|
.
NGHIỆP
- HẠNH PHÚC - TÂM
His
Holiness the Dalai Lama
Tuệ
Uyển Việt dịch
 |
 |
Hàng
tỉ năm trôi qua giữa thời khởi thỉ của thế giới này
và khi sự sống lần đầu tiên xuất hiện trên mặt đất
Sau đấy là khoảng thời gian dài lâu để cho sự sống hình
thành trở nên trưởng thành trong suy tư- trong sự phát triển
và hoàn thiện năng lực tuệ trí của chúng; và ngay cả từ
trong thời gian loài người đạt đến sự trưởng thành như
hiện tại, hàng nhiều nghìn năm đã trôi qua. Xuyên qua thời
gian bao la này thế giới đã chịu đựng những sự đổi thay
không ngớt, để nó có thể ở trong trạng thái tiếp diễn
liên tục. Ngay cả hiện tại, thuyết tương đối phát sinh
gần đây cho biết điều xuất hiện trong thời gian ngắn duy
trì tĩnh tại được thấy đã trãi qua sự thay đổi trong
từng khoảnh khắc. Người ta có thể tự hỏi điều gì đã
được duy trì không thay đổi khi mà mỗi loại vật chất
và hiện tượng tâm linh dường như là chủ thể lúc nào cũng
thế cho chương trình chuyển biến, của tính thay đổi. Tất
cả những thứ ấy là mãi mãi khởi sinh, phát triển và biến
mất. Trong cơn lốc của tất cả những sự thay đổi này,
có một Sự Thật đơn độc duy trì liên tục và không thay
đổi được-trong ngôn ngữ khác, đấy là, Sự Thật Chính
đáng thì đi kèm với kết quả lợi ích, và sự thật của
những hành động xấu ác thì đi kèm với kết quả tổn hại.
Một nhân lành sẽ sinh quả lành, một nhân xấu sẽ sinh quả
xấu. Tốt hay xấu, lợi ích hay tổn hại, mỗi kết quả tất
yếu phải có một nhân. Nguyên tắc độc hành này là vĩnh
cữu, không thay đổi và liên tục. Điều này là một sự
thật đã hiện hữu lâu xa trước khi một người bước vào
thế giới này, trong thời điểm bình minh của sự hiện diện
của người ấy, trong thời gian hiện tại, và nó sẽ tiếp
tục theo đuổi với thời gian tương lai vô cùng tận.
Tất
cả chúng ta khao khát hạnh phúc và né tránh khổ đau cùng
bất cứ thứ gì không hài lòng.Như chúng ta đã biết, niềm
vui thích và đớn đau sinh khởi từ một nguyên nhân. Không
kể là những hậu quả hiển nhiên nào đấy là do một nguyên
nhân hay bởi nhiều nguyên nhân đã được quyết định bởi
bản chất tự nhiên của hậu quả ấy. Trong vài trường hợp,
ngay cả nếu những nhân tố nguyên nhân không quá mạnh cũng
không quá áp đảo, nó vẫn có thể làm cho nhân tố kết
quả xãy ra. Bất cứ phẩm chất của nhân tố kết quả như
thế nào, hoặc là chúng tốt hay xấu, sự to lớn và cường
độ của chúng tương ứng một cách trực tiếp với số lượng
và mãnh lực của nhân tố nguyên nhân. Vì vậy, để thành
công trong việc tránh những điều khổ đau không mong đợi
và gặt hái được những niềm vui thích khát khao, vấn đề
này tự nó không phải nhỏ, đấy là sự từ bỏ một khối
lượng lớn những thu thập nhân tố nguyên nhân được yêu
cầu.
Trong
sự phân tích bản chất tự nhiên và trạng thái của hạnh
phúc, nó được biểu hiện rõ ràng qua hai phương diện. -
Một là niềm vui tức thời (tạm thời); và thứ hai là niềm
vui tương lai (cơ bản). Niềm vui tạm thời bao gồm sự nhàn
hạ và thích thú , là những điều con người ao ước như
nơi cư trú tốt, vật dụng đáng yêu, thức ăn ngon miệng,
hợp tác tốt đẹp, đối thoại vui lòng, v.v và v.v... Nói
một cách khác, sự thoả mãn tạm thời là những điều mà
con người vui thích trong đời sống này. Câu hỏi là không
biết sự hưởng thụ của những hoan lạc và thỏa lòng này
có nhận được một cách trong sạch từ những (nhân tố)
nhu cầu ngoại tại được thể nghiệm trong ánh sáng của
luận lý lôgic rõ ràng không. Nếu nhân tố ngoại tại chịu
trách nhiệm một mình để cho hưng khởi những cảm hứng
khoái lạc như vậy, một người sẽ vui sướng khi những điều
này hiện diện, và ngược lại họ sẽ buồn phiền khi chúng
vắng mặt. Tuy nhiên, điều này không phải như vậy. Bởi
vì, ngay cả trong khi vắng mặt những điều kiện ngoại tại
đưa đến sự khoái cảm, một người vẫn có thể vui vẻ
và yên bình. Điều này chứng minh rằng, những nhân tố ngoại
tại không chịu trách nhiệm một mình nó cho sự kích thích
hạnh phúc con người. Có đúng là những nhân tố ngoại tại
duy nhất chịu trách nhiệm hay chúng là toàn bộ điều kiện
để cho sự hưng khởi của hoan lạc và hạnh phúc không, nếu
vậy một người sở hữu một sự giàu có những nhân
tố này sẽ có một sự hỉ lạc hạn chế. điều này không
luôn luôn có nghĩa như vậy. Điều đúng là những nhân tố
ngoại tại này thật sự công hiến một phần để tạo nên
sự hoan lạc trong đời sống con người. Tuy vậy, nếu
tuyên bố rằng những nhân tố ngoại tại là tất cả, là
cần thiết và vì vậy là nguyên nhân độc nhất của hạnh
phúc trong khoảng thời gian ngắn ngủi của đời sống con
người là phát biểu trì trệ và phi lý. Nó có nghĩa không
chắc chắn là sự hiện diện của những nhân tố ngoại tại
như vậy sẽ tạo nên sự vui thích. Trên phương diện ngược
lại, căn cứ trên những gì xãy ra như kinh nghiệm của hạnh
phúc to lớn nội tại -mặc dù vắng mặt toàn bộ những hoan
lạc có được do những nhân tố ngoại tại, và thường vắng
mặt vui sướng mặc dù chúng (nhân tố ngoại tại) hiện diện-,
một cách rõ ràng chi cho thấy nguyên nhân của hạnh phúc tuỳ
thuộc trên một tập hợp khác nhau của những điều kiện
(nhân tố).
Nếu
chúng ta bị lầm lạc rằng, bởi những điều bàn
luận về những (nhân tố ngoại tại) điều kiện được
đề cập ở trên là nguyên nhân duy nhất cấu
thành của hạnh phúc cho đến sự loại trừ bất cứ
những điều kiện nào khác tạo ra , điều ấy hàm ý rằng
(kết quả) hạnh phúc thì liên đới với những (nhân tố)
nguyên nhân bên ngoài một cách không thể tách rời. Sự hiện
diện hay vắng mặt của hạnh phúc được quyết định độc
quyền bởi chúng. Sự việc thực tế rõ ràng không đủ chứng
cớ chứng tỏ rằng nguyên nhân ngoại tại không cần
thiết hay hoàn toàn chịu trách nhiệm đến kết quả
của (hiện tượng) hạnh phúc.
