THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglishMirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
NGHIỆP - HẠNH PHÚC - TÂM
His Holiness the Dalai Lama
Tuệ Uyển Việt dịch
Hàng tỉ năm trôi qua giữa thời khởi thỉ của thế giới này và khi sự sống lần đầu tiên xuất hiện trên mặt đất Sau đấy là khoảng thời gian dài lâu để cho sự sống hình thành trở nên trưởng thành trong suy tư- trong sự phát triển và hoàn thiện năng lực tuệ trí của chúng; và ngay cả từ trong thời gian loài người đạt đến sự trưởng thành như hiện tại, hàng nhiều nghìn năm đã trôi qua. Xuyên qua thời gian bao la này thế giới đã chịu đựng những sự đổi thay không ngớt, để nó có thể ở trong trạng thái tiếp diễn liên tục. Ngay cả hiện tại, thuyết tương đối phát sinh gần đây cho biết điều xuất hiện trong thời gian ngắn duy trì tĩnh tại được thấy đã trãi qua sự thay đổi trong từng khoảnh khắc. Người ta có thể tự hỏi điều gì đã được duy trì không thay đổi khi mà mỗi loại vật chất và hiện tượng tâm linh dường như là chủ thể lúc nào cũng thế cho chương trình chuyển biến, của tính thay đổi. Tất cả những thứ ấy là mãi mãi khởi sinh, phát triển và biến mất. Trong cơn lốc của tất cả những sự thay đổi này, có một Sự Thật đơn độc duy trì liên tục và không thay đổi được-trong ngôn ngữ khác, đấy là, Sự Thật Chính đáng thì đi kèm với kết quả lợi ích, và sự thật của những hành động xấu ác thì đi kèm với kết quả tổn hại. Một nhân lành sẽ sinh quả lành, một nhân xấu sẽ sinh quả xấu. Tốt hay xấu, lợi ích hay tổn hại, mỗi kết quả tất yếu phải có một nhân. Nguyên tắc độc hành này là vĩnh cữu, không thay đổi và liên tục. Điều này là một sự thật đã hiện hữu lâu xa trước khi một người bước vào thế giới này, trong thời điểm bình minh của sự hiện diện của người ấy, trong thời gian hiện tại, và nó sẽ tiếp tục theo đuổi với thời gian tương lai vô cùng tận.

Tất cả chúng ta khao khát hạnh phúc và né tránh khổ đau cùng bất cứ thứ gì không hài lòng.Như chúng ta đã biết, niềm vui thích và đớn đau sinh khởi từ một nguyên nhân. Không kể là những hậu quả hiển nhiên nào đấy là do một nguyên nhân hay bởi nhiều nguyên nhân đã được quyết định bởi bản chất tự nhiên của hậu quả ấy. Trong vài trường hợp,  ngay cả nếu những nhân tố nguyên nhân không quá mạnh cũng không quá áp đảo, nó vẫn có thể  làm cho nhân tố kết quả xãy ra. Bất cứ phẩm chất của nhân tố kết quả như thế nào, hoặc là chúng tốt hay xấu, sự to lớn và cường độ của chúng tương ứng một cách trực tiếp với số lượng và mãnh lực của nhân tố nguyên nhân. Vì vậy, để thành công trong việc tránh những điều khổ đau không mong đợi và gặt hái được những niềm vui thích khát khao, vấn đề này tự nó không phải nhỏ, đấy là sự từ bỏ một khối lượng lớn những thu thập nhân tố nguyên nhân được yêu cầu. 

Trong sự phân tích bản chất tự nhiên và trạng thái của hạnh phúc, nó được biểu hiện rõ ràng qua hai phương diện. - Một là niềm vui tức thời (tạm thời); và thứ hai là niềm vui tương lai (cơ bản). Niềm vui tạm thời bao gồm sự nhàn hạ và thích thú , là những điều con người ao ước như nơi cư trú tốt, vật dụng đáng yêu, thức ăn ngon miệng, hợp tác tốt đẹp, đối thoại vui lòng, v.v và v.v... Nói một cách khác, sự thoả mãn tạm thời là những điều mà con người vui thích trong đời sống này. Câu hỏi là không biết sự hưởng thụ của những hoan lạc và thỏa lòng này có nhận được một cách trong sạch từ những (nhân tố) nhu cầu ngoại tại được thể nghiệm trong ánh sáng của luận lý lôgic rõ ràng không. Nếu nhân tố ngoại tại chịu trách nhiệm một mình để cho hưng khởi những cảm hứng khoái lạc như vậy, một người sẽ vui sướng khi những điều này hiện diện, và ngược lại họ sẽ buồn phiền khi chúng vắng mặt. Tuy nhiên, điều này không phải như vậy. Bởi vì, ngay cả trong khi vắng mặt những điều kiện ngoại tại đưa đến sự khoái cảm, một người vẫn có thể vui vẻ và yên bình. Điều này chứng minh rằng, những nhân tố ngoại tại không chịu trách nhiệm một mình nó cho sự kích thích hạnh phúc con người. Có đúng là những nhân tố ngoại tại duy nhất chịu trách nhiệm hay chúng là toàn bộ điều kiện để cho sự hưng khởi của hoan lạc và hạnh phúc không, nếu vậy một người sở hữu một sự giàu có  những nhân tố này sẽ có một sự hỉ lạc hạn chế. điều này không luôn luôn có nghĩa như vậy. Điều đúng là những nhân tố ngoại tại này thật sự công hiến một phần để tạo nên sự hoan lạc trong đời sống con người. Tuy vậy, nếu  tuyên bố rằng những nhân tố ngoại tại là tất cả, là cần thiết và vì vậy là nguyên nhân độc nhất của hạnh phúc trong khoảng thời gian ngắn ngủi của đời sống con người là phát biểu trì trệ và phi lý. Nó có nghĩa không chắc chắn là sự hiện diện của những nhân tố ngoại tại như vậy sẽ tạo nên sự vui thích. Trên phương diện ngược lại, căn cứ trên những gì xãy ra như kinh nghiệm của hạnh phúc to lớn nội tại -mặc dù vắng mặt toàn bộ những hoan lạc có được do những nhân tố ngoại tại, và thường vắng mặt vui sướng mặc dù chúng (nhân tố ngoại tại) hiện diện-, một cách rõ ràng chi cho thấy nguyên nhân của hạnh phúc tuỳ thuộc trên một tập hợp khác nhau của những điều kiện (nhân tố).

Nếu chúng ta bị  lầm lạc rằng,  bởi những điều bàn luận về những (nhân tố ngoại tại) điều kiện được đề cập ở trên    là nguyên nhân duy nhất cấu thành  của hạnh phúc cho đến sự loại trừ bất cứ những điều kiện nào khác tạo ra , điều ấy hàm ý rằng (kết quả) hạnh phúc thì liên đới với những (nhân tố) nguyên nhân bên ngoài một cách không thể tách rời. Sự hiện diện hay vắng mặt của hạnh phúc được quyết định độc quyền bởi chúng. Sự việc thực tế rõ ràng không đủ chứng cớ  chứng tỏ rằng nguyên nhân ngoại tại không cần thiết hay hoàn toàn chịu trách nhiệm đến  kết quả của (hiện tượng) hạnh phúc.

