CHƯƠNG
I
PHẦN
DẪN LUẬN
KHÁI
QUÁT VỀ 5 VIỆC CỦA ĐẠI THIÊN
VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề
cập đến sự kiện rạn nứt, phân chia Phật giáo thành hai
hệ phái Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, trên thực tế
có hai nguồn sử liệu khác nhau cùng đề cập đến vấn đề
này. Nguồn sử liệu của Phật giáo Nam truyền thì cho rằng
‘Thập sự phi pháp’[1] là vấn đề tranh cãi giữa hai
phái, tạo thành sự chia rẽ của tăng đoàn. Thế nhưng, theo
nguồn tư liệu của Phật giáo Bắc truyền (Hán dịch) thì
không lấy ‘Thập sự phi pháp’ làm yếu tố phân chia Phật
giáo, mà lại lấy ‘5 việc của Đại Thiên (Mahādeva)’,
xem đó như là sự kiện chính yếu gây chia rẽ Phật giáo.
Đây là sự khác nhau về quan điểm của hai trường phái.
Sự thật lịch sử của Phật giáo Ấn độ như thế nào,
chúng ta không thể đứng từ góc độ tín ngưỡng, xuất phát
từ cảm tình cá nhân, rồi dẫn đến kết luận như thế
này hoặc như thế kia mà cần phải nghiêm túc tìm hiểu.
Sự
kiện 5 việc của Đại Thiên được ghi chép trong 2 tác phẩm
là “A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa luận” (Abhidharma-mahāvibhāsa-śāstra)
[2]quyển 99, và “Dị Bộ Tông Luân luận” (Samayabheda-uparacana-cakra)[3].
Theo hai luận này ghi rằng, trong cuộc Bố tát, Đại Thiên
công khai đưa ra 5 quan điểm của mình tạo thành sự tranh
cãi trong chúng tăng, dẫn đến một cuộc hội nghị rộng
rãi (kết tập kinh điển) để quyết nghị 5 việc mà Đại
Thiên đưa ra đúng hay sai. Kết quả hội nghị bất thành,
không thống nhất ý kiến, cuối cùng đã phân chia Phật giáo
thành hai bộ phái Thượng tọa bộ (Sthāvira) và Đại chúng
bộ (Mahāsamghika). Thượng tọa bộ là những người mang tư
tưởng bảo thủ, tuy là thiểu số nhưng họ là những bậc
kỳ cựu trưởng lão, cho nên gọi là ‘Thượng tọa bộ’.
Ngược lại, Đại chúng bộ hầu hết là giới trẻ, là những
người mang tư tưởng cấp tiến, có tinh thần phóng khoáng,
lại chiếm đa số chúng tăng, cho nên có tên gọi là ‘Đại
chúng bộ’ (Mahāsa×ghika) Như vậy, theo nguồn tư liệu Phật
giáo Bắc truyền, Đại Thiên và 5 việc của ông trở thành
nguyên nhân dẫn đến sự chia rẽ Phật giáo. Nội dung thảo
luận của bài viết này chính là 5 việc của Đại Thiên.
Không
phải Đại Thiên tự nhiên trở thành một nhân vật quan trọng
trong lịch sử Phật giáo của Ấn Độ, mà rõ ràng phải có
một bối cảnh xã hội đặc thù nào đó, để hình thành
5 việc của ông. Ông cũng không thể bỗng nhiên trở
thành một người lãnh đạo tinh thần cho phái cải cách, được
đại đa số tăng chúng lúc bấy giờ chấp nhận, chắc chắn
ở nơi ông có cái gì đó hợp lý, với tư tưởng trong sáng
và lành mạnh, mới có thể tạo thành sự hấp dẫn, sự đồng
lòng của giới Tỷ kheo trẻ và nhất là sự ủng hộ của
nhà vua, để trước khi ông trở thành nhân vật lãnh đạo
cho phái Đại chúng, làm người tiên phong, thúc đẩy cuộc
cải cách Phật giáo, mặc dù bên cạnh ông luôn luôn bị chỉ
trích bởi phái bảo thủ. Nếu chúng ta đứng từ góc độ
này mà nhìn về Đại Thiên và 5 việc của ông, chúng ta thấy
ở nơi ông có cái gì đó hợp lý.
