A La Hán ; 4)Phá hòa hợp
của chúng Tăng ; 5) Làm cho thân Phật chảy máu.
21. Tứ Ðế
:
1) Khổ đế
: tất cả cảnh khổ trong ba cõi như sanh, già, bịnh, chết
v.v...
2) Tập đế
: Nguyên nhân tất cả cảnh khổ, tức phiền não tham, sân,
si v.v. chứa nhóm kết thành.
3) Diệt
đế : Tịch diệt Niết bàn ; dứt hết phiền não nguyên nhân
thống khổ, khỏi hẳn sanh tử an vui vắng lặng.
4) Ðạo
đế : Các Thánh đạo, những phương pháp tu hành để đoạn
phiền não, chứng Thánh quả.
22. Lục sư
ngoại đạo : Sáu ông Thầy chủ trương học thuyết ngoại
đạo :
1) Phú Lan
Na, chủ trương thuyết đoạn diệt ;
2) Mạt Già
Lê, chủ trương thuyết tự nhiên sinh ;
3) San Xà
Gia, chủ trương thuyết không tu hành ;
4) A Kỳ
Ða, chủ trương khổ hạnh ;
5) Ca Na,
chủ trương thuyết ngụy blện ;
6) Ni Càn
Ðà, chủ trương thuyết định mạng, tức Ấn Ðộ giáo bây
giờ.
23. Vô tránh
tam muội : Là môn chánh định cao siêu hơn hết trong các môn
chánh định của hàng Thanh Văn. Môn định này do vì liễu
ngộ lý không, nên bỉ, ngã đều quên, không làm tổn não
chúng sanh, lại hay khiến chúng sanh không khởi phiền não.
24. Ba đường
ác : Ðia ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.
25. Phú Lâu
Na Di Ða La Ni Tử : (Purnamaitrayaniputra) Tàu dịch là Mãn Từ
Tử, nghĩa là con của ông Mãn (cha) bà Tữ (mẹ). ông có tài
thuyết pháp bực nhứt trong hàng Thanh Văn.
26. Ma Ha Ca
Chiên Diên : (Maha Katyayana) Tàu dịch Văn Sức, nghĩa là nói
năng diu dàng, biện luận rành rẽ. Ông là người có biện
tài bực nhứt trong hàng Tỳ kheo.
27. Vô thường
: Tất cả pháp trong đời sanh diệt dời đổi phút chốc không
dừng gọi là Vô thường. Trong Trí Ðộ Luận về quyển 23
nói : “Tất cả pháp hữu vi đều vô thường vì chập chập
sanh diệt, vì thuộc nhơn duyên vậy”.
28. Khổ :
Những việc bức não thân tâm gọi là khổ, như sanh, già,
bịnh, chết v.v...
29. Không
: Các pháp do nhân duyên sanh ra, tìm xét cùng tột không có
thật thể, nên gọi là không.
30. Vô ngã
: Thân thể chỉ do ngũ uẩn giả hợp không có chủ tể thường
nhứt. Các pháp đều do nhân duyên sanh cũng không có ngã thể
thường nhứt. Trong kinh Kim Cang nói : người thông suốt được
pháp vô ngã, Như Lai gọi là Chơn Bồ Tát.
31. Tịch
diệt : Tiếng Phạn gọi là Niết Bàn. Lý thể tịch tịnh
lìa tất cả tướng gọi là Tịch Diệt.
32. Thật
tướng : Tướng chân thật không giả dối, tức là chỉ cho
bản thể vạn hữu trong vũ trụ. Bản thể ấy có khi gọi
là Pháp tánh, Chơn như hay Thật tướng. Danh từ tuy khác mà
thể là một.
33. A Na Luật
: (Aniruddha) cũng gọi A Nậu Lầu Ðà. Tàu dịch là Như ý.
Nghĩa là kiếp trước ông có cúng dường một vị Phật Bích
Chi, nên đời đời cảm đặng quả báo phú túc, chỗ cầu
đều mãn nguyện. Khi ông mới nhập đạo, tánh hay ưa ngủ,
bị Phật quở trách ông tự hổ, tinh tấn tu tập thức luôn
bảy ngày đêm đến nỗì hai mắt không thấy đường, nhờ
Phật dạy tu pháp “Kim cang tam muội” nên sau ông đặng Thiên
nhãn bực nhứt.