Bây giờ, điều gì khác của tập hợp những nguyên nhân nội tại? Chúng được giải thích như thế nào? Là những Phật tử, tất cả chúng ta tin ở luật nghiệp báo- luật tự nhiên của nhân và quả. Bất cứ những (điều kiện) nguyên nhân nội tại của người nào đấy xuyên qua trong đời sống tiếp theo là  kết quả từ những tích tập từ những hành động của cá nhân trong những đời sống trước đây. Khi năng lực nghiệp báu của những hành vi quá khứ chín muồi, một người cảm nhận vui thích hay ưu phiền. Chúng không gì khác hơn mà chỉ là hậu quả của những hành động của người ấy trong quá khứ. Điều quan trọng nhất để hiểu là, khi những kết quả thích đáng của những nghiệp báu từ tất cả những hành động quá khứ xuất hiện, những nhân tố ngoại tại của người ấy liên kết như những thuận duyên. Điều xãy đến liên hệ với những điều kiện xuyên qua hành động (nghiệp) và những nhân tố ngoại tại  sẽ sản sinh trạng thái tinh thần thoãi mái. Về mặt khác, nếu thiếu vắng điều kiện thiết yếu cho kinh nghiệm vui thích nội tại thì sẽ không có cơ hội cho những nhân tố bên ngoài thích ứng, hay ngay cả nếu những nhân tố bên ngoài hiện diện, sẽ không thể làm cho một người được kinh nghiệm vui thích. Điều này chỉ cho thấy rằng nhân tố nội tại là căn bản trong những điều này, và đấy là nhân tố chính quyết định hiện thực của hạnh phúc hay ngược lại. Vì vậy, để đạt được những kết quả khao khát, điều khẩn thiết cho chúng ta là phải tích tập cùng lúc cả hai  nguyên nhân-tạo nên nhân tố ngoại tại và nguyên nhân-tạo nên nhân tố nội tại ( nghiệp ).—( Hay nguyên nhân nội tại là nhân và nguyên nhân ngoại tại là duyên.)----

Để phát biểu vấn đề một cách đơn giản hơn, cho sự tích tập cuả nhân tố lành nội tại (thiện nghiệp), những gì cần thiết chính như  những phẩm chất như là một ít nhu cầu, sự toại ý, sự nhún nhường, sự giản dị, và những đức tính quý báu khác. Thực hành những nhân tố nội tại này sẽ thuận tiện ngay cả chuyển biến những nhân tố ngoại tại  đã  kể trước đây chúng sẽ biến đổi thuận tiện ngay cả chuyển hoá những ích lợi đặc trưng cho sự sinh khởi của hạnh phúc. Sự vắng mặt của những nhân tố nội tại thích đáng, như có một ít nhu cầu của sự toại ý, nhẫn nại, tha thứ, v.v... sẽ ngăn trở người ấy hưởng thụ sướng vui, hạnh phúc ngay cả khi tất cả những nhân tố ngoại tại hiện diện. Bên cạnh điều ấy, người ta còn phải có nguồn năng lực của công nghiệp và đức hạnh tích tập trong những đời quá khứ. Nếu khác đi, những hạt giống hạnh phúc không thể tạo thành quả phúc được.

Vấn đề có thể đặt ở một cách khác. Sự vui thích và sự thất vọng, hạnh phúc và khổ đau kinh nghiệm bởi mỗi cá nhân là những kết quả lợi ích không thể tránh được và hoặc là những hành động xấu mà người ấy đã gây ra, vì vậy được thêm vào tàng thức người ấy. 

Nếu tại một thời điểm nhất định trong đời sống hiện tại này những quả lành do những thiện nghiệp chín muồi người ấy sẽ thể nhận được, nếu đấy là một người thông thái, thì đấy là những quả phúc của những hành vi sáng suốt đáng khen trong quá khứ. Điều này sẽ tưởng thưởng và khuyến khích người ấy đạt thêm công nghiệp.
 
Một cách đơn giản, khi người nào xãy ra kinh nghiệm khổ đau hay không hài lòng, người ấy có thể chịu đựng một cách trầm tĩnh nếu người ấy duy trì một sự tin chắc không giao động rằng, cho dù người ấy có nguyện ước hay không, người ấy phải đau khổ và mang lấy những hậu quả của chính những hành vi người ấy đã làm trong quá khứ, mặc dù sự thật bình thường người ấy thường thấy rằng cường độ và mức độ,của sự thất vọng thì rất khó để chịu đựng, hay mang lấy. Bên cạnh, nhận thức rằng chúng không là gì nhưng chỉ là kết quả của những hành động vụng về trong quá khứ sẽ làm người ấy đủ thông minh chừa bỏ những hành động vụng về từ nay trở đi. Giống như vậy, tư tưởng hài lòng rằng,- với sự chín muồi của những nghiệp xấu trong quá khứ, và phần quả xấu bởi những hành động xấu trong quá khứ đã hiện ra,- sẽ là niềm an ủi, khích lệ lớn lao cho người ấy.

Một sự đánh giá đúng đắng tuệ trí này sẽ góp phần hiểu thấu bản chất để đạt được yên bình cho thân và tâm. Thí dụ, giả sử một người bất ngờ bị đau khổ với chấn thương vật lý trầm trọng qua một nhân tố ngoại tại. Nếu, chỉ là  năng lực tuyệt đối của ý chí ( căn cứ trên sự tin chắc rằng người ấy tự chịu trách nhiệm cho những bất hạnh và khổ đau hiện tại), người ấy có thể vô hiệu hoá sự tăng gia khổ đau rồi thì tâm tư người ấy sẽ thoãi mái và yên tĩnh.
Bây giờ để chúng tôi giải thích điều này trong một trình độ khá hơn, cao hơn. Sự quan tâm, sự phấn đấu, và thực thi này là điều có thể làm một cách có hệ thống để tiêu huỷ những điều bất như ý và nguyên nhân của chúng.

Như đã nói ở trước, vui sướng hay khổ đau, hạnh phúc hay bất như ý là kết quả của những hành động tốt hay xấu của một người. Những hành động tốt hay xấu (nghiệp) không là những hiện tượng ngoại tại. Chúng tuỳ thuộc một cách có căn bản vào tình trạng của tâm. Làm những cố gắng tích cực để tạo dựng mọi thứ có thể của thiện nghiệp và đẩy xa chúng ta những vết tích của bất thiện nghiệp, là con đường để sáng tạo hạnh phúc và tránh sự tạo đớn đau và khổ sở. Đấy là điều vẫn thường thấy rằng một kết quả vui vẻ theo sau một nhân lành và hậu quả xây dựng bởi nguyên nhân vụng về là khổ đau.

Vì vậy, quan trọng nhất, chúng ta cố gắng mọi ý nghĩa có thể để gia tăng phẩm chất và khối lượng của những hành động thiện xảo và làm những hành động tương ứng cắt xén bớt những hành động vụng về của chúng ta.

Làm thế nào để việc này được hoàn thành? Những nguyên nhân đáng khen thưởng và ngược lại, kết quả hạnh phúc và khổ đau không tương đồng với đối tượng bên ngoài. Thí dụ, trong cơ thể con người hệ thống gồm những phần khác nhau như phổi, tim, và những bộ phận khác có thể thay thế bằng những bộ phận mới. Nhưng điều này không như vậy với những hành động của nghiệp, điều tịnh hoá tâm. Sự thu thập công nghiệp tươi tốt và sự tiêu huỷ những nhân xấu, là quá trình tịnh hoá tâm linh. Chúng không thể đạt được với bất cứ sự giúp đở nào ở bên ngoài. Phương pháp duy nhất để hoàn thành là bằng sự kiểm soát và luyện tập tâm chưa thuần hoá (cho đến nay). Cho điều này, chúng ta đòi hỏi một sự nhận thức đầy đủ hơn yếu tố gọi là TÂM.