Bây
giờ, điều gì khác của tập hợp những nguyên nhân nội
tại? Chúng được giải thích như thế nào? Là những Phật
tử, tất cả chúng ta tin ở luật nghiệp báo- luật tự nhiên
của nhân và quả. Bất cứ những (điều kiện) nguyên nhân
nội tại của người nào đấy xuyên qua trong đời sống tiếp
theo là kết quả từ những tích tập từ những hành
động của cá nhân trong những đời sống trước đây. Khi
năng lực nghiệp báu của những hành vi quá khứ chín muồi,
một người cảm nhận vui thích hay ưu phiền. Chúng không gì
khác hơn mà chỉ là hậu quả của những hành động của
người ấy trong quá khứ. Điều quan trọng nhất để hiểu
là, khi những kết quả thích đáng của những nghiệp báu
từ tất cả những hành động quá khứ xuất hiện, những
nhân tố ngoại tại của người ấy liên kết như những thuận
duyên. Điều xãy đến liên hệ với những điều kiện xuyên
qua hành động (nghiệp) và những nhân tố ngoại tại
sẽ sản sinh trạng thái tinh thần thoãi mái. Về mặt khác,
nếu thiếu vắng điều kiện thiết yếu cho kinh nghiệm vui
thích nội tại thì sẽ không có cơ hội cho những nhân tố
bên ngoài thích ứng, hay ngay cả nếu những nhân tố bên ngoài
hiện diện, sẽ không thể làm cho một người được kinh
nghiệm vui thích. Điều này chỉ cho thấy rằng nhân tố nội
tại là căn bản trong những điều này, và đấy là nhân tố
chính quyết định hiện thực của hạnh phúc hay ngược lại.
Vì vậy, để đạt được những kết quả khao khát, điều
khẩn thiết cho chúng ta là phải tích tập cùng lúc cả hai
nguyên nhân-tạo nên nhân tố ngoại tại và nguyên nhân-tạo
nên nhân tố nội tại ( nghiệp ).—( Hay nguyên nhân nội tại
là nhân và nguyên nhân ngoại tại là duyên.)----
Để
phát biểu vấn đề một cách đơn giản hơn, cho sự tích
tập cuả nhân tố lành nội tại (thiện nghiệp), những gì
cần thiết chính như những phẩm chất như là một ít
nhu cầu, sự toại ý, sự nhún nhường, sự giản dị, và
những đức tính quý báu khác. Thực hành những nhân tố nội
tại này sẽ thuận tiện ngay cả chuyển biến những nhân
tố ngoại tại đã kể trước đây chúng sẽ biến
đổi thuận tiện ngay cả chuyển hoá những ích lợi đặc
trưng cho sự sinh khởi của hạnh phúc. Sự vắng mặt của
những nhân tố nội tại thích đáng, như có một ít nhu cầu
của sự toại ý, nhẫn nại, tha thứ, v.v... sẽ ngăn trở
người ấy hưởng thụ sướng vui, hạnh phúc ngay cả khi tất
cả những nhân tố ngoại tại hiện diện. Bên cạnh điều
ấy, người ta còn phải có nguồn năng lực của công nghiệp
và đức hạnh tích tập trong những đời quá khứ. Nếu khác
đi, những hạt giống hạnh phúc không thể tạo thành quả
phúc được.
Vấn
đề có thể đặt ở một cách khác. Sự vui thích và sự
thất vọng, hạnh phúc và khổ đau kinh nghiệm bởi mỗi cá
nhân là những kết quả lợi ích không thể tránh được và
hoặc là những hành động xấu mà người ấy đã gây ra,
vì vậy được thêm vào tàng thức người ấy.
Nếu
tại một thời điểm nhất định trong đời sống hiện tại
này những quả lành do những thiện nghiệp chín muồi người
ấy sẽ thể nhận được, nếu đấy là một người thông
thái, thì đấy là những quả phúc của những hành vi sáng
suốt đáng khen trong quá khứ. Điều này sẽ tưởng thưởng
và khuyến khích người ấy đạt thêm công nghiệp.
Một
cách đơn giản, khi người nào xãy ra kinh nghiệm khổ đau
hay không hài lòng, người ấy có thể chịu đựng một cách
trầm tĩnh nếu người ấy duy trì một sự tin chắc không
giao động rằng, cho dù người ấy có nguyện ước hay không,
người ấy phải đau khổ và mang lấy những hậu quả của
chính những hành vi người ấy đã làm trong quá khứ, mặc
dù sự thật bình thường người ấy thường thấy rằng cường
độ và mức độ,của sự thất vọng thì rất khó để chịu
đựng, hay mang lấy. Bên cạnh, nhận thức rằng chúng không
là gì nhưng chỉ là kết quả của những hành động vụng
về trong quá khứ sẽ làm người ấy đủ thông minh chừa
bỏ những hành động vụng về từ nay trở đi. Giống như
vậy, tư tưởng hài lòng rằng,- với sự chín muồi của những
nghiệp xấu trong quá khứ, và phần quả xấu bởi những hành
động xấu trong quá khứ đã hiện ra,- sẽ là niềm an ủi,
khích lệ lớn lao cho người ấy.
Một
sự đánh giá đúng đắng tuệ trí này sẽ góp phần hiểu
thấu bản chất để đạt được yên bình cho thân và tâm.
Thí dụ, giả sử một người bất ngờ bị đau khổ với
chấn thương vật lý trầm trọng qua một nhân tố ngoại tại.
Nếu, chỉ là năng lực tuyệt đối của ý chí ( căn
cứ trên sự tin chắc rằng người ấy tự chịu trách nhiệm
cho những bất hạnh và khổ đau hiện tại), người ấy có
thể vô hiệu hoá sự tăng gia khổ đau rồi thì tâm tư người
ấy sẽ thoãi mái và yên tĩnh.
Bây
giờ để chúng tôi giải thích điều này trong một trình độ
khá hơn, cao hơn. Sự quan tâm, sự phấn đấu, và thực thi
này là điều có thể làm một cách có hệ thống để tiêu
huỷ những điều bất như ý và nguyên nhân của chúng.
Như
đã nói ở trước, vui sướng hay khổ đau, hạnh phúc hay bất
như ý là kết quả của những hành động tốt hay xấu của
một người. Những hành động tốt hay xấu (nghiệp) không
là những hiện tượng ngoại tại. Chúng tuỳ thuộc một cách
có căn bản vào tình trạng của tâm. Làm những cố gắng
tích cực để tạo dựng mọi thứ có thể của thiện nghiệp
và đẩy xa chúng ta những vết tích của bất thiện nghiệp,
là con đường để sáng tạo hạnh phúc và tránh sự tạo
đớn đau và khổ sở. Đấy là điều vẫn thường thấy rằng
một kết quả vui vẻ theo sau một nhân lành và hậu quả xây
dựng bởi nguyên nhân vụng về là khổ đau.
Vì
vậy, quan trọng nhất, chúng ta cố gắng mọi ý nghĩa có thể
để gia tăng phẩm chất và khối lượng của những hành động
thiện xảo và làm những hành động tương ứng cắt xén bớt
những hành động vụng về của chúng ta.
Làm
thế nào để việc này được hoàn thành? Những nguyên nhân
đáng khen thưởng và ngược lại, kết quả hạnh phúc và
khổ đau không tương đồng với đối tượng bên ngoài. Thí
dụ, trong cơ thể con người hệ thống gồm những phần khác
nhau như phổi, tim, và những bộ phận khác có thể thay thế
bằng những bộ phận mới. Nhưng điều này không như vậy
với những hành động của nghiệp, điều tịnh hoá tâm. Sự
thu thập công nghiệp tươi tốt và sự tiêu huỷ những nhân
xấu, là quá trình tịnh hoá tâm linh. Chúng không thể đạt
được với bất cứ sự giúp đở nào ở bên ngoài. Phương
pháp duy nhất để hoàn thành là bằng sự kiểm soát và luyện
tập tâm chưa thuần hoá (cho đến nay). Cho điều này, chúng
ta đòi hỏi một sự nhận thức đầy đủ hơn yếu tố gọi
là TÂM.
