CHƯƠNG
III
Nội
dung tư tưởng về 5 việc của Đại Thiên
Sau
khi Đức Phật nhập diệt, Phật giáo cũng theo thời
gian và không gian không ngừng phát triển. Việc tu tập
thiền quán và sống đời sống độc cư trong rừng núi
của Phật giáo nguyên thủy, giờ đây đã phải nhường lại
cho đời sống tích cực, vì xã hội dấn thân, thực thi tinh
thần Bồ tát hạnh là nhu cầu cần thiết cho Phật giáo
đương thời, lấy thế gian làm mục tiêu phục vụ, đưa Phật
giáo vào xã hội, đó là phương châm và hành động của Phật
giáo phát triển. Sự khác biệt giữa Phật giáo nguyên thủy
và Phật giáo phát triển chính là sự thay đổi môi trường
sống, sự thay đổi môi trường sống chính là nguyên nhân
dẫn đến giới luật và tư tưởng đổi thay. Chúng ta muốn
tìm hiểu nguồn gốc của sự thay đổi này, chúng ta không
thể không đề cập đến chính sách lấy Phật giáo làm quốc
giáo của nhà vua A Dục (Asoka). Vì để ổn định xã hội,
do vậy sau khi thống nhất đất nước, nhà vua lập tức lấy
Phật giáo làm tôn giáo chính của xã hội Ấn Độ, nhằm
giúp cho nhà vua thực thi chính sách thống nhất và phát triển
xã hội của mình. Một trong những lý do chính đáng nhà vua
thực thi chính sách như vậy, vì chính là tính ôn hoà bao dung
và sẵn lòng tha thứ của Phật giáo và điểm nổi bật nhất
là Phật giáo đề cao vai trò trí tuệ, cho rằng mọi niềm
đau khổ của con người là do thiếu hiểu biết, và ngược
lại sự hiện diện của trí tuệ là yếu tố để mang lại
một đời sống an lạc và hạnh phúc cho con người, đó là
nhân tố chủ yếu làm cho xã hội phát triển mà nhà vua đã
thấy được trong Phật giáo. Qua đó, chúng ta thấy đó là
một trong những lý do chính để chuyển đổi hình thức
sinh hoạt của Phật Giáo Nguyên Thủy thành Phật Giáo
Đại thừa. Đời sống độc cư thiền định trong rừng
núi, giờ đây đã bắt đầu chuyển sang đời sống
định cư ngay trong lòng xã hội, và lấy sự nghiệp hoằng
pháp lợi sanh làm mục đích, như kinh điển Đại thừa thường
đề cao vai trò Bồ tát hạnh. Từ sự khác nhau về hình
thức sinh hoạt của tăng đoàn dần dần đã dẫn đến sự
thay đổi về giới luật và ngay cả tư tưởng, sự tranh
cãi về 5 việc của Đại Thiên và 'thập sự phi pháp' là
một chứng minh cụ thể.
Mục
đích của sự phát triển Phật giáo là để thích nghi đáp
ứng nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó
không làm sao tránh khỏi mặt tiêu cực của nó. Một trong
những bản kinh được kết tập sớm nhất trong Phật giáo
ghi lại, có khá nhiều trường hợp xuất gia với mục đích
không chân chính[1]. Đồng thời, sự thay đổi bối cảnh sinh
hoạt của tăng già có ảnh hưởng đến lối suy tư và cách
lý giải lời Phật dạy. Phải chăng đó là yếu tố để
dẫn đến sự bất đồng chính kiến giữa hai phái Thượng
tọa bộ và Đại Chúng bộ về quả vị A la hán?
Liên
quan đến vấn đề này, tác phẩm “Luận Dị Bộ” ghi chép
rằng, nội dung tranh luận giữa hai phái Thượng tọa bộ
và Đại chúng bộ chính là 5 việc của Đại Thiên. 5 việc
đó gồm có: Dư sở dụ, Vô tri, Do dự, Tha linh
nhập, Đạo nhân thinh cố khởi. Đây là 5 việc có liên
quan đến quả vị của bậc A la hán.
Tác
phẩm này Thế Hữu lấy lý do: Bởi vì Đại Thiên đưa
ra 5 việc cho nên tăng đoàn đã phân chia Phật giáo thành
2 phái. Nhưng bản thân tác phẩm này không đưa ra một
lời giải thích tại sao Đại Thiên đưa ra 5 việc này,
đồng thời không giải thích ý nghĩa và tư tưởng 5 việc
ấy như thế nào, có lẽ đây chỉ là bài kệ tóm tắt được
trích dẫn từ tác phẩm “Luận Bà Sa” Quyển thứ 99, như
chúng ta đã được giới thiệu ở phần trên. Ngoài 2 tác
phẩm của nguồn tư liệu Bắc truyền này, chúng ta còn thấy
5 việc này được ghi lại trong tác phẩm “Kathàvattthu”
và bản chú giải “Kathàvatthu-atthakathà”. Nếu chúng ta đem
2 nguồn tư liệu giữa Nam Bắc truyền so sánh thì chỉ có
một vài chi tiết khác nhau không đáng kể, nhưng cả 2 đều
đồng nhất nhau về mặt tư tưởng, có nghĩa là cả 2 nguồn
tư liệu này đều bác bỏ tư tưởng của Đại Thiên. Điều
đó cũng không lấy gì làm ngạc nhiên, vì 2 nguồn tư liệu
này đều là những tác phẩm của phái Thượng tọa bộ, tất
nhiên cả 2 cùng phải đứng trên lập trường của mình để
phản bác đối phương là sự kiện hẳn nhiên. Nhưng dù gì
đi nữa, qua cách biên tập, phương pháp lý luận và ngay cả
sự dị biệt của những nguồn tư liệu này giúp chúng ta
có cái nhìn trung thực về tư tưởng của Đại Thiên. Do vậy,
nơi đây tôi trích dẫn những nguồn tư liệu khác nhau, làm
công việc so sánh và có những nhận định riêng của tôi
đối với từng vấn đề.
1.
A la Hán có còn ‘mộng tinh’ không?
Vấn
đề thứ nhất trong 5 vấn đề tranh cãi giữa Thượng
Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ là, khi một người đã chứng
quả A La Hán có còn sự kiện xuất tinh trong lúc ngủ không?
Hai phái đứng trên lập trường khác nhau, cho nên có sự lý
giải khác nhau về sự kiện này. Nguyên nhân dẫn đến sự
tranh cãi này được ghi chép trong luận Đại Tỳ Bà Sa như
chúng ta đã được giới thiệu qua ở phần trên. Đại khái
là Đại Thiên tự xưng mình là bậc A la hán. Một hôm
ông nằm mộng, bất chánh tư duy, nên đã xuất tinh, sáng
dậy sai đệ tử giặt y. Đệ tử thấy vậy bèn sanh lòng
nghi ngờ và hỏi ông, với tư cách là một vị A la hán, tại
sao vẫn còn sự kiện xuất tinh? Đại Thiên trả lời rằng:
A la hán vẫn còn sự bất tịnh này, vì nó là vấn đề tự
nhiên, nó cũng giống như hằng ngày chúng ta đại tiểu tiện,
chảy nước mũi….Nhưng các nhà Hữu bộ không đồng ý cách
giải thích này, cho nên các nhà Hữu bộ đã bác bỏ quan điểm
của Đại Thiên qua câu chuyện được ghi lại trong “Luận
Bà Sa”, không những chỉ có thế mà còn lôi cả đời tư
của Đại Thiên để chỉ trích, với ý đồ lấy đó làm
bằng chứng để phủ bác tư tưởng của ông.
Qua
nguồn tư liệu này, nó gợi ý cho chúng ta hiểu rằng:
Theo các nhà Hữu bộ cho rằng, Đại Thiên tuy là người
thông minh, tinh thông Tam Tạng kinh điển, được nhà Vua kính
trọng, nhưng tất cả việc đó không đồng nghĩa với
việc Đại Thiên đã chứng quả vị A la hán. Sự kiện
Đại Thiên tự xưng mình là người chứng quả A la hán
là việc không thật. Một chứng minh cụ thể là Đại
Thiên vẫn còn mộng tinh, vì theo quan điểm của Thượng
Tọa Bộ, Đức Phật là người đã đoạn trừ được
tham sân và si, cho nên ngài đã chứng đạt quả vị A la
hán là quả vị cao nhất trong Phật Giáo nguyên thủy,
ngoài quả vị này không còn quả vị nào khác. Như vậy
quả vị A la hán cũng chính là quả vị Phật, quả vị
Phật và quả vị A la hán có nội dung chứng ngộ đồng
nhau[2]. Như vậy, một vị chứng quả A la hán là người không
còn tham sân và si. Trong đó, lòng không tham bao hàm ý nghĩa
không còn tham muốn về tình dục. Theo các nhà Thượng tọa
bộ sự kiện xuất tinh biểu hiện sự tham muốn tình dục
nam nữ, như vậy Đại Thiên có xuất tinh, cho dù sự kiện
này được xuất tinh trong lúc ngủ, nhưng dù gì đi nữa nó
được thúc đẩy bởi lòng tham muốn về dục vọng, do vậy
các nhà Hữu bộ đã kết luận sự kiện Đại Thiên chứng
quả A la hán là không thật. Đó là lý do tại sao những
đệ tử của Đại Thiên khi giặt đồ. thấy hiện tượng
bất thường này được xảy ra ở một vị A la hán cũng
là người thầy của mình, cho nên những người này đã
chất vấn Đại Thiên.
“A
la Hán là người đã đoạn tận các lậu, tại sao thầy
(Đại Thiên) lại còn sự kiện xuất tinh này?[3]
Đại
Thiên trả lời:
“Sự
kiện này do Thiên Ma quấy nhiễu, các ông không nên trách
và hoài nghi. Nhưng mộng tinh có 2 trường hợp: 1. Di tinh
do phiền não sanh, vị A la hán không còn nữa; 2. Như là
vật bất tịnh. Di tinh do phiền não sanh tất nhiên bậc
A la hán không còn nữa, nhưng ở trường hợp di tinh như
là vật bất tịnh thì A la hán vẫn còn. Tại sao? Vì
các vị A la hán tuy phiền não đã dứt sạch, nhưng vị
A la hán vẫn còn có những việc tự nhiên như là đại
tiểu tiện, chảy nước mũi.v.v… Ngoài ra, Thiên Ma đối
với Phật Pháp thường sanh tâm ganh ghét, thấy ai tu tập
làm thiện bèn đến phá hoại, các vị A la hán cũng
bị Thiên ma đến quấy nhiễu cho nên mới có chuyện
mộng tinh, tôi đây cũng vậy, bị chúng quấy nhiễu.
Do vậy, các ngươi không nên vì vậy mà sanh lòng hoài
nghi[4].