Thế
nhưng, nếu chúng ta căn cứ vào hai tác phẩm này và ngay cả
tác phẩm “Kathāvatthu” của Phật giáo Nam truyền thì Đại
Thiên không những chỉ là người ‘cực kỳ hung bạo’ mà
còn là người có tà kiến đối với Phật pháp. Đây chính
là lý do mà tôi tiến hành nghiên cứu và đánh giá lại tư
tưởng của Đại Thiên.
Nếu
chúng ta đứng từ góc độ lịch sử tư tưởng của Phật
giáo Ấn Độ mà nhìn, thì những tác phẩm mà chúng ta vừa
đề cập, tất cả đều là của phái Thượng tọa bộ --
phái trực tiếp phản đối tư tưởng của Đại Thiên hay
Đại chúng bộ. Nếu như đó là sự thật thì chúng ta suy
nghĩ và đánh giá như thế nào về tính khách quan của những
tác phẩm này? Tôi tin rằng, có lẽ không một ai trong chúng
ta có sự tin tưởng tuyệt đối với những tác phẩm này,
trừ trường hợp là tín đồ của phái ấy. Từ góc nhìn
này, tôi đã tiến hành tìm hiểu những luận này và phát
hiện trong ấy có khá nhiều điểm mâu thuẫn nhau và phương
pháp luận có nhiều vấn đề tranh cãi. Ví dụ trong “Luận
Bà Sa” ghi rằng, các nhà Hữu bộ muốn giải thích lý do
tại sao Đại Thiên được nhà vua kính trọng, mời vào cung
thuyết pháp, các nhà Hữu bộ lại mô tả Đại Thiên là người
thông minh, tinh thông Tam tạng, có khả năng biện tài vô ngại,
nhưng khi đề cập đến chủ trương về 5 việc của ông thì
các nhà Hữu bộ lại mô tả về ông không phải như thế
mà ngược lại, giống như một người ngớ ngẩn ngu ngơ;
cách lý giải của ông không đủ thuyết phục cho những người
đệ tử của mình, huống là những người trí thức trong
Phật giáo. Một điểm nữa mà chúng ta cũng cần để ý là
các nhà Hữu bộ đã đem việc tạo 3 tội nghịch của Đại
Thiên, khi ông chưa xuất gia, hiểu rõ Phật pháp, lấy đó
làm cơ sở để lý giải về 5 việc của Đại Thiên, sau khi
ông đã ăn năn sám hối tội lỗi của mình, xuất gia và hiểu
rõ giáo pháp. Đây là 2 sự kiện khác nhau không cùng một
thời gian, không thể lấy việc này để đánh giá việc kia.
Nhưng tại sao lại xuất hiện trong luận này? Có phải chăng
các nhà Hữu bộ muốn sử dụng thủ đoạn này để phủ
nhận tư tưởng của Đại Thiên chăng? Đây là một nghi vấn
trong nhiều nghi vấn khi tiến hành nghiên cứu các luận của
Hữu bộ ghi chép về Đại Thiên.
Riêng
về tác phẩm “Kathāvatthu” ghi chép thì cẩn thận hơn, không
đề cập đến đời tư trước khi xuất gia của Đại Thiên,
chỉ đơn thuần thảo luận 5 việc của Đại Thiên, thế
nhưng các biên tập và phương pháp luận của luận này cũng
có nhiều nghi vấn, không che đậy được tính chủ quan, biên
tập luận này theo tinh thần và chủ trương của mình, cắt
bỏ quan điểm và cách luận giải của đối phương. Ví dụ,
ai đã đọc qua luận này đều thừa nhận rằng, luận này
lấy hình thức vấn đáp để phân biệt giữa chính và tà,
giữa đúng và sai. Mới đọc qua, ai cũng cảm thấy rằng,
cách thảo luận này rất khách quan, nhưng trên thật tế thì
không phải là như thế, đây là cách mà các nhà Thượng tọa
bộ muốn làm rõ quan điểm của mình và làm lu mờ tư tưởng
của đối phương, bằng. Vì qua nội dung thảo luận của tác
phẩm này đã bộc lộ rõ nét của vấn đề, vì không thể
chấp nhận một cuộc thảo luận mà chỉ có một bên hỏi
và một bên trả lời, cuộc thảo luận như thế là không
bình đẳng và khách quan. thế mà cuộc thảo luận ấy lại
xảy ra và được ghi chép trong luận “Kathāvatthu” này. Nếu
chúng ta làm cuộc thống kê sẽ thấy rõ điểm này. Chúng
ta rất ngạc nhiên khi thấy hầu như toàn bộ những câu chất
vấn là của Thượng tọa bộ, và phần trả lời là của
Đại chúng bộ, nhưng cách trả lời cũng là một vấn đề
đáng để cho chúng ta đặt nghi vấn và tìm hiểu. Tại sao
Đại chúng bộ chỉ trả lời là ‘có’ hay ‘không có’
mà thôi, ngoài ra chúng ta không thấy lời giải thích nào của
phái Đại chúng bộ, lý do tại sao trả lời ‘có’ và lý
do tại sao trả lời là ‘không có’, mặc dù trong cách
trả lời đó ẩn chứa lập trường và quan điểm cứng rắn
không thay đổi của Đại chúng bộ. Thế thì tự nhiên ở
đây chúng ta được quyền nêu lên hoài nghi của mình. Theo
tôi, phải chăng các nhà Thượng tọa bộ khi biên tập luận
này đã loại bỏ phần luận chứng của đối phương, chỉ
ghi lại những gì phù hợp với quan điểm của chính mình
không?