Qua
những cánh cửa của năm giác quan một chúng sinh thấy, nghe,
ngữi, nếm và dẫn đến sự tiếp xúc với các hình sắc
tiếp nhận bên ngoài, các đối tượng, ấn tượng. Hãy để
hình sắc, âm thinh, mùi hương, vị nếm, tiếp xúc(va chạm)
và những sự kiện tinh thần, những điều liên hệ với sáu
thức cảm giác được đóng lại. Khi điều này được hoàn
tất sự thu thập của những sự kiện quá khứ trên điều
tâm hướng đến để động não (suy nghĩ ủ ê, nghiền ngẫm),
sẽ hoàn toàn bị đoạn dửt và dòng chảy của ký ức bị
cắt đứt. Một cách đơn giản, những dự tính cho tương
lai và sự dự định hành động tương lai không được phép
hưng khởi. Cần thiết phải tạo một không gian, nơi tâm trở
nên rỗng không với tất cả những trình tự như vậy, trong
nơi của tất cả những chương trình như vậy của tư tưởng
(dự tính,dự định,dự kiến).Tự tại với tất cả những
trình tự như vậy nơi ấy duy trì một tâm tinh khiết, trong
sáng, rõ rệt và tịch tĩnh. Bây giờ hãy để chúng ta kiểm
nghiệm những đặc điểm nào cấu thành "tâm" khi nó đạt
đến trạng thái này. Một cách chắc chắn rằng chúng ta sở
hữu điều gọi là "tâm", nhưng làm thế nào để chúng ta
thể nhận được sự hiện hữu của nó? Thực tế và bản
chất của "tâm", điều được tìm thấy khi toàn bộ gánh
nặng của những điều trở ngại và lầm lạc nói chung (nhận
thức của các giác quan, ký ức suy tư.v.v...) được làm sạch
bóng. Thấy rõ, sâu sắc diện mạo này của thật tâm, chúng
ta sẽ khám phá rằng, không giống như những đối tượng
ngoại tại, thật tính bản nhiên của nó là xa rời hình thức
hay màu sắc, mà có thể chúng ta (cũng không) tìm thấy bất
cứ căn bản nào chính xác cho những điều sai lầm và
những khái niệm lừa dối như vậy như: "tâm" vốn dĩ
từ điều này hay điều kia, hay là "tâm" di chuyển từ
nơi này đến nơi nọ, hay là "tâm" được xác định
vị trí ở nơi như vậy và như vậy. Đến khi tiếp xúc được
với không đối tượng tâm giống như một điều trống không
rộng rãi vô biên, hay như một đại dương bình lặng, trong
sáng và vô tận. Khi thình lình chạm trán với một đối tượng
nó lập tức nhận ra ngay đối tượng của nó, như một tấm
gương lập tức phản chiếu một người đứng trước nó.
Bản chất thật sự của tâm không chỉ gồm có nhận thức
rõ ràng đối tượng nhưng cũng truyền đạt kinh nghiệm cụ
thể của đối tượng đến người kinh nghiệm qua nó. (* Đây
là hai khía cạnh, thể nhận tri thức và truyền đạt kinh
nghiệm liên hệ để biết điều gì là đối tượng và cảm
giác, nếm, thấy,...thế nào). Một cách bình thường, những
hình thức của các tri giác của chúng ta như: nhận thức của
mắt, nhận thức của tai, v.v... diễn tả những chức năng
trên những hiện tượng bên ngoài trong thái độ liên hệ
méo mó toàn bộ. Kiến thức kết quả trên nhận thức cảm
giác, căn cứ trên toàn bộ những hiện tượng bên ngoài,
cũng là toàn bộ thiên nhiên. Khi toàn bộ kích thích loại
này bị đóng kín và khi những kinh nghiệm cụ thể và nhận
thức trong sáng khởi lên từ trong ấy, tâm thể hiện đặc
tính trống không vô tận giống như không gian vô biên.
Nhưng cái "không" này không được xem như thật tính tự nhiên
của tâm. Chúng ta phải trở nên thật quen thuộc với
sự nhận thức đến hình thể và màu sắc của toàn
bộ những đối tượng, khi chúng ta tập trung sự tự quán
sát bên trong đến tính bản nhiên của tâm, nó là, như chúng
tôi đã nói, được tìm thấy là một sự trống không vô
tận tự tại với bất cứ sự u tối vô minh hay những
chướng ngại nào khác. Tuy vậy, điều này không có nghĩa
là chúng ta đã thấy rõ thật tính tinh tế bản nhiên của
tâm. Những điều được giải thích ở trên liên quan đến
trạng thái của tâm trong sự liên hệ với kinh nghiệm cụ
thể và nhận thức trong sáng bởi tâm, những điều là chức
năng của nó, nhưng nhưng nó chỉ diễn tả tính bản nhiên
tương đối của tâm.
Thêm
một vài khía cạnh và trạng thái khác của tâm. Trong ngôn
ngữ khác, thể nhận tâm ở mức độ căn bản nhất, có nhiều
thuộc tính liên hệ đến nó. Chỉ như củ hành bao gồm những
lớp chồng chất lên nhau và có thể bóc ra, vì vậy mỗi một
đối tượng có vô số lớp chồng chất; và điều này
không sai với tính bản nhiên của tâm được giải thích ở
đây; nó cũng vậy, có lớp này trong lớp nọ, trạng thái
này trong trạng thái kia.
Tất
cả những sự, những vật được hợp thành là những đối
tượng để tan rã. Tự bao giờ, những kinh nghiệm và kiến
thức là vô thường và là đối tượng để tan rã, "tâm",
của điều là những chức năng (tự nhiên), không phải là
điều gì ấy được duy trì bất biến và vĩnh cữu. Từ từng
khoảnh khắc nó phải thay đổi và tàn hoại. Sự chuyển biến
này của tâm là khía cạnh tự nhiên của nó. Tuy vậy, khi
chúng ta quán sát, thật tính tự nhiên của tâm có nhiều khía
cạnh, bao gồm những nhận thức của những kinh nghiệm cụ
thể và tri thức của những đối tượng. Bây giờ chúng ta
hãy thể nghiệm xa hơn để hiểu thấu ý nghĩa tinh tế căn
bản của một tâm như thế. Tâm hiện hữu bởi nguyên nhân
của chính nó. Để phủ nhận căn nguyên của tâm
tuỳ thuộc vào một nguyên nhân, hay nói rằng nó được mệnh
danh như một ý nghĩa được thừa nhận tự nhiên của tập
hợp tâm, thì không đúng. Với sự quán sát nông cạn
của chúng ta, tâm, điều có kinh nghiệm cụ thể và nhận
thức rõ rệt như tính tự nhiên của nó, xuất hiện như một
thực thể toàn năng, độc lập, thống trị một cách hoàn
toàn ở khắp nơi. Tuy nhiên, phân tích sâu hơn sẽ thấy rằng
tâm này, sở hữu như nó làm chức năng của kinh nghiệm và
nhận thức, nó không là một thực thể tự sáng tạo nhưng
lệ thuộc vào những nhân tố khác cho sự tồn tại của nó.
Vì lý do này nó tuỳ thuộc vào những điều khác hơn chính
nó. Phẩm chất không độc lập này của căn bản của tâm
là thực tính tự nhiên của nó trong điều khiến đấy là
nền tảng thực sự của chính nó.
Ở
hai khía cạnh này, thật tính cơ bản tự nhiên của tâm và
một kiến thức của thực tính cơ bản tự nhiên đấy, điều
trước là căn bản và điều kế tiếp là thuộc tính. Tâm
(tự nó) là căn bản và tất cả nhũng trạng thái khác nhau
của nó là những thuộc tính. Tuy vậy, căn bản và những
thuộc tính, điều căn bản-đầu tiên có cùng thể chất với
từng đơn vị-những thuộc tính. Sự sáng tạo vô ngã (tuỳ
thuộc trên một nguyên nhân khác chính nó) thực thể tâm (nền
tảng căn bản) và bản chất của nó, tính không, có sự tồn
tại một cách không ngừng như một thực chất , giống nhau,
không thể tách rời từ khởi nguyên vô thỉ. Tính tự nhiên
của tính không toả khắp tất cả mọi yếu tố. Bây giờ
khi chúng ta và từ khi chúng ta không thể hiểu thấu hay nhận
thức thấu đáo sự bền bỉ, tự nhiên, nền tảng thực sự
(tính không) của tâm chúng ta, chúng ta tiếp tục liên luỵ
vào những sai lầm và những thiếu sót của chúng ta vẫn cứ
dai dẳng.