34. A Ma Lặc
: Thứ trái cây hình giống trái Binh Lang (trái cau) ăn nó trừ
được bịnh phong lãnh.
35. Ngũ thông
: 1. Thiên nhãn thông, 2. Thiên nhĩ thông, 3. Tha tâm thông, 4.
Túc mạng thông, 5. Thần túc thông.
36. Chơn thiên
nhãn : Là mắt của Phật, Phật hằng ở trong định, vạn
tượng đều hiện trước mắt, chưa từng không thấy, mà
chưa từng có thấy, nên nói không có hai tướng.
37. Ưu Ba
Ly : (Upali) Tàu dịch là Cận Chấp, nghĩa là nói lúc Phật
làm Thái tử, ngài Ưu Ba Ly làm quan đại thần: thân cận giúp
cho Thái tử, sau theo Phật xuất gia, chứng quả A La Hán, ngài
là bực giữ luật thứ nhứt.
38. Nhạo
thuyết biện tài : Bồ Tát do nội trí phát sáng hay tùy thuận
căn tánh chúng sanh ưa nghe pháp mà diễn nói một cách viên
dung vô ngại.
39. La Hầu
La : (Rahula) Tàu dịch là Phú Chướng, nghĩa là bị ngăn chướng
ở trong thai mẹ 6 năm mới sanh ra, ông là con của Phật Thích
Ca. Khi bà Da Du Ðà La sanh ông ra, nhằm lúc thần A tu la lấy
tay che khuất mặt trời, vì thế nên dặt tên ông là La Hầu
La. Trong kinh Nhân Duyên nói : Trong 10 người đệ tử lớn của
Phật, ông La Hầu La là mật hạnh bực nhứt. Ðến hội Pháp
Hoa, ông được thọ ký sau sẽ thành Phật hiệu là “Ðạo
thất Bảo Hoa Như Lai”.
40. Chuyển
Luân Vương : có bốn : 1. Thiết Luân Vương cai trị một châu
thiên hạ; 2. Ðồng Luân Vương cai trị 2 châu thiên hạ; 3.
Ngân Luân Vương cai trị 3 châu thiên hạ; 4. Kim Luân Vương
(cai trị 4 châu thiên hạ). Vì phước nghiệp đời trước,
nên khi làm vua, có xe báu tự nhiên, hoặc bằng sắt, đồng,
bạc, vàng hiện ra, vua ngồi xe đó đi tuần hay dẹp giặc
trong cõi mình cai trị nên gọi là Chuyển Luân Thánh Vương.
41. Hữu vi
: Các pháp có tạo tác sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện
tượng biến thiên trong vũ trụ.
42. Vô vi
: Vi là thi vi tạo tác, vô vi là cái không có thi vi tạo tác
lại không bị bốn tướng Sanh, Trụ, Dị, Diệt cai quản,
tức là bản thể chơn lý.
43. Sáu mươi
hai món kiến chấp : Ðối với pháp ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng,
hành, thức) mỗi ấm phái ngoại đạo khởi 4 món kiến chấp
sai lầm : 1) Chấp sắc lớn ngã nhỏ, ngã ở trong sắc ; 2)
Chấp ngã lớn sắc nhỏ, sắc ở trong ngã ; 3) Ngoài sắc chấp
ngã riêng ; 4) Ngã tức là Sắc. Sắc ấm như thế thì các
ấm kia cũng thế, cộng thành 20 kiến, trải ba đời nhơn thành
60 kiến, thêm hai phần căn bản là Ðoạn kiến và Thường
kiến, thành 62 món tà kiến. Vì rừng kiến chấp sai lầm ấy,
nên người đời không chừa một tội lỗi nào mà không làm.
44. Ngu đạo
: Năm đường : Trờí, người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.