Qua những cánh cửa của năm giác quan một chúng sinh thấy, nghe, ngữi, nếm và dẫn đến sự tiếp xúc với các hình sắc tiếp nhận bên ngoài, các đối tượng, ấn tượng. Hãy để hình sắc, âm thinh, mùi hương, vị nếm, tiếp xúc(va chạm) và những sự kiện tinh thần, những điều liên hệ với sáu thức cảm giác được đóng lại. Khi điều này được hoàn tất sự thu thập của những sự kiện quá khứ trên điều tâm hướng đến để động não (suy nghĩ ủ ê, nghiền ngẫm), sẽ hoàn toàn bị đoạn dửt và dòng chảy của ký ức bị cắt đứt. Một cách đơn giản, những dự tính cho tương lai và sự dự định hành động tương lai không được phép hưng khởi. Cần thiết phải tạo một không gian, nơi tâm trở nên rỗng không với tất cả những trình tự như vậy, trong nơi của tất cả những chương trình như vậy của tư tưởng (dự tính,dự định,dự kiến).Tự tại với tất cả những trình tự như vậy nơi ấy duy trì một tâm tinh khiết, trong sáng, rõ rệt và tịch tĩnh. Bây giờ hãy để chúng ta kiểm nghiệm những đặc điểm nào cấu thành "tâm" khi nó đạt đến trạng thái này. Một cách chắc chắn rằng chúng ta sở hữu điều gọi là "tâm", nhưng làm thế nào để chúng ta thể nhận được sự hiện hữu của nó? Thực tế và bản chất của "tâm", điều được tìm thấy khi toàn bộ gánh nặng của những điều trở ngại và lầm lạc nói chung (nhận thức của các giác quan, ký ức suy tư.v.v...) được làm sạch bóng. Thấy rõ, sâu sắc diện mạo này của thật tâm, chúng ta sẽ khám phá rằng, không giống như những đối tượng ngoại tại, thật tính bản nhiên của nó là xa rời hình thức hay màu sắc, mà có thể chúng ta (cũng không) tìm thấy bất cứ căn bản nào chính xác cho những điều sai lầm  và những khái niệm lừa dối như vậy như:  "tâm" vốn dĩ từ điều này hay điều kia, hay là  "tâm" di chuyển từ nơi này đến nơi nọ, hay là  "tâm" được xác định vị trí ở nơi như vậy và như vậy. Đến khi tiếp xúc được với không đối tượng tâm giống như một điều trống không rộng rãi vô biên, hay như một đại dương bình lặng, trong sáng và vô tận. Khi thình lình chạm trán với một đối tượng nó lập tức nhận ra ngay đối tượng của nó, như một tấm gương lập tức phản chiếu một người đứng trước nó. Bản chất thật sự của tâm không chỉ gồm có nhận thức rõ ràng đối tượng nhưng cũng truyền đạt kinh nghiệm cụ thể của đối tượng đến người kinh nghiệm qua nó. (* Đây là hai khía cạnh, thể nhận tri thức và truyền đạt kinh nghiệm liên hệ để biết điều gì là đối tượng và cảm giác, nếm, thấy,...thế nào). Một cách bình thường, những hình thức của các tri giác của chúng ta như: nhận thức của mắt, nhận thức của tai, v.v... diễn tả những chức năng trên những hiện tượng bên ngoài trong thái độ liên hệ méo mó toàn bộ. Kiến thức kết quả trên nhận thức cảm giác, căn cứ trên toàn bộ những hiện tượng bên ngoài, cũng là toàn bộ thiên nhiên. Khi toàn bộ kích thích loại này bị đóng kín và khi những kinh nghiệm cụ thể và nhận thức trong sáng khởi lên từ trong ấy, tâm thể hiện đặc tính trống không vô tận giống như  không gian vô biên. Nhưng cái "không" này không được xem như thật tính tự nhiên của tâm.  Chúng ta phải trở nên thật quen thuộc với sự nhận thức đến  hình thể và màu sắc của toàn bộ những đối tượng, khi chúng ta tập trung sự tự quán sát bên trong đến tính bản nhiên của tâm, nó là, như chúng tôi đã nói, được tìm thấy là một sự trống không vô tận tự tại với bất cứ sự u tối vô minh hay  những chướng ngại nào khác. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là chúng ta đã thấy rõ thật tính tinh tế bản nhiên của tâm. Những điều được giải thích ở trên liên quan đến trạng thái của tâm trong sự liên hệ với kinh nghiệm cụ thể và nhận thức trong sáng bởi tâm, những điều là chức năng của nó, nhưng nhưng nó chỉ diễn tả tính bản nhiên tương đối của tâm.

Thêm một vài khía cạnh và trạng thái khác của tâm. Trong ngôn ngữ khác, thể nhận tâm ở mức độ căn bản nhất, có nhiều thuộc tính liên hệ đến nó. Chỉ như củ hành bao gồm những lớp chồng chất lên nhau và có thể bóc ra, vì vậy mỗi một đối tượng có vô số lớp chồng chất;  và điều này không sai với tính bản nhiên của tâm được giải thích ở đây; nó cũng vậy, có lớp này trong lớp nọ, trạng thái này trong trạng thái kia.

Tất cả những sự, những vật được hợp thành là những đối tượng để tan rã. Tự bao giờ, những kinh nghiệm và kiến thức là vô thường và là đối tượng để tan rã, "tâm", của điều là những chức năng (tự nhiên), không phải là điều gì ấy được duy trì bất biến và vĩnh cữu. Từ từng khoảnh khắc nó phải thay đổi và tàn hoại. Sự chuyển biến này của tâm là khía cạnh tự nhiên của nó. Tuy vậy, khi chúng ta quán sát, thật tính tự nhiên của tâm có nhiều khía cạnh, bao gồm những nhận thức của những kinh nghiệm cụ thể và tri thức của những đối tượng. Bây giờ chúng ta hãy thể nghiệm xa hơn để hiểu thấu ý nghĩa tinh tế căn bản của một tâm như thế. Tâm hiện hữu bởi nguyên nhân của chính nó. Để phủ nhận căn nguyên của tâm   tuỳ thuộc vào một nguyên nhân, hay nói rằng nó được mệnh danh như một ý nghĩa được thừa nhận tự nhiên của tập hợp tâm, thì không đúng. Với sự  quán sát nông cạn của chúng ta, tâm, điều có kinh nghiệm cụ thể và nhận thức rõ rệt như tính tự nhiên của nó, xuất hiện như một thực thể toàn năng, độc lập, thống trị một cách hoàn toàn ở khắp nơi. Tuy nhiên, phân tích sâu hơn sẽ thấy rằng tâm này, sở hữu như nó làm chức năng của kinh nghiệm và nhận thức, nó không là một thực thể tự sáng tạo nhưng lệ thuộc vào những nhân tố khác cho sự tồn tại của nó. Vì lý do này nó tuỳ thuộc vào những điều khác hơn chính nó. Phẩm chất không độc lập này của căn bản của tâm là thực tính tự nhiên của nó trong điều khiến đấy là nền tảng thực sự của chính nó.

Ở hai khía cạnh này, thật tính cơ bản tự nhiên của tâm và một kiến thức của thực tính cơ bản tự nhiên đấy, điều trước là căn bản và điều kế tiếp là thuộc tính. Tâm (tự nó) là căn bản và tất cả nhũng trạng thái khác nhau của nó là những thuộc tính. Tuy vậy, căn bản và những thuộc tính, điều căn bản-đầu tiên có cùng thể chất với từng đơn vị-những thuộc tính. Sự sáng tạo vô ngã (tuỳ thuộc trên một nguyên nhân khác chính nó) thực thể tâm (nền tảng căn bản) và bản chất của nó, tính không, có sự tồn tại một cách không ngừng như một thực chất , giống nhau, không thể tách rời từ khởi nguyên vô thỉ. Tính tự nhiên của tính không toả khắp tất cả mọi yếu tố. Bây giờ khi chúng ta và từ khi chúng ta không thể hiểu thấu hay nhận thức thấu đáo sự bền bỉ, tự nhiên, nền tảng thực sự (tính không) của tâm chúng ta, chúng ta tiếp tục liên luỵ vào những sai lầm và những thiếu sót của chúng ta vẫn cứ dai dẳng.

