Bài Thứ
Sáu
Hỏi:
Những Tâm sở tương ứng với tiền lục thức.
(Năng
biến thứ ba) như thế đã hiểu rõ rồi, nhưng còn sự hiện
hành sinh khởi của chúng đối với sáu thức ra sao?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Nương
Tựa Căn Bản Thức
Năm
Thức Tùy Duyên Hiện
Hoặc
Chung Hoặc Không Chung
Như
Sóng Mòi Với Nước
Ý
Thức Thường Hiện Khởi
Trừ
Sinh Vô Tưởng Thiên
Vô
Tâm Hai Thứ Ðịnh
Chết
Ngất, Lúc Ngủ Say
Giải
Thích Thuật Ngữ:
Căn
bản thức: Tên khác của đệ bát thức. Căn bản thức
đệ bát thức cũng tức A lại da...
Vô
tưởng thiên: Người tu định vô tưởng thuần thục, họ
có sự an lạc của họ.
Hai
định vô tâm:
1.
Vô tưởng định: Trong lúc nhập định, vận dụng pháp
Xa ma tha thâm hậu, tiền lục thức vắng lặng không hoạt
động.
2.
Diệt
tận định: Trong lúc nhập định tiền thất thức vắng
bặt không hiện hành.
Yếu
Luận
Trong
tám anh em một ả si
Một
chành lanh lợi đáng kinh nghi
Năm
em đon đả mời đưa khách
Quản
lý gia cang một chị hiền
Tiền
thất thức lúc hiện khởi cũng như lúc tiềm tàng hoàn toàn
nương tựa đệ bát thức. Ðệ bát thức có tên Căn bản
thức, vì là chỗ căn cứ, cơ sở nương tựa của Tiền thất
thức; như nước là bản thể, chỗ y cứ mà hiện tượng
sóng mòi bọt bóng được khởi sinh.
Tiền
ngũ thức có thể sinh khởi cùng một lúc, nếu yếu tố sở
duyên đầy đủ; cũng có thể sinh khởi một, hai hoặc ba...tùy
yếu tố sở duyên hiện hữu, thuộc đối tượng của thức
nào.
Ðệ
lục thức thì hiện hữu trong một thời. Bất cứ lúc nào,
bất cứ thức nào trong năm thức sinh khởi, đều có sự hợp
tác tham gia của ý thức. Danh từ Ngũ câu ý thức nói
lên sự hợp tác tham gia đó.
...
"Một chàng lanh lợi đáng kinh nghi
Năm
em đon đả mời đưa khách..."
"Năm
em đon đả mời đưa khách": Nói rõ sự nhạy cảm của tiền
ngũ thức, thường xuyên tiếp xúc với ngũ trần (sắc, thanh,
hương, vị, xúc) mà các thức còn lại không có được chức
năng ấy.
"Một
chàng lanh lợi đáng kinh nghi". "Chàng đệ lục thức lanh lợi
thật bởi vì: với thiện, ác, vô ký ba tánh, với hiện lượng,
tỷ lượng, phi lượng ba lượng, với tánh cảnh, đới chất,
độc ảnh ba cảnh, đệ lục thức đủ hết. Vì vậy, ý thức
quả là:
"Một
chàng lanh lợi đáng kinh nghi!"
Dù
lanh lợi trùm cả tám anh em, dủ tầm cỡ hoạt động bao gồm
ba tánh, ba lượng và ba cảnh nhưng đệ lục thức vẫn không
hiện diện ở năm trường hợp: Vô tưởng thiên, Vô tưởng
định, Diệt tận định, ngủ không chiêm bao và chết ngất.
Trong khi đó đứa em gái thiệt thà và người chị hiền quản
lý gia cang, lẽo đẽo có mặt khắp nơi trong tam giới!
Bài Thứ
Bẩy
Hỏi:
Ðã
xác định vai trò của ba món.
Năng
biến, đã xác định ngã chỉ là đối tượng sở biến. Vậy:
* Năng
biến và sở biến đối với duy thức có hay không?
*
Nếu tất cả duy thức ngoại duyên không thực, tại sao hữu
tình phân biệt triền miên?
*
Nếu là duy thức, vấn đề hữu tình sinh tử tương tục,
được giải thích thế nào?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Do
Tám Thức Chuyển Biến
Phân
Biệt Sở Phân Biệt
Cả
Năng Sở Ðều Không
Xác
Ðịnh: Rằng Duy Thức
Do
Nhất Thiết Chủng Thức
Biến
Như Vậy... Như Vậy...
Và
Do Lực Biến Chuyển (Vận Ðộng)
Hiện
Tượng Vô Vàn Sinh
Do
Tập Khí Của Nghiệp
Và
Tập Khí Hai Thủ
Dị
Thục Trước Vừa Dứt
Tái
Hiện Dị Thục Sau
Giải
Thích Thuật Ngữ:
Như
vậy: Dịch chữ Như thị. Trong Phật giáo có danh
từ "Như thị", dùng trong lúc nói đến sự nhiệm
mầu mà không gian không thể hình dung, thời gian không diễn
đạt rõ, văn tự miêu tả không đến, ngôn ngữ lý giải
không cùng.
Nghiệp:
Hành vi của con người thường xuyên liên tục biểu hiện
trong đời sống. Nghiệp biểu hiện qua thân, khẩu, ý gọi
là tam nghiệp.
Tập
khí: Thói quen trong công việc làm, huân tập thành chủng
tử.
Từ
chủng tử có điều kiện sinh khởi hiện hành.
Hai
thủ: Hai thứ chấp thủ, ôm chặt khư khư không cởi mở
được.
1.
Kiến thủ: Chấp ngã bên con người, ngã của tự thân.
2.
Tướng thủ: Chấp ngã bên vạn pháp, ngã của ngoại cảnh.
Dị
thục: (Xem lại bài Năng biến thứ nhất). Chữ Dị thục
ở đây chỉ cho sinh mạng, vì sinh mạng là sự kết trái của
một dòng nhân quả; Dị thời, Dị biến, Dị loại nhi thục.
Yếu
Luận
*
Năng phân biệt, sở phân biệt đều là sản phẩm của thức:
"Thị
chư thức chuyển biến". Chữ "thị" chỉ cho tám thức
tâm vương là "năng phân biệt", "Sở phân biệt" là "Tướng
ngã", đối tượng chấp. Chấp ngã ở vạn pháp cũng
như chấp ngã ở con người, hoàn toàn do sự chuyển
hướng của các thức, hướng đến một lối chấp sai lầm,
rồi tự "biến" ra cái chấp: Ngã. Theo lập trường của
Duy thức học, trong vạn pháp đối tượng sở biến không
có ngã. Trong con người, bát thức Tâm vương là một
tổng hợp của con người cũng không có ngã. Do vậy,
cái nhìn của Duy thức học thấy rõ và xác định rằng: Năng
phân biệt, sở phân biệt hay năng biến, sở biến không có
ngã. Thế mà người đời chấp có ngã, thì cái ngã
đó duy thức của họ tự biến rồi tự chấp mà thôi.
*
Hiện tượng vạn pháp tồn tại khách quan. Ðó là kết quả
của chân lý duyên sinh, chuyển biến trong nhất thiết chủng
thức.
Không
vì chấp ngã mà hiện tượng vạn pháp sinh. Không vì
không chấp ngã mà hiện tượng vạn pháp không hiện
hữu và tồn tại.
Nhất
thiết chủng thức, "Sở tàng", nó vừa là nguyên nhân để
duyên sinh sự vật, vừa là kết quả, hình thành chỉnh thể
vô vàn sự vật, vạn tượng sum la trước mắt.
Chủng
tử vạn pháp thì vô vàn, tựu trung có những chất liệu:
1.
Một, thể lưu ngại, có tính rắn chắc giống như đất, gọi
là "địa đại".
2.
Hai, thể lưu nhuận, tính lỏng, giống như nước, gọi là
"thủy
đại".
3.
Ba, thể viêm nhiệt, tính nóng, giống như lửa, gọi là "hỏa
đại".
4.
Bốn, thể phiêu động, tính chuyển động, giống như gió,
gọi là "phong đại".
5.
Năm, thể rỗng không, tính rỗng như hư không, gọi là "không
đại".
Năm
đại này là những yếu tố hình thành khoáng vật, thực vật
và những gì thuộc vật chất. Ngoài ra, còn hai "đại" thuộc
loại siêu văn tự ngữ ngôn, siêu tư duy phân biệt bình thường.
Duy thức học gọi "Bất khả tri". Ðó là "Kiến đại"
và "Thức đại". Con người nhận thức sự hiện hữu
của Kiến và Thức đại qua: (Hữu tác dụng pháp, Hiện thọ
dụng pháp và Hiện sở tri pháp), công năng nhận thức và
công năng thọ dụng trong cuộc sống hàng ngày; rồi mệnh
danh đó là thức, là tâm hoặc cũng gọi đó là
tinh
thần.
Bảy
chất liệu đó, vận động chuyển biến, phân giải, hóa hợp
không sát na ngừng trụ theo qui luật riêng của nó là: đồng
và dị. Nó vừa hằng vừa chuyển trong thức Nhất thiết
chủng. Sự vận động chuyển biến, phân giải, hóa hợp,
tác động qua lại với nhau, duyên khởi hình thành từng chỉnh
thể của hiện tượng vạn pháp, bằng nhận thức tư duy hữu
hạn, con người không thể biết được. Kinh điển Phật giáo
thường dùng từ "Như thị" hoặc "Như thị, như thị"
để chỉ sự vận động chuyển biến nhiệm mầu đó.
Vạn
pháp là sản phẩm duyên sinh từ Nhất thiết chủng thức,
con người cũng là sản phẩm duyên sinh như vậy; khác nhau
ở điểm, con người hữu tình, có "tình thức" để nhận
thức sự vật và nhận thức cả chính mình. Vạn pháp là
vô tình, chỉ là "sở phân biệt", đối tượng bị nhận thức
của con người.
Tóm
lại, chủng tử của vạn pháp từ Nhất thiết chủng thức
chuyển biến một cách nhiệm mầu mà hình thành hai loại chúng
sinh:
1.
Một, Hữu tình chúng sinh, thuộc thành phần "năng phân
biệt", có khả năng nhận thức chấp "ngã" bên hiện
tượng vạn pháp, đồng thời cũng chấp "ngã" của chính
mình.
2.
Hai, Vô tình chúng sinh, sơn hà đại địa sum la vạn
tượng, là đối tượng "sở chấp" "sở phân biệt" của thành
phần "năng chấp" ấy. Do vậy, Hữu tình chúng sinh không có
ngã,
Vô tình chúng sinh cũng không có ngã. "Ngã", chỉ
là "ức thuyết", sản phẩm của Duy thức "biến" mà thôi!
*
Sự sinh tử tương tục của hữu tình và chân lý không có
ngoại lệ
Bằng
cái thấy của Phật nhãn, vũ trụ: thành, trụ, hoại, không;
tuy là hy hữu nhưng là chuyện phải có. Sự vật trên cõi
đời: sinh, trụ, dị, diệt là chuyện tất nhiên. Với con
người hữu tình: sinh, lão, bệnh tử... tương tục là bình
thường, vì sự diệt sinh, sinh diệt với các pháp hữu vi
là qui luật tất yếu, tất nhiên của vũ trụ vạn hữu. Ðạo
Phật gọi đó là chân lý vì lẽ thật đó không có một thế
lực nào làm cho khác hơn được.
Chủng
tử của vạn pháp trong Thức Nhất thiết chủng chuyển biến
và duyên sinh theo một trật tự, một quy luật tự nhiên: Ðồng
chủng tương hợp, dị chủng tương xích. Ðồng tính tương
cự, dị tính tương hấp. Ðồng năng tương bội, dị năng
tương để. Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.
Hiện
tượng vạn vật duyên sinh dựa trên nguyên tắc Ðồng dị,
từ khi khởi điểm đến lúc hình thành một chỉnh thể nào
đó, đều tuân theo quá trình Nhân quả tuyệt đối của
Dị
thục thức: Ðó là dị thời, dị biến và
dị
loại nhi thục. Do vậy, quan sát hiện tượng vạn pháp
ta không tìm thấy một sự vật nào tồn sinh mà vượt ra luật
nhân
quả. Luật nhân quả bao trùm vũ trụ nhân sinh, hữu
tình, vô tình đều nằm gọn, đồng thọ dụng một
chân
lý ấy. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào bản chất di truyền
"tương tục" của vạn pháp trong Dị thục thức, người ta
có thể thấy:
Khoáng
vật di truyền tương tục bằng chất.
Thực
vật di truyền tương tục bằng gen.
Ðộng
vật thứ cấp và hạ cấp di truyền tương tục bằng gen.
Ðộng
vật, hữu tình cao cấp như con người sinh tử tương tục
di truyền bằng nghiệp.
Nghiệp
là công việc làm thường xuyên liên tục của hữu tình nào
đó. Việc làm hoặc là một nghề để sinh sống hoặc là
một sở thích. Việc làm lợi mình, lợi người gọi là Thiện
nghiệp. Việc làm hại người, hại mình gọi là Ác nghiệp.
Thân, khẩu, ý con người là cơ sở phát sinh và biểu lộ
Thiện nghiệp hay Ác nghiệp. Nếu có chánh niệm, mọi người
có thể kiểm soát được nghiệp lực của chính mình và tự
mình có thể chuyển hóa nó theo ý nguyện của dị thục hiện
tại và dị thục tương lai.
Tập
khí là thói quen. Tập khí và nghiệp làm nhân quả tác
động qua lại cho nhau. Trong cuộc sống hằng ngày "việc làm"
(nghiệp) của ta là thiện, nó sẽ thành "thói quen" (tập khí)
không làm ác được. Ðã có "thói quen" không làm ác thì "việc
làm" ấy đương nhiên là thiện. Việc làm, làm nhiều, làm
mãi thành thói quen, thói quen cứ quen như thế mà làm mãi làm
hoài. Trung gian giữa nghiệp và tập khí huân tập thành chủng
tử (hạt giống) được A lại da thức chứa đựng. Từ đó,
chủng tử sinh khởi nghiệp. Nghiệp sinh tập khí. Tập khí
và nghiệp huân tập thành chủng tử mới. Cái vòng tròn: sinh
diệt, diệt sinh. Cộng thêm tập khí, chủng tử và nghiệp
của hai món năng thủ và sở thủ biến thành một lực hấp
dẫn, một "thế giới từ trường" của "dẫn nghiệp" và "mãn
nghiệp", cho "Tiền dị thục" và "Hậu dị thục".
Tóm
lại, đời người là một dị thục quả của một chu
kỳ nhân quả. Chủng tử thiện hay ác, biểu hiện nghiệp
và tập khí. Thiện hay ác, là yếu tố mới để hình
thành một dị thục sau, một chu kỳ nhân quả kế tiếp...
Bài Thứ
Tám
Hỏi:
Nếu tất cả Duy thức thì cớ gì đức Thế Tôn đề cập
Tam
tự tính ở kinh Lăng Già? Mâu thuẫn đó, giải quyết
thế nào?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Do
Mọi Người Biến Kế
Biến
Kế Ðủ Thứ Vật
Tính
Biến Kế Chấp Này
Nó
Không Có Tự Tính
Tự
Tính Y Tha Khởi
Kết
Hợp Duyên Mả Sinh
Tự
Tính Viên Thành Thật
Hằng
Viễn Ly Tánh Trước
Tính
Viên Thành Và Y Tha
Khác
Mà Không Phải Khác
Như
Tính Vô Thường, Vô Ngã...
Hiểu
Lệch Mất Cả Hai
Giải
Thích Thuật Ngữ:
Biến
kế: Biến: Phổ biến, thông thường, phổ cập...
Kế: Tính toàn, so đo, xét nét, nghĩ ngợi.
Biến
kế sở chấp tự tính: Kiến chấp phổ biến trong đại
đa số quần chúng. Lối chấp không có sự thật, không hợp
chân lý.
Y
tha khởi tự tính: Nói đủ: Y tha duyên nhi sinh khởi. Nương
nhiều nhân duyên, nhiều yếu tố mà hình thành một chỉnh
thể của một sự vật. Sự vật đó không có tính độc lập
tự sinh.
Viên
thành thực tính: Khi nhận thức rõ, không còn lầm lẫn
đối với tính y tha khởi; loại trừ tính chấp
biến
kế sai lầm, ngay nơi đó là: tự tính duyên thành
thực.
Yếu
Luận
Ðức
Thế Tôn đề cập Tam tự tính, nhưng Ðức Thế
Tôn không chủ trương có một tự tính nào.
Tự
tính biến kế sở chấp do sự chấp nê sai lầm phổ
biến của con người. Sự chấp nê sai lầm của nhiều người
gọi là tính biến kế sở chấp.
Hiện
tượng vạn pháp không pháp nào có tính độc lập tự sinh
mà phải nương gá nhiều duyên khác, tức là nhiều yếu tố
hợp lại mới cấu tạo sinh ra một vật. Vì vậy, tính chất
của sự vật hiện tượng được gọi là y tha khởi
tính, thực chất chẳng có gì.
Sự
thực hiện tượng vạn pháp là "duyên sinh". Sự
thực hiện tượng vạn pháp là "vô nga". Hiểu
đúng chân lý thì ngay nơi đó có được: Tự tính viên
thành thực. Vì vậy, đức Thế Tôn đề cập Tam
tự tính mà không có tự tính nào của Thế Tôn nói.
Tìm
hiểu tính biến kế của con người qua bát thức tâm vương
ta thấy:
+ Thức
A lại da, biến mà không ke, nghĩa là
nó thường xuyên hiện hữu trong đời sống con ngưởi nhưng
nó không có công năng tính toán so đo trong việc "chấp nê"
dù sai hay đúng
+ Thức
Mạt na vừa biến vừa kế, nghĩa là
Mạt na cũng thường xuyên hiện hữu cùng với A lại da nên
gọi là biến và nó có công năng "chấp ngã"
trường kỳ nên gọi là kế; bởi tính của nó
là "tư lương".
"Tư
lương vi tính tướng"
"Tứ
phiền não thường câu".
+ Ðệ
lục thức, kế mà không biến, nghĩa
là đệ lục thức về mặt so đo tính toán "chấp nê" thì
không có thức nào bằng, đó là kế; nhưng trong
sinh hoạt con người có năm trường hợp ý thức vắng mặt.
Vì vậy, ý thức không biến mà chỉ có ke.
+ Tiền
ngũ thức, không biến cũng không kế,
bởi vì tiền ngũ thức hiện khởi tùy thuộc vào cảnh duyên,
có cảnh duyên mới sinh khởi; không có cảnh duyên không sinh
khởi được. Tiền ngũ thức không có tính liên tục thường
xuyên cho nên không biến và chỉ có hiện lượng
cho nên cũng không ke.
Do
vậy, Biến kế sở chấp tự tính chỉ là tính chấp sai lầm
của bát thức tâm vương không hề có tự tính!
Sự
tương quan gắn bó giữa tự tính Y tha khởi và tự tính Viên
thành thực cũng giống như sự gắn bó tương quan của chân
lý vô thường và vô ngã. Nếu không
có tính Y tha khởi hẳn không có tính Viên thành thực. Tính
Viên thành thực có, do nhận thức đúng tính Y tha khởi.
Chân
lý vô thường đúng vì bản chất vạn pháp vô
nga. Bản chất vạn pháp vô ngã cho nên
biểu hiện ra chân lý vô thường: sinh, trụ, dị,
diệt...
Tính
Y tha khởi và tính Viên thành thực khác, mà không phải có
hai tính. Người nghiên cứu Duy thức phải tư duy như vậy,
bằng không, tìm tòi hy vọng một tính Viên thành thực ở
chân trởi gốc biển hay ở thế giới mông lung... cũng không
bao giờ có. Chẳng những tìm không có tính Viên thành thực
mà cũng đánh mất cái tính Y tha khởi của vạn pháp.
Tóm
lại, nhìn bên tục đế, tự tính y tha khởi, Thế
Tôn cũng không phủ nhận, mà đó còn là một chân lý.
Hiểu
sai chân lý ấy, Thế Tôn bảo đó là tính biến kế sở chấp
của mọi người.
Hiểu
đúng chân lý ấy, Thế Tôn dạy: Ðược! Ðấy là viên
thành thực tính, đấy!
Thế
cho nên, Thế Tôn đề cập Tam tự tính, kỳ thực Thế Tôn
có nói tính nào đâu!
Bài Thứ
Chín
Hỏi:
Ðức
Thế Tôn đã đề cập ba tự tính rồi. Cớ gì Thế Tôn lại
dạy: tất cả pháp đều không tự tính?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Chỉ
Vì Ba Tự Tính
Chỉ
Ra Ba Vô Tính
Mật
Ý Của Phật Nói
Tất
Cả Pháp Vô Tính
Một
Hiện Tướng, Vô Tính
Hai
Tính Tự Nhiên, Vô Tính
Ba
Tính Viễn Ly, Biến Kế
Và
Tính Chấp Ngã, Vô Tính
Ðấy
Thắng Nghĩa Các Pháp
Ðấy
Chính Là Chân Như
Vì
Nó Hằng Như Như
Ðấy
Thực Tính Duy Thức
Giải
Thích Thuật Ngữ:
*
Hiện
tướng vô tính: Biến kế sở chấp, vô tính.
*
Tự
nhiên vô tính: Y tha khởi, vô tính.
*
Tính
viễn ly biến kế: Viên thành thật, vô tính.
*
Thắng
nghĩa: Nghĩa rốt ráo cũng gọi là liễu nghĩa.
*
Chân
như: Chân lý bất di bất dịch của vũ trụ khách quan.
Yếu
Luận
Như
ta đã biết, Ðức Thế Tôn đề cập Tam tự tính kỳ
thực không có cái "tự tính" nào của Ðức Thế Tôn nói ra.
Ba "tự tính" ấy chỉ là kết quả của sự hiểu biết sai
lầm, ý thức chấp ngã, trước vạn pháp vốn dĩ vô
ngã. Ðức Thế Tôn không nói có Tam tự tính như
vậy.
"Tất
cả pháp không tự tính". Ðấy mới là then chốt, lập
trường, là tôn chỉ của toàn bộ giáo lý Phật.
Hiện
tượng vạn pháp "vô tính" vì thực tướng của vạn
pháp là "vô tướng".
Tự
nhiên tính "vô tính" vì trên cõi đời không có cái gì
"tự nhiên" mà có. Y tha khởi tính tự nó nói lên rằng nó
"không phải tự nhiên" rồi!
Viên
thành thực tính "vô tính", viên thành thực, chỉ là
kết quả của sự "viễn ly". Viễn ly tính "biến kế", viễn
ly tính chấp ngã mà có được tên ấy.
- Tất
cả pháp không "tự tính" là giáo nghĩa thù thắng.
-
Tất cả pháp không "tự tính" là chân như của vạn
pháp.
-
Tất cả pháp không "tự tính" là tính thường như củavạn
pháp.
-
Tất cả pháp không "tự tính", hiểu như thế là thể
nhập "thực tính Duy thức" rồi vậy.
Bài Thứ
Mười 
Hỏi:
Ðã thành lập Duy thức tướng và Duy thức tánh
rồi.
-
Tiến trình tu tập của hành giả tu Duy thức có bao nhiêu giai
đoạn và địa vị?
-
Sự chứng ngộ Duy thức dùng phương tiện gì làm tiêu chuẩn
để nhận biết?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Từ
khi:
*
Khởi Tâm Tu Duy Thức
Cầu
Trụ Duy Thức Tánh
Hai
Thủ Ngủ Im Lìm
Chưa
Diệt Trừ Chinh Phục
* Ðược
Phần Ít Nhẹ Nhàng
Cho
Là Chứng Duy Thức
Vì
Còn Thấy Có Ðược
Chưa
Thực Trụ Duy Thức
* Chừng
Nào Cảnh Sở Duyên
Tâm
Không Hề Sở Ðắc
Trụ
Duy Thức Lả Ðây
Bởi
Hai Thủ Xa Rời
* Thanh
Thoát Vượt Nghĩ Bàn
Ðấy!
Trí Xuất Thế Gian!
Viễn
Ly Hai Thô Trọng
Thọ
Dụng Quả Chuyển Y
* Ðây
Cảnh Giới Vô Lậu
Bất
Tư Nghì, Thiện, Thường
An
Lạc, Giải Thoát Thân
Cõi:
Pháp Thân, Tịch Mặc
Giải
Thích Thuật Ngữ:
*
Duy
thức tánh: Thực tánh của Duy thức. Ðây là cảnh giới
của con người xa lìa "biến kế sở chấp", xa lìa "năng thủ"
"sở thủ", xa lìa tính "sở đắc" và quả "sở chứng". Nói
cách khác, an trụ duy thức tính, tức là thể nhập cảnh
giới "tịch diệt Niết-bàn"
*
Nhị
thủ: Hai món thủ:
1.
Năng thủ: Chấp ngã bên con người.
2.
Sở thủ: Chấp ngã bên hiện tượng vạn pháp.
*
Hai
thô trọng:
1.
Sở tri chướng: Sở tri chướng cũng gọi "trí chướng":
Một thứ tri thức hữu hạn; thứ trí này chỉ có khả năng
hiểu biết "tục đế" những gì thuộc về "thế gian pháp".
Nó trở ngại con đường tiến triễn đến: nhất thiết
trí, tự nhiên trí, vô sư trí và nhất thiết chủng
trí của quả vô thượng bồ đề.
2.
Phiền não chướng: Căn bản phiền não, chi mạt phiền não...
những thứ phiền não ấy che chướng làm trở ngại sự thể
nhập Niết bàn mà đáng lý mọi người ai cũng có phần được
thể nhập.
* Chuyển
y: Dựa trên hai thứ chướng mà chuyển hóa.
1.
Phiền não chướng, chuyển thành Niết bàn.
2.
Sở tri chướng, chuyển thành Bồ đề.
Yếu
Luận
Ðứng
bên mặt chân đế Pháp tánh không tuệ học, mà đề
cập vấn đề chứng đắc tức thì bị quở trách ngay:
Rằng "chưa được vào nhà!". Bên mặt tục đế, phương tiện,
vận dụng văn tự ngôn thuyết, hướng dẫn hành giả phát
tâm tu Duy thức quán theo một tiến trình tạm chia năm
giai đoạn với năm địa vị:
1.
Tư lương vị.
2.
Gia hạnh vị.
3.
Thông đạt vị.
4.
Tu tập vị.
5.
Cứu cánh vị.
Từ
bài tụng thứ nhất cho đến bài tụng thứ hai mươi lăm,
trình bày về lý do có mặt của Duy Thức Học, yếu tố hình
thành của Duy Thức Học, đối tượng nghiên cứu của Duy
Thức Học và hướng dẫn cách nhận thức để giải quyết
những mắc mướu của con ngưởi theo quan điểm lập trường
của Duy Thức Học.
Sự
có mặt của Duy Thức Học, nhằm chỉ rõ tính vô ngã của
con người và tính vô ngã của hiện tượng vạn pháp, xác
định chân lý "Duyên sinh" và chân lý "Vô ngã"
trong Phật giáo.
Yếu
tố hình thành Duy Thức Học là chỉ rõ sự nhận thức phi
chân lý, sự "ức thuyết" của ai đó hay nói rõ hơn là sự
ảo tưởng hoang đường, phát xuất từ những bộ óc non nớt
yếu mềm, mê tín dị đoan; những nhận thức đó tác động
tâm tưởng con người thông qua Bát thức tâm vương và
biểu hiện hoặc trừu tượng ở tư duy hoặc cụ thể ở
hành động như: thờ phượng, cúng lạy, van xin... với những
chức danh, địa vị không bao giờ có trong sự thực.
Ðối
tượng nghiên cứu của Duy Thức Học là hiện tượng vạn
pháp, nên nhớ mỗi con người nói riêng, mỗi động vật nói
chung, cũng là một pháp trong hiện tượng vạn pháp. Duy Thức
Học chỉ rõ: Rằng Vạn pháp vô ngã.
Duy
Thức Học giải quyết những thắc mắc, đau khổ ngàn đời
của con người. Duy Thức Học đã vạch ra rằng:
- Hiện
tượng vạn pháp "Duyên sinh" tồn tại khách quan.
-
Vạn pháp Vô thường và Vô ngã.
-
Sinh, lão, bệnh, tử là việc bình thường.
-
Sinh, trụ, dị, diệt là việc bình thường.
-
Thành, trụ, hoại, không cũng là việc bình thường.
Người
muốn có an lạc, tránh lo âu sợ hãi phi ly cần tu học Duy
Thức, đi sâu vào Duy Thức Quán ngõ hầu thấy rõ chân lý
Vạn
pháp duy thức.
Trong
quá trình triển khai diệu lý để thành lập duy thức,
người ta gọi đó là Duy thức cảnh. Tức là dựa trên
bối cảnh thực tiễn của con người và sự vật hiện hữu
để thành lập Diệu lý Duy thức.
Từ
bài tụng thứ hai mươi lăm đến bài tụng thứ ba mươi, trình
bày năm địa vị trên con đưởng tiến tu Duy thức quán.
Năm địa vị đó là:
Một,
Tư
lương vị, Tư lương có nghĩa chuẩn bị lương phạn, sắp
xếp hành lý cho một cuộc hành trình tiến tu Duy thức quán:
"Khởi
Tâm Tu Duy Thức"
"Cầu
Trụ Duy Thức Tánh"
"Hai
Thủ Ngủ Im Lìm"
"Chưa
Diệt Trừ Chinh Phục"
Trụ
Duy Thức Tánh là mục đích đến. Trụ Duy Thức Tánh là khi
nào tâm của hành giả chế ngự và diệt trừ hoàn toàn hai
món thủ. Hai món thủ là đối tượng sở quán, nó luôn luôn
là đối thủ đương đầu của người tu Duy Thức Quán. Thế
lực của hai đối thủ còn mạnh mẽ chứng tỏ cái Ngã
tướng trong con người chưa chiết phục mà chỉ ngừng
sinh hoạt như một giấc ngủ im sau đó nó sẽ "thức dậy".
Ðịa
vị Tư lương, kinh điển Phật, thường chia thành ba
bậc: Trụ, Hạnh và Hướng.
Trụ:
là địa vị chỉ những người đã từng gieo trồng hạt giống
Phật, có khả năng trụ nơi đất Phật để sinh trưởng
phước đức trí tuệ của mình.
Trụ
có mười địa vị mà một hành giả lần lượt phải trải
qua:
1.
Phát tâm trụ: Phát tâm khởi tu.
2.
Trị địa trụ: Sửa trị tâm địa trong sạch, bằng thẳng
như trang đất gieo mạ.
3.
Tu hành trụ: Do sửa trị tâm thanh tịnh mà du hành tự tại,
không bị chướng ngại.
4.
Sinh quý trụ: Trụ đất Phật, được thọ dụng phần khinh
an giải thoát.
5.
Phương tiện cụ túc trụ: Tự lợi, tha lợi đủ duyên, thực
hiện tốt không gì trở ngại, tướng mạo khởi sắc quang
minh.
6.
Chính tâm trụ: Tướng mạo quang minh rồi, nội tâm chân chính
gần đồng như Phật.
7.
Bất thối trụ: Thân tâm tương hợp, ngày ngày chỉ có tăng
tiến đi sâu vào chánh quán Duy thức.
8.
Ðồng chân trụ: Có được những đức tướng tốt của Phật
có.
9.
Pháp vương tử trụ: Ðến đây được xem như con đấng Pháp
vương.
Xuất
thai, một hoàng tử chào đời (từ sơ phát tâm đến sinh
quí, đệ tứ trụ gọi là nhập thánh thai. Từ đệ ngũ đến
bát trụ gọi "trưởng dưỡng thánh thai". Pháp vương
tử trụ là xuất thai vậy).
10.
Quán đỉnh trụ: Con vua trưởng thành được làm lễ: Lấy
nước bốn biển mà gọi đầu (quán đỉnh). Bồ tát có khả
năng thừa hành Phật sự được Phật rưới nước trí tuệ
lên đầu...
Hạnh
có mười địa vị:
1.
Hoan hỉ hạnh: Là Bồ tát, đệ tử Phật, phải học hạnh
Phật hoan hỉ tùy thuận khắp nơi nơi.
2.
Nhiêu ích hạnh: Luôn luôn làm lợi ích chúng sanh.
3.
Vô sân hận hạnh: Thực hiện đức tính tự giác, giác tha,
không còn trở ngại bất như ý.
4.
Vô tận hạnh: Thực hiện hạnh lợi tha bình đẳng khắp nơi
và mọi lúc không hề nhàm mỏi.
5.
Ly si loạn hạnh: Pháp môn tu học vô lượng, có trí tuệ tổng
hợp mà sự nhận thức không hề nhầm lẫn.
6.
Thiện hiện hạnh: Vì được vô si loạn cho nên ở đồng
hiện dị, ở dị hiện đồng. Ðồng dị viên dung không trở
ngại.
7.
Vô trước hạnh: Mười phương hư không có bao nhiêu vi trần,
mỗi vi trần hiện mười phương thế giới, vậy mà vi trần
và thế giới không trở ngại gì nhau.
8.
Tôn trọng hạnh: Pháp lực tu hành thâm chứng chân lý từ
địa vị thứ nhất đến đây do sức quán chiếu Bát nhã
mà được, cho nên địa vị này đặc biệt tôn trọng Bát
nhã độ trong lục độ.
9.
Thiện pháp hạnh: Công đức viên dung, có thể thành tựu khuôn
pháp mẫu mực như chư Phật mười phương.
10.
Chân thực hạnh: Do quá trình vượt qua chín giai đoạn, đức
tướng trí tuệ viên dung, mỗi mỗi đều thanh tịnh vô lậu,
bấy giở trở thành tánh Nhất chân hằng hữu.
Hồi
Hướng: Ðem tâm đại bi cứu hộ tất cả chúng sinh. Hồi
hướng có mười địa vị:
1.
Cứu hộ nhất thiết chúng sinh, ly chúng sinh tướng: Cứu hộ
tất cả chúng sinh mà không thấy có tướng chúng sinh.
2.
Bất hoại hồi hướng: Tâm vì chúng sinh, cứu hộ kiên cố
không thối thất.
3.
Ðẳng nhất thiết vật hồi hướng: Nhìn tất cả mọi người
không phân biệt màu da, chủng tộc và ngôn ngữ đều bình
đẳng.
4.
Chí nhất thiết xứ hồi hướng: Tùy theo căn cơ, cứu hộ
cho ai thì đưa họ đến nơi đến chốn.
5.
Vô tận công đức tạng hồi hướng: Kho tàng công đức vô
tận, đem hết ra, tùy cơ cứu hộ chúng sinh.
6.
Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Tùy thuận thiện
căn của chúng sinh, giáo hóa cứu hộ bình đẳng.
7.
Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng: Quán
chúng sinh bình đẳng, tùy thuận căn tánh cứu hộ bình đẳng.
8.
Chân như tướng hồi hướng: Nhìn tất cả vạn pháp hữu
tình vô tình, cùng một bản thể chân như, dẫn dắt cho mọi
người trở về bản thể chân như ấy.
9.
Vô phược giải thoát hồi hướng: Chỉ dạy cho chúng sinh
biết, mọi người không có ai bị trói cũng chẳng có ai được
mở trói, trói hay mở do chính mình.
10.
Pháp giới vô lượng hồi hướng: Dạy cho mọi người biết,
pháp giới vô lượng thì chúng sinh cũng vô lượng như vậy.
Chư Phật cũng vô lượng.
Ba
mươi địa vị tư lương gọi chung: Tam tư lương.
Kinh điển thường gọi: Bồ tát địa tiền. Sở dĩ
có cái từ ấy, vì kinh điển lấy địa vị thập địa
làm chuẩn để ấn định phước đức, trí tuệ trên bước
đường tu tập. Do đó, Thập địa Bồ tát, được cho
cái tên: Tu tập vị.
"Ðược
Phần Ít Nhẹ Nhàng
Cho
Là Chứng Duy Thức
Vì
Còn Thấy Có Ðược
Chưa
Thực Trụ Duy Thức"
Ðó
là bài tụng nói về thành quả của địa vị Gia hạnh. Ðược
cái tên Gia hạnh vị, đã nói lên địa vị này có gia
công tu hành và có kết quả an lạc. Dù có tu hành tốt, dù
có an lạc mà còn "chấp": Năng hành, sở hành, năng chứng,
sở chứng, thì đạo hạnh chưa "siêu". Cho nên chỉ là Gia
hạnh vị mà thôi!
Gia
hạnh vị thường
lấy bốn pháp ám dụ để nhận xét theo dõi bước tiến tu
hành của mình:
1.Noãn:
Sự tu hành phải liên tục như gà ấp trứng, không được
bỏ ổ.
2.
Ðảnh:
Trí tuệ mỗi ngày phải được sáng tỏ thêm mãi, như người
leo núi nhìn cảnh vật xung quanh.
3.
Nhẫn:
Ðích thực thâm ngộ chân lý: Vô ngã, vô thường, khổ,
không, bất tịnh của hiện tượng vạn pháp.
4.
Thế
đệ nhất: Do đích thực thấy chân lý, Kiến Tư hoặc
không còn nhiễu loạn tâm tính.
Quá
trình tu tập từ sơ phát tâm đến thành tựu Vô thượng Bồ
đề, trải qua ba A tăng kỳ kiếp. Năm địa vị tu Duy thức
quán, "Tam tư lương", ‘Tứ gia hạnh" là những người
thành tựu công quả trong Ðệ nhất A tăng kỳ.
"Chừng
Nào Cảnh Sở Duyên
Tâm
Không Hề Sở Ðắc
Trụ
Duy Thức Là Ðây!
Bởi
Hai Thứ Xa Rời"
Bài
tụng này là tiêu chuẩn của hạng người Thông đạt vị.
"Thông đạt" có nghĩa là nhận hiểu chân lý không còn khó
khăn nữa. Ðối cảnh "sở duyên" tâm không "sở đắc" đã
biểu hiện tính "năng, sở song vong" của con người thông đạt
chân lý.
"Trần
chẳng tương quan biển rộng non cao tùy thay đổi"
"Tâm
không sở đắc tùng xanh mây trắng tự vui nhàn"
"Thanh
Thoát Vượt Nghĩ Bàn
Ðây!
Trí Xuất Thế Gian
Viễn
Ly Hai Thô Trọng
Thọ
Dụng Quả Chuyển Y"
Ðó
là trạng thái của người thực học và thực tu. Người thực
học, thực tu họ thọ dụng sự an lành, thanh thoát, tự tại,
thong dong ngay trên cõi đời mà mọi người thấy là Ngũ
trược. Ðấy là kết quả của địa vị có cái tên nghe
"nhẹ hều": Tu tập.
Trọng
tâm then chốt của địa vị tu tập là "vô đắc".
Ðây là một tinh thần rỗng rang bằng bặc, một ý niệm buông
xả hoàn toàn, một hành trạng tâm cảnh như như và năng sở
tịch diệt. Nếu không phải trí xuất thế gian hẳn không
làm được những điều "Vô đắc" siêu phàm như vậy.
Ðến
địa vị tu tập, xả bỏ hết hai món thô trọng: chuyển
sở
tri chướng thành vô thượng bồ đề; chuyển
phiền
não chướng thành Vô thượng Niết bàn.
Làm
được việc đó một Bồ tát phải trải qua mười giai đoạn,
được gọi là mười địa vị nhu sau:
1.
Hoan hỉ địa
2.
Ly cấu địa
3.
Diệm huệ địa
4.
Phát quang địa
5.
Nan thắng địa
6.
Hiện tiền địa
7.
Viễn hành địa
8.
Bất động địa
9.
Thiện huệ địa
10.
Pháp vân địa
Nhập
tâm của Hoan hỉ địa, vị thông đạt ở vào giai đoạn
này. Từ trụ tâm của Hoan hỉ địa cho đến xuất tâm của
Pháp vân địa, gọi là Tu tập vị.
Từ
Hoan
hỉ địa thứ nhất đến Viễn hành địa thứ bảy gọi là
Bồ tát tu tập ở vào đệ nhị A tăng kỳ kiếp. Từ Bất
động địa thứ tám đến xuất tâm của Pháp vân địa thứ
mười, gọi là Bồ tát ở vào đệ tam A tăng kỳ kiếp. Nên
nhớ: Tam tư lương, Tứ gia hạnh, Thập địa Bồ tát, mỗi
mỗi vị đều phân ba giai đoạn cho sự phát tâm tu là: nhập
tâm, trụ tâm và xuất tâm. Ví như đầu niên học, giữa niên
học và cuối niên học.
Ba
A tăng kỳ kiếp tu tập công viên quả mãn đến địa vị
cao tột: Cứu cánh vô thượng bồ đề.
"Ðây
Cảnh Giới Vô Lậu
Bất
Tư Nghì Thiện Thường
An
Lạc Giải Thoát Thân
Cảnh
Giới Pháp Thân, Tịch Mặc"
Ðây
là thành quả tu tập trải tam A tăng kỳ kiếp: Cứu kính
vị, tức quả Vô thượng bồ đề. Ðến địa vị
này là đạt đến cảnh giới "vô lậu" không lọt rớt trong
phiền não khổ đau nữa, cảnh giới vượt ngoài suy nghĩ luận
bàn, cảnh giới thánh thiện, chân thường, cảnh giới hoàn
toàn an lạc, thọ dụng "giải thoát thân thanh tịnh", cảnh
giới Ðại tịch diệt của pháp thân Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác.
Ðấy
là kết quả cuối cùng của quá trình tu tập Duy thức,
một trong những hệ tư tưởng có tính triết học của Ðại
thừa Phật giáo.
Quả
tu tập Duy thức quán, trải qua tam A tăng kỳ kiếp của
năm địa vị được ước định so sánh như đồ biểu sau:
Phụ
chú: Thập trụ,
thập hạnh, thập hồi hướng cho đến thập địa Bồ tát,
mỗi Ðịa đều có ba giai đoạn: nhập tâm, trụ tâm và xuất
tâm giống nhau tất cả.