Thế
thì quan điểm của Đại Thiên như thế nào? Bản thân Đại
Thiên và các bộ phái trong Đại chúng bộ không lưu lại một
tư liệu nào ghi rõ về việc này, (hoặc vì một nguyên nhân
nào đó bị thất lạc) thế thì chúng ta lấy gì để làm
tư liệu nghiên cứu về tư tưởng của ông? Theo tôi, đây
là công việc của người làm công tác nghiên cứu, vì
vấn đề không được rõ ràng mới cần đến công tác nghiên
cứu, nếu bản thân của nó đã rõ thì đâu cần công
việc nghiên cứu. Theo tôi, dẫu rằng sự thật là như vậy,
nhưng chính những tác phẩm này, bản thân nó cũng gợi ý
cho chúng ta nhiều điều đáng được chú ý, để chúng
ta tìm hiểu vể tư tưởng của Đại Thiên. Ví dụ trong “Luận
Bà Sa” ghi: Điều mà Đại Thiên cho rằng, A La Hán vẫn còn
xuất tinh trong lúc ngủ say không phài là loại xuất tinh do
‘phiền não lậu thất’ mà là do ‘bất tịnh lậu thất’;
Điều mà ông gọi A La Hán vẫn còn ‘Vô tri’ không
phải là loại ‘nhiễm ô vô tri’ mà là ‘bất nhiễm ô
vô tri’; Điều mà ông gọi, A La Hán vẫn còn sự ‘hoài
nghi’ không phải là loại ‘tùy miên tánh nghi’ mà là ‘xứ
phi xứ nghi’….theo ông giải thích cái gọi là ‘phiền não
lậu thất’, ‘nhiễm ô vô tri’, ‘tùy miên tánh nghi’…A
La Hán đã đoạn trừ, riêng về các loại ‘bất tịnh lậu
thất’, ‘bất nhiễm ô vô tri’, và ‘xứ phi xứ nghi’…thì
A La Hán vẫn còn. Thế thì sự khác biệt nào giữa những
khái niệm này? Chúng ta thấy luận này hoàn toàn không giải
thích. Cũng cùng thảo luận những vấn đề này, nhưng trong
luận “Kathāvatthu” thì sử dụng hình thức vấn đáp để
tranh luận. Như Thượng tọa bộ hỏi: "A La Hán có còn xuất
tinh không?" được Đại chúng bộ trả lời một cách khẳng
định rằng: ‘có’; Thế nhưng, khi Thượng tọa bộ tiếp
tục hỏi: "A La Hán có còn tham, sân và si không?" thì Đại
chúng bộ khẳng khái phản bác rằng: "Không nên hỏi như thế".