Nhận tâm như chủ thể và thực tại cơ bản của tâm như đối tượng của nó, chúng ta sẽ đạt đến một sự lĩnh hội thích đáng với bản chất thực tính của tâm... thực tại tột cùng của tâm. Và khi, sau một thời gian dài kiên nhẫn thiền định, chúng ta sẽ nhận biết và hiểu thấu thực tại tột cùng của tâm, là điều lìa xa những đặc tính của nhị nguyên, chúng ta sẽ dần dần có thể làm rỗng không ảo tưởng và những khiếm khuyết của những tư tưởng trung tâm và phụ thuộc như giận dữ, thích phô trương, ghanh ghét, thèm muốn, v.v...

Thất bại trong việc nhận diện tính bản nhiên của tâm chúng ta sẽ mất cơ hội đạt  được năng lực nhận biết thực tại cơ bản của tâm. Điều này sẽ xoay việc nhỗ gốc của khát dục và thù ghét và tất cả cội rễ của những vọng tưởng phụ thuộc khác của chúng ta từ căn bản. Vì thế, không có chỗ để tích tập những nghiệp không lành.

Theo những nghĩa này việc tạo những ác nghiệp ảnh hưởng cho những đời sống tương lai sẽ bị loại trừ; chúng ta sẽ có thể gia tăng chất lượng và số lượng của điều kiện nguyên nhân công hạnh lành và để trừ tiệt gốc sự tạo tác điều kiện nguyên nhân tổn hại ảnh hưởng những đời sống tương lai-ngoài những nghiệp xấu tích tập trước đây ra.

Trong việc thực hành để đạt được kiến thức toàn hảo của thực tính bản nhiên của tâm, đòi hỏi những cố gắng tích cực và tập trung tinh thần để nhận biết thấu đáo đối tượng. Trong những điều kiện bình thường của chúng ta như hiện tại, khi tâm chúng ta tiếp xúc với bất cứ gì nó liền bị lôi cuốn tức thì. Điều này khiến sự nhận hiểu bất lực. Vì vậy, để đạt được năng lực tịch tĩnh to lớn của tinh thần, sự nổ lực thật tối đa là đòi hỏi cấp thiết nhất. Thí dụ như, một dòng sông lớn trôi chảy qua một vùng mở rộng sẽ có rất ít năng lực, nhưng khi nó xuyên qua một dốc núi hẹp tất cả nước tập trung trong một không gian hẹp và vì vậy nó tuôn chảy với một mãnh lực lớn. Với một lý do đơn giản tất cả những điều xao lãng của tinh thần, điều lôi cuốn tâm xa rời với đối tượng quán chiếu được tránh và tâm duy trì kiên định không chuyển trên đối tượng. Ngoại trừ điều này được hoàn tất, sự thực hành để đạt được một sự thấu hiểu thích đáng thực tính bản nhiên của tâm sẽ hoàn toàn thất bại.

Làm cho tâm thuần thục ngoan ngoản,  là điều căn bản cho chúng ta rèn luyện và kiểm soát nó tốt đẹp. Lời nói và hành động của thân là điều tương ứng với trình tự của tinh thần, tuyệt không cho phép nó diễn tiến trong chiều hướng vô ý, thả lỏng, và bừa bãi. Chỉ như một huấn luyện viên luyện tập và trầm tĩnh một con ngựa hoang bướng bỉnh bằng khuất phục nó và sự rèn luyện dài lâu. Vì vậy những hành động hoang dã, rong ruỗi, bừa bãi phải được thuần hoá và làm chúng ngoan ngoản, chính đáng, và thiện xảo. Vì vậy những lời Dạy của Đức Thế Tôn bao gồm trong ba chủ đề, đó là giới (rèn luyện đạo đức cao thượng), định (rèn luyện thiền định cao thâm) và tuệ trí (rèn luyện tuệ trí cao xa), tất cả đấy là để dành cho rèn luyện tâm.

Bằng việc học tập, thiền định và thực hành tam vô lậu học trong phương pháp này, chúng ta hoàn thành tiến trình thực chứng. Một người luyện tập sẽ được phú cho phẩm chất tuyệt vời của khã năng có thể chịu đựng một cách kiên nhẫn những bất hạnh và khổ đau, những điều là kết quả những nghiệp chướng quá khứ của người ấy.

Người ấy sẽ quan tâm sự bất hạnh của chính họ như chuyện không may mà lại hoá may,  làm cho người ấy sáng tỏ ý nghĩa của nghiệp báo và làm cho người ấy nhận thức thấy sự cần thiết để tập trung tiến hành duy chỉ những hành động đạo nghiệp xứng đáng mà thôi. Nếu nghiệp xấu quá khứ của người ấy chưa trổ quả, nó sẽ vẫn có thể được xoá sạch những nghiệp chưa chín này bằng việc sử dụng sức mạnh của bốn năng lực: 

1- Quyết định đạt đến Phật quả;
2- Quyết định tránh làm những hành vi sai trái lỗi lầm, ngay cả cái giá của một đời sống; 
3- Tiến hành những hành vi tốt lành; 
4- Sám hối.
Đấy là con đường để đạt được hạnh phúc trực tiếp,tức thời, gần nhất, để mở đường cho đạt đến giải thoát và giúp chúng ta tránh tích tập những lỗi lầm xa hơn.

http://www.lamayeshe.com/otherteachers/hhdl/happinesskarma.shtml
-Tuệ Uyển dịch-
 

07-01-2008 04:23:12

CHẾT - TRUNG ẤM THÂN - TÁI SINH
His Holiness the Dalai Lama
Tuệ Uyển Việt dịch
1- CHẾT

Qua những khổ đau của khát vọng, thù ghét và u mê, nghiệp ô nhiễm được hình thành, nó sản sinh những năng lực mạnh mẽ trong tâm trong hình thức của những khuynh hướng. Khi một đời sống chấm dứt, một người có những khuynh hướng như thế nào sẽ được sinh lại trong vòng luân hồi với một tâm linh và thân thể qua những khuynh hướng nguyên nhân này.

Một số người chết trong lúc hoàn toàn kiệt lực trong sự thúc đẩy của hành động nào đó, điều mà trong đơi sống khác,nó sẽ dựa trên nền tảng của điều này. Những người khác chết mà chưa hết thời gian thọ mạng của họ, trong tình trạng chưa đầy đủ những nhân tố của đời sống, như là thiếu thốn hay những sự cần thiết. Đấy gọi là chết yểu, hay chết trong sự tiêu phá công nghiệp, bởi sự thúc đẩy của những hành động thực hiện trong đới sống hiện tại này, nhưng những trường hợp phù hợp ngoại tại đạt được qua những hành động đạo hạnh trong đời trước đã không hiển lộ.

Một người chết với một tâm đạo đức, không đạo đức hay trung tính. Trong trường hợp đầu tiên, cái chết của một người có thể đem đến trong tâm một đối tượng đạo đức- như Tam bảo (Phật, lời Phật dạy, và cộng đồng tâm linh) hay đạo sư của người ấy, vì thế sinh ra một tâm tin thành. Người ấy có thể phát triển vô lượng tĩnh lặng yên bình, trở nên tự tại với khát dục và thù hận trước bất cứ chúng sinh nào, hay thiền định trên tính không hay phát triển từ bi. Điều này có thể được hoàn thành hoặc là xuyên qua sự nhớ lại những hành động như thế hay qua sự cảnh tỉnh của người khác. Nếu những thái độ như thế được phát triển tại thới điểm của lâm chung, một người chết với một tâm đạo đức, điều ấy sẽ được tăng cường trong kiếp tiếp theo. Thật là tốt lành để chết trong cách này.

