CHƯƠNG
II
Thảo
Luận Về Những Nguồn Tư Liệu Liên Quan
Đến
Đại Thiên Và 5 Việc Của Ông
1.
Vấn đề văn bản
Nếu
như chúng ta muốn tìm hiểu về lịch sử tư tưởng của
Phật Giáo Ấn Độ, không thể không tìm hiểu nhân vật
Đại Thiên và tư tưởng của ông. Dù chúng ta nhìn ông với
cái nhìn như thế nào, ông vẫn là người đã tạo ra sự
tranh cãi về quả vị A la Hán, và cuối cùng đã phân chia
Phật giáo thành hai bộ phái Thượng tọa bộ và Đại chúng
bộ. Đại Thiên là người lãnh đạo tinh thần cho Đại chúng
bộ, là người rất có khí phách dám phê bình đương thời
Phật giáo của Ấn Độ, đang có khuynh hướng đưa Phật pháp
thành một loại tín ngưỡng, tôn giáo hóa. Cũng từ đó, tư
tưởng cải cách và việc làm của ông đã trở thành ngọn
cờ cải cách, đưa Phật giáo vào cuộc đời cho Phật giáo
Đại chúng bộ về sau. Thế thì việc tìm hiểu lịch sử
tư tưởng của Phật giáo Ấn Độ không thể bỏ qua công
việc nghiên cứu và đánh giá một cách nghiêm túc về nhân
vật Đại Thiên và tư tưởng của ông, vì ông là người
lèo lái con thuyền của Phật giáo qua khúc quanh lịch sử đầy
cam go này, tất nhiên những suy nghĩ và việc làm đó của
ông có ảnh hưởng sâu đậm đến Phật giáo sau này, nhất
là tư tưởng cải cách của Phật giáo Đại thừa[1].
Thế
nhưng, bằng thế nào để hiểu được tư tưởng của Đại
Thiên? Như chúng ta được biết, bản thân Đại Thiên không
để lại một tác phẩm nào và cả hệ phái Đại chúng bộ
cũng không có một lời ghi chép nào về ông, thế thì chúng
ta làm thế nào để nghiên cứu về ông? Dẫu rằng bản thân
ông và hệ phái của ông không để lại một tác phẩm nào
có đề cập đến Đại Thiên hay 5 việc của ông, nhưng có
nhiều bộ luận của Thượng tọa bộ, là hệ phái phản đối
tư tưởng của ông, có ghi chép khá nhiều chi tiết có liên
quan đến 5 việc của ông, mặc dù nội dung chính của những
nguồn tư liệu này chủ yếu là phê bình và chỉ trích 5 việc
của ông, nhưng ngang qua nguồn tư liệu này, chúng ta làm công
tác phân tích và chọn lọc thì chắc chắn ở trong đó nó
sẽ cho ta những thông tin có giá trị về ông. Ngoài ra, tôi
tin rằng tư tưởng của ông, không thể tự nhiên có mà phải
bắt nguồn từ những vấn đề thực tế của tình hình sinh
hoạt Phật giáo đương thời ở Ấn Độ, chính đó là yếu
tố để hình thành tư tưởng về 5 việc của ông, nhằm nói
lên một điều gì đó góp ý cho Phật giáo đương thời. Để
nói lên quan điểm của mình, tôi tin rằng Đại Thiên đủ
thông minh để hiểu rằng, trước Tăng già ông không thể
phát biểu một cách tùy tiện mà phải căn cứ một quan điểm
nào đó từ trong kinh điển Phật giáo, để phòng hờ khi bị
đối phương cật vấn, và điều đó không thể tránh khỏi
khi ông trình bày 4 việc đầu, cho nên ông đã phải trả lời
cho câu hỏi này bằng câu trả lời ‘Đạo nhân thinh cố
khởi’, tức ám chỉ cho kinh điển A hàm (Āgama).
Nếu
như cách phân tích lý giải này hợp lý thì tự nhiên vấn
đề kinh tạng Nikāya và A hàm có khả năng liên quan đến
tư tưởng của ông. Nhưng dù kết quả như thế nào đi nữa,
nó cũng là nguồn tư liệu đáng để cho chúng ta tìm hiểu
tư tưởng về 5 việc của Đại Thiên[2]. Như vậy ngoài những
tư liệu được ghi chép trong các luận của các hệ phái của
Thượng tọa bộ, như là những tác phẩm Hán dịch “Luận
Bà Sa”, “Luận Dị Bộ”, “Luận Phát Trí” của phái
Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, và những tác phẩm thuộc kinh
tạng Nam truyền “Kathāvatthu” và bản chú thích là “Kathāvatthu-ahakathā”;
Ngoài ra còn có nguồn tư liệu Nikāya và A hàm. Theo tôi, đây
là những nguồn tư liệu có liên quan mật thiết đến tư
tưởng của Đại Thiên, do vậy chúng ta muốn tìm hiểu tư
tưởng 5 việc của Đại thiên không thể bỏ qua bất cứ
nguồn tư liệu nào đã đề cập, vì thông qua những nguồn
tư liệu này chúng ta tiến hành so sánh phân tích và tổng
hợp, kết quả của công việc làm này, tư tưởng của Đại
Thiên sẽ hiển lộ. Do vậy, trước tiên chúng ta cần thảo
luận nguồn gốc của những tác phẩm này, trước khi chúng
ta thảo luận về 5 việc.
a.
Tác phẩm “Dị Bộ” và “Bà Sa”
- “Dị
Bộ Tông Luân Luận”
Tác
phẩm “Dị Bộ Tông Luân Luận” (Samayabhedopara-nacakra) do
Thế Hữu (Vasumita)[3] biên soạn, có một dịch bản bằng tiếng
Tây Tạng và 3 dịch bản bằng tiếng Trung Quốc: Bản thứ
nhất được ngài Huyền Trang (602~664) dịch vào đời nhà Đường,
với tựa đề là "Dị Bộ tông Luân luận" gồm 1 quyển, được
biên tập vào bộ “Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh” quyển
thứ 49, số thứ tự 2031; Bản thứ hai do ngài Chân Đế (Paramartha:
499~569) dịch vào nhà Trần, với tựa đề “Thập Bát Bộ
Luận" gồm 1 quyển, cũng được biên tập vào bộ “Đại
Chánh Tân Tu Đại Tạng kinh” quyển thứ 49, với số thứ
tự 2032: Và quyển thứ ba cũng do ngài Chân Đế dịch, với
tên là "Bộ Chấp Dị luận" gồm 1 quyển, cũng được biên
tập vào “Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh” quyển thứ
49, số thứ tự 2033. Tuy rằng dịch giả khác nhau, nhưng với
nội dung không khác nhau mấy, chỉ khác nhau về cách dịch.
Sự khác biệt giữa 3 bản dịch này, điều đó có lợi cho
công việc nghiên cứu của chúng ta, vì nguyên bản Phạn văn
không còn, khó khăn cho việc truy tìm ý nghĩa gốc của nó,
hơn nữa luận này tác giả viết quá ngắn gọn, trình bày
khúc chiết, có những chỗ thật khó hiểu. Trong những trường
hợp này, chúng ta nhờ các bản dịch khác nhau, tiến hành
so sánh đối chiếu, mới có thể đoán định được ý nghĩa
của nó.