45. Ngũ nhãn
:
1) Nhục
nhãn : Mắt thịt thấy gần không thấy xa, thấy ngoài không
thấv trong, vì bị sắc chất ngăn ngại ;
2) Thiên
nhãn : Mất của chư Thiên nhơn tu thiền định mà thành. Mắt
này có thể thấy tất cả xa gần, trước sau, trên dưới,
ngày đêm, vì không có sắc chất làm ngăn ngại ;
3) Huệ nhãn
: mắt của hàng nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) quán thấy
tất cả đều không ;
4) Pháp nhãn
: mắt của Bố Tát. Bồ Tát vì độ sanh dùng Pháp nhãn thanh
tịnh quán khắp tất cả các pháp và tất cả chúng sanh đem
những món phương tiện dạy dỗ khiến họ tu chứng ;
5) Phật
nhãn : Mắt của Phật, do trí tuệ viên mãn cứu cánh của
Phật có đủ bốn con mắt trước nhưng có phán đặc biệt
hơn, như : Người thấy rất xa, Phật lại thấy rất gần,
người thấy tối tăm, Phật lại thấy sáng, cho đến không
việc gì mà Ngài không thấy, không biết, không nghe, không
cần để ý mà đều thấy nghe tất cả.
46. Ngũ căn
: 1. Tín căn ; 2.Tấn căn ; 3. Niệm căn ; 4. Ðịnh căn ; 5. Huệ
căn đã giải nơi 2 phẩm trong phần 37 phẩm trợ đạo số
26).
47. Ngũ lực
: Tức tu năm căn trên được tăng trưởng có thế lực phá
trừ 5 chướng :
1) Tín lực
: tín căn tăng trưởng, phá các lòng tin sai lầm mù quáng;
2) Tấn lực
: tinh tấn căn tăng trưởng phá được tính lười biếng của
thân tâm; 3) Niệm lực : niệm căn tăng trưởng phá được
các niệm sai lầm tà vạy ;
4) Ðịnh
lực : định căn tăng trưởng phá được các tư tưởng loạn
dộng ;
5) Huệ lực
: huệ căn tăng trưởng phá được các sự mê lầm trong 3
cõi.
48. Tạp ác
: Các việc không lành của tâm tạp nhiễm gây tạo. Hai chữ
tạp ác đây, ý nói, dù làm mọi việc phước thiện mà tâm
tạp nhiễm tán loạn cũng gọi là tạp ác. Chỉ dứt trừ
vọng tưởng đến đạo lý cứu cánh Niết Bàn mới gọi là
lìa các tạp ác.
49. Vô thượng
Bồ đề : Tức trí giác tuyệt đối, cũng như chữ Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, có giải ở trước.
50. A Nan :
Nói đủ A Nan Ðà (Anada). Tàu dịch là Khánh Hỷ, ông là con
chú bác với Phật Thích Ca, học rộng. nhớ nhiều là bực
đa văn thứ nhứt trong hàng Thanh Văn đệ tử.
51. Kim cang
: Một chất rất cứng chắc không chi phá vỡ nó được, mà
nó lại hay phá vỡ các thứ cứng
52. Pháp thân
: Có 3 thứ :
1) Pháp Hóa
sanh thân, tức là thân Kim cang;
2) Ngũ phần
pháp thân (đã giải nơi phẩm 2) ;
3) Thật
tướng của các pháp,
đồng hợp
thành thân Phật.
53. Tư dục
thân : Thân hình do tư tưởng ái dục đợi duyên hòa hiệp
sanh ở trong 3 cõi.
54. Vô lậu
: Không còn rơi lọt, tức từ các bực Thánh trong hàng Thanh
Văn. Bồ Tát tu hành đã dứt hết phiền não, tự tâm thanh
tịnh giải thoát, không còn nghiệp chướng rơi lọt vào trong
ba cõi sanh tử nữa nên gọi là vô lậu.
55. Năm món
trược :
1) Kiếp
trược : thời gian biến đổi không ngừng có đủ 4 món trược
dưới đây :
2) Kiến
trược : sự thấy biết sai lầm, tin nhận tà vạy, chính là
những món “Lợi sử” vậy.
3) Phiền
não trược : tham sân lững lẫy, si mê điên đảo v.v... chính
là những món “Ðộn sử’ vậy.
4) Chúng
sanh trược : sanh tử, tử sanh nối luôn không dứt.
5) Mạng
trược : thọ mạng ngắn ngủi.
56. Bổn duyên
: Do lai duyên sự của mình.