Tuy vậy, thỉnh thoảng, nó xãy ra những thứ khác, ngay cả mặc dù không chủ tâm tìm kiếm sự khuấy động giận hờn, phiền muộn người sắp chết với sự sợ hãi, khủng hoảng, vì vậy làm họ giận hờn. Đôi khi, bạn bè hay thân nhân tập trung chung quanh giường bệnh khóc than, ai oán trong hoàn cảnh như vậy họ đã khơi dậy niềm khát ái. Dù là khát ái hay thù hận, nếu một người chết trong tâm trạng vướng mắc, tội lỗi, hoặc những việc không lành mà người ấy rất quen thuộc, điều ấy rất nguy hiểm.

Một số người chết với thái độ trung tính, không có đối tượng đạo đức cũng không phát sinh khát ái hay thù hận.

Đây là ba thái độ -đạo đức, không đạo đức và trung tính- xuất hiện trong tâm vi tế khi lâm chung. Theo kinh điển, thời điểm tâm vi tế cuối cùng này cần thiết trung tính, không giống Tantra Yoga tối thượng, kinh điển không diễn tả kỷ năng để chuyển hoá tâm vi tế thành tình trạng đạo đức, chỉ là những chỉ bảo thô thiển. Tuy vậy,một hành giả Tantra đúng phẩm chất, có thể chuyển hoá tâm vi tế liên hợp với cái chết thành một nhận thức con đường đạo đức. Tại thời điểm ấy hành giả phải rất thâm sâu.

Trong bất cứ mọi trường hợp, quan kiến tâm linh trong lúc lâm chung rất quan trọng, ngay cả một hành giả thuần thục ôn hoà nếu bị quấy rầy lúc này, khát ái và thù hận hiển nhiên sẽ được phát sinh. Điều này là bởi vì tất cả chúng ta đều có những khuynh hướng đã thiết lập bởi những hành động quá khứ không đạo đức, những điều sẳn sàng bị kích động khởi dậy khi gặp những điều kiện bất lợi. Những khuynh hướng này cung cấp sự thúc đẩy cho những đời sống như súc sinh,v.v...Một cách đơn giản, chúng ta có những khuynh hướng thiết lập bởi những hành động đạo đức quá khứ, khi gặp những điều kiện thuận lợi, sẽ cung cấp sự thúc đẩy cho những đời sống hạnh phúc như loài người,v.v...

Những khã năng này đã có sẳn trong liên tục tâm của chúng ta, chúng được nuôi dưỡng bởi vướng mắc chấp thủ và sự tham đắm, dẫn đến một sự tái sinh tốt hay xấu. Vì vậy, nếu khuynh hướng do nghiệp xấu được hoạt động, một đời sống như súc sinh, quỷ đói hay địa ngục sẽ là kết quả.

Một cách đơn giản, nếu một người thường cư xử sai trái khi lâm chung với một quan kiến đạo đức, người ấy chắc chắn được tái sinh trong một hoàn cảnh tốt. Vì vậy, rất quan trọng cho cả người lâm chung và những người chung quanh để tránh tạo những hoàn cảnh của khát ái hay thù hận và tốt hơn là nuôi dưỡng những tình trạng đạo đức của tâm. Chúng ta cần biết điều này.

Những ai lâm chung trong quan kiến đạo đức có nhận thức đi ngang qua một vùng tối đến vùng sáng, tự do với phiền giận và cảm thấy thoãi mái xuất hiện. Có nhiều trường hợp của những người bệnh nặng, gần với cái chết, nói năng trong trạng thái thật thoãi mái bất chấp bệnh tình của họ. Những người khác bệnh tình dù không nặng nhưng rơi vào sự sợ hải vô cùng, với hơi thở nặng nề. Những người đó cuối cùng chìm trong những tư tưởng không đạo đức, có nhận thức đi ngang qua từ vùng sáng đến vùng tối và thấy những hình trạng không dễ chịu.

Một số người nhiệt độ thân thể bị giảm do bệnh, trở nên khao khát sức nóng vì vậy làm mạnh thêm khuynh hướng cho sự tái sinh như một chúng sinh trong địa ngục nóng, ngay lúc đó họ bị tái sinh trong một nơi cực kỳ nóng. Những người khác trở nên vướng mắc trong một ao ước cảm giác mát lạnh, thí dụ, uống nước, họ củng cố thêm khuynh hướng bị sinh làm một chúng sinh trong địa ngục lạnh, vì vậy nó liên hệ với một sự tái sinh như thế. Do đó rất quan trọng để tránh những tư tưởng khao khát trong lúc lâm chung và hướng tâm trực tiếp đến những đối tượng có tác dụng tốt.

Trong đời sống hằng ngày, thái độ khát ái, thù hận, ghen tị, v.v..., những tư tưởng mà chúng ta đã quá quen thuộc, dễ dàng hiển lộ chỉ với sự khiêu khích nhỏ; nhưng những thứ mà khi chúng ta có một chút hiểu biết, thì phải có sự khiêu khích to tát, như là sự viện dẫn lý lẽ đến tranh luận, để tự chính chúng hiển lộ. Một cách đơn giản, lúc lâm chung, thái độ quen thuộc lâu dài thường ưu tiên và trực tiếp ảnh hưởng đến sự tái sinh. Cùng lý do này, những sự vướng mắc-chấp trước mạnh mẽ thì tự nó sinh khởi, từ đó một người sợ hải rằng tự người ấy đang trở nên không tồn tại (họ sợ rằng chết là hết, vì mối lo sợ ấy dẫn đến tái sinh ) . Sự chấp trước này phục vụ như sự liên kết đến trạng thái trung gian giữa những đời sống (thân trung ấm), sự ưa mến một thân hình, trong sự chuyển biến, hành động như một nguyên nhân thiết lập thân thể của sự tồn tại trung gian.

Đối với những kẽ liên hệ mạnh mẽ với những hành động không đạo đức, sức nóng trước hết rút lui ở phần trên của cơ thể và rồi mới đến những phần khác; nhưng trái lại những ngươi liên hệ mạnh mẽ với những hành động đạo đức, sức nóng trước tiên rút lui ở chân. Trong cả hai trường hợp, sức nóng cuối cùng hội tụ tại tim, nơi mà ý thức xuất ra. Những phần nhỏ đấy của nguyên nhân, kết hợp tinh dịch và máu, dẫn đến điều mà ý thức ban đầu thâm nhập và bầu thai của bà mẹ tại lúc bắt đầu của đời sống, trở thành trung tâm của trái tim; và từ thời điểm vô cùng sớm đấy của nhận thức-sau rốt khởi hành tại sự chết.

2- TRẠNG THÁI TRUNG GIAN (TRUNG ẤM THÂN)

Ngay lập tức sau đó, trạng thái trung gian bắt đầu- ngoại trừ những ai tái sinh trong thế giới không hình dáng-vô sắc giới cúa không gian vô tận (không vô biên xứ), nhận thức vô biên (thức vô biên xứ), vô sở hữu xứ hay tột đỉnh của vòng luân hồi (phi tưởng phi phi tưởng xứ), cho những ai kiếp sống mới bắt đầu lập tức ngay sau khi chết. Những kẽ sinh trong thế giới của khát ái và hình sắc bắt buộc phải qua một giai đoạn của trạng thái trung gian (trung ấm thân), trãi qua điều một chúng sinh có hình thể của con người như người ấy sẽ tái sinh. Chúng sinh trung ấm thân có tất cả 5 giác quan, nhưng cũng có thần thông và tính khiêm tốn kín đáo và khã năng đến ngay lập tức bất cứ nơi nào họ muốn đến. Người ấy thấy những chúng sinh trung ấm thân cùng loại với chính họ - địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nhân loại, a tu la hay chư thiên, và có thể thấy bằng thần thông.

Nếu một vị trí để sinh thích hợp cho khuynh hướng của người ấy chưa tìm ra, một "cái chết nhỏ" sẽ xãy ra trong 7 ngày và người ấy sẽ sinh trong một thân trung ấm khác. Điều này có thể xãy ra tối đa sáu lần, với kết quả của thời điểm dài nhất dành cho trạng thái trung ấm là 49 ngày.