Ở
đây có một vấn đề mà chúng ta cần chú ý, người tạo
luận này là Thế Hữu (Vasumitra), ông là một luận sư nổi
danh của phái Thuyết nhứt thiết Hữu bộ (Sarvastivadin), ngoài
luận này ông còn tạo các luận như: “A Tỳ Đạt Ma Phẩm
Loại Túc Luận”, “A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận”,
“Chúng Sự Phân A Tỳ Đạt Ma Luận”, theo truyền thuyết
cho rằng, ông cũng là một trong những người chủ chốt biên
tập bộ “A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận”. Qua những
tác phẩm này, chúng ta cũng đủ biết vị trí của Thế Hữu
có tầm ảnh hưởng khá lớn đối với phái Thuyết Nhứt
thiết Hữu bộ. Điều đó, nó gợi ý cho chúng ta hiểu rằng,
quan điểm và lập trường của ông phải xây dựng trên lập
trường và tư tưởng chung của phái Thuyết Nhất Thiết Hữu
Bộ.
Trở
lại vấn đề mà chúng ta đang tìm hiểu trong luận này là,
liên quan đến nhân vật và tư tưởng của Đại Thiên. Trước
hết là nhân vật Đại Thiên. Theo tác phẩm này, Thế Hữu
lại đề cập đến 2 nhân vật Đại thiên, một người xuất
hiện vào thời gian sau khi đức Phật nhập diệt vào khoảng
100 năm, là người đưa ra 5 việc gây ra sự tranh cãi trong
cộng đồng Tăng già, tạo ra sự bất hòa và cuối cùng phân
chia Phật giáo thành hai phái Thượng tọa và Đại chúng. Và
một người nữa được xuất hiện sau Phật nhập diệt vào
khoảng 200 năm, là vị làm tổ sư phái Chế Đa Sơn bộ, cả
2 cùng có tên là Đại Thiên (Mahādeva) và cùng chủ trương
5 việc. Sự ghi chép này tạo thành sự tranh cãi trong giới
nghiên cứu: Có một hay hai Đại Thiên? Trả lời cho câu hỏi
này, trong giới nghiên cứu có hai ý kiến khác nhau, một bên
chủ trương chỉ có một Đại Thiên và bên kia chủ trương
có đến hai nhân vật Đại Thiên. Về vấn đề này, người
viết có một vài ý kiến riêng và sẽ được trình bày, ở
mục 2 của chương này. Đây là những gì có liên quan đến
nhân vật Đại Thiên được ghi lại trong “luận Dị Bộ”
này.
Riêng
về tư tưởng về 5 việc của Đại Thiên, tác phẩm này chỉ
đề cập bằng một bài kệ:
Do
sở dự vô tri,
Do
dự tha linh nhập,
Đạo
nhân thinh cố khởi,
Thị
danh chơn Phật giáo[4].
Câu
kệ trên được giải thích là:sự xuất tinh là do người
khác làm; A la hán vẫn còn vô tri; A la hán vẫn còn
hoài nghi; sự chứng đắc A La Hán phải nhờ người
khác chỉ điểm mới biết; sự chứng đạo phải nhờ
tiếng than khổ mà được. Ngoài ra, tác phẩm này không
đề cập và giải thích gì thêm về tư tưởng của ông. Theo
người viết bài kệ này được Thế Hữu trích từ “Luận
Bà Sa”, mọi vấn đề liên quan đến Đại Thiên đã được
đề cập trong luận này, do vậy khi viết “Luận Dị Bộ”
Thế Hữu không cần lập lại, ông trích dẫn bài kệ này
với mục đích, giải thích nguyên nhân dẫn đến sự chia
rẽ trong Phật giáo chính là quan điểm tà kiến của Đại
Thiên.
Ngoài
ra, trong luận này, một cách khái quát ghi lại những quan điểm
chính yếu của các bộ phái, cả Đại chúng bộ và Thượng
tọa bộ. Trong đó, quan điểm các bộ phái thuộc Đại chúng
bộ, nếu chúng ta so với quan điểm về 5 việc của Đại
Thiên có nhiều không đồng nhất, đôi khi mang tư tưởng ngược
lại với Đại Thiên, cụ thể như là quan điểm của Đại
chúng bộ về Phật Đà luận và Bồ Tát luận. Đây là điểm
mà chúng ta cần chú ý và nghiên cứu. Đây cũng chính là yếu
tố mà tôi đưa đến quan điểm, tư tưởng về 5 việc của
Đại Thiên không phải là tư tưởng cơ bản để cho các phái
Đại chúng bộ hình thành tư tưởng của mình. Các phái Đại
chúng bộ chỉ lấy tư tưởng cải cách, dám nói dám làm của
Đại Thiên, làm tấm gương để tiếp tục công việc cải
cách Phật giáo, đưa Phật giáo vào xã hội. Sự cải cách
và phát triển này, nó chính là lý do đưa đến, sự mâu thuẫn
giữa tư tưởng Đại Thiên và Đại chúng bộ. Liên quan đến
vấn đề này, chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận ở chương
năm.
-“A
Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận”
Như
chúng ta được biết, ngoài ‘Lục túc Phát trí’[5], Hữu
Bộ còn có "A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận" (Abhidhrma-mahāvibhāxa-śastra)
là một bộ luận lớn của phái Hữu bộ, luận này có đến
200 quyển, được biên tập vào bộ “Đại Chánh Tân Tu Đại
Tạng Kinh”, quyển thứ 27, số thứ tự là: 1545, được biên
tập bởi 500 vị A la hán, do ngài Huyền Trang dịch sang tiếng
Hoa vào thời nhà Đường.
Quyển
thứ 99, tức phẩm “Trí Uẩn” của luận này, các nhà Hữu
bộ đã mô tả về Đại Thiên là một con người có tánh
tình cực kỳ xấu xa và độc ác[6], không những là người
loạn luân, có hành vi quan hệ bất chính với mẹ, còn
là kẻ sát nhân giết cha giết mẹ và giết A la hán, là người
đầu tiên tạo 3 tội trong 5 tội ngũ nghịch, không những
chỉ có thế, sau khi ông xuất gia, tự cho mình là bậc A la
hán và chủ trương 5 việc với ác kiến của mình.
Nơi
đây, vì mục đích thuận tiện việc tra cứu và tìm hiểu
của độc giả, tôi dịch toàn bộ đoạn văn có liên quan
đến Đại Thiên như dưới đây:
“Ngày
xưa, nước Mathura có cặp vợ chồng người thương gia,
sanh ra được một người con trai, đặt tên là Đại Thiên
(Mahadeva), tướng mạo khôi ngô tuấn tú. Sau một thời
gian, vị thương gia này rời nhà đi đến phương khác
buôn bán làm ăn. Trải qua thời gian lâu dài, thương chủ
không trở về nhà, Đại Thiên cũng theo thời gian trưởng
thành, có sự quan hệ bất chính với người mẹ của mình.