Qua
đoạn văn vừa trích dẫn trên cho thấy, Đại Thiên giải
thích sự kiện xuất tinh không hẳn là nó xuất phát từ
lòng dục vọng, vì có 2 yếu tố đưa đến xuất tinh. thứ
nhất là do phiền não, tức là sự kiện xuất tinh được
thúc đẩy bởi dục vọng, nếu xuất tinh trong trường hợp
này thì vị A la hán không còn nữa, vì A la hán đã dứt trừ
tham sân và si; Thứ hai là xuất tinh như là sự bài tiết
vật bất tịnh, như là việc đại tiểu tiện hằng ngày
của chúng ta, thì vị A la hán tuy đã chứng thánh quả,
nhưng không phải vì thế mà không còn việc đại tiểu
tiện. Sự kiện trong lúc ngủ nằm mộng xuất tinh cũng
giống như thế, đó là việc tự nhiên và bình thường
của con người, không nên căn cứ vào hiện tượng này
mà cho rằng không chứng A la hán. Đó là lý do Đại
Thiên giải thích về sự kiện mộng tinh của mình. Ngoài
ra, trong luận này còn ghi lại, Đại Thiên còn giải thích
với lý do: Thiên Ma có lòng ganh ghét với những người
có tu tập trong Phật Pháp, do vậy khi chúng thấy trong Phật
Pháp có ai làm tốt bèn tìm cách phá hoại. Ý nói Đại
Thiên là người tốt trong Phật Pháp cho nên bị Thiên
ma phá hoại bằng cách quấy nhiễu Đại Thiên nằm mộng
xuất tinh. Theo tôi, cách giải thích này không hợp lý,
vì theo quan điểm của đức Phật cho rằng, người giác
ngộ và giải thoát là người làm chủ được chính mình,
luôn luôn không bị ngoại giới chi phối. Có nghĩa là cuộc
sống hằng ngày của chúng ta 6 căn của chúng ta phải đối
diện với 6 trần, ví như mắt của chúng ta phải nhìn các
sắc ở thế gian, trong đó có những loại sắc làm lợi ích
cho đời sống con người, nhưng cũng có những loại sắc làm
hại con người, dù là cuộc đời có hai loại sắc như vậy,
nhưng không có nghĩa là chúng ta phải tiếp nhận cả hai loại
sắc đó, con người muốn tiếp nhận sắc nào đều tùy thuộc
vào sự lựa chọn của con người, không phải là sắc đó
bắt con người phải chọn cả hai hoặc chỉ chọn sắc này
không chọn sắc kia. Nếu như mọi việc đều do con người
lựa chọn thì sự việc Thiên ma cũng vậy, có thể chúng ganh
ghét Phật pháp, tìm cách quấy nhiễu người tu hành, nhưng
tâm của người có tu tập chắc chắn không vì bị Thiên ma
quấy nhiễu mà ảnh hưởng. Như vậy, việc Đại Thiên cho
rằng, sự nằm mộng xuất tinh là do Thiên ma quấy nhiễu
là không phù hợp Phật Pháp. Cách lý giải này là cách
ngụy biện, né tránh vấn đề thực tại. Chính nhược
điểm này mà các nhà Hữu Bộ lấy đó làm cơ sở
để phản bác ý kiến của Đại Thiên. Do đó, tác phẩm
“Dị Bộ Tông Luân Luận” của mình, Thế Hữu lấy ‘Dư
Sở dụ’ làm chủ đề thảo luận cho việc thứ nhất trong
5 việc. Đây chính là yếu điểm của Đại Thiên. Nhưng ý
nghĩa chính mà Đại Thiên đưa ra ví dụ này, có phải đúng
như trong luận Tỳ Bà sa đã ghi, hay đây chỉ là cách giải
thích méo mó để đưa Đại Thiên vào chỗ giải thích sai
lầm để dễ bề phản bác, nó còn là một dấu hỏi cho người
làm công tác nghiên cứu, sự hoài nghi này rất có thể xảy
ra, một điển hình cụ thể là đứng về mặt Phật học
tư tưởng sử ở Ấn Độ phái Thuyết nhất thuyết hữu bộ
không thể xuất hiện trước phái Hóa địa Bộ và Độc tử
bộ, nhưng Thế Hữu vì muốn đề cao học phái Hữu bộ của
mình, trong tác phẩm “Dị bộ” ông đã sắp phái Hữu bộ
trước 2 phái này[5]. Từ điểm này cho phép chúng ta được
quyền đặt nghi vấn đối với những gì cảm thấy nghi ngờ.
Liên
quan đến vấn đề mà chúng ta đang thảo luận. Ngoài
“Luận Bà Sa” là nguồn tư liệu Bắc truyền, trong
Phật giáo Nam truyền còn có tác phẩm “Kathàvatthu”,
ở phẩm thứ II từ chương thứ 1 đến chương thứ 6 trong
luận này là chuyên đề thảo luận 5 việc của Đại Thiên,
có phần rõ ràng và khách quan hơn so với “Bà Sa”, và sau
đó được ngài Phật Âm đem tác phẩm này chú thích với
tựa đề là “kathàvatthu-Atthakathà”. Vì vậy, để thuận
tiện cho việc nghiên cứu, nơi đây tôi xin trích dẫn nguyên
bản bằng tiếng Pàli và sau đó là phần dịch của tôi
để cho độc giả dễ dàng theo dõi vấn đề.
Vấn
đề thứ 1: A la Hán có còn tham sân si?
Nguyên
văn:
- Atthi
Arahato asuci sukka – visatthi?
A la
Hán có còn xuất tinh không?
- Àmanta
Có.
- Atthi
arahato ràgo, kama-ràgo?
A
la Hán có còn dục tham, dục cái không?
- Na
hevam vattabbe
Không
nên hỏi như vậy (tất nhiên A la hán không còn)
-natthi
Arahato ràgo, kama-ràgo… no ca vattabbe: “atthi arahato asuci sukka-visatthi”.
Nếu
như A la Hán không còn tham dục, dục cái… thế thì ông
không nên nói: “A la hán có xuất tinh”[6].
Đoạn
văn vừa được trích dẫn trên đây là một phần của cuộc
đối thoại giữa hai phái Thượng tọa bộ và Đại chúng
bộ có liên quan đến vấn đề quả vị A la hán có còn xuất
tinh không? Để xác định quan điểm của từng bộ phái và
thảo luận có hiệu quả cho nên các nhà Thượng tọa bộ
đã tiến hành chất vấn đối phương bằng cách căn cứ vào
câu trả lời của Đại chúng bộ, từ đó đặt vấn đề
hoài nghi, cứ thế cho đến khi cảm thấy vấn đề đã được
xác định, do vậy cuộc đối thoại này không giới hạn
chỉ một vài câu mà rất dài, nhưng vì tránh sự trùng
lập, phiền cho người đọc, người viết chỉ trích dịch
nội dung chính của vấn đề, nếu ai muốn tường tận
vấn đề xin xem toàn văn trong tác phẩm “Kathàvatthu”.
Vấn
đề chính của mẫu đối thoại vừa dẫn trên, Hóa
Địa Bộ chất vấn Đại Chúng Bộ (Đại Thiên) về
vấn đề A la hán có còn xuất tinh hay không? Đại Chúng
Bộ cho rằng “có”, với lý do là vì Đại Chúng Bộ
cho rằng: việc nằm mộng xuất tinh là chuyện bình
thường tự nhiên của con người, vì khi con người còn
ở tuổi tráng niên, những chất dinh dưỡng từ sự ăn
uống hằng ngày, nó tạo thành tinh dịch là vấn đề tự
nhiên. Nếu như chúng ta chấp nhận dinh dưỡng tạo thành
tinh trùng là vấn đề tự nhiên của cơ thể, thì chúng
ta cũng nên chấp nhận nguyên tắc duyên khởi (pratītya-samutpāda)
của đức Phật như trong kinh A Hàm đức Phật đã dạy:
Thử
sanh tức bỉ sanh
Thử
diệt tức bỉ diệt[7]
Chúng
ta có thể mượn 2 câu kệ này để giải thích ta hiểu
về cơ thể học như là quy luật tự nhiên. Thử sanh
tức bỉ sanh, có nghĩa là khi hằng ngày chúng ta ăn uống
những chất dinh dưỡng vào cơ thể, nhất là khi cơ thể
ở thời kỳ tráng niên và mạnh khoẻ lẽ tất nhiên những
chất dinh dưỡng này là nhiên liệu để tạo thành tinh dịch
cho nam giới, dù ta có tu tập hay không tu tập, dù ta đã chứng
quả hay chưa chứng quả, vấn đề tạo thành tinh dịch trong
cơ thể cũng không can hệ gì. Như vậy, khi tuổi tác ở
vào giai đoạn tráng niên và mạnh khỏe, không bịnh hoạn,
ăn uống đầy đủ, các chất dinh dưỡng nuôi cơ thể tạo
thành tinh dịch cũng là vấn đề tự nhiên. Tinh dịch là
chất thúc đẩy con người đam mê ái dục về xác thịt
và nó cũng là dấu hiệu cho một thân thể còn khỏe mạnh,
thân thể khỏe mạnh là điều kiện cơ bản cho tinh thần
minh mẫn sáng suốt, sự kiện đức Phật sau khi từ bỏ đời
sống khổ hạnh, trên đường đi đến Ni liên thiền, vì kiệt
sức ngài đã qụy bên đường, được người chăn cừu cúng
dường Ngài bát sữa, thân thể Ngài cảm thấy khoẻ mạnh
và tinh thần minh mẫn là một ví dụ điển hình. Việc thực
hành đạo giác ngộ và giải thoát trong đạo Phật cũng cần
có một thân thể khỏe mạnh và tinh thần minh mẫn, như vậy
chất dinh dưỡng để nuôi cơ thể trở thành vấn đề
cần thiết, tất nhiên không phải là nhu cầu thái quá, đó
là lý do tại sao đức Phật từ bỏ đời sống khổ hạnh
cũng như đời sống hưởng thụ dục lạc. Nếu như người
xuất gia cần có thân thể khỏe mạnh để tu tập thì không
thể không ăn uống những chất dinh dưỡng, khi đã ăn uống
những chất dinh dưỡng vào cơ thể thì nó là chất tạo thành
tinh dịch, như vậy có nghĩa là Cái này sanh thì cái kia sanh.
Thế nhưng, luật duyên khởi gợi ý cho chúng ta hiểu rằng
cái gì có sanh thì cái ấy chắc chắn phải có diệt, nếu
như đây là nguyên tắc đúng thì chúng ta nghĩ như thế nào
về vấn đề vị A la hán không còn trạng thái xuất tinh?
Nếu như chúng ta cho rằng, vị A la hán không còn xuất tinh,
điều đó đồng nghĩa quan điểm: Có sanh nhưng không diệt.
Phải chăng tự thân có sự mâu thuẫn.
Trên
thực tế, sự tiêu hao tinh dịch bằng nhiều hình thức
khác nhau, như sự quan hệ tình dục, thể thao, làm việc
và thông thường người không lập gia đình thường xuất
tinh trong khi ngủ có thể là nằm mộng và cũng có thể là
những nguyên nhân khác, các nhà y học cho đây là việc bình
thường. Việc xuất tinh bằng sự quan hệ tình dục được
kết hợp 2 yếu tố ý dục và thân dục, nhất là ý
dục, trong trường hợp này sự xuất tinh có liên hệ đến
ý thức, do lòng tham dục thúc đẩy. Riêng về trường hợp
xuất tinh trong lúc ngủ hay nằm mộng thì như thế nào?
muốn trả lời câu hỏi này chúng ta cần thảo luận đến
vấn đề trong lúc ngủ ý thức có hoạt động hay không? nếu
như có thì ý thức hoạt động theo quán tính hay có sự nhận
thức rõ ràng? Để giải tỏa vấn đề, chúng ta cần tìm
hiểu khái niệm ‘nhận thức’ trong nguyên ngữ tiếng Phạn
giải thích như thế nào. Theo “Phạm Hòa đại từ điển”
giải thích vijóāna có nghĩa là thức, ý thức, nhận thức,
phán đoán, phân biệt, hiểu. Nếu như chúng ta đứng từ góc
độ này tìm hiểu trạng thái trong lúc ngủ có ý thức không
thì chắc chắn câu trả lời là ‘không’, vì khi ngủ chúng
ta không hề hay biết, nhưng nếu như vậy, những gì được
thấy trong giấc mộng là cái thấy như thế nào? Có lẽ đó
là cái thấy cái biết thuộc về quán tính, ý thức hoàn toàn
không can thiệp. Như vậy, sự kiện A la hán nằm mộng hoặc
một lý do nào khác xuất tinh trong khi ngủ hoàn toàn ý thức
không can thiệp, nếu đó là giấc mơ sự xuất tinh chỉ đơn
thuần là hành vi trong tiềm thức, là những hình ảnh
trong quá khứ, bất chợt xuất hiện trong giấc ngủ,
nó làm điều kiện cho việc giải tỏa vấn đề tự nhiên
của sinh lý, được thúc đẩy từ sự dư thừa tinh trùng
trong cơ thể, tạo sự quân bình cho cơ thể, phù hợp với
nguyên tắc có sanh thì có diệt. Như vậy sự kiện nằm
mộng xuất tinh là hành vi không có ý thức, hành vi nào
không có ý thức can thiệp thì hành vi ấy không có kết quả
của nghiệp khổ hay nghiệp vui, nghiệp ấy là nghiệp vô ký,
như chúng ta đã được trích dẫn từ ‘Kinh Tư’ trong “Kinh
Trung A hàm” và cũng đã được thảo luận qua ở phần trên.
Có lẽ đó là lý do mà Đại Thiên cho rằng, vị A la
hán vẫn còn hiện tượng xuất tinh trong khi ngủ. Quan điểm
này ông hoàn toàn dựa trên nền tảng căn bản tư tưởng
của các kinh điển Àgama (A hàm).
Một
điều chúng ta cần chú ý ở đây, rất tiếc nguồn tư liệu
ghi chép lại quan điểm và cách lý giải của ông hoàn toàn
đã bị thất lạc, chúng ta chỉ hiểu ông ngang qua nguồn
tư liệu của phái đối lập, điều đó nếu như chúng ta
không nghiên túc và khách quan trong việc nghiên cứu, rất dễ
bị bóp méo vấn đề theo cái nhìn rập khuôn của các phái
đối lập. Một điểm rõ nét mà chúng ta thấy được là
cách biên tập tác phẩm Kathàvatthu mang tính đề cao quan điểm
của Thượng tọa bộ và phản bác mọi tư tưởng và quan
điểm của đối phương, trong đó có vấn đề của Đại
Thiên, một cách cố tình phái Thượng tọa bộ không ghi lại
cách lý giải quan điểm của Đại Thiên. Tại sao? Có lý nào
ông dám đứng lên đưa ra quan điểm về 5 việc của mình,
nhưng khi vào cuộc hội thảo giữa những người tri thức,
ông lại bày tỏ sự yếu kém của mình trong cách biện luận
và lý giải, giống như một người lớn hỏi một em bé, chỉ
biết trả lời một cách ngắn gọn là ‘có’ hay ‘không’
mà thôi, để đối phương chủ động lấn áp và đưa ông
vào thế tự mâu thuẫn chính mình, bản thân ông có phải
là mẫu người như thế không? Câu trả lời của tôi chắc
chắn là không thể như thế, vì chính những nhà Hữu bộ
đã mô tả về ông là một con người thông minh, tinh thông
Tam tạng, đồng thời có biệt tài biện luận hơn người.
Thế thì tại sao trong lúc tranh luận có liên quan đến quan
điểm và tư tưởng của ông lại biểu hiện như thế? Tại
sao? Theo tôi, cách lý giải hợp lý nhất là, khi các nhà Thượng
tọa bộ biên tập tác phẩm Kathàvatthu đã cố ý cắt bỏ
phần lý giải của ông với ý đồ làm rõ quan điểm của
phái Thượng Tọa Bộ, tạo sự bất hợp lý cho phái Đại
chúng bộ. Để chứng minh điều này, chúng ta có thể
thấy cách đặt nghi vấn của Hóa Địa Bộ nhằm mục
đích đưa đối phương vào trường hợp tự mình mâu
thuẫn với chính mình và đi đưa kết luận “nếu như,
cho rằng A la hán không còn tham dục thì không nên cho rằng
A la hán còn có hiện tượng xuất tinh. Thượng tọa Bộ
đã đem vấn đề mộng tinh xem như một hành động có
ý thức để phản bác quan điểm của Đại Chúng Bộ.
Như vậy, vấn đề thảo luận chính là trong lúc ngủ vị
A la hán có sự nhận thức hay không như chúng ta vừa thảo
luận qua.
Để
vấn đề càng thêm xác định hơn, theo nguồn tư liệu của
Nam truyền cụ thể là ‘Tiểu Kinh Khổ Uẩn’ trong “Kinh
Trung Bộ” [8] cho ta nhận thức rằng: Đức Phật không
thừa nhận ngài là bậc nhất thiết trí, nhứt thiết
kiến. Có nghĩa là Ngài phủ nhận không phải suốt mọi
thời gian đều sống trong sự tỉnh thức, như khi ngài
đang ngủ nghỉ[9]. Như vậy đủ để minh chứng rằng quan
điểm của Đại Thiên hoàn toàn có lý: Cái lý này
không phải tự ông tưởng tượng ra, mà xuất phát từ
quan điểm của Đức Phật, một quan điểm về đức Phật
là một con người lịch sử, được xây dựng trên cơ sở
từ con người,cái nhìn của Đại Thiên về một vị thánh
giả một vị A la hán với một xác thân hoàn toàn đứng
từ góc độ con người. Nhưng với nhân cách đạo đức
và sự hiểu biết của ngài vượt hẳn những người bình
thường như chúng ta, một người được người đương
thời gọi là buddha, người đã giác ngộ. Đại Thiên
không nhìn vị A la hán như là một vị thần thánh. Nếu
đây là sự thật thì vấn đề nghiên cứu tư tưởng
của Đại Thiên có nhiều vấn đề cần được tra cứu lại,
nếu không nói là một cuộc tranh luận gay gắt. Vì các nhà
nghiên cứu trước đây đều cho rằng Đại Thiên nhân vật
quan trọng thuộc phái Đại Chúng Bộ, nhưng tư tưởng của
ông tại sao lại lấy tư tưởng kinh điển Nikàya và A hàm
làm cơ sở để xây dựng tư tưởng của mình, nhưng những
kinh điển này lại là Kinh điển của các bộ phái thuộc
Thượng tọa bộ. Thế thì vấn đề khó hiểu ở đây
là, tại sao Đại Thiên lại lấy Kinh điển của Thượng
Tọa Bộ làm nền tảng xây dựng tư tưởng của mình,
ngược lại Hóa Địa Bộ là một phái của Thượng
Tọa Bộ lại phủ nhận quan điểm tư tưởng của Thượng
Tọa Bộ. Đây là vấn đề đáng được cho chúng ta
tiếp tục đào sâu và nghiên cứu.
Vấn
đề thứ 2: Sự xuất tinh của A la hán có phải do các
nữ Thiên ma phá hoại không?
Trước
hết chúng ta tìm hiểu vấn đề được đưa ra thảo luận
của phái Thượng tọa bộ.
Nguyên
văn:
- Atthi
Arahato asuci sukka-visatthi?
A La
Hán có còn xuất tinh không?
- Àmantà
Có
- Kenatthenà?
Bằng
cách nào xuất tinh?
-Handa
hi màrakàyikà devatà Arahato asuci-sukka-visatthim upasamarantì
-Do
bản thân của các nữ Thiên ma quấy nhiễu, làm cho A la hán
xuất tinh.
………
-Atthi
màrakànam devatànam asuci-sukka_visatthi?
Bản
thân của các nữ Thiên ma có xuất tinh không?
- Na
hevam vattabbe.
Không
nên nói như vậy.
………
-Natthi
màrakànam devatànam asuci sukka-visatthi. No ca vata revattabbe:
“Màrakànam devatà Arahato asuci-sukka-visatthim upasam harantì”.
Nếu
như Thiên ma không xuất tinh. Thế thì ông không nên nói:
“Do bản thân của thiên ma tạo nên và quấy nhiễu làm
cho A la hán xuất tinh”. [10]
Nội
dung vừa nêu trên, chủ yếu thảo luận vấn đề, sự
xuất tinh của A la hán phải chăng do Thiên ma (Mara) làm cho
vị A la hán xuất tinh. Theo Đại Chúng Bộ cho rằng, A
la hán đã đoạn trừ tham sân si, nhưng sự kiện xuất
tinh là do Thiên ma tạo thành, có nghĩa là A la hán xuất tinh
không phải là vì động cơ dâm dục. Cách trả lời không
thỏa đáng này, cho nên Thượng tọa bộ tiếp tục đưa
ra vấn nạn: Nếu như ông nói vậy, thì bản thân các nữ
Thiên ma đó có xuất tinh không? Tất nhiên Đại Chúng Bộ
phải trả lời là ‘không’, vì nữ Thiên ma vốn là nữ
đồng thời không có sắc thân thì làm gì mà có sự xuất
tinh. Cách hỏi này mang ý nghĩa gợi ý cho người đọc nhận
thấy nhược điểm của Đại Thiên, vì không giải thích được
những vấn nạn, hiện rõ sự lúng túng khi trả lời những
chất vấn của đối phương, cho nên phái Thượng tọa bộ
đưa đến kết luận: Nếu như bản thân của các nữ Thiên
ma không thể xuất tinh, thì các ông không thể cho rằng
sự kiện Đại Thiên xuất tinh là do các nữ Thiên ma tạo
ra. Nếu như đây là câu trả lời của phái Đại chúng bộ
thì đây là câu trả lời không hợp lý, biểu lộ sự yếu
kém về trình độ lý luận và tri thức của mình. Nhưng tại
sao ông trả lời như vậy? Có lẽ có khá nhiều vấn đề
mà chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, như chúng ta đã được
thảo luận ở trên, không cần lặp lại ở đây.
Vấn
đề thứ 3: Vị A la hán xuất tinh từ nơi nào?
Vấn
đề thứ 3 mà hai phái tranh cãi là A la hán xuất tinh
từ đâu? Trong Kathàvatthu ghi như sau:
Nguyên
văn:
-Mārakāyikā
devatà Arahato asuci sukka-visaææhiṃ upasaµharanti?
Do
bản thân của các nữ Thiên ma tạo ra, do vậy A la hán xuất
tinh phải không?
- Àmantà.
Đúng
vậy.
- Lomakùpehi
upasamharanti.
Xuất
tinh từ lỗ chân lông phải không?
- Na
h’evam vattabbe.
Không nên nói như vậy[11].
Khi
được những người thuộc phái Đại chúng bộ xác định
một vị A la hán còn có hiện tượng xuất tinh, những người
thuộc phái Thượng tọa bộ tiếp tục đặt nghi vấn: Thế
thì Vị A la hán xuất tinh từ đâu? Có phải từ lỗ chân
lông không? Thật sự, ngụ ý câu hỏi này các nhà Thượng
tọa muốn đối phương xác định sự xuất tinh đó được
ra từ dương vật của người nam. Câu hỏi này nhằm mục
đích đưa đối phương vào thế phải trả lời vấn đề
thứ 4, tức là động cơ nào vị A la hán xuất tinh?
Vấn
đề thứ 4: Nguyên nhân nào làm cho vị A la hán xuất tinh?
Nguyên
văn:
-Māārakāyikā
devatā Arahato asuci sukka-visaææhiṃ upasaṃharanti?
Do
vì tự thân của các Thiên ma nữ tạo ra, cho nên A la hán xuất
tinh phải không?
-Āmantā
Đúng
vậy.
- Kim
kàranà?
Lý
do nào dẫn đến xuất tinh?
- Handa
hivimatim gàhayissàmà.
Do
vì nghi hoặc mà chấp trước.
- Atthi
arahato vimatì?
A La
Hán còn nghi hoặc sao?
- Na
hevam vattabbe.
Không
nên hỏi như vậy.
……………
- natthi
arahato satthari vimati… No ca vata re vattabbe: “Atthi arahato vimati”[12]
Nếu
như A la hán không còn nghi hoặc, thế thì ông không thể
nói: “A la hán có nghi hoặc mà xuất tinh”.
Qua
mẫu đối thoại vừa nêu trên cho thấy, đại diện phái
Thượng tọa bộ hỏi đối phương, phải chăng sự xuất
tinh của A la hán có giống như người bình thường không?
Tất nhiên đại diện phái Đại Chúng Bộ trả lời là
giống nhau. Nếu như ‘giống nhau’ thì động lực nào dẫn
đến sự xuất tinh? Ý muốn hỏi rằng, vì nam giới xuất
tinh thông thường được kích thích bởi lòng dục, có liên
tưởng đến nữ giới, thế thì vị A la hán khi xuất tinh
có giống như vậy không? Ở đây, chúng ta thấy, Đại Chúng
Bộ trả lời là do ‘nghi hoặc’ (vimati). Thật ra, câu
trả lời này không được rõ ràng, vì trong cuộc sống bình
thường của con người có ai lại do nghi ngờ mà xuất tinh
bao giờ? Như vậy, ý của Đại thiên như thế nào khi lấy
khái niệm nghi ngờ để giải đáp? Sự mù mờ này xuất phát
từ đâu? Do sự kém cỏi về trình độ luận biện hay xuất
phát từ nguyên nhân nào khác? Theo tôi, căn cứ vào những
gì đã được ghi chép lại trong các luận thuộc phái Thượng
tọa bộ, gợi ý cho tôi được hiểu như thế này: Khái niệm
‘nghi hoặc’ là thuộc tính của vô tri. Nhưng khái niệm
về vô tri được xuất phát từ hai yếu tố khác nhau.
Một là trạng thái ‘vô tri’ được xuất phát từ
vô minh. Ví như ta không biết lửa nóng cho nên đưa tay
vào lửa, lửa đã làm bỏng tay, trạng thái không biết
(vô tri) này thuộc về ‘vô tri của vô minh’, vì lửa
là nóng, không ai lại cho rằng lửa là mát, sự thiếu hiểu
biết biết này nói lên sự hạn chế thiếu khả năng hiểu
biết. Nhưng, khái niệm ‘vô tri’ được xuất hiện từ
trạng thái ‘vô ký’ thì ý nghĩa của nó không giống như
khái niệm trên. Ví dụ, ta đang ngồi trong phòng đọc sách,
ngoài trời có con chim bay trên hư không, ta không hề hay biết
về sự kiện này. Sự không biết này không đồng nghĩa với
‘vô tri vô minh’, có nghĩa là ta không có khả năng hiểu
biết về nó, chẳng qua ta không biết vì ta không để ý mà
thôi. Trong trường hợp này, khái niệm không biết thuộc
về vô ký, có nghĩa là ý thức con người không để
ý đến sự việc. Qua 2 khái niệm này, phải chăng Đại
Chúng Bộ muốn đề cập khái niệm “nghi hoặc” (vimati)
thuộc về trường hợp thứ hai, tức là một trạng
thái vô ý thức? Theo tôi, đây mới chính là ý nghĩa mà
Đại Thiên muốn đề cập. Như vậy, Đại Thiên cho rằng
sự kiện xuất tinh của vị A la hán là vấn đề tự nhiên,
cách lý giải của ông là sự xuất tinh của vị A la hán chỉ
xuất hiện trong lúc ngủ, vì trong khi ngủ ý thức của vị
A la hán cũng nghĩ ngơi, chỉ hoạt động theo quán tính, có
nghĩa là sự hoạt động không có sự quan sát của ý thức.
Sự kiện xuất tinh không có ý thức không thể xem nó có lòng
tham dục. Như vậy, nó sẽ không có sự mâu thuẫn giữa định
nghĩa một vị A la hán đã đoạn trừ lòng tham sân và si với
sự kiện xuất tinh trong trường hợp vô ý thức. Có lẽ
đây chính là lý do Đại Thiên đưa ra vấn đề thảo luận
việc thứ 2 là “vô tri” và thứ 3 là ‘nghi’. Hai việc
này đều có mối quan hệ mật thiết với sự kiện xuất
tinh của vị A la hán.
Vấn
đề thứ 5: Sự xuất tinh của A la hán phải chăng là vấn
đề sự tự nhiên.
Những
vấn đề được đưa ra thảo luận dưới đây, có liên quan
đến vấn đề sự xuất tinh của vị A la hán có phải là
sự tự nhiên không? Trước tiên chúng ta cần nắm rõ ý nghĩa
giữa câu hỏi và câu trả lời của hai phái, sau đó chúng
ta tiến hành phân tích, để tìm hiểu ý nghĩa quan điểm của
từng hệ phái
Nguyên
văn:
- Atthi
Arahato asuci sukka-visatthi?
A
la hán có xuất tinh chăng?
- Àmantà.
Có.
- Arahato
asukka-visatthi kissa nissando?
Từ
nguyên nhân nào A la hán xuất tinh?
- Asita-pita-kàyita-sàyitassa
nissando.
Do
vì ăn uống các vật thực mà có[13]
………
Trong
đoạn này, nội dung tranh cãi giữa 2 bộ phái chính là
tìm hiểu vấn đề sự xuất tinh của vị A la hán có
phải là vấn đề tự nhiên không? Để cho vấn đề
được rõ ràng, phái Thượng tọa bộ hỏi phái Đại Chúng
Bộ: nguyên nhân nào dẫn đến vị A la hán xuất tinh?
Nắm lấy câu hỏi này, Đại Chúng Bộ trả lời: Chất
liệu tạo thành tinh trùng chính là những thức ăn và
uống mà hằng ngày con người đã đưa vào cơ thể, ý muốn
nói rằng: Cái gì do vật chất tạo thành thì cái ấy
bằng cách này hay cách khác sẽ bị hoá giải, đây là
một qui luật, vì những chất dinh dưỡng một khi đưa vào
cơ thể, một cách tự nhiên nó tự tạo thành tinh trùng
cho nam giới, bấy kỳ người đó là ai, dù có tu hay không
tu, chứng quả hay chưa chứng quả, như trong sách y học có
nói rằng: mỗi ngày chúng ta ăn uống, những chất này tạo
ra mấy ngàn tinh trùng…..Thông thường chất tinh trùng sẽ
hoạt động theo bản năng tự nhiên của nó, tạo thành sự
kích thích đam mê quan hệ tình dục, là yếu tố cơ bản để
bảo vệ giống nòi, đây là trường hợp của những người
tại gia cư sĩ. Thế nhưng ở
trường hợp người hoạt động theo tôn giáo nhất là Phật
giáo thì ngược lại, xem việc quan hệ tình dục như là sự
chướng ngại con đường tu tập, đôi lúc đứng từ góc độ
tôn giáo lại cường điệu nó như là một tội lỗi, do vậy
trong tinh thần giới luật Phật giáo, xếp phạm giới dâm
dục thuộc về Ba la di, là 4 giới trọng. Dù gì đi nữa, bất
cứ ai là con người khi còn thể lực, bản năng ham muốn nhục
dục ấy vẫn có ở mỗi người, nhưng với vị trí là người
tu sĩ, vì sự giác ngộ và giải thoát, nên người ấy phải
giữ giới bằng cách khắc chế bản năng dục vọng của con
người, điều đó tạo thành sự ức chế sinh lý. Nhưng trên
thực tế sự khắc chế này, chỉ có hiệu quả khi con người
tỉnh thức, nhưng trong lúc ngủ, sự kiềm chế vô hiệu quả,
bản năng ấy có thể xuất hiện bằng giấc mơ hoang, hay trong
sự cọ quẹt của quần hoặc một nguyên nhân nào khác tạo
thành xuất tinh trong trạng thái vô ý thức, sự xuất tinh
này Đại Thiên xem nó như là việc đại tiểu tiện, chảy
mước mũi của con người. Sự xuất tinh này cũng là cách
lý giải nguyên tắc ‘hữu sanh hữu diệt’ của Phật giáo,
nếu như chúng ta nhìn nó dưới góc độ sinh lý học, đó
là một trạng thái xuất tinh bình thường và tự nhiên, không
phải là hành vi xấu xa hay tội lỗi. Sự xuất tinh của
vị A la hán chúng ta cũng nên hiểu nó với ý nghĩa này.
Thế
nhưng cách giải thích này, phái Thượng tọa Bộ không
chấp nhận, nên đặt vấn đề phản bác.
“Nếu
như cho rằng, sự xuất tinh là do kết quả của việc ăn
và uống những chất dinh dưỡng tạo thành, thế thì tại
sao những em bé… cũng ăn và uống, nhưng không bị xuất
tinh?” [14]
Câu
hỏi này với ý đồ phản biện phủ nhận đối phương, nếu
như trẻ em không có trường hợp này thì quan điểm cho rằng,
sự xuất tinh là do ăn uống mà tạo thành thì không hợp
lý. Từ câu hỏi này, chúng ta thấy Thượng tọa bộ không
phải đứng trên lập trường khoa học thảo luận vấn đề,
mà đứng trên lập trường bảo vệ quan điểm của mình mà
phản bác đối phương. Ví dụ, giả sử đối phương phản
biện: Nếu như ông (Thượng tọa bộ) xác định cho rằng
người cư sĩ tại gia xuất tinh đều xuất phát từ lòng dục
thì người mang chứng bịnh hượt tinh cũng xuất phát từ
lòng dục sao? Do vậy, khi những người Đại chúng bộ trình
bày vấn đề bản chất của tinh trùng được tạo thành từ
việc ăn uống hằng ngày của chúng ta, là muốn đề cập
vấn đề tinh trùng đã được tạo ra, như vậy sự đào thải
những tinh trùng bằng cách nằm mộng cũng là vấn đề tự
nhiên, phù hợp quy luật tuần hoàn của cơ thể, những không
phải vì muốn phủ nhận quan điểm này, lại đặt vấn đề
tại sao cũng ăn và uống nhưng không xuất tinh? Sự vô lý
này, chúng ta không thấy một lời phản biện nào của phái
Đại chúng bộ, rõ ràng có nhiều nghi vấn.
Vấn
đề thứ 6: Khi vị A la hán xuất tinh có cảm giác sung sướng
không? Nguyên văn:
-Arahato
asuci sukka-visaææhi asita-pita-khāyita sāyitassa nissando ti?
A la
hán xuất tinh là do kết quả của việc ăn uống phải không?
-āmantā
Đúng
vậy.
-Atthi
tassa āsayo-ti?
Khi
xuất tinh vị ấy có cảm giác khoái lạc không?
- Na
hevam vattabbe.
Không
thể hỏi như vậy.[15]
Sau
khi được phái Đại chúng bộ giải thích sự xuất tinh của
vị A la hán là vấn đề tự nhiên của cơ thể, vì vị A
la hán vẫn còn ăn và uống, nếu như chúng ta thừa nhận vị
A la hán vẫn còn bịnh đau, vì còn thân thể, thì cũng nên
chấp nhận vị A la hán vẫn còn xuất tinh trong lúc ngủ, vì
A la hán vẫn còn ăn uống. Những người Thượng tọa bộ
vẫn không hài lòng cho nên tiếp tục hỏi vấn đề có liên
quan đến trạng thái của xuất tinh. Trong khi vị A la hán
xuất tinh có cảm giác sung sướng không? Ý nghĩa câu hỏi
này với mục đích, tùy theo câu trả lời có hay không đó,
Thượng tọa bộsẽ đi đến kết luận vấn đề khác là;
nếu như việc xuất tinh không có cảm giác sung sướng,
thì việc xuất tinh đó có thể tương đồng với việc
đại tiểu tiện. Nhưng trường hợp này không thể xảy
ra, vì sự xuất tinh bao giờ cũng có cảm giác sung sướng,
chính dục vọng và cảm giác sung sướng này kích thích
hệ thần kinh làm cho tinh trùng tiết ra ngoài. Nếu thế
thì động cơ của việc xuất tinh chính dục vọng, khi
nó đã xuất phát từ dục vọng, trạng thái này với
quả vị A la hán không còn, thế thì không thể nói A
la hán còn có xuất tinh. Nhưng ở đây, căn cứ từ các
Kinh A hàm hay Nikāya, chúng ta có thể lý giải điểm này một
cách rõ ràng, rất nhiều kinh trong 2 tạng kinh này đề cập
đức Phật khi bịnh hoạn hay bị thương ở trên thân thể
ngài cảm giác đau nhức vô cùng[16]. Sự kiện này, nó gợi
ý cho chúng ta hiểu một điều quan trọng là sự giác ngộ
và giải thoát trong đạo Phật nguyên thủy là sự giải thoát
về tâm, làm chủ tâm và những hành vi của mình, nhưng không
nên có quan niệm nhầm lẫn cho rằng, khi đã giác ngộ, giải
thoát thân thể này không còn bị chi phối bởi luật vô thường
và các qui luật trong tự nhiên, ngay cả những qui luật tuần
hoàn cấu tạo của cơ thể con người, điều đó cũng xác
định rằng, khi vị A la hán xuất tinh ngang qua những hệ thần
kinh thuộc về cảm giác, được cấu tạo tự nhiên thì vị
A la hán cũng có cảm giác như vậy, không phải là không có,
vì thân thể của vị A la hán cũng là thân thể của con người.
Nhưng
ở đây chúng ta thấy câu trả lời của Đại Chúng Bộ
phủ nhận A la hán không có cảm giác khoái lạc trong lúc
xuất tinh. Lý do tại sao Đại Thiên không chấp nhận? Phải
chăng ông muốn đề cập đến vấn đề hành vi trong
lúc ngủ và hành vi trong lúc thức khác nhau? Hành vi trong
lúc tỉnh thức là hành vi thường cùng với tâm tương
ứng, nhưng hành vi trong lúc ngủ là hành vi không cùng
với tâm tương ứng. Như vậy, vấn đề thảo luận chính
ở đây là động cơ của dục vọng này là gì? Đây
chính là lý do tại sao Đại Thiên đưa ra việc thứ 2
trong 5 việc của Đại Thiên, đó là vấn đề ‘vô tri’,
sẽ được thảo luận dưới đây.
Vấn
đề thứ 7: Nếu như vị A la hán còn nghi, như vậy có phải
chăng vị A la hán chưa đoạn tận gốc của tham?
Nếu
như Đại Thiên cho rằng, quả vị A la hán vẫn còn trạng
thái nghi ngờ, như đã thảo luận ở phần trên. Nếu quan
điểm này là đúng thì chúng ta thấy trong Kinh A hàm hay Nikāya
được đức Phật mô tả về vị A la hán là người đã đoạn
tận gốc rễ của lòng tham sân si và ngay cả sự nghi ngờ.
Như vậy, hai quan điểm này mâu thuẫn lẫn nhau, thế thì chúng
ta chấp nhận quan điểm của Đại Thiên hay đức Phật? Vấn
đề được phái Thượng tọa bộ đưa ra thảo luận như sau:
Nguyên
văn:
-Atthi
Arahato acukka-visaææthī?
Vị
A la hán còn xuất tinh không?
-Āmantā
Còn.
-Nanu
Arahato rāgo pahīno, ucchinna-mùlo tālā-vatthukato, ana-bhāvamkato
āyatiö anuppāda-dhammo?
Vị
A la hán đã xả bỏ lòng tham, giống như cây sala bị chặt
ngọn, không thể tái sanh trong tương lai. Cũng vậy, pháp (ác)
không thể tái sanh?
-Āmantā.
Đúng
vậy.
-Hañci
Arahato rāgo pahīno, ucchinna-mùlo tālā-vatthukato, anabhāvamkato
āyatim...no vata re vattabbe ‘Atthi Arahato asuci sukka-visaææhī’.
Nếu
như đã xả bỏ lòng tham, giống như cây sala bị chặt ngọn,
không thể tái sanh trong tương lai, thế thì, ông không nên
cho rằng A la hán vẫn còn xuất tinh[17].
Có
thể nói đây là điểm nan giải, vì trong các kinh điển trong
A hàm hay trong Nikāya đức Phật đều mô tả khi một vị đã
chứng được quả A la hán thì các lậu hoặc được đoạn
trừ một cách sạch sẽ, giống như cây sa la bị chặt đầu
không còn cơ hội tái sanh, nhưng ở đây Đại Thiên lại cho
rằng, một vị A la hán trong lúc ngủ vẫn còn có hiện tượng
xuất tinh trong trường hợp vô ý thức. Như vậy, phải chăng
ở quả vị A la hán vẫn chưa đoạn tận gốc rễ vô minh?
Với câu hỏi này, chúng ta hoàn toàn không thấy lời giải
đáp của phái Đại chúng bộ, như vậy mặc nhiên được
hiểu như là chấp nhận sự mâu thuẫn, hay nói đúng hơn Đại
chúng bộ thừa nhận chủ trương sai lầm của mình, nếu không
như vậy, đó là thái độ bướng bỉnh, không biết phục
thiện, có đúng như vậy không? Đúng hay không chúng ta không
thể chỉ đơn thuần căn cứ vào các nguồn tư liệu của
phái Thượng tọa bộ để phê phán và đánh giá Đại Thiên,
nhưng rất tiếc nguồn tư liệu của chính bản thân ông không
còn thấy nữa, đó là một trở ngại cho công việc nghiên
cứu truy tìm tư tưởng của Đại Thiên.
Nơi
đây, tôi chỉ nêu một ý kiến nhỏ của mình trong việc lý
giải vấn đề này. Nếu như chúng ta chấp nhận quan điểm
của ‘Tiểu Kinh Khổ Uẩn’ trong “Kinh Trung Bộ”, ở kinh
này, đức Phật đã phủ nhận ngài là bậc ‘nhất thiết
trí và nhất thiết kiến’, có nghĩa là Ngài không thừa nhận
Ngài có khả năng biết tất cả mọi việc, thấy tất cả
các việc, vì những việc không liên quan đến vấn đề giải
thoát, không cần biết và đồng thời trong khi ngủ tâm Ngài
cũng được nghỉ ngơi, do vậy trong lúc ngủ không biết những
việc xảy ra trong lúc đó[18], như chúng ta đã được đề
cập ở trên. Thế thì với quan điểm, Ngài phủ nhận Ngài
là bậc ‘Nhứt Thiết Trí, Nhứt Thiết Kiến’ với quan điểm
cho rằng người chứng quả A la hán đã đoạn tận phiền
não, phải chăng có sự mâu thuẫn? Như vậy, vấn đề cốt
lõi ở chỗ nào? Theo tôi, ý nghĩa câu: Vị A la hán đã đoạn
tận gốc rễ vô minh, như cây sala chặt đầu mang ý nghĩa
khác, không như chúng ta vừa hiểu, nó mang ý nghĩa một vị
đã chứng đắc A la hán, trong khi người ấy đi đứng nằm
ngồi đều sống trong tỉnh giác, được trí tuệ thắp sáng,
do vậy không có lòng tham sân và si xuất hiện, nhưng khi chúng
ta đề cập đến bốn oai nghi, chúng ta lại đem hành vi ‘nằm’,
đem nó định nghĩa bao hàm cả trong khi ngủ, thành ra trong
lúc ngài ngủ cũng được tỉnh giác, có nghĩa là trong khi
ngủ vị A la hán cũng thắp sáng trí tuệ. Điều đó không
hợp lý. Nếu như vậy, có thể có người đưa ra nghi vấn,
phải chăng vị A la hán trong lúc ngủ sẽ xuất hiện vô minh.
Câu hỏi này không hợp lý, vì trong lúc ngủ trạng thái của
ý thức rơi vào cảnh vô ký, có nghĩa là không thiện và không
ác thì làm gì có vô minh hay tỉnh giác.
Tóm
lại, quan điểm của Đại chúng bộ cho rằng, sự kiện vị
A la hán xuất tinh trong lúc ngủ là việc tuần hoàn đào thải
tự nhiên của cơ thể, nó cũng giống như việc đại tiểu
tiện, chảy nước mũi…,nhất là sự xuất tinh đó trong lúc
ngủ, ý thức rơi vào trạng thái vô ký, có nghĩa là không
chủ động, không nên kết luận, nó xuất phát từ lòng tham
dục, do vậy không nên căn cứ sự kiện xuất tinh làm bằng
chứng để đi đến kết luận chứng ngộ hay không chứng
ngộ. Sự chứng đắc thánh quả tùy thuộc vào đoạn trừ
tham sân và si, phát triển trí tuệ, không tùy thuộc vào hình
thức của thân thể. Nhưng, quan điểm của phái Thượng tọa
bộ thì không chấp nhận, cho rằng vị A la hán phải là người
hoàn toàn đoạn tận gốc rễ của lòng tham dục sân hận
và si mê, ở địa vị thánh quả A la hán không thể còn hiện
tượng xuất tinh, sự xuất tinh là dấu hiệu của lòng tham
dục, điều đó đồng nghĩa người nào có xuất tinh là có
lòng tham dục, bất cứ hành vi nào xuất phát từ lòng tham
dục thì không thể gọi người đó là A la hán. Đây là điểm
tranh luận chính của hai phái Thượng tọa bộ và Đại chúng
bộ.
2.
A la hán có còn ‘vô tri’ hay không?
Việc
thứ 2 trong 5 việc của Đại Thiên là ‘vô tri’, từ này
vốn được dùng trong các văn bản Pali trong nguồn tư liệu
của Thượng tọa bộ là aóóāna, hán dịch gọi là ‘vô
tri’, nhưng nội dung và ý nghĩa của từ này được Đại
Thiên định nghĩa như thế nào, sẽ được chúng ta tuần tự
thảo luận trong phần này.
Thảo
luận liên quan đến vấn đề Đại Thiên, trong đó có
cả vấn đề ‘vô tri’, ý kiến của các học giả thường
chấp nhận quan điểm của Thượng tọa bộ, lý do vì nguồn
tài liệu mà các nhà học giả nghiên cứu chính là các luận
của Hữu bộ và Đồng Diệp bộ như đã được thảo luận
phần ‘Văn bản học’ ở trên, cho nên đã dẫn đến kết
luận đồng tình với quan điểm Thượng tọa bộ. Riêng tôi
thì ngược lại, nguồn tư liệu mà tôi sử dụng để lý
giải tư tưởng Đại Thiên là Nikāya hay A hàm, là 2 nguồn
tư liệu được kết tập thành văn tự sớm nhất trong Phật
giáo, vì nó là cơ sở lý luận để Đại Thiên xây dựng
một hệ thống lý luận của mình. Có lẽ ông là một trong
những nhân vật đầu tiên khởi xướng phong trào cải cách,
lấy con người làm trung tâm để xây dựng hệ thống giáo
dục, đưa đạo Phật gần gũi với con người hơn, nhưng rất
tiếc quan điểm và tư tưởng cải cách của ông không còn,
chỉ lưu lại vỏn vẹn một bài kệ, lại được biết đến
không phải là tác phẩm của ông, thông qua nguồn tư liệu
của những phái chống đối tư tưởng cải cách của ông
ghi chép lại, nó trở thành vấn đề tranh luận gay gắt trong
Phật giáo, kết quả dẫn đến sự chia rẽ trong Phật giáo.
Ông trở thành người đại diện cho phái Đại chúng bộ,
chắc chắn quan điểm của ông có một hấp lực nào đó,
cho nên được đại đa số Tăng chúng đồng tình và ngay cả
nhà vua, có lẽ đó là một sự thật.
Như
chúng ta đã biết Đại Thiên là nhân vật tiêu biểu cốt
cán cho trường phái Đại Chúng Bộ, là nhà cải cách Phật
giáo, nhưng quan điểm và tư tưởng của ông có phải là tư
tưởng được mô tả trong tác phẩm ‘Dị Bộ Tông Luân luận”
không? Theo tôi đây là vấn đề cần phải nghiên cứu và
đánh giá lại nghiêm túc, vì căn cứ tư tưởng về 5 việc
của ông so với những gì được Thế Hữu đề cập trong
tác phẩm này[19] có khá nhiều điểm tranh cãi, có thể nói
tư tưởng của Đại chúng bộ trong “Dị bộ Tông Luân Luận”
gần giống với tư tưởng của Phật giáo Đại thừa thì
đúng hơn, điều này có lẽ hợp lý vì niên đại của Thế
Hữu hoạt động cũng là khoảng thời gian tư tưởng Phật
giáo Đại thừa xuất hiện và phát triển, nhất là khi ông
viết tác phẩm này.
Trở
lại chủ đề mà chúng ta đang thảo luận. Theo tôi, 5 việc
của ông, nhất là việc thứ 2 là ‘vô tri’ có liên quan
mật thiết đến quan điểm đức Phật phủ nhận ngài không
phải là người ‘Nhứt Thiết Trí, Nhất Thiết Kiến’ trong
“Kinh Trung bộ” như đã được thảo luận. Quan điểm này
là một trong những quan điểm rất đặc biệt của đức Phật
trong Phật giáo nguyên thủy, ngài hoàn toàn đứng vào vị
trí của con người để nói về con đường giác ngộ và giải
thoát, con đường đó xác định rằng chính bản thân ngài
đã tu tập và đã thành đạt mục đích, chúng ta cũng là
con người như Ngài chắc chắn cũng thực hành được và cũng
sẽ thành đạt giống như ngài. Qua kinh nghiệm bản thân, ngài
tự nhận thức một điều rất rõ ràng rằng, cái gì là sự
thật thì cái ấy tồn tại và có lợi ích, cho nên trong lời
dạy của ngài luôn luôn được đề cập những từ như: Như
lý tác ý, Như thật tuệ tri, Chánh kiến, Trí tuệ…chỉ có
những quan điểm trong sáng đề cao tri thức này, mới có thể
đưa con người đến sự giải thoát. Đó cũng chính là lý
do tại sao ngài không chấp nhận tính siêu hình, cách nói cao
siêu hơn người và thần thoại, do vậy Ngài đứng trên vị
trí con người nói những gì có liên quan đến con người.
Con người cần có ăn mặc ngủ nghỉ…Ngài cũng giống như
vậy, khi ngủ 5 giác quan ngừng hoạt động, ý thức cũng nghĩ
ngơi, không phải sau khi thành Phật ngài không còn ngủ nghỉ
hay ngủ với ý thức trong sự tỉnh thức…Có lẽ đó là
lý do tự phủ nhận Ngài không có ‘Nhứt Thiết Trí và Nhứt
Thiết Kiến’, tư tưởng bình dị này với cặp mắt của
người tri thức, cho rằng ngài quả là một bậc vĩ nhân,
nhưng với người chú trọng mặt tôn giáo tín ngưỡng sẽ
coi lời nói bình dị này, cho rằng đức Phật là một con
người bình thường, vì không có tư cách siêu việt thần
linh. Đây chính là điểm mà Đại Thiên kế thừa và phát
huy, kiến lập tư tưởng về 5 việc của mình.
Trở
lại vấn đề mà chúng ta thảo luận, đứng về mặt
tư tưởng sử chúng ta thấy từ quan điểm Đức Phật
phủ nhận ngài là bậc “nhất thiết trí, nhất thiết
kiến” trong Nikàya của thời kỳ Phật Giáo Nguyên Thủy,
đến thời kỳ Phật Giáo bộ phái được Đại Thiên
kế thừa và giải thích thành ‘bất nhiễm ô vô tri’ được
các nhà Hữu bộ ghi lại trong “Bà Sa”, có nghĩa là loại
‘vô tri’ không phải xuất hiện từ vô minh. Thế nào là
loại ‘vô tri’ không tùy thuộc vào vô minh? Thật ra trong
luận này không một lời giải thích, ngay cả các luận
của Phật giáo Nam truyền, nhưng không phải vì thế mà chúng
ta chấp nhận những gì không trong sáng của nó, phương pháp
nghiên cứu của chúng ta sẽ căn cứ vào cách thảo luận của
những luận này, truy tìm tư tưởng chân thật của ông. Có
lẽ vì nó không được giải thích hay giải thích theo
một chiều, do vậy nó trở thành chủ đề tranh cãi
trong lịch sử tư tưởng Phật Giáo Ấn Độ. Phải chăng
từ ý nghĩa này, về sau phật giáo Đại thừa cho rằng:
A la hán không bằng quả vị Phật, vì A la hán vẫn còn
cái gọi là ‘vi tế vô minh’ trường phái Duy thức học
gọi là ‘tập khí chủng tử’. Từ đức phật phủ
nhận ‘Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Kiến’ cho đến
tư tưởng ‘tập khí chủng tử’ là sự diễn biến
có trật tự, có hệ thống, các khái niệm có liên
quan mật thiết với nhau, đây là điểm đáng được
chúng ta chú ý và nghiên cứu. Trong phần này, chúng ta
cũng thảo luận việc thứ 2 trong 5 việc của Đại Thiên là:
Vị A la hán có còn vô tri không? Nhưng ở đây, người viết
đặc biệt chú trọng các Kinh Àgama hay Nikàya, lấy nó
làm cơ sở duy tư lý luận để phân tích và lý giải quan
điểm ‘bất nhiễm ô vô tri’ của Đại Thiên.
Trước
nhất chúng ta vẫn phải xem xét quan điểm của Hữu Bộ
và Hóa Địa Bộ phê bình và đánh giá như thế nào
về tư tưởng “vô tri” này. Ở đây, trước nhất chúng
ta thử tìm hiểu các nhà Hữu bộ phê bình và đánh giá Đại
Thiên như thế nào. “Bà Sa” ghi liên quan đến vấn đề
vô tri như sau:
“Sau
đó, Đại Thiên vì muốn các đệ tử vui vẻ, không còn nghi
ngờ, liền tùy theo từng người mà thọ ký cho chúng chứng
từ quả thứ nhất cho đến quả thứ 4.
Bấy
giờ, các vị đệ tử cúi đầu bạch rằng: Các vị A la hán,
(khi chứng quả) tự mình biết mình đã chứng, tại sao chúng
con đã chứng quả, nhưng tự mình không hề hay biết?
Đại
Thiên bèn trả lời rằng, các vị A la hán vẫn còn có trạng
thái ‘vô tri’, các ông không nên có sự hoài nghi với tôi.
Vì trạng thái ‘vô tri’ có hai loại: Một là ‘nhiễm ô
vô tri’, loại nhiễm ô này, vị A la hán không còn nữa; Hai
là ‘Bất nhiễm ô vô tri, loại vô tri này, vị A la hán vẫn
còn. Do vậy, các ông không thể tự mình biết được. đây
là loại ác kiến thứ hai.”[20]
Đoạn
văn vừa dẫn trên là đoạn văn được các nhà Hữu bộ giải
thích lý do tại sao Đại Thiên đưa ra tư tưởng A la hán vẫn
còn vô tri. Nguyên nhân là khi bị các đệ tử giặt quần
áo, phát hiện Đại Thiên đã xuất tinh, chứng tỏ người
thầy của mình chưa chứng quả A la hán. Vì để che dấu việc
này, không cho lan truyền đồn đãi trong xã hội, cho nên ông
đã làm thỏa lòng các đệ tử của mình bằng cách thọ ký[21]
cho chúng chứng đắc thánh quả, từ quả thứ nhất cho đến
thứ 4. Kết quả của việc thọ ký này, không đúng như ông
ta mong đợi, ngược lại các đệ tử tiếp tục đặt nghi
vấn, tại sao mình chứng thánh quả mà tự mình không biết,
phải đợi thầy chỉ điểm mới biết? Trong trường hợp
này, Đại Thiên đã viện dẫn lý do vì ở quả vị A la hán
vẫn còn ‘vô tri’ và ông giải thích vô tri có 2 loại:
1- Nhiễm ô vô tri, loại vô tri này A La Hán đã đoạn trừ;
2- Bất nhiễm ô vô tri, loại này A La Hán vẫn còn. Đây
là lý do tại sao các ông không biết.
Qua
đoạn văn vừa trích dẫn, gợi ý cho chúng ta có những
suy nghĩ như sau: Trước nhất là vần đề hình thức vấn
đáp của đoạn văn trên là hình thức vấn đáp giữa
thầy và trò, hay nói đúng hơn là câu chuyện trao đổi
mang tính trong nhà và thân mật. Nhưng đáng tiếc là Đại
Thiên không hiểu tánh tình chất trực của những người học
trò của mình, không phải là loại học trò thuộc loại ‘Quân
xử thần tử, thần bất tử bất trung’, có nghĩa là
thầy dạy sao phải nghe vậy, không được cãi. Câu chuyện
này với ý nghĩa, người phản đối cách lý giải của Đại
Thiên không ai khác hơn chính là những đệ tử xuất gia của
mình, ngay cả những người học trò còn thấy sai lầm như
vậy, huống chi là nữa bậc tri thức. Phải chăng đây là
cách châm biếm khéo léo của các nhà Hữu Bộ đối
với Đại Thiên? Nhưng cũng thật là buồn cười, câu chuyện
mà các nhà Hữu bộ mô tả về Đại Thiên được ghi chép
trong “Đại Tỳ Bà Sa luận” có những điểm mâu thuẫn
từ nội tại. Ví dụ như, các nhà Hữu bộ giải thích lý
do tại sao ông từ một người phạm 3 tội ngũ nghịch, nhưng
tại sao được nhà vua kính trọng và mời vào cung thuyết
pháp…thì các nhà Hữu bộ giới thiệu Đại Thiên là một
nhân vật rất thông minh, tinh thông Tam Tạng, có biệt tài
ăn nói hùng biện, nhưng khi đề cập đến việc ứng
cơ xử thế của Đại Thiên thì các nhà Hữu bộ lại giới
thiệu về ông rất vụng về, thậm chí cả những người
đệ tử, từng sống bên mình, nhưng ông cũng không biết
gì về chúng cả, đến nỗi Đại Thiên khuyên dạy đệ
tử 5 vấn đề không có vấn đề nào được các đệ
tử chấp nhận, bày tỏ thái độ lúng túng, trả lời
bằng cách lấy thúng che miệng voi, tránh né sự thật.
Thế thì đặc tính thông minh và tinh thông Tam Tạng kinh
điển của ông ở đâu? Sao không sử dụng nó để giải
đáp những vấn đề này? Ông không lường được sự phản
ứng của những đệ tử mình hay sao mà đưa ra quan điểm
nào cũng bị chúng phản bác và sanh lòng hoài nghi, không chỉ
diễn ra một lần mà lặp đi lặp lại đến 5 lần? Là những
người học trò của mình còn biểu hiện không đủ khả năng,
thế thì bằng cách nào ông có thể vào cung giảng dạy trong
hoàng cung, là nơi sinh hoạt của giới tri thức? Như vậy vấn
đề sự thật của đại Thiên ở đâu? Quan điểm tư tưởng
của ông như thế nào? Đây là điểm mà chúng ta cần chú
ý, không thể tùy tiện đánh giá và phê bình chỉ ngang qua
nguồn tư liệu của đối phương.
Thứ
2 là vấn đề nội dung tư tưởng. Như chúng ta được
biết, Đại Thiên cảm thấy sai lầm khi đưa ra vấn đề
thứ nhất là ‘Do sở dụ’, tức sự xuất tinh của vị
A la hán do các nữ Thiên ma tạo ra, do vậy các đệ tử
sanh nghi trong câu trả lời này, vì để hòa vui Đại Thiên
thọ ký ấn chứng cho những đệ tử của mình chứng
đắc 4 thánh qủa với ý muốn khỏa lấp những gì sai lầm
của mình. Nhưng kết quả ngược lại, những đệ tử cảm
thấy hoài nghi, tại sao mình chứng quả mà không biết
gì cả, phải đợi người khác chỉ bảo mới biết,
điều này quả thật khác với những gì mà các đệ
tử học được từ Phật pháp?
Khi
Đại Thiên bị các đệ tử tiếp tục đặt nghi vấn về
vấn đề thọ ký, Đại Thiên vẫn tiếp tục đi vào con
đường sai lầm của mình, bằng cách giải thích: Ở quả
vị A la hán vẫn còn sự ‘vô tri’, có nghĩa là ‘không
biết’. Theo ông giải thích, ‘vô tri’ có 2 nghĩa: 1.nhiễm
ô vô tri; 2. bất nhiễm ô vô tri. Nhiễm ô vô tri, người
chứng quả A la hán không còn nữa, vì nó xuất hiện từ
vô minh; nhưng ‘bất nhiễm ô vô tri’ tuy đã chứng quả
A la hán nhưng vẫn còn trạng thái này, vì nó không tùy
thuộc vô minh, như chúng ta đã được trình bày ở trên. Theo
tôi, đây chính là nội dung tư tưởng của khái niệm ‘vô
tri’ mà Đại Thiên đề cập. Ở đây chúng ta nên chú
ý một điều là cách ghi chép của “Bà Sa” đem 3 vấn
đề: 1. ‘Dư sở dụ’, ‘vô tri’ và ‘nghi’ tách thành
3 vấn đề khác nhau để bàn thảo, nhưng theo tôi 3 vấn
đề này có liên quan với nhau, điểm chính mà hai trường
phái thảo luận là với quả vị A la hán có khả năng toàn
tri toàn kiến không? Đại Thiên đưa ra quan điểm ‘bất
nhiễm ô vô tri’ chính là nói lên quan điểm, khi một
vị A la hán xuất tinh trong lúc ngủ say, là sự xuất tinh
theo luật đào thải tự nhiên của cơ thể, vì trong lúc ngủ
ý thức cũng nghỉ ngơi, không kiểm soát được hành động
của bản thân mình cũng như mọi việc xảy ra trong khi ngủ,
một hành vi như vậy không nên ghép nó vào là hành động
thiện hay bất thiện, hành vi này Đại Thiên gọi là ‘bất
nhiễm ô vi tri’. Thế nhưng, các nhà Hữu Bộ cố ý
tạo thành câu chuyện thọ ký để giải thích quan điểm
‘vô tri’ của Đại Thiên. Nếu như Đại Thiên đã rõ ràng
‘vô tri’ có loại như vậy, nhưng bản thân ông lại không
rõ khi thọ ký cho các đệ tử chứng quả là lúc bản thân
ông và những đệ tử của ông cũng ở trong trạng thái tỉnh
thức hay sao? Phải chăng là ý đồ không mấy tốt đẹp của
các nhà Hữu bộ? Dẫu vậy, nhưng trong đó vẫn bộc lộ
nhiều nhược điểm, để chúng ta có thể khai thác
truy tìm tư tưởng của Đại Thiên. Những gì vừa được
trình bày trong khái niệm vô tri này, chúng ta căn cứ nguồn
tư liệu của phái Hữu bộ. Để vấn đề tìm hiểu được
khả quan và rõ ràng hơn, chúng ta tìm hiểu các nguồn tư liệu
khác.
Ngoài
ra, trong tác phẩm “Kathāvatthu” phẩm thứ II cũng có
đề cập đến vấn đề ‘vô tri’. Quan điểm và cách
lý giải của các nhà Thượng tọa bộ như thế nào, trước
hết chúng ta cần tìm hiểu qua nguyên bản. Liên quan đến
vấn đề “vô tri” trong Kathàvatthu ghi lại những vấn
đề tranh luận như sau:
Vấn
đề thứ 1: Vô tri có đồng nghĩa vô minh không?
Nguyên
văn:
- Atthi
Arahato aññānan ti?
A la
hán có còn vô tri không?
- Àmantà
Có
- Atthi
Arahato avijjā avijjogho avijjàyogo avijjànusayo avijjàpariyutthànam
avijjāsaññojanam avijjànìvarananti?
A La
Hán có còn vô minh, vô minh bộc lưu, vô minh tuỳ miên,
vô minh triền, vô minh kiết, vô minh cái không?
- Na
hevam vattabbe.
Không
nên nói như vậy.
- Hañci
natthi Arahato avijjà… avijjànìva-ranam, no vata re vattabbe: “Atthi
Arahato aññānan ti”[22].
Nếu
như ông nói rằng: A la hán không còn vô minh… vô minh cái,
thì không nên nói: “A la hán còn có vô tri”.
Qua
những lời vấn đáp vừa được dẫn trên của hai phái, cho
chúng ta thấy rằng, quan điểm của Thượng tọa bộ cho rằng,
vô minh và vô tri thì giống nhau, cho nên phái này đã kết
luận: “Nếu như ông cho rằng A la hán không còn vô minh…vô
minh cái thì ông không nên nói: A la hán còn có vô tri”. Mặc
dù, phái Thượng tọa bộ đã kết luận như vậy, nhưng quan
điểm của phái Đại chúng bộ vẫn không đồng ý hai khái
niệm này giống nhau. Lý do tại sao chúng ta tiếp tục tìm
hiểu.
Vấn
đề 2: Nếu như A la hán không có vô tri đối với Phật Pháp
và Tăng thì ông không nên cho rằng A la hán vẫn còn vô tri.
Nguyên
văn:
- Atthi
Arahato aññāṇan ti?
A la
hán có còn vô tri không?
- Àmantà
Có
-Atthi
Arahato Satthari aññāṇaö, Dhamme aññāṇaö, Saöghe aññāṇaö…ti?
Vị
A la hán có còn vô tri đối với bậc đạo sư, với pháp,
với Tăng già…không?
-Na
hevam vattabbe.
Không
nên hỏi như vậy.
-Haóci
natthi Arahato Satthari aóóāṇam, Dhamme aóóāṇaṃ, Saöghe aóóāṇaö…,
no vata re vattabbe: “Atthi Arahato aóóāṇan ti”.[23]
Nếu
như ông cho rằng, A la hán không còn vô tri đối với bậc
đạo sư, với Pháp, với Tăng già…thì ông không nên nói:
A la hán vẫn còn vô tri.
Qua
cuộc đối thoại thứ nhất, Đại chúng bộ vẫn không chấp
nhận lời kết luận của Thượng tọa bộ, cho nên Thượng
tọa bộ tiếp tục cật vấn, bằng cách đặt vấn đề: “Ở
địa vị A la hán có còn vô tri đối với bậc đạo sư, với
Pháp với Tăng không?” được đối phương xác định là
‘không còn’, nhưng khi hỏi “A la hán có còn ‘vô tri’
không?” thì đối phương vẫn giữ lập trường xác định
là ‘có’. Phải chăng câu trả lời của Đại chúng bộ
có mâu thuẫn? Hay Đại chúng bộ muốn xác định khái niệm
‘vô minh’ và ‘vô tri’ không giống nhau? Chúng ta tiếp
tục theo dõi cuộc tranh luận của hai phái, để chúng ta từ
đó rút lời nhận định độc lập của mình.
Vấn
đề thứ 3: Nếu vị A la hán đã hoàn toàn đoạn tận si mê,
như cây sala chặt đầu thì làm gì A la hán vẫn còn vô tri?
Nguyên
văn:
-Atthi
Arahato aóóānan ti?
A la
hán có còn vô tri không?
-Āmantā.
Còn.
-Nanu
Arahato rāgo (doso, moho) pahīno ucchinnamùlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato
āyatiṃ anuppādadhammo ti?
Vị
A la hán đã xả bỏ lòng tham (sân và si), chặt đứt lòng
tham như cây sala chặt đầu, không thể tái sanh trong tương
lai phải không?
-Āmantā.
Đúng
vậy.
-Haóci
Arahato rāgo (doso, moho) pahīno ucchinnamùlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato
āyatiṃ anuppādadhammo, no vata re vattabbe: “Atthi A rahato aóóāṇan
ti”[24].
Nếu
như ông cho rằng, vị A la hán đã đoạn trừ lòng tham sân
và si, chặt đứt lòng tham như cây sala chặt đầu, không thể
tái sanh trong tương lai thì ông không nên nói: Vị A la hán
vẫn còn vô tri.
Ý
câu hỏi này, Thượng tọa bộ muốn đặt vấn đề rằng,
nếu như chúng ta xác định vị A la hán không còn lòng tham
sân và si nữa, giống như cây sala chặt ngọn, không thể tái
sanh trong tương lai, thế thì lý do gì vị A la hán vẫn còn
vô tri? Nội dung và ý nghĩa câu này, cũng đã được giải
thích ở phần trên.
Vấn
đề thứ 4: Nếu vị A la hán nhờ vào tri kiến mà đoạn trừ
tham sân và si thì không thể nói A la hán vẫn còn vô tri.
Nguyên
văn:
-Atthi
Arahato aññānan ti?
A la
hán có còn vô tri không?
-Āmantā
còn
- Nanu
vuttam Bhagavatà -“Jànatvàham Bhikkhave passato àsavànam Khayam
vadàmi, no ajànato no apassato.Kiñ ca Bhikkhave jànato Kim passato
āsavànam Khayohoti? Idam dukkhan ti Bhikkhave jànato passato àsavànam
Khayo hoti, ayam dukkasa-mudayo ti jànato passato àsavànam khayo
hoti, ayam dukkanirodho ti jànato passato àsavànam Khayo hoti, ayam
dukkhanitodhagàminìpatipadà ti jànato passato àsavànam Khayo
hoti. Evam kho Bhikkhave jànato evam passato àsavànam Khayo hotì.”
Atthi eva suttanto ti?
Có
phải chăng Thế Tôn đã từng nói như thế này: “Này
các Tỷ Kheo! Người có sự thấy và biết ta nói người
đó đã diệt tận các lậu hoặc; người không thấy
không biết, người ấy các lậu chưa đoạn tận. Này
các Tỷ Kheo như thế nào gọi là thấy và biết? Này
các Tỷ Kheo! Được gọi là thấy và biết tức là
thấy biết. Đây là khổ, khổ tập, khổ diệt và
con đường đưa đến khổ diệt. Như vậy này các Tỷ
Kheo được gọi là thấy biết”. Vậy xin hỏi Đức Phật
có nói Kinh này không?
- Àmantà
Có
- Tenahi
na vattabbe: “Atthi Arahato aññāṇan ti”[25]
Nếu
như vậy, ông không nên nói: “A la hán vẫn còn có vô
tri”
Sau
nhiều lần Đại chúng bộ phủ nhận quan điểm của Thượng
tọa bộ cho rằng, khái niệm ‘vô tri’ tương đồng với
khái niệm ‘si’ hay ‘vô minh’. Do vậy, Thượng tọa bộ
đã trích dẫn tư tưởng của đoạn kinh trong kinh Nikàya hay
A hàm[26] làm bằng chứng nhằm thuyết phục và đả phá quan
niệm cố chấp của Đại chúng bộ, nhưng kết quả không
như ý muốn. Đại chúng bộ chấp nhận đức Phật có nói
kinh này với ý nghĩa như vậy, nhưng ông vẫn duy trì quan điểm
của mình, không chấp nhận quan điểm của Thượng tọa bộ
cho rằng: Khái niệm ‘vô minh’ và ‘vô tri’ giống nhau.
Đây chính là trung tâm điểm mà hai phái tranh luận bất đồng
ý kiến với nhau. Nhưng tác phẩm “Kathāvatthu” này hoàn
toàn không ghi lại lý do tại sao Đại chúng bộ không đồng
ý quan điểm này, điểm trung tâm của vấn đề tranh cải
mà chúng ta biết được qua tác phẩm “Bà Sa luận”, giải
thích ý nghĩa khái niệm ‘vô tri’ mà Đại Thiên mang ý nghĩa
là ‘bất nhiễm ô vô tri’, không phải là loại ‘nhiễm
ô vô tri’. Như tác phẩm “Bà sa luận” cũng không giải
thích thế nào gọi là ‘bất nhiễm ô vô tri’, ngược lại
tác phẩm “Kathāvatthu-Atthākathā” là tác phẩm chú giải
của tác phẩm “Kathāvatthu” lại giải thích khái niệm ‘vô
tri’ của vị A la hán là:
“Vì
một vị A-la-hán không biết được những chi tiết như tên
tuổi, gia cảnh v.v... về một người đàn bà hay một người
đàn ông nào đó đại loại như vậy, chính vì thế thực
sự ngài là người vô minh (tức là thiếu kiến thức) (2)
Cũng có khả năng ngài sẽ gặp lúng túng trước những sự
kiện cuộc sống hàng ngày.”[27]
Trước
nhất, bản dịch này có vấn đề cần thảo luận. Khái niệm
aññānan ở đây không mang nghĩa là ‘vô minh’, theo Đại
Thiên sử dụng từ này mang ý nghĩa là ‘bất nhiễm ô vô
tri’, được luận này chú giải là những trường hợp vị
A la hán không biết tên tuổi, gia cảnh của một người nào
đó. Sự không biết này không mang ý nghĩa không có khả năng
hiểu biết, vì nó không liên quan đến cuộc sống của vị
A la hán, cho nên gọi là ‘bất nhiễm ô vô tri’, khái niệm
này không đồng nghĩa với ‘vô minh’. Trong trường hợp
này, nếu chúng ta không nắm rõ tư tưởng kinh điển A hàm
hoặc kinh Nikàya, đồng thời không nắm rõ tư tưởng của
Đại Thiên, chúng ta dễ chấp nhận cách lý giải của “Luận
Tỳ Bà Sa” hay “Kathāvatthu”.
Thật
ra, những vấn đề đối thoại vừa được nêu ra ở trên
giữa hai phái Thượng tọa bộ và Đại Chúng Bộ chỉ
là những vấn đề mang tính điển hình, trên thật tế
hai bên thảo luận gồm 23 đề tài, chung quanh vấn đề:
A la hán có còn vô tri không? Về mặt hình thức, cách
thảo luận này là hình thức vấn đáp, bên hỏi là
phái Thượng tọa bộ và bên trả lời là Đại Chúng Bộ.
Điểm mà chúng ta cần chú ý ở đây là, Đại Chúng
Bộ chỉ đơn giản trả lời là: ‘có’ hay ‘không’
mà thôi, nhưng không thấy giải thích tại sao trả lời là
‘có’ và tại sao trả lời là ‘không’, Đồng thời
cách trả lời của Đại Chúng Bộ hoàn toàn ở vào
thế bị động, có nghĩa là phái Thượng tọa bộ hỏi
những câu hỏi bắt đối phương phải trả lời theo ý
của mình, nhằm tạo thành sự mâu thuẫn lẫn nhau giữa
những câu trả lời của chính mình, để cho Thượng tọa
bộ lấy đó làm cơ sở để bắt chẹt đối phương. Phải
chăng đây là ý đồ của phái Thượng tọa bộ. Ví dụ:
- A
la hán có vô tri không?
- Có.
- A
la hán có vô minh không?
- Không.
Nếu
vị A la hán không có vô minh thì tại sao cho rằng A la hán
vẫn còn có vô tri? Như vậy nếu chúng ta chấp nhận
câu trả lời 2 thì không chấp nhập câu trả lời 1, đây
là sự mâu thuẫn, nếu như chúng ta không tìm hiểu ý nghĩa
của hai khái niệm này.
Trong
trường hợp này, ở đây chúng ta thử đặt nghi vấn:
Trong khi Đại Chúng Bộ trả lời như vậy, tự mình không
biết 2 câu trả lời của chính mình mâu thuẫn nhau sao?
Nếu như trả lời là “không biết” thì thật là vô
lý, khi chúng ta hiểu rằng Đại Chúng Bộ là 1 phái
lớn trong Phật Giáo. Đại Thiên là một nhân vật cực
kỳ thông minh? Nếu trả lời là “biết” thì tại sao
Đại Chúng Bộ vẫn khăng khăng trả lời để rơi vào
cái bẫy mà Hóa Địa Bộ đã giăng bủa, để đưa đến
lời kết luận, nếu chấp nhận cái thế này thì
không chấp nhận cái kia. Thế thì tại sao? Đạo lý của
vấn đề nằm ở đâu? Đây quả là vấn đề lý thú
khi tìm hiểu tư tưởng của Đại Thiên. Theo tôi, sư dị
biệt của vấn đề chính là sự khác biệt giữa 2
khái niệm của 2 từ vô tri (aññānam) và vô minh (avijjà).
Thế thì khái niệm vô tri và vô minh như thế nào? Thật
đáng tiếc không một lời giải thích trong tác phẩm
này, nó chính là sự cố ý hay vô tình của Thượng
tọa bộ, tạo thành sự đồng nhất ý nghĩa của 2 khái
niệm này. Nhưng trên thực tế, qua nguồn tư liệu của
Hữu Bộ ghi lại, lời giải thích đơn giản của Đại
Thiên về khái niệm vô tri này, như ở trên chúng ta đã
trình bày là “nhiễm ô vô tri” và ‘bất nhiễm ô
vô tri’. Khái niệm ‘nhiễm ô vô tri’ tương đồng với
khái niệm ‘vô minh’, nhưng khái niệm ‘bất nhiễm vô vô
tri’ không tương đồng với khái niệm ‘vô minh’, đó là
lý do tại sao Đại chúng bộ không chấp nhận ý kiến của
Thượng tọa bộ.
Qua
các nguồn tư liệu vừa được thảo luận, nhất là bản
chú giải, nó cho phép chúng ta tái xác định ý nghĩa khái
niêm từ ‘vô tri’ mà Đại Thiên sử dụng mang ý nghĩa
‘bất nhiễm ô vô tri’ khôn