3- TÁI SINH 

Điều này có nghĩa rằng những chúng sinh, ngay cả chết sau một năm, báo cáo rằng họ không tìm ra một địa điểm sinh không trong trạng thái trung ấm nhưng đã sinh như một tâm linh.

Nếu tái sinh như một con người, người ấy thấy bố và mẹ tương lai khi họ nằm chung với nhau. Nếu người ấy được sinh là nam, sự sinh này với cách nhìn khát ái với bà mẹ bao nhiêu thì ghét bỏ người bố bấy nhiêu - điều trái ngược lại với người được sinh ra là nữ. Trong sự khao khát, người ấy lao đến nơi để dấn thân trong sự giao hợp, nhưng lúc đến đấy, người ấy chỉ thấy bộ phận sinh dục của người phối ngẫu. Điều này tạo nên sự giận dữ, điều ấy khiến chấm dứt trạng thái trung ấm và tạo nên liên kết với kiếp sống mới. Người ấy đi vào bào thai của bà mẹ và bắt đầu một cuộc sống con người. Khi tinh trùng người bố và máu của người mẹ phối hợp với đời sống này hay ý thức, chúng từ từ một cách tự nhiên phát triển thành những yếu tố của con người.

Người ấy bị hấp dẫn lôi cuốn một cách khao khát đến địa điểm sinh tương lai, ngay cả nếu nó là địa ngục. Thí dụ, một người đồ tể, có thể thấy con cừu trong khoảng cách khi trong mộng, trong sự lướt tới để giết chúng, sự kiện xuất hiện nhoà nhạt đi, khiến người ấy giận dữ, ngay lúc đó trạng thái trung ấm ngừng lại và kiếp sống trong địa ngục bắt đầu. Cũng vậy, như đã nói ở trước, những kẽ bị tái sinh trong địa ngục nóng bị hấp dẫn bởi sức nóng; và trong địa ngục lạnh thì với cái mát lạnh. Trạng thái trung ấm của một người bị tái sinh trong chiều hướng xấu thì tự nó rất khủng khiếp; và cuối cùng, họ xốc tới địa điểm tái sinh và , khi sự ao ước không đạt được, họ giận dữ, ngay sau đó trạng thái trung ấm dừng lại và kiếp sống mới bắt đầu.

Sự liên kết với một kiếp sống, vì vậy, được tạo ra dưới ảnh hưởng của khát ái, thù hận, và u mê. Cho đến khi vượt thoát được những phiền não này, người ta bị trói buộc trong xiềng xích và không có tự do. Quả thực có những sự tái sinh tốt và xấu, nhưng, trong khi một người vẫn còn bị xiềng xích, người ấy phải mang gánh nặng của cả toàn bộ tâm lý và vật lý, những điều dưới sự ảnh hưởng của những hành động cấu nhiễm và phiền não. Điều này không phải được làm một lần, nhưng cứ lập đi lập lại không ngừng nghĩ.

Để vượt thoát khổ đau của sinh, già, bệnh, và chết; - khát ái, thù hận, và hổn loạn phải được vượt thoát. Gốc rễ của chúng là vô minh si ám u mê --- nhận thức tồn tại, vốn gắn liền với con người và những hiện tượng khác. Thuốc men bên ngoài làm giảm bớt những khổ đau ở bề mặt, nhưng không thể chửa trị cốt lõi của vấn đề. Những sự thực hành nội tại thì hữu ích hơn --- như là dùng đến những loại thuốc giải đặc trị đối với khát ái và thù hận, nhưng sự tác dụng của chúng thì tạm thời, tuy nhiênm nếu một người có phá tan màn vô minh si ám u mê -- gốc rễ của chúng -- thì tất cả những phiền não theo chúng sẽ đồng dừng lại.

Nếu vô minh si ám u mê được loại trừ, rồi thì những hành động cấu nhiễm tuỳ thuộc trên nó sẽ dừng lại.

Xa hơn nữa, không có vô minh, sự bám chặc (chấp trước) và những xu hướng sản sinh bởi những hành động trước đây dừng mở rộng, ngay khi vòng luân hồi cuả tái sinh không kiểm soát chấm dứt.
 
-Tuệ Uyển dịch-
http://www.lamayeshe.com/otherteachers/hhdl/death.shtml
-Death, Intermediate State and Rebirth-
 
 
 
Death, Intermediate State and Rebirth
His Holiness the Dalai Lama 

Published as the foreword to Death, Intermediate State and Rebirth by Lati Rinpoche and Jeffrey Hopkins. Reproduced with the permission of Snow Lion Publications, Ithaca, New York. 

Death

Through the afflictions of desire, hatred and ignorance, contaminated karma (actions) are performed, which establish potencies in the mind in the form of predispositions. When a lifetime finishes, a person who has such predispositions is born again in cyclic existence with a mind and body appropriated through these contaminated causes. 

Some persons die upon the full exhaustion of the impetus of that action which, in another lifetime, laid the foundation for this one. Others die without having used up their allotted time, through the incompletion of the causes of sustaining life, such as lack or necessities. This is called untimely death, or death upon the consumption of merit; for the impetus of the action that established this life remains, but external concordant circumstances that are achieved through other meritorious actions in previous lives do not. 

A person dies within a virtuous, non-virtuous or neutral mind. In the first case, the dying person might take to mind a virtuous object—such as the Three Jewels (Buddha, his Doctrine and the Spiritual Community) or his own lama, thereby generating a mind of faith. Or he or she might cultivate immeasurable equanimity, becoming free from desire and hatred toward any sentient beings, or meditate on emptiness or cultivate compassion. This can be done either through one's own remembering to do such or through others' urging. If such attitudes are cultivated at the point of death, one dies within a virtuous mind, through which one's rebirth is improved. It is good to die in this way. 

Sometimes, however, it happens that others, even though not purposely seeking to arouse anger, annoy the dying person with their nervousness, thereby making him or her angry. Sometimes, also, friends and relatives gather around the bed lamenting in such a manner that they arouse manifest desire. Whether it be desire or hatred, if one dies within a sinful attitude to which one is well accustomed, it is very dangerous. 

Some die within a neutral attitude, neither taking a virtuous object to mind nor generating desire or hatred. 

These three attitudes—virtuous, non-virtuous and neutral—occur until the point of the subtle mind of death. According to the sutra system, this final subtle mind necessarily neutral; for, unlike Highest Yoga Tantra, sutra does not describe techniques for transforming subtle minds into virtuous states, only for treating coarse ones. A qualified practitioner of tantra, however, can convert the subtle minds associated with death into a virtuous path consciousness. At that point one's practice is very profound. 

In any case, the attitude just before death is very important; for, if even a moderately developed practitioner is disturbed at that time, manifest desire or hatred will be generated. This is because we all have predispositions established by former non-virtuous actions, which are ready to be activated upon meeting with disadvantageous circumstances. It is these predispositions that provide the impetus for lifetimes as animals, and so forth. Similarly, we have predispositions established by former virtuous actions, which, upon meeting with advantageous circumstances, will provide the impetus for lifetimes in happy migrations as humans and so forth. 

These capacities that are already in our mental continuums are nourished by attachment and grasping, leading to a bad or good rebirth. Thus, if the predisposition left by a bad karma is activated, a life as an animal, hungry ghost or hell-being will result. 

Similarly, if a person who usually behaves sinfully dies within a virtuous attitude, he or she will probably be reborn in a good situation. Therefore, it is very important for both the dying person and those around him or her to avoid creating situations of desire or hatred and instead to foster virtuous states of mind. We need to know this. 

Those who die within a virtuous attitude have a sense of passing from darkness into light, are free of anxiety and see pleasant appearances. There are many cases of very ill persons who, near the time of death, speak of being in great comfort despite their illness. Others with little illness fall into great fright, with labored breathing. These latter are sunk in non-virtuous thoughts, have a sense of going from light to darkness and see unpleasant forms. 