Sau đó, nghe tin cha sắp trở về nhà, Đại Thiên lòng
sanh lo sợ, cùng mẹ lập mưu giết
cha. Sau khi tạo nghiệp ác vô gián này, sự việc càng
ngày càng được xã hội biết đến, cho nên ông cùng mẹ
chạy trốn đến ở thành Patralê (Pàtalputra). Bấy giờ
là lúc thành này làm lễ cúng dường các vị A La Hán
và Tỳ Kheo. Đại Thiên sợ mọi người biết việc của
mình nên đã lập kế giết đi vị A La Hán, tạo thành
tội vô gián thứ 2. Sau đó, ông lại thấy người mẹ
cùng người khác thông dâm, cho nên ông rất tức giận,
và nói rằng: “Ta vì người mà tạo 2 tội ác phải
sống lang thang ở xứ người, lòng chẳng an vui, nay người
lại bỏ ta theo người khác, khó chấp nhận được”.
Bấy giờ, Đại Thiên lại giết tiếp người mẹ, tạo
thành tội vô gián thứ 3.
Sau
khi tạo 3 việc ác xong, ông rất ăn năn về việc làm
của mình, lòng lúc nào cũng cảm thấy bất an, tự
nghĩ làm thế nào để tẩy sạch những tội lỗi này.
Sau đó, ông tình cờ nghe được, trong Giáo Pháp của Phật
có pháp sám hối, rửa sạch tội lỗi của mình, bèn lần
mò đến chùa Kỳ Viên, từ xa trông thấy vị Tỳ Kheo
và sau đó xin xuất gia. Vị Tỳ Kheo ấy vì quá vội vàng
không chịu tìm hiểu nguyên nhân, cho xuất gia và vẫn lấy
tên là Đại Thiên, và được truyền trao giáo pháp.
Đại
Thiên là người có bản chất thông minh, chẳng bao lâu,
ông đã tinh thông Tam Tạng kinh điển của Phật, lại có biệt
tài nói năng khéo léo, luận biện hơn người, chẳng bao
lâu ông rất được người của thành Pàtalputra ngưỡng
mộ. Rất nhiều lần, ông cũng được nhà vua cung thỉnh
vào cung nói pháp, và cung kính cúng dường.
Một
hôm, Đại Thiên nằm mộng, với sự tư duy bất chính, cho
nên ông đã xuất tinh ra quần, sau đó sai đệ tử giặt
quần áo. Khi giặt, đệ tử thấy vậ sanh nghi ngờ, bèn hỏi
Đại Thiên về việc này.
-Bậc
A la hán, các lậu đã đoạn tận, tại sao thầy lại còn việc
này?
-Các
ông không nên có sự nghi ngờ và trách móc, vì đây là những
thứ do Thiên ma quấy nhiễu. Phàm sự kiện xuất tinh có hai
trường hợp: Thứ nhất là do phiền não; Hai là chỉ là vật
bất tịnh. Sự kiện do phiền não mà xuất tinh, tất nhiên
vị A la hán không còn nữa, nhưng nếu như nó chỉ là vật
bất tịnh thì ở quả vị A la Hán vẫn còn. Tại sao? Vì A
la hán tuy rằng các lậu hoặc đã đoạn trừ, nhưng không
thể không còn việc đại tiểu tiện, không có chảy nước
mũi, đờm dãi…. Đồng thời, các ma vương thường sanh tâm
ganh tị với Phật pháp, chúng thấy những ai tu hành liền
sanh tâm phá hoại, vị A La hán cũng bị chúng phá hoại, đó
là lý do tại sao ta bị xuất tinh trong khi ngủ. Các ông không
nên có tâm hoài nghi. Đây là ác kiến thứ nhất.
Sau
đó, Đại Thiên vì muốn các đệ tử vui vẻ, không còn nghi
ngờ, liền tùy theo từng người mà thọ ký cho chúng chứng
từ quả thứ nhất cho đến quả thứ 4.
Bấy
giờ, các vị đệ tử cúi đầu bạch rằng: Các vị A la hán,
(khi chứng quả) tự mình biết mình đã chứng, tại sao chúng
con đã chứng quả, nhưng tự mình không hề hay biết?
Đại
Thiên bèn trả lời rằng, các vị A la hán vẫn còn có trạng
thái ‘vô tri’, các ông không nên có sự hoài nghi với tôi.
Vì trạng thái ‘vô tri’ có hai loại: Một là ‘nhiễm ô
vô tri’, loại nhiễm ô này, vị A la hán không còn nữa; Hai
là ‘Bất nhiễm ô vô tri, loại vô tri này, vị A la hán vẫn
còn. Do vậy, các ông không thể tự mình biết được. đây
là loại ác kiến thứ hai.
Bấy
giờ các đệ tử lại thưa rằng, chúng con từng được nghe
các vị thánh đã đoạn trừ nghi hoặc, nhưng tại sao chúng
con đối với pháp Tứ đế vẫn còn có sự nghi hoặc?
Đại
Thiên trả lời, Các vị A la hán vẫn còn sự nghi hoặc. Vì
sự nghi hoặc có hai loại: Một là thuộc về ‘tùy miên tánh
nghi’ tất nhiên A la hán đã đoạn trừ; Hai là thuộc loại
‘xứ phi xứ nghi’ ở địa vị A la hán vẫn chưa đoạn.
Các vị Độc giác, đối với loại nghi này vẫn chưa đoạn,
huống gì các ông là những bậc Thanh Văn, đối với các Đế
không còn sự nghi ngờ sao? Đây là loại ác kiến thứ
ba.
Về
sau, những đệ tử của ông, đọc các kinh, trong đó ghi rằng,
vị A la hán có tuệ nhãn, tự mình giải thoát, tự mình chứng
biết. Do đó, thưa với Đại Thiên rằng, Nếu chúng con là
những bậc A la hán, chúng con tự mình chứng biết. Tại sao
phải nhờ đến sự thọ ký của thầy mà chúng con hoàn toàn
không hề hay biết tự mình chứng đắc?
Đại
Thiên trả lời: Có những vị A la hán chứng quả, nhưng phải
do người khác chỉ điểm mới biết, tự mình không thể biết.
Như ngài Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ đệ nhất, Mục Kiền
Liên có thần thông đệ nhất, nhưng nếu Phật không thọ
ký thì 2 vị này không thể tự
mình biết chứng đắc, do vậy các ông đối với việc này,
không nên có lòng nghi ngờ. Đây là ác kiến thứ 4.
Đại
Thiên tuy đã tạo các ác kiến, nhưng các thiện căn vẫn còn,
cho nên vào giữa đêm ông suy nghĩ về những tội lỗi của
mình, lòng cảm thấy vô cùng khổ đau, miệng buông thành tiếng
‘khổ a’. Những đệ tử ở gần ông đã nghe tiếng than
khổ này, lòng cảm thấy kinh ngạc, sáng dậy bèn hỏi đại
Thiên: Thầy có an lạc không? Ông trả lời: Lòng rất an lạc.
Đệ tử bèn vặn hỏi: Tại sao đêm qua con nghe thầy than khổ?
Ông Trả lời: Đó là tiếng than của thánh đạo, ông không
nên nghi ngờ, nghĩa là thánh đạo nếu không chí thành, nói
lên tiếng ‘khổ’ thì thánh đạo khó xuất hiện, do đó
đêm qua ta đã xướng lên tiếng ‘khổ’. Đây là ác kiến
thứ năm.
Về
sau Đại Thiên kết tập 5 việc này thành bài kệ:
Dư
sở dụ、vô tri,
Do
dự、 tha linh nhập,
Đạo
nhân thinh cố khởi,
Thị
danh chân Phật giáo.