Nhận
tâm như chủ thể và thực tại cơ bản của tâm như đối
tượng của nó, chúng ta sẽ đạt đến một sự lĩnh hội
thích đáng với bản chất thực tính của tâm... thực tại
tột cùng của tâm. Và khi, sau một thời gian dài kiên nhẫn
thiền định, chúng ta sẽ nhận biết và hiểu thấu thực
tại tột cùng của tâm, là điều lìa xa những đặc tính
của nhị nguyên, chúng ta sẽ dần dần có thể làm rỗng không
ảo tưởng và những khiếm khuyết của những tư tưởng trung
tâm và phụ thuộc như giận dữ, thích phô trương, ghanh ghét,
thèm muốn, v.v...
Thất
bại trong việc nhận diện tính bản nhiên của tâm chúng ta
sẽ mất cơ hội đạt được năng lực nhận biết thực
tại cơ bản của tâm. Điều này sẽ xoay việc nhỗ gốc của
khát dục và thù ghét và tất cả cội rễ của những vọng
tưởng phụ thuộc khác của chúng ta từ căn bản. Vì thế,
không có chỗ để tích tập những nghiệp không lành.
Theo
những nghĩa này việc tạo những ác nghiệp ảnh hưởng cho
những đời sống tương lai sẽ bị loại trừ; chúng ta sẽ
có thể gia tăng chất lượng và số lượng của điều kiện
nguyên nhân công hạnh lành và để trừ tiệt gốc sự tạo
tác điều kiện nguyên nhân tổn hại ảnh hưởng những đời
sống tương lai-ngoài những nghiệp xấu tích tập trước đây
ra.
Trong
việc thực hành để đạt được kiến thức toàn hảo của
thực tính bản nhiên của tâm, đòi hỏi những cố gắng tích
cực và tập trung tinh thần để nhận biết thấu đáo đối
tượng. Trong những điều kiện bình thường của chúng ta
như hiện tại, khi tâm chúng ta tiếp xúc với bất cứ gì
nó liền bị lôi cuốn tức thì. Điều này khiến sự nhận
hiểu bất lực. Vì vậy, để đạt được năng lực tịch
tĩnh to lớn của tinh thần, sự nổ lực thật tối đa là
đòi hỏi cấp thiết nhất. Thí dụ như, một dòng sông lớn
trôi chảy qua một vùng mở rộng sẽ có rất ít năng lực,
nhưng khi nó xuyên qua một dốc núi hẹp tất cả nước tập
trung trong một không gian hẹp và vì vậy nó tuôn chảy với
một mãnh lực lớn. Với một lý do đơn giản tất cả những
điều xao lãng của tinh thần, điều lôi cuốn tâm xa rời
với đối tượng quán chiếu được tránh và tâm duy trì kiên
định không chuyển trên đối tượng. Ngoại trừ điều này
được hoàn tất, sự thực hành để đạt được một sự
thấu hiểu thích đáng thực tính bản nhiên của tâm sẽ hoàn
toàn thất bại.
Làm
cho tâm thuần thục ngoan ngoản, là điều căn bản cho
chúng ta rèn luyện và kiểm soát nó tốt đẹp. Lời nói và
hành động của thân là điều tương ứng với trình tự của
tinh thần, tuyệt không cho phép nó diễn tiến trong chiều hướng
vô ý, thả lỏng, và bừa bãi. Chỉ như một huấn luyện viên
luyện tập và trầm tĩnh một con ngựa hoang bướng bỉnh bằng
khuất phục nó và sự rèn luyện dài lâu. Vì vậy những hành
động hoang dã, rong ruỗi, bừa bãi phải được thuần hoá
và làm chúng ngoan ngoản, chính đáng, và thiện xảo. Vì vậy
những lời Dạy của Đức Thế Tôn bao gồm trong ba chủ đề,
đó là giới (rèn luyện đạo đức cao thượng), định (rèn
luyện thiền định cao thâm) và tuệ trí (rèn luyện tuệ trí
cao xa), tất cả đấy là để dành cho rèn luyện tâm.
Bằng
việc học tập, thiền định và thực hành tam vô lậu học
trong phương pháp này, chúng ta hoàn thành tiến trình thực
chứng. Một người luyện tập sẽ được phú cho phẩm chất
tuyệt vời của khã năng có thể chịu đựng một cách kiên
nhẫn những bất hạnh và khổ đau, những điều là kết quả
những nghiệp chướng quá khứ của người ấy.
Người
ấy sẽ quan tâm sự bất hạnh của chính họ như chuyện không
may mà lại hoá may, làm cho người ấy sáng tỏ ý nghĩa
của nghiệp báo và làm cho người ấy nhận thức thấy sự
cần thiết để tập trung tiến hành duy chỉ những hành động
đạo nghiệp xứng đáng mà thôi. Nếu nghiệp xấu quá khứ
của người ấy chưa trổ quả, nó sẽ vẫn có thể được
xoá sạch những nghiệp chưa chín này bằng việc sử dụng
sức mạnh của bốn năng lực:
1-
Quyết định đạt đến Phật quả;
2-
Quyết định tránh làm những hành vi sai trái lỗi lầm, ngay
cả cái giá của một đời sống;
3-
Tiến hành những hành vi tốt lành;
4-
Sám hối.
Đấy
là con đường để đạt được hạnh phúc trực tiếp,tức
thời, gần nhất, để mở đường cho đạt đến giải thoát
và giúp chúng ta tránh tích tập những lỗi lầm xa hơn.
http://www.lamayeshe.com/otherteachers/hhdl/happinesskarma.shtml
-Tuệ
Uyển dịch-
07-01-2008
04:23:12
CHẾT
- TRUNG ẤM THÂN - TÁI SINH
His
Holiness the Dalai Lama
Tuệ
Uyển Việt dịch
 |
 |
1-
CHẾT
Qua
những khổ đau của khát vọng, thù ghét và u mê, nghiệp ô
nhiễm được hình thành, nó sản sinh những năng lực mạnh
mẽ trong tâm trong hình thức của những khuynh hướng. Khi một
đời sống chấm dứt, một người có những khuynh hướng
như thế nào sẽ được sinh lại trong vòng luân hồi với
một tâm linh và thân thể qua những khuynh hướng nguyên nhân
này.
Một
số người chết trong lúc hoàn toàn kiệt lực trong sự thúc
đẩy của hành động nào đó, điều mà trong đơi sống khác,nó
sẽ dựa trên nền tảng của điều này. Những người khác
chết mà chưa hết thời gian thọ mạng của họ, trong tình
trạng chưa đầy đủ những nhân tố của đời sống, như
là thiếu thốn hay những sự cần thiết. Đấy gọi là chết
yểu, hay chết trong sự tiêu phá công nghiệp, bởi sự thúc
đẩy của những hành động thực hiện trong đới sống hiện
tại này, nhưng những trường hợp phù hợp ngoại tại đạt
được qua những hành động đạo hạnh trong đời trước
đã không hiển lộ.
Một
người chết với một tâm đạo đức, không đạo đức hay
trung tính. Trong trường hợp đầu tiên, cái chết của một
người có thể đem đến trong tâm một đối tượng đạo
đức- như Tam bảo (Phật, lời Phật dạy, và cộng đồng
tâm linh) hay đạo sư của người ấy, vì thế sinh ra một
tâm tin thành. Người ấy có thể phát triển vô lượng tĩnh
lặng yên bình, trở nên tự tại với khát dục và thù hận
trước bất cứ chúng sinh nào, hay thiền định trên tính không
hay phát triển từ bi. Điều này có thể được hoàn thành
hoặc là xuyên qua sự nhớ lại những hành động như thế
hay qua sự cảnh tỉnh của người khác. Nếu những thái độ
như thế được phát triển tại thới điểm của lâm chung,
một người chết với một tâm đạo đức, điều ấy sẽ
được tăng cường trong kiếp tiếp theo. Thật là tốt lành
để chết trong cách này.
Tuy
vậy, thỉnh thoảng, nó xãy ra những thứ khác, ngay cả mặc
dù không chủ tâm tìm kiếm sự khuấy động giận hờn, phiền
muộn người sắp chết với sự sợ hãi, khủng hoảng, vì
vậy làm họ giận hờn. Đôi khi, bạn bè hay thân nhân tập
trung chung quanh giường bệnh khóc than, ai oán trong hoàn cảnh
như vậy họ đã khơi dậy niềm khát ái. Dù là khát ái hay
thù hận, nếu một người chết trong tâm trạng vướng mắc,
tội lỗi, hoặc những việc không lành mà người ấy rất
quen thuộc, điều ấy rất nguy hiểm.
Một
số người chết với thái độ trung tính, không có đối tượng
đạo đức cũng không phát sinh khát ái hay thù hận.
Đây
là ba thái độ -đạo đức, không đạo đức và trung tính-
xuất hiện trong tâm vi tế khi lâm chung. Theo kinh điển, thời
điểm tâm vi tế cuối cùng này cần thiết trung tính, không
giống Tantra Yoga tối thượng, kinh điển không diễn tả kỷ
năng để chuyển hoá tâm vi tế thành tình trạng đạo đức,
chỉ là những chỉ bảo thô thiển. Tuy vậy,một hành giả
Tantra đúng phẩm chất, có thể chuyển hoá tâm vi tế liên
hợp với cái chết thành một nhận thức con đường đạo
đức. Tại thời điểm ấy hành giả phải rất thâm sâu.
Trong
bất cứ mọi trường hợp, quan kiến tâm linh trong lúc lâm
chung rất quan trọng, ngay cả một hành giả thuần thục ôn
hoà nếu bị quấy rầy lúc này, khát ái và thù hận hiển
nhiên sẽ được phát sinh. Điều này là bởi vì tất cả
chúng ta đều có những khuynh hướng đã thiết lập bởi những
hành động quá khứ không đạo đức, những điều sẳn sàng
bị kích động khởi dậy khi gặp những điều kiện bất
lợi. Những khuynh hướng này cung cấp sự thúc đẩy cho những
đời sống như súc sinh,v.v...Một cách đơn giản, chúng ta
có những khuynh hướng thiết lập bởi những hành động đạo
đức quá khứ, khi gặp những điều kiện thuận lợi, sẽ
cung cấp sự thúc đẩy cho những đời sống hạnh phúc như
loài người,v.v...
Những
khã năng này đã có sẳn trong liên tục tâm của chúng ta,
chúng được nuôi dưỡng bởi vướng mắc chấp thủ và sự
tham đắm, dẫn đến một sự tái sinh tốt hay xấu. Vì vậy,
nếu khuynh hướng do nghiệp xấu được hoạt động, một
đời sống như súc sinh, quỷ đói hay địa ngục sẽ là kết
quả.
Một
cách đơn giản, nếu một người thường cư xử sai trái khi
lâm chung với một quan kiến đạo đức, người ấy chắc
chắn được tái sinh trong một hoàn cảnh tốt. Vì vậy, rất
quan trọng cho cả người lâm chung và những người chung quanh
để tránh tạo những hoàn cảnh của khát ái hay thù hận
và tốt hơn là nuôi dưỡng những tình trạng đạo đức của
tâm. Chúng ta cần biết điều này.
Những
ai lâm chung trong quan kiến đạo đức có nhận thức đi ngang
qua một vùng tối đến vùng sáng, tự do với phiền giận
và cảm thấy thoãi mái xuất hiện. Có nhiều trường hợp
của những người bệnh nặng, gần với cái chết, nói năng
trong trạng thái thật thoãi mái bất chấp bệnh tình của
họ. Những người khác bệnh tình dù không nặng nhưng rơi
vào sự sợ hải vô cùng, với hơi thở nặng nề. Những người
đó cuối cùng chìm trong những tư tưởng không đạo đức,
có nhận thức đi ngang qua từ vùng sáng đến vùng tối và
thấy những hình trạng không dễ chịu.
Một
số người nhiệt độ thân thể bị giảm do bệnh, trở nên
khao khát sức nóng vì vậy làm mạnh thêm khuynh hướng cho
sự tái sinh như một chúng sinh trong địa ngục nóng, ngay lúc
đó họ bị tái sinh trong một nơi cực kỳ nóng. Những người
khác trở nên vướng mắc trong một ao ước cảm giác mát
lạnh, thí dụ, uống nước, họ củng cố thêm khuynh hướng
bị sinh làm một chúng sinh trong địa ngục lạnh, vì vậy
nó liên hệ với một sự tái sinh như thế. Do đó rất quan
trọng để tránh những tư tưởng khao khát trong lúc lâm chung
và hướng tâm trực tiếp đến những đối tượng có tác
dụng tốt.
Trong
đời sống hằng ngày, thái độ khát ái, thù hận, ghen tị,
v.v..., những tư tưởng mà chúng ta đã quá quen thuộc, dễ
dàng hiển lộ chỉ với sự khiêu khích nhỏ; nhưng những
thứ mà khi chúng ta có một chút hiểu biết, thì phải có
sự khiêu khích to tát, như là sự viện dẫn lý lẽ đến
tranh luận, để tự chính chúng hiển lộ. Một cách đơn giản,
lúc lâm chung, thái độ quen thuộc lâu dài thường ưu tiên
và trực tiếp ảnh hưởng đến sự tái sinh. Cùng lý do này,
những sự vướng mắc-chấp trước mạnh mẽ thì tự nó sinh
khởi, từ đó một người sợ hải rằng tự người ấy đang
trở nên không tồn tại (họ sợ rằng chết là hết, vì mối
lo sợ ấy dẫn đến tái sinh ) . Sự chấp trước này phục
vụ như sự liên kết đến trạng thái trung gian giữa những
đời sống (thân trung ấm), sự ưa mến một thân hình, trong
sự chuyển biến, hành động như một nguyên nhân thiết lập
thân thể của sự tồn tại trung gian.
Đối
với những kẽ liên hệ mạnh mẽ với những hành động không
đạo đức, sức nóng trước hết rút lui ở phần trên của
cơ thể và rồi mới đến những phần khác; nhưng trái lại
những ngươi liên hệ mạnh mẽ với những hành động đạo
đức, sức nóng trước tiên rút lui ở chân. Trong cả hai trường
hợp, sức nóng cuối cùng hội tụ tại tim, nơi mà ý thức
xuất ra. Những phần nhỏ đấy của nguyên nhân, kết hợp
tinh dịch và máu, dẫn đến điều mà ý thức ban đầu thâm
nhập và bầu thai của bà mẹ tại lúc bắt đầu của đời
sống, trở thành trung tâm của trái tim; và từ thời điểm
vô cùng sớm đấy của nhận thức-sau rốt khởi hành tại
sự chết.
2-
TRẠNG THÁI TRUNG GIAN (TRUNG ẤM THÂN)
Ngay
lập tức sau đó, trạng thái trung gian bắt đầu- ngoại trừ
những ai tái sinh trong thế giới không hình dáng-vô sắc giới
cúa không gian vô tận (không vô biên xứ), nhận thức vô biên
(thức vô biên xứ), vô sở hữu xứ hay tột đỉnh của vòng
luân hồi (phi tưởng phi phi tưởng xứ), cho những ai kiếp
sống mới bắt đầu lập tức ngay sau khi chết. Những kẽ
sinh trong thế giới của khát ái và hình sắc bắt buộc phải
qua một giai đoạn của trạng thái trung gian (trung ấm thân),
trãi qua điều một chúng sinh có hình thể của con người
như người ấy sẽ tái sinh. Chúng sinh trung ấm thân có tất
cả 5 giác quan, nhưng cũng có thần thông và tính khiêm tốn
kín đáo và khã năng đến ngay lập tức bất cứ nơi nào
họ muốn đến. Người ấy thấy những chúng sinh trung ấm
thân cùng loại với chính họ - địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh, nhân loại, a tu la hay chư thiên, và có thể thấy bằng
thần thông.
Nếu
một vị trí để sinh thích hợp cho khuynh hướng của người
ấy chưa tìm ra, một "cái chết nhỏ" sẽ xãy ra trong 7 ngày
và người ấy sẽ sinh trong một thân trung ấm khác. Điều
này có thể xãy ra tối đa sáu lần, với kết quả của thời
điểm dài nhất dành cho trạng thái trung ấm là 49 ngày.
3-
TÁI SINH
Điều
này có nghĩa rằng những chúng sinh, ngay cả chết sau một
năm, báo cáo rằng họ không tìm ra một địa điểm sinh không
trong trạng thái trung ấm nhưng đã sinh như một tâm linh.
Nếu
tái sinh như một con người, người ấy thấy bố và mẹ tương
lai khi họ nằm chung với nhau. Nếu người ấy được sinh
là nam, sự sinh này với cách nhìn khát ái với bà mẹ bao
nhiêu thì ghét bỏ người bố bấy nhiêu - điều trái ngược
lại với người được sinh ra là nữ. Trong sự khao khát,
người ấy lao đến nơi để dấn thân trong sự giao hợp,
nhưng lúc đến đấy, người ấy chỉ thấy bộ phận sinh
dục của người phối ngẫu. Điều này tạo nên sự giận
dữ, điều ấy khiến chấm dứt trạng thái trung ấm và tạo
nên liên kết với kiếp sống mới. Người ấy đi vào bào
thai của bà mẹ và bắt đầu một cuộc sống con người.
Khi tinh trùng người bố và máu của người mẹ phối hợp
với đời sống này hay ý thức, chúng từ từ một cách tự
nhiên phát triển thành những yếu tố của con người.
Người
ấy bị hấp dẫn lôi cuốn một cách khao khát đến địa
điểm sinh tương lai, ngay cả nếu nó là địa ngục. Thí dụ,
một người đồ tể, có thể thấy con cừu trong khoảng cách
khi trong mộng, trong sự lướt tới để giết chúng, sự kiện
xuất hiện nhoà nhạt đi, khiến người ấy giận dữ, ngay
lúc đó trạng thái trung ấm ngừng lại và kiếp sống trong
địa ngục bắt đầu. Cũng vậy, như đã nói ở trước, những
kẽ bị tái sinh trong địa ngục nóng bị hấp dẫn bởi sức
nóng; và trong địa ngục lạnh thì với cái mát lạnh. Trạng
thái trung ấm của một người bị tái sinh trong chiều hướng
xấu thì tự nó rất khủng khiếp; và cuối cùng, họ xốc
tới địa điểm tái sinh và , khi sự ao ước không đạt được,
họ giận dữ, ngay sau đó trạng thái trung ấm dừng lại và
kiếp sống mới bắt đầu.
Sự
liên kết với một kiếp sống, vì vậy, được tạo ra dưới
ảnh hưởng của khát ái, thù hận, và u mê. Cho đến khi vượt
thoát được những phiền não này, người ta bị trói buộc
trong xiềng xích và không có tự do. Quả thực có những sự
tái sinh tốt và xấu, nhưng, trong khi một người vẫn còn
bị xiềng xích, người ấy phải mang gánh nặng của cả toàn
bộ tâm lý và vật lý, những điều dưới sự ảnh hưởng
của những hành động cấu nhiễm và phiền não. Điều này
không phải được làm một lần, nhưng cứ lập đi lập lại
không ngừng nghĩ.
Để
vượt thoát khổ đau của sinh, già, bệnh, và chết; - khát
ái, thù hận, và hổn loạn phải được vượt thoát. Gốc
rễ của chúng là vô minh si ám u mê --- nhận thức tồn tại,
vốn gắn liền với con người và những hiện tượng khác.
Thuốc men bên ngoài làm giảm bớt những khổ đau ở bề mặt,
nhưng không thể chửa trị cốt lõi của vấn đề. Những
sự thực hành nội tại thì hữu ích hơn --- như là dùng đến
những loại thuốc giải đặc trị đối với khát ái và thù
hận, nhưng sự tác dụng của chúng thì tạm thời, tuy nhiênm
nếu một người có phá tan màn vô minh si ám u mê -- gốc rễ
của chúng -- thì tất cả những phiền não theo chúng sẽ đồng
dừng lại.
Nếu
vô minh si ám u mê được loại trừ, rồi thì những hành động
cấu nhiễm tuỳ thuộc trên nó sẽ dừng lại.
Xa
hơn nữa, không có vô minh, sự bám chặc (chấp trước) và
những xu hướng sản sinh bởi những hành động trước đây
dừng mở rộng, ngay khi vòng luân hồi cuả tái sinh không kiểm
soát chấm dứt.
-Tuệ
Uyển dịch-
http://www.lamayeshe.com/otherteachers/hhdl/death.shtml
-Death,
Intermediate State and Rebirth-
Death,
Intermediate State and Rebirth
His
Holiness the Dalai Lama
Published
as the foreword to Death, Intermediate State and Rebirth by Lati Rinpoche
and Jeffrey Hopkins. Reproduced with the permission of Snow Lion Publications,
Ithaca, New York.
Death
Through
the afflictions of desire, hatred and ignorance, contaminated karma (actions)
are performed, which establish potencies in the mind in the form of predispositions.
When a lifetime finishes, a person who has such predispositions is born
again in cyclic existence with a mind and body appropriated through these
contaminated causes.
Some
persons die upon the full exhaustion of the impetus of that action which,
in another lifetime, laid the foundation for this one. Others die without
having used up their allotted time, through the incompletion of the causes
of sustaining life, such as lack or necessities. This is called untimely
death, or death upon the consumption of merit; for the impetus of the action
that established this life remains, but external concordant circumstances
that are achieved through other meritorious actions in previous lives do
not.
A person
dies within a virtuous, non-virtuous or neutral mind. In the first case,
the dying person might take to mind a virtuous object—such as the Three
Jewels (Buddha, his Doctrine and the Spiritual Community) or his own lama,
thereby generating a mind of faith. Or he or she might cultivate immeasurable
equanimity, becoming free from desire and hatred toward any sentient beings,
or meditate on emptiness or cultivate compassion. This can be done either
through one's own remembering to do such or through others' urging. If
such attitudes are cultivated at the point of death, one dies within a
virtuous mind, through which one's rebirth is improved. It is good to die
in this way.
Sometimes,
however, it happens that others, even though not purposely seeking to arouse
anger, annoy the dying person with their nervousness, thereby making him
or her angry. Sometimes, also, friends and relatives gather around the
bed lamenting in such a manner that they arouse manifest desire. Whether
it be desire or hatred, if one dies within a sinful attitude to which one
is well accustomed, it is very dangerous.
Some
die within a neutral attitude, neither taking a virtuous object to mind
nor generating desire or hatred.
These
three attitudes—virtuous, non-virtuous and neutral—occur until the
point of the subtle mind of death. According to the sutra system, this
final subtle mind necessarily neutral; for, unlike Highest Yoga Tantra,
sutra does not describe techniques for transforming subtle minds into virtuous
states, only for treating coarse ones. A qualified practitioner of tantra,
however, can convert the subtle minds associated with death into a virtuous
path consciousness. At that point one's practice is very profound.
In
any case, the attitude just before death is very important; for, if even
a moderately developed practitioner is disturbed at that time, manifest
desire or hatred will be generated. This is because we all have predispositions
established by former non-virtuous actions, which are ready to be activated
upon meeting with disadvantageous circumstances. It is these predispositions
that provide the impetus for lifetimes as animals, and so forth. Similarly,
we have predispositions established by former virtuous actions, which,
upon meeting with advantageous circumstances, will provide the impetus
for lifetimes in happy migrations as humans and so forth.
These
capacities that are already in our mental continuums are nourished by attachment
and grasping, leading to a bad or good rebirth. Thus, if the predisposition
left by a bad karma is activated, a life as an animal, hungry ghost or
hell-being will result.
Similarly,
if a person who usually behaves sinfully dies within a virtuous attitude,
he or she will probably be reborn in a good situation. Therefore, it is
very important for both the dying person and those around him or her to
avoid creating situations of desire or hatred and instead to foster virtuous
states of mind. We need to know this.
Those
who die within a virtuous attitude have a sense of passing from darkness
into light, are free of anxiety and see pleasant appearances. There are
many cases of very ill persons who, near the time of death, speak of being
in great comfort despite their illness. Others with little illness fall
into great fright, with labored breathing. These latter are sunk in non-virtuous
thoughts, have a sense of going from light to darkness and see unpleasant
forms.
Some
whose physical warmth has diminished through illness become desirous of
heat, thereby fortifying predispositions for rebirth as a being in a hot
hell, whereupon they take rebirth in a place of extreme heat. Others become
attached to a feeling of coolness wishing, for instance, for a drink water,
they fortify predispositions to be reborn as a being in a cold hell, thereby
making the connection to such a rebirth. Thus it is very important to avoid
desirous thoughts at the time of death and direct the mind to salutary
objects.
In
everyday life, attitudes of desire, hatred, jealousy and so forth, to which
we are well accustomed, become manifest with only slight provocation; but
those with which we have little familiarity take considerable provocation,
such as recourse to reasoning, to manifest themselves. Similarly, at the
time of death, attitudes of long familiarity usually take precedence and
direct the rebirth. For this same reason, strong attachment is generated
for the self, since one fears that one's self is becoming non-existent.
This attachment serves as the connecting link to the intermediate state
between lives (bardo); the liking of a body, in turn, acts as a cause establishing
the body of the intermediate being.
For
those strongly involved in non-virtuous actions, the warmth of the body
withdraws first from the upper part of the body and then from other parts;
whereas, for those strongly involved in virtuous actions, the warmth first
withdraws from the feet. In both cases, the warmth finally gathers at the
heart, from which the consciousness exits. Those particles of matter, of
combined semen and blood, into which the consciousness initially entered
in the mother's womb at the beginning of the life, become the center of
the heart; and from that very same point the consciousness ultimately departs
at death.
Intermediate
state
Immediately
thereupon, the intermediate state begins—except for those reborn in the
formless realms of infinite space, infinite consciousness, "nothingness"
or peak of cyclic existence, for whom the new life begins immediately upon
death. Those born within the realms of desire and form must pass through
an intermediate state, during which a being has the form of the person
as whom he or she is to be reborn. The intermediate being has all five
senses, but also clairvoyance, unobstructiveness and an ability to arrive
immediately wherever he or she wants. He or she sees other intermediate
beings of his or her own type— hell-being, hungry ghost, animal, human,
demigod or god—and can be seen by clairvoyants.
If
a place of birth appropriate to one's predispositions is not found, a small
death occurs after seven days, and one is reborn into another intermediate
state. This can occur at most six times, with the result that the longest
period spent in the intermediate state is forty-nine days.
Rebirth
This
means that those beings who, even a year after dying, report that they
have not found a birthplace are not in the intermediate state but have
taken birth as a spirit.
If
taking rebirth as a human, one sees one's future mother and father as if
lying together. If one is to be reborn as a male, this sight generates
desire for the mother as well as hatred for the father—and vice versa
if one is to be reborn as a female. Being desirous, one rushes there to
engage in copulation; but upon arrival, one sees only the sexual organ
of the desired partner. This creates anger, which causes cessation of the
intermediate state and makes the connection to the new life. One has entered
the mother's womb and begun a human life. When the father's semen and mother's
blood are conjoined with this life or consciousness, they naturally and
gradually develop into the elements of a human.
One
is desirously attracted to one's future birthplace, even if it is to be
a hell. For instance, a butcher might see sheep in the distance as in a
dream; upon his rushing there to kill them, the appearance would fade,
causing him to become angry, whereupon the intermediate state would cease
and his new life in hell begin. Also, as said before, those to be reborn
in hot hells are attracted to heat; in cold hells, to coolness. The intermediate
state of one who is to be reborn in a bad migration is itself very frightful;
in the end, one rushes to the place of rebirth and, when one's wish is
not achieved, gets angry, whereupon the intermediate state ceases and the
new life begins.
The
connection to a life is, therefore, made under the influence of desire,
hatred and ignorance. Until these afflictions are overcome, one is as if
bound in chains without freedom. Indeed, there are good and bad rebirths;
but, while one is still bound, one must bear the burden of mental and physical
aggregates that are under the influence of contaminated actions and afflictions.
This is not done just once, but again and again without break.
To
overcome the sufferings of birth, aging, sickness and death, desire, hatred
and confusion must be overcome. Their root, in turn, is ignorance—the
conception of an inherent existence of persons and other phenomena. External
medicines alleviate superficial suffering but cannot cure the central problem.
Internal practices—such as resorting to specific antidotes to desire
and hatred—are more helpful, but their effects are temporary however,
if one can destroy ignorance—their root—then all of these cease of
their accord.
If
ignorance is eliminated, then the contaminated actions that depend on it
are stopped.
Furthermore,
without ignorance, the attachment and predispositions established by previous
actions cease to operate, whereupon the cycle of uncontrolled rebirth is
ended.
|
07-01-2008
04:23:12
TU
SĨ TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
His
Holiness the Dalai Lama
Tuệ
Uyển Việt dịch
 |
 |
Đấy
là thời gian, khi mà những cảm xúc tiêu cực như giận dữ,
sợ hãi và thù ghét được dịp lớn mạnh như nhứng vấn
đề tàn phá xuyên qua thế giới của chúng ta.
Trong
khi tin tức hằng ngày đã truyền đi những nhắc nhở về
mãnh lực tàn phá dữ dội của những cảm xúc như vậy, câu
hỏi mà chúng ta phải nêu lên cho vấn đề này là: Chúng ta
có thể làm gì, từ mỗi cá nhân, để vượt khỏi những
vấn nạn này.
Dĩ
nhiên những cảm xúc phiền toái như vậy luôn luôn là một
phần của đời sống nhân loại. Một số người - có xu hướng
không tin tưởng bất cứ điều gì sẽ "bào chữa" sự thôi
thúc thù ghét của chúng ta hay sự áp bức kẽ khác - có thể
nói rằng đấy chỉ đơn giản là cái giá của nhân loại.
Nhưng quan điểm này có thể tạo nên tính lãnh đạm thờ
ơ trên bề mặt của những cảm xúc tiêu cực, và hướng
chúng ta đến kết luận rằng những cảm xúc tàn hoại ấy
là ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.
Phật
học - Thực tại - Khoa học
Chúng
tôi tin tưởng rằng có những con đường thiết thực cho chúng
ta cũng như những cá nhân để hạn chế những động cơ thôi
thúc nguy hiểm của chúng ta - Những thúc đẩy mà tập đoàn
có thể hướng đến chiến tranh hay sự bạo động tập thể.
Như một minh chứng chúng tôi không chỉ có sự thực tập
tâm linh của mình và sự thấu hiểu về sự tồn tại của
loài người căn bản trên lời Phật dạy, mà ngày nay, đấy
còn là sự hoạt động của những ngành khoa học.
Trong
15 năm vừa qua chúng tôi đã tham dự những cuộc đối thoại
với những nhà khoa học phương Tây. Chúng tôi đã trao đổi
những quan điểm trên những chủ đề của các lĩnh vực từ
khoa học lượng tử và vũ trụ học đến từ bi thương yêu
và những cảm xúc tiêu cực. Chúng tôi thấy rằng trong khi
khoa học khám phá và cống hiến một sự hiểu biết sâu hơn
về lĩnh vực vũ trụ chẳng hạn, thì dường như rằng Phật
học diễn giải có thể thỉnh thoảng trao cho những nhà khoa
học phương Tây một phương pháp mới để họ quán sát trên
chính những lĩnh vực của họ - đặc biệt trên sự nhận
thức về sinh vật học và khoa học về não bộ.
Dường
như hơi lạ là một lĩnh đạo tôn giáo lại quá liên hệ
với khoa học, nhưng những lời Phật dạy đã nhấn mạnh
tầm quan trọng của sự hiểu biết thực tại, và vì vậy
điều mà chúng ta nên để tâm đến là, các nhà khoa học
đã học được gì về thế giới chúng ta qua thể nghiệm
và đo lường.
Tu
sĩ - Bác sĩ - Phòng thí nghiệm
Cũng
tương tự như thế, Phật giáo đã có lịch sử hơn 2.500 năm
tìm hiểu khám phá sự hoạt động của tâm ý. Qua hàng thiên
niên kỷ nhiều hành giả đã phát kiến ra điều mà chúng
ta có thể gọi là "những kinh nghiệm" trong điều để làm
thế nào vượt thắng những xu hướng của chúng ta trước
những cảm xúc tiêu cực.
Chúng
tôi đã khuyến khích các nhà khoa học thể nghiệm những hành
giả tâm linh cấp cao Tây tạng, để thấy những lợi ích
gì mà những thực hành tâm linh có thể cống hiến cho những
người khác, ngoài phạm vi tôn giáo. Mục tiêu ở đây là
để phát triển sự hiểu biết của chúng ta về thế giới
của "tâm", của ý thức, và của những cảm xúc của chúng
ta.
Vì
lý do này, chúng tôi đã viếng thăm phòng thí nghiệm thần
kinh học của bác sĩ Richard Davidson tại viện đại học Wisconsin.
Xử dụng những dụng cụ phản ảnh những gì xãy ra trong
não bộ trãi qua thời gian thiền định, bác sĩ Davidson đã
có thể học hỏi những ảnh hưởng của sự thực hành Phật
giáo để phát triển từ bi thương yêu, tính trầm tỉnh thanh
thản hay chính niệm. Qua bao thế kỷ Phật tử tin tưởng rằng
theo đuổi những thực hành như thế dường như làm con người
chúng ta trầm tĩnh hơn, hạnh phúc hơn và yêu thương hơn.
Đồng thời người ta ngày càng bớt đi những xu hướng thiên
về những cảm xúc tiêu cực tàn phá.
Theo
bác sĩ Davidson, khoa học hiện tại nhấn mạnh điều tin tưởng
này, bác sĩ Davidson nói với chúng tôi rằng sự nảy sinh của
những cảm xúc tích cực có thể thông qua điều này: thiền
định chính niệm làm củng cố hệ thống thần kinh, nó làm
trầm tĩnh thanh thản một phần của não bộ nơi hoạt động
như yếu huyệt của sợ hãi và giận dữ. Điều này tăng
trưởng khẵ năng để chúng ta có một phương pháp tạo nên
một vùng đệm giữa sự thúc đẩy bạo động của não bộ
và những hành động của chúng ta.
Những
cuộc thử nghiệm đã phát kiến ra chỉ rằng một số hành
giả có thể đạt đến trạng thái tĩnh lặng nội tại ngay
cả khi đối diện với những tình trạng quấy rầy tột độ.
Bác sĩ Paul Ekman của trường đại học California tại San Francisco
đã nói với chúng tôi rằng tiếng động chói tai (như tiếng
súng nổ) đã thất bại trong việc làm giật mình một tu sĩ
Phật giáo khi đang thể nghiệm. Bác sĩ Ekman nói, ông ta chưa
bao giờ thấy một ai có thể trầm tĩnh trong sự hiện diện
của một sự quấy rầy như vậy.
Một
tu sĩ khác, một vị viện chủ một trong những tu viện của
chúng tôi ở Ấn độ, đã được thử nghiệm bởi bác sĩ
Davidson bằng máy ghi điện não để đo lường những làn sóng
của não bộ. Theo bác sĩ Davidson, vị viện chủ đã có khối
lượng cao nhất của hoạt động trong những trung tâm não
bộ liên hệ với những cảm xúc tích cực mà chưa bao giờ
được đo lường bởi sự thí nghiệm của bác sĩ này.
Thiền
tập - Lợi ích - Cuộc sống bình thường
Tất
nhiên, những lợi lạc của những thực tập này không chỉ
cho những tu sĩ, những người đã dành hàng tháng thời gian
trong những khoá tu thiền định. Bác sĩ Davidson nói về sự
nghiên cứu của ông ta với những người hoạt động trong
những việc căng thẳng cao độ. Những người đấy không
là Phật tử - được dạy thiền tập chánh niệm, trạng thái
tỉnh giảc trong điều mà tâm không bị vướng bận với những
tư tưởng hay cảm giác nhưng để chúng đến và đi, giống
như xem một dòng sông chảy qua. Sau 8 tuần, bác sĩ Davidson
nhận thấy rằng trong những người này, những phần trong
bộ não của họ đã giúp hình thành những cảm xúc tích cực
trở nên hoạt động một cách tiến triển.
Sự
quan hệ mật thiết của tất cả những điều này thì rõ
ràng: thế giới ngày nay cần những công dân và những lãnh
tụ, những người cần hành động trong sự kiên định bảo
đảm và dấn thân đối thoại với "kẽ thù"- không kể là
bất cứ loại gây hấn hay sự công kích nào mà họ có thể
chịu đựng hay kéo dài.
Thật
giá trị để mở ngoặc rằng đây là những phương pháp không
chỉ rất hữu ích, mà lại không mắc mõ. Chúng ta không cần
phải dùng thuốc uống hay thuốc tiêm. Chúng ta không phải
trở thành Phật tử, hay phải tiếp nhận bất cứ một tín
ngưỡng tôn giáo đặc biệt nào. Mỗi người có khã năng
để hướng đến một đời sống yên bình và đầy đủ ý
nghĩa. Chúng ta phải khám phá càng sâu xa như có thể để
làm thế nào có thể đem đến thanh bình tịnh lạc trong đời
sống.
Chúng
tôi cố gắng để đặt những phương pháp này ảnh hưởng
trong cuộc sống chính chúng tôi. Khi nghe một tin tức xấu,
đặc biệt thường là những câu chuyện về thảm kịch từ
những người dân Tây tạng , một cách tự nhiên phản ứng
của chính chúng tôi là buồn bã. Tuy vậy, bằng sự thay thế
trạng thái hay thái độ, chúng tôi tìm thấy và có thể bao
phủ băng một lý trí tốt lành. Và những cảm giác của giận
dữ lạc lõng, điều đơn giản đầu độc "tâm" và làm chua
xót trái tim, ích kỷ vươn lên, chúng cũng liền cuốn đi luôn
theo với những tin tức xấu.
Mặt
trận nội tâm
Nhưng
sự phản ánh chỉ rằng trong đời sống của chúng ta rất
nhiều những khổ đau của chúng ta không chỉ bởi những nguyên
nhân ngoại tại mà còn bởi những sự kiện nội tại như
sự phát triển của những cảm xúc tiêu cực quấy nhiễu.
Loại thuốc giải tốt nhất cho sự đổ vở ấy là làm vượt
trội khã năng của chúng ta để có thể kiểm soát và điều
khiển những cảm xúc ấy.
Có
phải rằng loài người là để tồn tại, hạnh phúc, và sự
quân bình nội tại là cốt yếu. Nếu khác đi đời sống
của con cháu chúng ta và cháu con của chúng thì quả là trở
nên kém hạnh phúc hơn, hay không hạnh phúc, tuyệt vọng và
ngắn ngũi. Sự phát triển của vật chất chắc chắn đóng
góp cho hạnh phúc - trong vài chừng mực nào đấy - và một
cách sống thoãi mái. Nhưng điều ấy không đủ. Để đạt
trình độ cao hơn của hạnh phúc chúng ta không thể hờ hửng
với sự phát triển nội tại.
Thảm
kịch 9/11 minh chứng rằng kỷ thuật hiện đại và sự thông
minh của nhân loại hướng dẫn bởi thù hận có thể đưa
đến những sự tàn phá to tát. Những hành động khủng khiếp
như vậy là triệu chứng của một trạng thái tinh thần ưu
phiền khổ não. Để đáp ứng một cách thông minh và hiệu
quả, chúng ta cần được hướng dẫn bởi một trạng thái
tâm linh khoẻ mạnh hơn, không phải chỉ tránh châm ngòi cho
những đóm lửa của thù hận, mà đáp ứng một cách thiện
nghệ tinh xảo. Chúng ta nên nhớ rõ rằng cuộc chiến chống
lại thù hận và khủng bố cũng có thể được tiến hành
trên điều này, mặt trận nội tâm.
http://www.lamayeshe.com/otherteachers/hhdl/nyt_op_ed.shtml
The
Monk in the Lab
A
New York Times Editorial
-Tuệ
Uyển phiên dịch-
07-01-2008
04:23:12
|