Some whose physical warmth has diminished through illness become desirous of heat, thereby fortifying predispositions for rebirth as a being in a hot hell, whereupon they take rebirth in a place of extreme heat. Others become attached to a feeling of coolness wishing, for instance, for a drink water, they fortify predispositions to be reborn as a being in a cold hell, thereby making the connection to such a rebirth. Thus it is very important to avoid desirous thoughts at the time of death and direct the mind to salutary objects. 

In everyday life, attitudes of desire, hatred, jealousy and so forth, to which we are well accustomed, become manifest with only slight provocation; but those with which we have little familiarity take considerable provocation, such as recourse to reasoning, to manifest themselves. Similarly, at the time of death, attitudes of long familiarity usually take precedence and direct the rebirth. For this same reason, strong attachment is generated for the self, since one fears that one's self is becoming non-existent. This attachment serves as the connecting link to the intermediate state between lives (bardo); the liking of a body, in turn, acts as a cause establishing the body of the intermediate being. 

For those strongly involved in non-virtuous actions, the warmth of the body withdraws first from the upper part of the body and then from other parts; whereas, for those strongly involved in virtuous actions, the warmth first withdraws from the feet. In both cases, the warmth finally gathers at the heart, from which the consciousness exits. Those particles of matter, of combined semen and blood, into which the consciousness initially entered in the mother's womb at the beginning of the life, become the center of the heart; and from that very same point the consciousness ultimately departs at death. 

Intermediate state 

Immediately thereupon, the intermediate state begins—except for those reborn in the formless realms of infinite space, infinite consciousness, "nothingness" or peak of cyclic existence, for whom the new life begins immediately upon death. Those born within the realms of desire and form must pass through an intermediate state, during which a being has the form of the person as whom he or she is to be reborn. The intermediate being has all five senses, but also clairvoyance, unobstructiveness and an ability to arrive immediately wherever he or she wants. He or she sees other intermediate beings of his or her own type— hell-being, hungry ghost, animal, human, demigod or god—and can be seen by clairvoyants. 

If a place of birth appropriate to one's predispositions is not found, a small death occurs after seven days, and one is reborn into another intermediate state. This can occur at most six times, with the result that the longest period spent in the intermediate state is forty-nine days. 

Rebirth 

This means that those beings who, even a year after dying, report that they have not found a birthplace are not in the intermediate state but have taken birth as a spirit. 

If taking rebirth as a human, one sees one's future mother and father as if lying together. If one is to be reborn as a male, this sight generates desire for the mother as well as hatred for the father—and vice versa if one is to be reborn as a female. Being desirous, one rushes there to engage in copulation; but upon arrival, one sees only the sexual organ of the desired partner. This creates anger, which causes cessation of the intermediate state and makes the connection to the new life. One has entered the mother's womb and begun a human life. When the father's semen and mother's blood are conjoined with this life or consciousness, they naturally and gradually develop into the elements of a human. 

One is desirously attracted to one's future birthplace, even if it is to be a hell. For instance, a butcher might see sheep in the distance as in a dream; upon his rushing there to kill them, the appearance would fade, causing him to become angry, whereupon the intermediate state would cease and his new life in hell begin. Also, as said before, those to be reborn in hot hells are attracted to heat; in cold hells, to coolness. The intermediate state of one who is to be reborn in a bad migration is itself very frightful; in the end, one rushes to the place of rebirth and, when one's wish is not achieved, gets angry, whereupon the intermediate state ceases and the new life begins. 

The connection to a life is, therefore, made under the influence of desire, hatred and ignorance. Until these afflictions are overcome, one is as if bound in chains without freedom. Indeed, there are good and bad rebirths; but, while one is still bound, one must bear the burden of mental and physical aggregates that are under the influence of contaminated actions and afflictions. This is not done just once, but again and again without break. 

To overcome the sufferings of birth, aging, sickness and death, desire, hatred and confusion must be overcome. Their root, in turn, is ignorance—the conception of an inherent existence of persons and other phenomena. External medicines alleviate superficial suffering but cannot cure the central problem. Internal practices—such as resorting to specific antidotes to desire and hatred—are more helpful, but their effects are temporary however, if one can destroy ignorance—their root—then all of these cease of their accord. 

If ignorance is eliminated, then the contaminated actions that depend on it are stopped. 

Furthermore, without ignorance, the attachment and predispositions established by previous actions cease to operate, whereupon the cycle of uncontrolled rebirth is ended. 
 

07-01-2008 04:23:12

TU SĨ TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM 
His Holiness the Dalai Lama 
Tuệ Uyển Việt dịch
Đấy là thời gian, khi mà những cảm xúc tiêu cực như giận dữ, sợ hãi và thù ghét được dịp lớn mạnh như nhứng vấn đề tàn phá xuyên qua thế giới của chúng ta. 

Trong khi tin tức hằng ngày đã truyền đi những nhắc nhở về mãnh lực tàn phá dữ dội của những cảm xúc như vậy, câu hỏi mà chúng ta phải nêu lên cho vấn đề này là: Chúng ta có thể làm gì, từ mỗi cá nhân, để vượt khỏi những vấn nạn này. 

Dĩ nhiên những cảm xúc phiền toái như vậy luôn luôn là một phần của đời sống nhân loại. Một số người - có xu hướng không tin tưởng bất cứ điều gì sẽ "bào chữa" sự thôi thúc thù ghét của chúng ta hay sự áp bức kẽ khác - có thể nói rằng đấy chỉ đơn giản là cái giá của nhân loại. Nhưng quan điểm này có thể tạo nên tính lãnh đạm thờ ơ trên bề mặt của những cảm xúc tiêu cực, và hướng chúng ta đến kết luận rằng những cảm xúc tàn hoại ấy là ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.
 
Phật học - Thực tại - Khoa học 

Chúng tôi tin tưởng rằng có những con đường thiết thực cho chúng ta cũng như những cá nhân để hạn chế những động cơ thôi thúc nguy hiểm của chúng ta - Những thúc đẩy mà tập đoàn có thể hướng đến chiến tranh hay sự bạo động tập thể. Như một minh chứng chúng tôi không chỉ có sự thực tập tâm linh của mình và sự thấu hiểu về sự tồn tại của loài người căn bản trên lời Phật dạy, mà ngày nay, đấy còn là sự hoạt động của những ngành khoa học. 

Trong 15 năm vừa qua chúng tôi đã tham dự những cuộc đối thoại với những nhà khoa học phương Tây. Chúng tôi đã trao đổi những quan điểm trên những chủ đề của các lĩnh vực từ khoa học lượng tử và vũ trụ học đến từ bi thương yêu và những cảm xúc tiêu cực. Chúng tôi thấy rằng trong khi khoa học khám phá và cống hiến một sự hiểu biết sâu hơn về lĩnh vực vũ trụ chẳng hạn, thì dường như rằng Phật học diễn giải có thể thỉnh thoảng trao cho những nhà khoa học phương Tây một phương pháp mới để họ quán sát trên chính những lĩnh vực của họ - đặc biệt trên sự nhận thức về sinh vật học và khoa học về não bộ. 

Dường như hơi lạ là một lĩnh đạo tôn giáo lại quá liên hệ với khoa học, nhưng những lời Phật dạy đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiểu biết thực tại, và vì vậy điều mà chúng ta nên để tâm đến là, các nhà khoa học đã học được gì về thế giới chúng ta qua thể nghiệm và đo lường.
 
Tu sĩ - Bác sĩ - Phòng thí nghiệm 

Cũng tương tự như thế, Phật giáo đã có lịch sử hơn 2.500 năm tìm hiểu khám phá sự hoạt động của tâm ý. Qua hàng thiên niên kỷ nhiều hành giả đã phát kiến ra điều mà chúng ta có thể gọi là "những kinh nghiệm" trong điều để làm thế nào vượt thắng những xu hướng của chúng ta trước những cảm xúc tiêu cực. 