Về
sau, tại chùa Kỳ Viên, các vị Thượng tọa Tỷ kheo dần
dần vắng bóng. Vào những đêm ngày rằm, khi bố tát, Đại
Thiên thăng tòa thuyết giới, ông tự đọc lên bài kệ này.
Bấy giờ, trong chúng gồm có những bậc hữu học, vô học,
đa văn, trì giới, tu tập thiền định đều nghe ông đọc
bài kệ này, chúng tăng cảm thấy rất kinh ngạc, mắng rằng
‘kẻ ngu mới làm kệ này’, vì trong tam tạng kinh điển
của Phật chưa từng nghe câu kệ này.
Bấy
giờ, ngay đêm hôm đó, trong chúng bắt đầu sự tranh cãi
cho đến tối, càng lúc càng đông lập thành phe phái, các
quan dân trong thành khuyên can giảng hòa, nhưng không chấm đứt
sự tranh cãi. Nhà vua nghe việc này, tự thân đến chùa Kỳ
Viên, muốn rõ sự tình. Bấy giờ mỗi bên đều nêu lên ý
kiến của mình. Nhà vua nghe xong cũng tự sanh lòng nghi ngờ,
không biết ai đúng ai sai, nếu như vậy chúng ta biết tin vào
ai? Đại Thiên thưa với vua, trong Giới kinh có nói rằng: Nếu
như muốn loại bỏ việc tranh cãi, chỉ bằng cách biểu quyết,
ý kiến đa số thắng thiểu số. Vua ra lệnh chư tăng của
hai phái, nên tách rời nhau mà sống. Kết quả. Phe của các
bậc Thượng tọa trưởng lão tuy rằng hạ lạp có nhiều,
nhưng số lượng tăng ít, ngược lại phe của Đại Thiên
hạ lạp tuy nhỏ, nhưng số lượng tăng chúng lại nhiều.
Do đó, nhà vua y vào chúng của Đại Thiên, làm chuẩn cho chúng
khác, giải sự việc xong nhà vua trở về cung.
Bấy
giớ, chùa Kỳ Viên sự việc tranh cãi vẫn chưa dứt, tùy
theo ý kiến của mỗi bên, bèn phân chia thành 2 phái: Thượng
tọa bộ và Đại chúng bộ.’"[7]
Như
chúng ta đã biết, đoạn văn vừa dẫn trên, được trích
dịch từ “Luận Bà Sa" là tác phẩm thuộc hệ phái thượng
Tọa bộ, cụ thể là phái Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ. Tất
nhiên, chúng ta xem nó như là cái nhìn của các nhà Hữu Bộ
đối với nhân vật và tư tưởng của Đại Thiên.
Nhưng
sự thật về Đại Thiên như thế nào? Theo cái nhìn mang
tính cá nhân, tôi không xem đó như là một văn bản chính
thức ghi chép về Đại Thiên, chúng ta chỉ có thể xem đó
là quan điểm hay nói đúng hơn là lời phê bình của phái
Hữu Bộ về Đại Thiên mà thôi, trong đó không làm sao tránh
khỏi cái nhìn mang tính chủ quan, đứng trên lập trường
quan điểm của mình phê phán phái khác. Một điểm quan trọng
mà chúng ta cần chú ý là sự phân chia Phật giáo thành 2 bộ
phái chính là sự bất đồng tư tưởng giữa 2 phái Thượng
tọa bộ và Đại chúng bộ, do vậy chúng ta cần thận trọng
khi sử dụng nguồn tư liệu của phái Thượng tọa bộ để
tìm hiểu về nhân vật Đại Thiên và tư tưởng của ông.
Qua
những nguồn tư liệu này, nếu như chúng ta đứng từ góc
độ là một tín đồ thuần thành, lấy niềm tin làm gốc,
hoặc chúng ta không có kiến thức về sự kiện phân phái
Phật giáo Ấn Độ, thì chúng ta sẽ rất dễ dàng chấp nhận
và đồng tình với những gì đã được trình bày trong luận
này, nhất là luận này được biên tập do 500 vị A la hán,
không phải là những người bình thường phàm phu như chúng
ta., thì chúng ta sẽ chấp nhận những gì ghi chép trong luận
này. Đại Thiên quả là người vô cùng độc ác, không những
loạn luân với mẹ, còn phạm tội nghịch giết cha, giết
mẹ và giết A la hán, không những chỉ có thế, sau khi xuất
gia, vì muốn bào chữa che đậy lỗi lầm (tự cho mình đã
chứng A la hán) của mình mà ông đã đưa ra 5 ác tà kiến.
Chính những điều xấu xa sai lầm đó đủ để chứng minh
ông không phải là bậc A la hán. Đây là nội dung và ý nghĩa
mà các nhà Hữu bộ mô tả về Đại Thiên hay nói đúng hơn
con người và quan điểm của Đại chúng bộ là như thế.
Thế
nhưng, nếu chúng ta không phải là một tín đồ, cũng không
đứng trên lập trường của một tông phái nào, tôn trọng
sự thật của chân lý, lấy tinh thần nghiên cứu khoa học
làm chuẩn thì chúng ta sẽ có cái nhìn và đánh giá khác về
sự ghi chép của luận này. Lý do vì:
Thứ
nhất, xác định nguồn tư liệu này vốn là nguồn tư liệu
của Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ là một bộ phái lớn của
Thượng tọa bộ, cũng là phái cật lực phản đối tư tưởng
của Đại chúng bộ;
Thứ
hai, Theo tinh thần giáo dục của Phật giáo, ý nghĩa giáo dục
của đức Phật là giáo dục những người có phiền não,
làm ác …để khiến cho họ trở về con đường chân chánh,
và đạt đến mục đích giác ngộ và giải thoát. Điều này
mang ý nghĩa xác định rằng, đối tượng giáo dục của đạo
Phật là người bất thiện, người chưa giải thoát. Có nghĩa
là Phật giáo giúp cho người làm việc bất thiện trở thành
người thiện, giúp cho người còn khổ đau được giải thoát.
Nếu như đây là ý nghĩa giáo dục của Phật giáo thì vấn
đề Đại Thiên trước khi xuất gia là một người làm ác,
sau khi xuất gia là một người tốt chứng quả A la hán là
hai vấn đề khác nhau, không thể căn cứ việc làm ác của
ông trước đó, làm bằng chứng và đến kết luận rằng
ông không phải là người chứng quả, hay kết tội ông là
người có chủ tà kiến với Phật pháp.
Thứ
tư, các nhà Hữu bộ khi giải thích lý do tại sao Đại Thiên
được nhà vua kính trọng mời vào cung đình để thuyết pháp,
thì cho rằng ông là người thông minh lanh lợi, tinh thông Tam
tạng kinh điển, nhưng khi giải thích lý do tại sao ông chủ
trương 5 ác kiến thì ngược lại các nhà Hữu Bộ lại mô
tả về Đại Thiên là một con người ngược lại vụng về
ngu si. Thế thì tại sao có sự mâu thuẫn này, phải chăng
các nhà Hữu Bộ đã có ácý với Đại Thiên, và cố tình
bóp méo vấn đề, tự dựng lên một hình ảnh về Đại Thiên
không mấy tốt đẹp. Đây là điểm mâu thuẫn mà “Luận
Bà Sa” khi mô tả về Đại Thiên.
Từ
những điểm này, nó gợi ý cho chúng ta thấy rằng, những
gì được ghi chép về Đại Thiên và 5 việc của ông trong
“Luận Bà Sa” không mang tính khách quan, các nhà Hữu Bộ
đứng trên lập trường tư tưởng của Thượng Tọa bộ,
phê phán Đại chúng bộ. Có thể nói đây là những nghi vấn
cần thiết cho việc tìm hiểu về Đại Thiên và tư tưởng
về 5 việc của ông.
Tuy
nhiên, qua sự ghi chép của luận này, trong đó có khá nhiều
điểm có liên quan đến quan điểm tư tưởng của Đại Thiên,
như Đại Thiên gọi A la Hán vẫn còn ‘bất tịnh lậu thất’
không phải là ‘phiền não lậu thất’; A la Hán vẫn còn
‘bất nhiễm ô vô tri’ không phải là ‘nhiễm ô vô tri’…Có
thể nói đây là dấu tích để chúng ta truy tìm quan điểm
tư tưởng của Đại Thiên.
b.
Tác phẩm “Kathāvatthu” và “Kathāvatthu-ahakathā”
Theo
lời tựa của luận này ghi rằng, tác phẩm “Kathāvatthu”
là quyển thứ 5 trong 7 bộ luận[8] quan trọng của Thượng
tọa bộ, do Tôn giả Mục Liên Tử Đế Tu (Moggaliputta-tissa)
biên tập, vào thời Vua A Dục (Aśoka) với mục đích phân
biệt rõ giữa tà thuyết và chánh thuyết, vì dưới thời
vua A Dục vương Phật giáo rất hưng thịnh, do vậy các tà
ma ngoại đạo có ý đồ bất chính xâm nhập vào Phật giáo.
Tác phẩm này được phân làm 2 quyển, với nội dung gồm
có 23 phẩm, 216 chương. Phẩm thứ 2 từ chương 1 cho đến
chương 6 là chuyên đề thảo luận về 5 việc của Đại Thiên,
cách biên tập của luận này là hình thức vấn đáp, tức
một bên hỏi và một bên trả lời, nhưng không ghi rõ là
phái nào hỏi và phái nào trả lời, rất dễ sanh nhầm lẫn.
Tác phẩm “Kathāvatthu” thảo luận đến 5 việc của Đại
Thiên, nhưng không đề cập đến lai lịch của Đại Thiên,
cũng không đề cập đến sự kiện phạm 3 tội nghịch. Tác
phẩm “Katthāvatthu-atthākathā” là bản được ngài Phật
Âm (Buddhaghosa) chú giải bản “Katthāvatthu”.
Nội
dung ‘Phẩm thứ 2’ từ chương 1 đến chương 6 trong luận
này, các nhà Thượng tọa bộ đứng trên lập trường của
mình bằng hình thức là những câu hỏi ‘móc câu’ cật
vấn đối phương là phái Đại chúng bộ, để phản bác tư
tưởng về 5 việc của Đại Thiên. Nhưng qua cách thảo luận
này, nó lại gợi ý cho chúng ta thấy được mặt trái của
vấn đề, phát hiện có nhiều nghi vấn trong cách thảo luận
ấy. Cuộc thảo luận giữa 2 phái là cuộc thảo luận bất
bình đẳng, vì trong suốt thời gian thảo luận, Thượng tọa
bộ luôn luôn đứng vào thế thượng phong, luôn luôn là người
đặt nghi vấn, ngược lại phía Đại Chúng bộ luôn luôn
ở vào thế bị động, chỉ được quyền trả lời một trong
hai cách là 'có' hay 'không', và cũng không được lý giải
tại sao trả lời ‘có’ hay ‘không’. Mặt dù trước sức
ép của đối phương như vậy, nhưng Đại chúng bộ vẫn giữ
vững lập trường, không vì một lý do gì mà thay đổi quan
điểm của mình. Sự cương quyết này mang ý nghĩa gì? Lý
do tại sao? Quan điểm chính của vấn đề ờ đâu? Đó là
vấn đề mà người làm công tác nghiên cứu phải tìm hiểu
và lý giải.
Qua
cách thảo luận như vậy, tôi đặt hoài nghi rằng, phải chăng
Thượng tọa bộ khi biên tập bộ luận này đã cố ý cắt
bỏ phần lý giải của Đại chúng bộ với mục đích làm
lu mờ quan điểm của đối phương để làm nổi bật ý kiến
của mình không? Nếu đây là sự thật thì chúng ta căn cứ
vào nguồn sử liệu nào làm sáng tỏ và trả lại tư tưởng
vốn có của Đại Thiên? Đây là vấn đề thú vị cho chúng
ta tìm hiểu, nó cũng chính là trọng tâm thảo luận của bài
viết này.
Do
vì căn cứ vào những nguồn tư liệu của Thượng tọa bộ
này, phần lớn các nhà nghiên cứu thường đi đến kết luận
Đại Thiên là người có tà kiến, hung bạo và dã man.
Từ đó, phê bình và đánh giá tư tưởng của Đại Thiên
thiếu thái độ khách quan. Hoặc ngược lại, có một số
người nghiên cứu có khuynh hướng thiên về Phật giáo Đại
Thừa[9], chỉ đơn giản dựa vào tình cảm và niềm tin của
mình, phủ nhận quan điểm của các nhà Hữu bộ trong luận
“Bà Sa”, nhưng hoàn toàn thiếu luận chứng, cách lý giải
như vậy, không đủ sức thuyết phục và làm sáng tỏ vấn
đề. Một cách khách quan mà nói, cả hai phương pháp nghiên
cứu này thật nguy hiểm, một bên là có căn cứ tư liệu,
nhưng lại thiếu sự phân tích, còn một bên chỉ dựa vào
niềm tin và tình cảm của mình để lý giải vấn đề. Cách
làm việc như vậy, tôi cho rằng, rất tùy tiện và nguy hiểm.
Để lý giải vấn đề này, theo tôi, chúng ta cần nổ lực
truy tìm lý do tại sao Đại Thiên kiên quyết giữ vững lập
trường của mình, có sự dị biệt nào giữa tư tưởng của
ông với những khái niệm mà các nhà Thượng tọa bộ đưa
ra? và tư tưởng của ông dựa vào đâu mà hình thành? Đây
chính là lý do tại sao tôi đưa ra nguồn tư liệu của kinh
điển A hàm để lý giải vấn đề này.
c.
Kinh điển Āgama là cơ sở để hình thành tư tưởng của
Đại Thiên
Trước
hết, khái niệm Āgama mà tôi xử dụng ở đây không phải
giới hạn chỉ cho kinh điển A hàm của Bắc truyền mà bao
hàm cả kinh tạng Nikāya, vì từ Āgama này mang ý nghĩa, những
gì mà đức Phật giảng dạy trong suốt 45 hay 49 năm, ngay trong
thời gian ngài còn tại thế cho đến khi ngài nhập diệt và
mãi đến trước khi có cuộc kết tập kinh điển lần thứ
III, những lời Phật dạy chỉ dùng ký ức để nhớ và truyền
trao cho nhau bằng miệng (khẩu truyền)[10], trong thời kỳ này
những lời Phật dạy được gọi là Āgama, tức là trước
có sự kiện nhà vua A Dục (Aśoka) mời ngài Mục Liên Đế
Tu (Moggaliputta-tissa) chủ trì, cùng với 1000 vị tỷ khưu tiến
hành kết tập kinh điển bằng văn tự[11]. Vì sao tôi sử
dụng khái niệm này? Lý do là tôi thấy trong A hàm lẫn kinh
điển Nikāya cụ thể là ‘Kinh Đa Giới’ trong “Kinh Trung
A Hàm”[12] tương đương với ‘Kinh Đa Giới’(Bahudhatukasuttam)
trong “Kinh Trung Bộ”[13] và “Kinh Tăng Chi Bộ”[14] đã
đề cập đến 5 tội nghịch. Trong 5 tội nghịch này, 3 tội
đầu là giết cha giết mẹ và giết A la hán là 3 tội của
Đại Thiên và 2 tội cuối cùng, làm thân Phật chảy máu và
phá hòa hợp tăng là của Đề Bà Đạt Đa (Devadatta). Như
vậy, nó gợi ý cho chúng ta hiểu một điều là, sự xuất
hiện nhân vật Đại Thiên phải trước khi sự kiện kết
tập Kinh điển Phật giáo hay tối thiểu gì cũng phải trước
khi kết tập các kinh “Trung A Hàm” hay “Trung Bộ”, nếu
như chúng ta cho rằng, “kinh Tương Ưng Bộ” hay “Kinh Tạp
A Hàm” là những bản kinh bằng văn tự được xuất hiện
sớm nhất trong Phật giáo. Nếu như Đại Thiên xuất hiện
trước sự kiện kết tập kinh điển của ngài Mục Liên Đế
Tu thì việc Đại Thiên căn cứ từ đâu mà hình thành tư
tưởng của mình. Câu trả lời đó là căn cứ từ Āgama.
Đây chính là cách lý giải của tôi đối với vấn đề này.
Cùng
thảo luận liên quan đến vấn đề tư tưởng của Đại Thiên,
riêng tôi có cái nhìn không giống như những người nghiên
cứu trước đây, lý do chủ yếu chính là cách sử dụng
tư liệu không giống nhau, xuất phát từ đó, nó đã gợi
ý và cho phép tôi có cái nhìn mới về nhân vật lịch sử
này. Trong khi nghiên cứu về Phật giáo Nguyên thủy qua các
kinh tạng Nikāya và A hàm, tình cờ tôi phát hiện, trong đó
có nhiều kinh có liên hệ trực tiếp đến tư tưởng của
Đại Thiên, có thể nói, nó là cơ sở để cho Đại Thiên
hình thành tư tưởng của mình, tối thiểu là 4 việc đầu
trong 5 việc. Nếu như chúng ta xem việc xuất tinh trong khi ngủ
là vấn đề tự nhiên của con người thì chúng ta cũng nên
chấp nhận sự xuất tinh của vị A la hán trong khi ngủ cũng
là vấn đề tự nhiên, vì A la hán cũng là con người; Để
lý giải vấn đề này, Đại Thiên đã đưa ra tư tưởng A
La hán vẫn còn 'vô tri', hay nói đúng hơn là trạng thái 'bất
nhiễm ô vô tri', không phải là 'nhiễm ô vô tri', sự khác
biệt giữa hai khái niệm này là, cái gọi là 'bất nhiễm
ô vô tri' là sự ‘vô tri’ (không biết) không liên hệ đến
vô minh, ví dụ khi chúng ta ngồi trong phòng chú tâm đọc sách,
có con chim bay trong bầu trời, ta không hề hay biết về con
chim ấy. Sự không hay biết này, nó không đồng nghĩa với
không có khả năng hiểu biết, không phải xuất hiện từ
vô minh, chỉ là trạng thái vô ký của tâm, cái gì được
xuất hiện từ trạng thái vô ký thì nó không mang lại kết
quả thuộc thiện hay ác. Trạng thái không biết này Đại
Thiên gọi là 'bất nhiễm ô vô tri'; Ngược lại trạng thái
'nhiễm ô vô tri' là trạng thái có liên hệ đến vô minh,
ví dụ như khi ta uống rượu mà không biết sự nguy hiểm
của rượu, sự không biết này không thể gọi là 'bất nhiễm
ô vô tri' mà là 'nhiễm ô vô tri', vì nó thuộc về vô minh.
Cũng vậy, trong lúc ngủ, ý thức hoạt động theo quán tính
tự nhiên, không có sự phân biệt của ý thức. Cách lý giải
này của Đại Thiên không phải là không có cơ sở. Cơ sở
mà ông xây dựng tư tưởng chính là 'Kinh Tư' trong "Kinh Trung
A hàm", như đã được đức Phật đã dạy: "Nếu kẻ nào
cố ý tạo nghiệp, Ta nói rằng, kẻ ấy phải thọ quả báo...,Nếu
tạo nghiệp mà không cố ý, Ta nói rằng người ấy chắc
chắn không phải thọ quả báo"[15], và kinh 'Tiểu Kinh Khổ
Uẩn' (Cùladukkhakkhandhasutta) trong "Kinh Trung Bộ", với nội
dung đức Phật phủ nhận mình là người có ‘Nhứt Thiết
Trí, Nhứt Thiết Kiến’[16], vì theo định nghĩa của phái
Kỳ na giáo, người có nhứt thiết trí và nhứt thiết kiến
là người trong lúc đi đứng nằm ngồi, và thậm chí trong
lúc ngủ, người đó vẫn ở trong trạng thái tỉnh thức.
Nguyên nhân đức Phật phủ nhận ở đây chính là ngài phủ
nhận sự tỉnh thức trong lúc ngủ, điều này đồng nghĩa
với tư tưởng 2 việc đầu của Đại Thiên, đồng thời
phù hợp nội dung tư tưởng của ' Kinh Tư '. Qua những chứng
cứ cụ thể này, chúng ta có đủ lý do để phản bác tư
tưởng cho rằng, quan điểm của đại Thiên là phi Phật pháp,
điều đó minh chứng tư tưởng của Đại Thiên là căn cứ
nguồn tư liệu A hàm hay Nikàya.
Như
vậy, có đúng chăng nếu chúng ta lấy nguồn tư liệu
của Thượng tọa bộ làm điểm căn cứ, để phê phán và
đánh giá nhân vật Đại Thiên? Nếu như Đại Thiên là người
như “Bà Sa” mô tả, đó chỉ là sự kiện trước khi ông
xuất gia theo Phật, không phải là sự kiện sau khi ông xuất
gia, như vậy chúng ta không lấy nó làm bằng chứng để phê
phán tư cách đạo đức của Đại Thiên ở giai đoạn sau
khi ông đã ăn năn sám hối xuất gia theo Phật. Hai sự kiện
đều giống nhau, nhưng tại sao chúng ta chấp nhận và ca ngợi
vua A Dục, nhưng lại không chấp nhận thậm chí còn chế
nhạo Đại Thiên? Trước khi vua A Dục đến với Phật
giáo, ông là một người cực ác, chính bàn tay ông đã
giết 500 cung phi, chỉ vì tỏ thái độ không thích nhà vua[17],
và còn biết bao nhiêu chuyện khác nữa, cho nên được gọi
ông là ‘Hắc A Dục”, nhưng sau khi nhà vua quy y theo Phật,
ông trở thành người tốt, biết ăn năn hối cãi lỗi
lầm của mình, biết làm phước thiện, cho nên gọi ông là
‘Bạch A Dục’. Thế thì tại sao chúng ta chấp nhận vua
A Dục lại không chấp nhận Đại Thiên? Sự kiện Đại Thiên
vi phạm 3 tội nghịch và loạn luân với mẹ, nếu như
đó là sự thật, tất cả những việc đó đều xảy
ra trước khi ông xuất gia, không phải trong thời gian ông
xuất gia. Hơn nữa, 5 việc mà Đại Thiên chủ trương, tại
sao chúng ta cứ theo cách giải thích của các nhà Hữu
bộ, hay sự ghi chép không công bằng qua tác phẩm Kathàvatthu
của Thượng tọa bộ, lấy đó làm cứ điểm để phê bình
và đánh giá về ông? Tại sao chúng ta không y cứ vào tư
tưởng A Hàm hay Nikàya để giải thích về 5 việc của
Đại Thiên? Cách làm như vậy có công bằng và hợp lý chăng?
Nói
như thế, không có nghĩa là tôi phủ nhận giá trị văn
bản của 2 nguồn tư liệu này, cũng không phải phủ nhận
thành quả nghiên cứu của những người nghiên cứu trước
đây, có thể nói những thành tựu nghiên cứu đó đáng
được trân trọng và xem đó như là cơ sở cho quá trình
đi tìm sự thật về Đại Thiên, nhưng tôi không xem đó
như là một chân lý tuyệt đối, xem các nhà nghiên cứu
như bậc Thánh, và đặt mình như những con người ngoan đạo.
Với tư cách là người làm công tác nghiên cứu, chúng ta cần
có thái độ lắng nghe và tìm hiểu ý kiến của những người
đi trước. Nhưng sự thật của lịch sử như thế nào, điều
đó không tùy thuộc vào vấn đề trước hay sau, Đông hay
Tây, lớn hay nhỏ....mà hoàn toàn tùy thuộc vào kiến thức
và cách xử lý của nhà nghiên cứu đối với chủ đề nghiên
cứu, có nắm bắt được tư liệu hay không và sử lý tư
liệu có hợp lý hay không. Nếu chúng ta không chấp nhận nguyên
tắc này, thì công việc nghiên cứu trở thành giáo điều,
và chắc chắn thành quả nghiên cứu đó không có tính khoa
học, và rất là sai lầm khi chúng ta quá đề cao đức tin
trong lãnh vực nghiên cứu, và xem nhẹ vai trò tri thức.
2.
Có một hay hai nhân vật Đại Thiên?
Các
nhà nghiên cứu về Ấn Độ học đều cho rằng, người Ấn
có thói quen xem nhẹ vấn đề thời gian, do vậy cách ghi chép
của người Ấn rất tùy tiện, điều đó dẫn đến một
số vấn đề nan giải cho giới nghiên cứu khi gặp những
sự kiện liên quan đến sử học. Ở đây cụ thể là nhân
vật Đại Thiên (Mahādeva). Lý do nào đưa sự nghi ngờ cho
giới nghiên cứu đặt ra nghi vấn: Có một hay hai nhân vật
Đại Thiên? Nguồn gốc của nghi vấn này được xuất hiện
từ tác phẩm "Dị Bộ", vì trong tác phẩm của mình Thế Hữu
(Vasumitra) đã đưa ra 2 nhân vật có chung một tên gọi, và
cùng một chủ trương, nhưng khác nhau về niên đại như sau:
“Được
nghe lại như thế này: Sau khi Đức Phật nhập diệt hơn
100 năm, là thời gian cách Phật đã xa, Phật pháp cũng theo
đó dần dần bị mai một, như mặt trời lặn dần sau núi.
Có vị vua tên là Vô Ưu (A Dục) ở tại thành Cu Tô Ma, nước
Ma Kiệt Đà đang thống trị cõi Thiệm Bộ Châu, được che
lọng trắng, thần dân vây chung quanh. Bấy giờ, Phật pháp
bị Đại chúng chia rẽ lần đầu tiên. Lý do vì 4 chúng có
ý kiến bất đồng cùng nhau tranh luận về 5 việc của
Đại Thiên…”[18]
Nhưng
sau đó Thế Hữu lại viết:
“Đúng
vào năm thứ 200 năm (sau khi Phật nhập diệt), có một người
ngoại đạo bỏ tà quy chánh xuất gia, cũng có tên là
Đại Thiên, được Đại chúng bộ cho xuất gia và thọ giới.
ông là người rất thông minh lại rất siêng năng tu học,
trú tại Chế Đa Sơn, cùng với Đại Chúng bộ hoằng dương
5 việc của Đại Thiên."[19].
Qua
2 sự kiện vừa nêu, một cách rõ ràng Thế Hữu đã
đề cập đến 2 nhân vật Đại Thiên, cả 2 người cùng
chủ trương 5 việc và cùng có tên Đại Thiên (Mahādeva).
Theo tác phẩm này ghi, nhân vật thứ nhất xuất hiện
sau khi đức Phật nhập diệt vào khoảng hơn 100 năm, tức
vào niên đại của vua A Dục[20] (Asoka lên ngôi năm 268 TCN
mất năm 230) thế kỷ thứ III trước công nguyên; Và nhân
vật thứ 2 xuất hiện đúng vào năm sau khi Phật nhập
diệt 200 năm. Như vậy, sự khác biệt giữa 2 nhân vật
này là sự khác nhau về niên đại, tức cách nhau gần 100
năm. Nhân vật đầu là người đưa ra 5 việc, tạo thành sự
chia rẽ trong cộng đồng Tăng già (saṁgha) thành 2 phái Thượng
tọa bộ (Sthavira) và Đại chúng bộ (Mahāsāṁghika), và người
thứ hai là người ở tại núi Chế đa. Theo các học giả
cho rằng, ông cũng là người khai sơn phái Chế Đa Sơn Bộ
(Caitya) là một trong 9 Bộ phái[21] của Phật giáo thuộc Đại
Chúng Bộ.
Thế
nhưng, dẫu rằng Thế Hữu có đề cập 2 nhân vật Đại Thiên
cùng tên và cùng chủ trương 5 việc, nhưng nếu chúng ta đọc
kỹ lời tường thuật của Thế Hữu thì nó cho chúng ta thấy
rõ, Đại Thiên sau chỉ là người kế thừa hoằng dương tư
tưởng của Đại Thiên đầu mà thôi, không phải là người
đưa ra 5 việc. Như vậy, Đại Thiên sau chúng ta chỉ xem ông
như là người nhận lãnh trách nhiệm truyền thừa tư tưởng
mà thôi, nhưng có lẽ vì ông quá thần tượng ngưỡng mộ
tư tưởng của Đại Thiên, và xem như là người thầy của
mình, cho nên ông cũng tự xưng mình là Đại Thiên. Có lẽ
điều này hợp lý vì theo truyền thống Ấn văn hóa Ấn Độ
lấy họ của người mẹ đặt tên cho con, như trường hợp
tên của ngài Sāriputra, từ này được ghép lại bởi hai từ
là Sāri và putra. Sāri vốn là họ của người mẹ và putra
có nghĩa là con, như vậy từ Sāriputra có nghĩa là người
con của bà Sāri. Cũng vậy, khi Phật giáo truyền đến Trung
Quốc, những người theo đạo Phật vì lòng kính ngưỡng đức
Thế Tôn, vì để biểu lộ tình cảm đó cho nên mọi người
xuất gia cũng đều lấy giòng tộc Sākyas (Thích) làm giòng
tộc cho những người xuất gia.
Như
vậy, đối với câu hỏi có một hay hai Đại Thiên? Theo tôi
chỉ có một Đại Thiên, nhưng lý do phát sinh sự hiểu nhầm
này, có lẽ do vì truyền thống văn hoá Ấn Độ quá phức
tạp, đồng thời người Ấn lại xem nhẹ góc độ sử học,
tất cả những yếu tố đó có thể tạo thành sự nhẫm lẫn
cho chúng ta.
[1]
Như trong kinh điển Nikāya và A hàm thường mô tả đức Phật
là người có 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp. Ngược lại trong
“Kinh Kim Cương” lại nói rằng: “Nhược dĩ sắc kiến
ngã, dĩ âm thinh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng
kiến Như Lai.”. Như vậy, tư tưởng không câu nệ hình thức
là tư tưởng của Đại Thiên.
[2]
Lý do mà tôi đưa ra quan điểm này, vì trên thực tế trong
nguồn tư liệu Nikāya có nhiều kinh đề cập đến 5 tội
ngũ nghịch, trong đó 3 tội giết cha, giết mẹ, giết A la
hán chính là Đại Thiên. Ví dụ: ‘Kinh Đa Giới’ trong “Kinh
Trung Bộ” tập 3 trang 223~224 ghi rằng: “Sự kiện này không
thể xảy ra, không thể hiện hữu, khi một người thành tựu
chánh kiến, có thể giết sinh mạng của người mẹ…có thể
giết sinh mạng của người cha…có thể giết sinh mạng A
la hán…”, ngoài ra còn nhiều kinh khác nữa.
[3]
Theo “Phật Quang Từ Điển” giải thích, Thế Hữu tiến
Phạn gọi là Vasumitra, được người Hoa dịch âm là Bà
Tu Mật Đa, Hòa Tu Mật Đa…còn có tên là Thiên Hữu, là vị
tổ của phái Thuyết nhứt thiết hữu bộ. là nhân vật vào
Thế kỷ thứ I, II Sau CN, là người Bắc Ấn Độ, thuộc nước
Kiên Đà La, Vào thời vua Ca Nị Sắc Ca ông là người lãnh
đạo 500 vị A la hán kiết tập lần thứ 4 tại Ca Thấp Di
La…
[4]
“Luận Dị Bộ” Đại Tạng 49, số: 2031, trang 15a.
[5]
‘Lục túc Phát trí’ chỉ cho 7 bộ luận cơ bản của Hữu
bộ. ‘Lục túc’ là 6 chân tức chỉ 6 bô luận: 1. “A Tỳ
Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Luận” (Abhidharma-dharma-skandha-pāda),
2. “A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Môn Túc Luận” (Abhidharma-dharma-skandha-pāda),
3. “A Tỳ Đạt Ma Thi Thiết Luận”(Abhidharma-prajóapti-pāda),
4. “A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận” (Abhidharma-prakaraṇa-pāda),
5. “A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận”(Abhidharma-dh ātu-kāya-pāda),
6. “A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận”(Abhidharma-vijóāna-kāya-pāda)
và ‘Phát trí’ tức chỉ cho cái thân là: “A Tỳ Đạt Ma
Phát Trí Luận”(Abhidharma-jóāna-prasthāna-śāstra). Đây là
7 bộ luận cơ bản của phái Thuyết nhứt thiết hữu bộ.
[6]
Ấn Thuận “Hoa Vũ Tập” Q.4 NXB Chánh Văn, Taipei, 1999,
trang. 217
[7]
“Luận Bà Sa”, quyển 99, ĐT 27.
[8]
1. “Pháp Tập Luận”(Dhammasangaöi), 2. “Phân Biệt Luận”Vibhanga),
3. “Giới Luận”(Dhātukathā), 4. “Nhân Thi Thiết Luận”(Puggalapaóóatti),
5. “Luận Sự”(Kathāvatthu), 6. “Song luận”(Yamaka), 7. “Phát
Thú Luận”(Paææhāna).
[9]
Xin tham khảo, Pháp sư Diễn Bồi, “Dị Bộ Tôn Luân Luận
Ngữ Thể Thích” Taipei, NXB Thiên Hoa 1974, trang 33~36; Pháp sư
Thánh Nghiêm “Ấn Độ Phật Giáo Sử”, Taipei, NXB Pháp Cổ
Sơn, 1997, trang 95~99.
[10]
Pháp Sư Ấn Thuận, “Nguyên Thủy Phật Giáo Thánh Điển chi
Tập thành” Taipei, NXB Chánh Văn, trang 14~18
[11]
“Đại Vương Thống sử”(Mahāvamsa) Hán dịch Nam Truyền
Đại Tạng Kinh, tập 65, trang 53.
[12]
Viện CĐPHVHĐNT dịch, “Kinh Trung A Hàm” tập 4, Viện NCPHVN
ấn hành, 1992, trang 126.
[13]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 3, VNCPHVN ấn hành,
2001, trang 223~224.
[14]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tăng Chi Bộ” tập 1, TCCPHVN ấn
hành, 1988, trang 37.
[15]
Viện CĐPHHĐ Nha Trang dịch, “Kinh Trung A Hàm” tập 1,VNCPHVN
Ấn hành, 1992, trang, 137.
[16]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” Tập 1, VNCPHVN Ấn hành,
1993, trang.213.
[17]
HT. Thiện Siêu và Thanh Từ dịch, “Kinh Tạp A Hàm” tập
2, ‘Kinh 604’ Viện NCPHVN ấn hành, 1994.
[18]
Thế Hữu, “ Dị Bộ” ĐT 49, số: 2031, trang.15a.
[19]
Thế Hữu, “ Dị Bộ” ĐT 49, số: 2031, trang.15b.
[20]
Theo André Bareau, Pháp Hiền dịch, “Các bộ phái Phật giáo
Tiểu thừa” NXB Tôn Giáo-Hà Nội, cho rằng: “ …Cũng theo
các nguồn tư liệu ấy, sự kiện này diễn ra ở Pātaliputra
trong nửa đầu thế kỷ thứ II sau Phật nhập diệt; và các
tư liệu Chính Lượng Bộ, do Bhavya ghi lại, còn xác định
hẳn là: Vào năm 137 sau Niết bàn, dưới triều đại các vua
Nanda và Mahāpadma, tức vào khoảng năm 343 (=480~137) trước
Tây lịch.” (trang 54).
[21]
1. Đại Chúng Bộ(Mahāsāṁghīka), 2.Nhứt Thuyết Bộ (Ekavyavahārikā),
3. Thuyết Xuất Thế Bộ (Lokottaravādin), 4. Kê Dẫn Bộ (Kukkuæika),
5. Đa Văn Bộ (Bahuśrutya), 6. Thuyết Giả Bộ (Prajóātivādin),
7. Chế Đa Sơn Bộ (Caitika), 8. Tây Sơn Trụ Bộ (Aparaśaila),
9. Bắc Sơn Trụ Bộ (Uttaraśaila).