Lời phản bác này mang ý nghĩa khẳng định rằng, tất nhiên
A La Hán không còn tham, sân và si. Đối với 4 vấn đề còn
lại cũng được thảo luận giống như vậy. Thế thì lý do
tại sao Đại Thiên (Đại chúng bộ) khẳng định A La Hán
vẫn còn xuất tinh, vô tri, hoài nghi, chỉ điểm, nhưng lại
xác nhận A La Hán không còn tham sân si? hai ý nghĩa này khác
nhau như thế nào? Trong luận này, chúng ta cũng không thấy
một lời giải thích nào. Từ ghi chép của 2 luận này, chúng
ta thấy có những điểm trùng hợp: Trong “Luận Bà Sa” Đại
thiên gọi A La Hán vẫn còn ‘bất tịnh lậu thất’, ‘bất
nhiễm ô vô tri’, ‘xứ phi xứ nghi’…chính là câu trả
lời khẳng định A La Hán vẫn còn ‘xuất tinh’, ‘vô
tri’, ‘hoài nghi’, ‘bị người khác chỉ điểm’ trong
“Kathāvatthu”; Ngược lại điểm mà Đại Thiên cho rằng,
A La Hán không còn ‘phiền não lậu thất’, ‘nhiễm ô vô
tri’ và ‘tùy miên tánh nghi’ chính là câu trả lời xác
định A La Hán không còn tham sân và si trong “Kathāvatthu”.
Sự trùng hợp này, theo tôi đó là điểm hé mở để cho chúng
ta có thể truy cứu quan điểm và tư tưởng của Đại Thiên
qua những nguồn tư liệu khác.
Nếu
như chúng ta chấp nhận quan điểm cho rằng, sự xuất hiện
mọi quan điểm tư tưởng của con người đều phát xuất
từ một bối cảnh lịch sử cụ thể của nó, thì vấn đề
xuất hiện tư tưởng của Đại Thiên cũng lại như thế,
nó cũng có bối cảnh lịch sử của nó. Thế thì chúng ta
thử nêu vấn đề: Lý do nào Đại Thiên đưa ra 5 việc này?
Quan điểm của ông dựa trên kinh điển nào trong Phật giáo?
Theo tôi, nếu chúng ta làm sáng tỏ 2 câu hỏi này, thì vấn
đề tư tưởng về 5 việc của Đại Thiên cũng theo đó được
rõ ràng sáng tỏ theo, mặc dù trước mắt chúng ta không có
một văn bản nào của chính Đại Thiên viết hay các bộ phái
thuộc Đại chúng bộ viết về 5 việc này.
Trước
khi chúng ta tìm lời giải đáp cho 2 vấn đề này, chúng ta
thử tìm hiểu quan điểm của André Bareau là một học
giả người Pháp đã cho rằng, sự kiện tranh cãi về
5 việc của Đại Thiên được xuất hiện vào năm 140 sau đức
Phật nhập Niết bàn, tức là khoảng năm 340 trước Tây lịch,
vào thời đại vua Nanda, trước triều đại vua A Dục[4]. Điều
đó có nghĩa rằng, sự kiện Tăng già tranh cãi về 5 việc
của Đại thiên trước khi nhà vua A Dục triệu tập cuộc
kiết tập kinh điển lần thứ III, là lần kiết tập kinh
điển thành văn tự. Nếu nhận định của André Bareau
là đúng sự thật, thì vấn đề mà chúng ta muốn tìm hiểu
có nhiều điểm mới mẻ để đánh giá về 5 việc của Đại
Thiên.
Việc
thứ 5 trong 5 việc của Đại Thiên được ghi chép trong các
luận của Hữu bộ là ‘Đạo nhân thinh cố khởi’ có nghĩa
là đạo do từ âm thanh mà có. Phải chăng ý nghĩa câu nói
này ám chỉ thời kỳ kinh điển của Phật giáo được lưu
truyền dưới hình thức Āgama, là hình thức ‘khẩu
truyền’ kinh điển Phật giáo chưa biên tập thành văn tự,
như ngày hôm nay chúng ta thấy 4 bộ A hàm hay 5 bộ Nikāya?
Tại sao Đại Thiên phải đưa ra việc thứ 5 này? Theo tôi,
vì khi Đại Thiên 4 việc đầu bị các nhà Thượng tọa bộ
gặng hỏi: Quan điểm mà ông đưa ra, được dựa vào kinh
điển nào trong Phật giáo? Do vậy, Đại Thiên trả lời là:
‘Đạo nhân thinh cố khởi’ có nghĩa là kinh điển mà tôi
căn cứ chính là Āgama. Tôi cho rằng cách lý giải này, không
những phù hợp với niên đại xuất hiện 5 việc của Đại
Thiên, mà còn phù hợp tư tưởng về 4 việc của ông, đồng
thời việc thứ 5 có liên hệ mật thiết đến sự tranh cãi
giữa hai trường phái, và chắc chắn Đại Thiên không thể
tránh khỏi câu hỏi này. Do đó những gì được ghi chép trong
“Luận Bà Sa” được xem như là tự biên tự diễn, và ngay
cả những gì được giải thích trong “Kathāvatthu” cũng
mang tính chất như vậy.
Từ
những đánh giá này, gợi ý cho chúng ta hiểu rằng, tư tưởng
về 4 việc của Đại Thiên có liên hệ mật thiết đến kinh
điển A hàm mà chúng ta hiện có, không những chỉ có 4 bộ
Hán dịch mà bao gồm cả 5 bộ Nikāya được lưu giữ bằng
tiếng Pāli. Có thể nói đây là nguồn tư liệu đáng tin cậy
để chúng ta đánh giá về tư tưởng của Đại Thiên, và
lý giải lý do tại sao Đại Thiên đưa ra 4 việc.
Thật
ra, Đại Thiên đưa ra quan điểm A La Hán vẫn còn xuất tinh
trong lúc ngủ say, A La Hán vẫn có ‘bất nhiễm ô vô tri’,
A La Hán vẫn còn ‘xứ phi xứ nghi’, A La Hán vẫn bị người
khác chỉ điểm là Đại Thiên đứng trên lập trường con
người để nhìn về đức Phật và A La Hán. Hay nói một cách
khác đức Phật và những bậc A La Hán đều là con người
từ con người mà thành Phật, thành A La Hán, không phải là
vị thần linh từ thế giới khác hóa hiện. Khi xác định
Phật và A La Hán là con người, như vậy khi A La Hán vẫn còn
là xác thân của con người thì vẫn có nhu cầu như con người,
như là ăn uống, ngủ nghỉ..v.v…, khi đưa thức ăn thức
uống vào cơ thể, chính những thức ăn uống này tiêu hóa
và tạo thành chất dinh dưỡng để nuôi cơ thể, ngay cả
tinh trùng cho người nam đã ở vào tuổi trưởng thành, và
tất nhiên những chất này phải được bài tiết qua nhiều
hình thức, trong đó mộng tinh cũng là chuyện bình thường
của nam giới. Sự bài tiết này, theo Đại Thiên không phải
xuất phát từ ý niệm tham dục mà đó là vấn đề tự nhiên
của cơ thể, nó không liên hệ gì đến tham sân và si; Cũng
vậy, dẫu rằng A La Hán đã đoạn trừ tham sân si, nhưng điều
đó không đồng nghĩa A La Hán chuyện gì cũng biết. Ví dụ
A La Hán đến xứ lạ không biết đường đi, không xác định
con đường nào dẫn đến nơi mà A La Hán muốn đến, cho nên
có trạng thái nghi ngờ do dự, chính vì vậy mà A La Hán hỏi
người khác, và được người khác chỉ dẫn. Theo Đại Thiên,
những trường hợp không biết, nghi ngờ và được sự chỉ
dẫn của người khác không liên hệ gì đến sự giác ngộ
và giải thoát của vị ấy, vì nó không thuộc phạm vi sinh
hoạt suy tư, hay nói đúng hơn nó không liên hệ gì đến việc
tu tập giải thoát của A La Hán, cho nên A La Hán không cần
biết đến. Cách lý giải này rất phù hợp quan điểm của
đức Phật, được ghi chép rất nhiều kinh trong A hàm, như
chúng ta sẽ được trình bày trong những chương dưới đây.
Nếu
chúng ta nhìn từ mặt trái quan điểm của Đại Thiên, nó
phản ảnh Phật giáo đương thời đã bị ảnh hưởng tư
tưởng và tín ngưỡng của truyền thống tôn giáo Ấn Độ,
thần thánh hóa đức Phật và các vị A La Hán, mô tả đức
Phật như là một vị thần linh, có quyền năng không việc
gì là không biết. Vấn đề thần thánh hóa đức Phật đi
ngược lại quan điểm giáo dục của đức Phật. Đó chính
là lý do tại sao Đại Thiên đưa ra 4 việc, với mục đích
phản đối vấn đề giáo pháp của đức Phật càng ngày càng
bị ô nhiễm bởi những tư tưởng tín ngưỡng của ngoại
đạo, cụ thể là sự thần thánh hóa đức Phật. Theo tôi,
đây chính là tư tưởng của Đại Thiên, nhưng ở đây chúng
ta nên chú ý vấn đề là: Tư tưởng của Đại Thiên không
đồng nghĩa với quan điểm tư tưởng của các bộ phái thuộc
Đại chúng bộ. Từ tư tưởng của ông đến các tư tưởng
của các phái thuộc Đại chúng bộ có nhiều sự diễn biến.
Do vậy theo tôi, trước khi chúng ta muốn thảo luận đến
tư tưởng của Đại Thiên, chúng ta cần làm sáng tỏ điểm
xuất phát của những nguồn tư liệu này, và nắm rõ tư tưởng
của từng bộ phái, đồng thời phải trang bị kiến thức
sử học, để đánh giá các tư liệu này.
Thế
nhưng, các nhà nghiên cứu trước đây, khi nghiên cứu về
Đại thiên và 5 việc của ông, thường chỉ căn cứ vào 2
nguồn tư liệu Nam và Bắc truyền, tức là tác phẩm “Kathāvatthu”
hay “Luận Bà Sa” quyển 99, và “Dị Bộ”, điều đó không
làm sao tránh khỏi sự ngộ nhận về 5 việc của Đại Thiên,
vì các nguồn tư liệu này đều là những bộ luận của phái
Thượng tọa bộ, tức là phái phản đối tư tưởng của
ông. Nếu như người nghiên cứu là người xiển dương giáo
pháp Đại thừa thì phủ nhận sự ghi chép của những nguồn
tư liệu này, nhưng không có một bằng chứng cụ thể nào,
do đó thiếu tính thuyết phục cho giới nghiên cứu.
Cùng
thảo luận đề tài này, nhưng phương pháp nghiên cứu của
tôi có một vài điểm khác biệt. Thứ nhất, vẫn lấy 2 nguốn
tư liệu vừa nêu làm tư liệu chính để nghiên cứu về Đại
Thiên, nhưng thêm phần so sánh, đánh giá và phê bình các nguồn
tư liệu ấy, để truy tìm điểm đồng nhất của 2 nguồn
tư liệu này. Thứ hai, người viết, sử dụng các nguồn tư
liệu Kinh A Hàm, để tìm hiểu về tư tưởng của Đại Thiên.
Chính hai điểm này đã giúp cho người viết có một cái nhìn
mới về 5 việc của Đại Thiên, không cùng với những người
nghiên cứu trước đây.
Nhưng
ở đây có một vấn đề mà chúng ta không thể đề
cập là các nhà nghiên cứu Phật học đều cho rằng, Kinh
A Hàm và Nikàya thuộc về Thượng tọa bộ, nhưng ngược
lại, Đại Thiên là nhân vật của Đại chúng bộ. Thế
thì tại sao Đại Thiên lại căn cứ vào bản kinh của đối
phương để hình thành tư tưởng của mình? Phải chăng Kinh
điển Āgama, nhất là “kinh Tạp A Hàm” hay “Kinh Tương
Ưng Bộ” là nền tảng tư tưởng cho tất cả bộ phái,
không phải là bộ kinh chỉ dành riêng cho bất cứ bộ phái
nào. Theo tôi, quan điểm này có thể xảy ra, vì nếu như chúng
ta tiến hành nghiên cứu tư tưởng trong “Kinh Tạp A Hàm”
thì chúng ta sẽ nhận thấy điều đó.
Trên
đây là toàn bộ nội dung sẽ được tuần tự thảo luận
trong tập sách này. Phương pháp nghiên cứu của người
viết cho chủ đề này, chính là văn bản học, sử dụng
phương pháp sử học giải quyết những vấn đề liên quan
đến lịch sử; lấy phương pháp phân tích triết học phân
tích những vấn đề tư tưởng; lấy ngôn ngữ học so sánh
phân tích ý nghĩa giữa dịch bản và nguyên bản.v.v…
[1]
Tham khảo “Đảo Vương Thống Sử” (Mahāvaösa) “Nam Truyền
Đại Tạng Kinh” quyển 65, trang 30~31.
[2]
Viết tắt là “Luận Bà Sa”.
[3]
Viết tắt là “Luận Dị Bộ”.
[4]
André Bareau, Pháp Hiền dịch, “Các bộ phái Phật giáo Tiểu
thừa” NXB Tôn Giáo – Hà Nội, năm 2002, trang 54.