Chúng tôi đã khuyến khích các nhà khoa học thể nghiệm những hành giả tâm linh cấp cao Tây tạng, để thấy những lợi ích gì mà những thực hành tâm linh có thể cống hiến cho những người khác, ngoài phạm vi tôn giáo. Mục tiêu ở đây là để phát triển sự hiểu biết của chúng ta về thế giới của "tâm", của ý thức, và của những cảm xúc của chúng ta. 

Vì lý do này, chúng tôi đã viếng thăm phòng thí nghiệm thần kinh học của bác sĩ Richard Davidson tại viện đại học Wisconsin. Xử dụng những dụng cụ phản ảnh những gì xãy ra trong não bộ trãi qua thời gian thiền định, bác sĩ Davidson đã có thể học hỏi những ảnh hưởng của sự thực hành Phật giáo để phát triển từ bi thương yêu, tính trầm tỉnh thanh thản hay chính niệm. Qua bao thế kỷ Phật tử tin tưởng rằng theo đuổi những thực hành như thế dường như làm con người chúng ta trầm tĩnh hơn, hạnh phúc hơn và yêu thương hơn. Đồng thời người ta ngày càng bớt đi những xu hướng thiên về những cảm xúc tiêu cực tàn phá. 

Theo bác sĩ Davidson, khoa học hiện tại nhấn mạnh điều tin tưởng này, bác sĩ Davidson nói với chúng tôi rằng sự nảy sinh của những cảm xúc tích cực có thể thông qua điều này: thiền định chính niệm làm củng cố hệ thống thần kinh, nó làm trầm tĩnh thanh thản một phần của não bộ nơi hoạt động như yếu huyệt của sợ hãi và giận dữ. Điều này tăng trưởng khẵ năng để chúng ta có một phương pháp tạo nên một vùng đệm giữa sự thúc đẩy bạo động của não bộ và những hành động của chúng ta. 

Những cuộc thử nghiệm đã phát kiến ra chỉ rằng một số hành giả có thể đạt đến trạng thái tĩnh lặng nội tại ngay cả khi đối diện với những tình trạng quấy rầy tột độ. Bác sĩ Paul Ekman của trường đại học California tại San Francisco đã nói với chúng tôi rằng tiếng động chói tai (như tiếng súng nổ) đã thất bại trong việc làm giật mình một tu sĩ Phật giáo khi đang thể nghiệm. Bác sĩ Ekman nói, ông ta chưa bao giờ thấy một ai có thể trầm tĩnh trong sự hiện diện của một sự quấy rầy như vậy. 

Một tu sĩ khác, một vị viện chủ một trong những tu viện của chúng tôi ở Ấn độ, đã được thử nghiệm bởi bác sĩ Davidson bằng máy ghi điện não để đo lường những làn sóng của não bộ. Theo bác sĩ Davidson, vị viện chủ đã có khối lượng cao nhất của hoạt động trong những trung tâm não bộ liên hệ với những cảm xúc tích cực mà chưa bao giờ được đo lường bởi sự thí nghiệm của bác sĩ này.
 
Thiền tập - Lợi ích - Cuộc sống bình thường 

Tất nhiên, những lợi lạc của những thực tập này không chỉ cho những tu sĩ, những người đã dành hàng tháng thời gian trong những khoá tu thiền định. Bác sĩ Davidson nói về sự nghiên cứu của ông ta với những người hoạt động trong những việc căng thẳng cao độ. Những người đấy không là Phật tử - được dạy thiền tập chánh niệm, trạng thái tỉnh giảc trong điều mà tâm không bị vướng bận với những tư tưởng hay cảm giác nhưng để chúng đến và đi, giống như xem một dòng sông chảy qua. Sau 8 tuần, bác sĩ Davidson nhận thấy rằng trong những người này, những phần trong bộ não của họ đã giúp hình thành những cảm xúc tích cực trở nên hoạt động một cách tiến triển. 

Sự quan hệ mật thiết của tất cả những điều này thì rõ ràng: thế giới ngày nay cần những công dân và những lãnh tụ, những người cần hành động trong sự kiên định bảo đảm và dấn thân đối thoại với "kẽ thù"- không kể là bất cứ loại gây hấn hay sự công kích nào mà họ có thể chịu đựng hay kéo dài. 

Thật giá trị để mở ngoặc rằng đây là những phương pháp không chỉ rất hữu ích, mà lại không mắc mõ. Chúng ta không cần phải dùng thuốc uống hay thuốc tiêm. Chúng ta không phải trở thành Phật tử, hay phải tiếp nhận bất cứ một tín ngưỡng tôn giáo đặc biệt nào. Mỗi người có khã năng để hướng đến một đời sống yên bình và đầy đủ ý nghĩa. Chúng ta phải khám phá càng sâu xa như có thể để làm thế nào có thể đem đến thanh bình tịnh lạc trong đời sống. 

Chúng tôi cố gắng để đặt những phương pháp này ảnh hưởng trong cuộc sống chính chúng tôi. Khi nghe một tin tức xấu, đặc biệt thường là những câu chuyện về thảm kịch từ những người dân Tây tạng , một cách tự nhiên phản ứng của chính chúng tôi là buồn bã. Tuy vậy, bằng sự thay thế trạng thái hay thái độ, chúng tôi tìm thấy và có thể bao phủ băng một lý trí tốt lành. Và những cảm giác của giận dữ lạc lõng, điều đơn giản đầu độc "tâm" và làm chua xót trái tim, ích kỷ vươn lên, chúng cũng liền cuốn đi luôn theo với những tin tức xấu.
 
Mặt trận nội tâm

Nhưng sự phản ánh chỉ rằng trong đời sống của chúng ta rất nhiều những khổ đau của chúng ta không chỉ bởi những nguyên nhân ngoại tại mà còn bởi những sự kiện nội tại như sự phát triển của những cảm xúc tiêu cực quấy nhiễu. Loại thuốc giải tốt nhất cho sự đổ vở ấy là làm vượt trội khã năng của chúng ta để có thể kiểm soát và điều khiển những cảm xúc ấy.

Có phải rằng loài người là để tồn tại, hạnh phúc, và sự quân bình nội tại là cốt yếu. Nếu khác đi đời sống của con cháu chúng ta và cháu con của chúng thì quả là trở nên kém hạnh phúc hơn, hay không hạnh phúc, tuyệt vọng và ngắn ngũi. Sự phát triển của vật chất chắc chắn đóng góp cho hạnh phúc - trong vài chừng mực nào đấy - và một cách sống thoãi mái. Nhưng điều ấy không đủ. Để đạt trình độ cao hơn của hạnh phúc chúng ta không thể hờ hửng với sự phát triển nội tại.

Thảm kịch 9/11 minh chứng rằng kỷ thuật hiện đại và sự thông minh của nhân loại hướng dẫn bởi thù hận có thể đưa đến những sự tàn phá to tát. Những hành động khủng khiếp như vậy là triệu chứng của một trạng thái tinh thần ưu phiền khổ não. Để đáp ứng một cách thông minh và hiệu quả, chúng ta cần được hướng dẫn bởi một trạng thái tâm linh khoẻ mạnh hơn, không phải chỉ tránh châm ngòi cho những đóm lửa của thù hận, mà đáp ứng một cách thiện nghệ tinh xảo. Chúng ta nên nhớ rõ rằng cuộc chiến chống lại thù hận và khủng bố cũng có thể được tiến hành trên điều này, mặt trận nội tâm.

http://www.lamayeshe.com/otherteachers/hhdl/nyt_op_ed.shtml
The Monk in the Lab
A New York Times Editorial
-Tuệ Uyển phiên dịch-
 

07-01-2008 04:23:12

 
 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap