CHƯƠNG
V
Từ
tư tưởng của Đại Thiên
đến
tư tưởng của các phái trong Đại chúng bộ
Nếu
chúng ta đứng từ góc độ lịch sử nhìn về quá trình diễn
biến của Phật giáo Ấn Độ, chúng ta sẽ không cảm thấy
ngạc nhiên và bỡ ngỡ khi hiểu được Phật giáo Ấn Độ
không ngừng phát triển, từ Phật giáo nguyên thủy đến Phật
giáo Bộ phái; từ Phật giáo Bộ phái phát triển thành Phật
giáo Đại thừa. Mỗi thời kỳ Phật giáo đều có tính đặc
thù về tư tưởng và sự khác nhau về hình thức sinh hoạt.
Sự diễn biến này không phải là chuyện ngẫu nhiên mà nó
luôn luôn gắn liền với môi trường sống của chính bản
thân nó. Có nghĩa là bản thân Phật giáo chịu ảnh hưởng
từ các mặt hoạt động của xã hội, như là tín ngưỡng,
văn hóa, tư tưởng…và ngược lại. Có thể nói đây là
lý do chính đáng để chúng ta lý giải tại sao Phật giáo
có sự diễn biến này. Cũng từ điểm này chúng ta hiểu được
lý do tại sao từ quan điểm về 5 việc của Đại Thiên lại
biến thành các bộ phái trong Đại chúng bộ, nếu nhận định
một cách nghiêm túc thì quan điểm của ông có hể nói là
trái ngược tư tưởng của các phái trong Đại chúng bộ,
vì ông là người phản đối sự thần thánh hóa đức Phật,
nhưng các phái thuộc Đại chúng bộ thì ngược lại[1], mô
tả đức Phật như là một vị thần linh, có quyền oai vô
hạn. Đây chính là nội dung của vấn đề mà chúng ta sẽ
thảo luận trong chương này. Vì nó là điểm sẽ phát sinh
hoài nghi tư tưởng về 5 việc của Đại Thiên và Đại chúng
bộ. Đó là lý do tại sao trong tác phẩm này, đưa ra chương
năm để thảo luận vấn đề này. Thật ra trong chương này
người viết không có ý, trình bày tư tưởng của các bộ
phái thuộc Đại chúng bộ, chỉ trình bày một vấn đề đơn
giản là: Tại sao những người thuộc Đại chúng bộ lại
tôn sùng Đại Thiên là vị khai sơn Đại chúng bộ, nhưng
về sau các phái lại có quan điểm ngược lại ông. Thế thì
Đại chúng bộ học được từ ông điểm gì để hình thành
tư tưởng của Đại chúng bộ? Đây là điểm mà người viết
sẽ cố gắng trình bày trong chương này.
Để
vấn đề được rõ ràng, ở đây trước tiên chúng ta thử
tìm hiểu quan điểm tư tưởng của Đại Thiên là gì, kế
đến chúng ta tìm hiểu quan điểm của Đại chúng bộ.
a.
Tư tưởng cơ bản của Đại Thiên
Đề
cập đến quan điểm tư tưởng của Đại Thiên là chúng ta
đề cập đến tư tưởng về 5 việc của Đại Thiên; Đề
cập đến 5 việc của Đại Thiên, chúng ta không thể không
đề cập đến bối cảnh xã hội Phật giáo vào thời đại
của ông. Tư tưởng về 5 việc của ông như chúng ta đã thảo
luận qua, ở đây chúng ta không cần phải thảo luận gì thêm
nữa. Nhưng về bối cảnh lịch sử, chúng ta cần chú ý phong
cách của ông đối với việc cải cách chấn chỉnh Phật
giáo.
Có
lẽ chúng ta đều hiểu rằng, sau khi đức Phật nhập diệt,
thay thế cho đức Phật trông coi sinh hoạt của tăng già là
các vị trưởng lão. Tâm tư của những vị này luôn luôn
lúc nào cũng hoài niệm về đức Phật và những hình thức
sinh hoạt của tăng già khi Thế Tôn còn tại thế. Với một
tâm tư như vậy, lòng càng nhớ thương bao nhiêu thì đức
Phật càng vĩ đại bấy nhiêu. Bên cạnh đó, những tôn giáo
khác mô tả về vị giáo chủ của mình có oai lực như thế
này, như thế khác. Một cách vô tình hai yếu tố này là nguyên
nhân hình thành vị đạo sư mà mình kính mến trở thành một
vị Thánh – siêu việt, trong ấy không làm sao tránh khỏi
yếu tố thần thoại. Quan niệm này vô hình chung đã vi phạm
nhân cách và quan điểm giáo dục của đức Phật. Điều này
tất nhiên không được đồng tình của tăng chúng là những
người am hiểu Phật pháp. Thế nhưng dù gì đi nữa, các vị
trưởng lão là những người lãnh đạo tăng chúng, thật khó
có thể xảy ra việc kẻ dưới phản đối người trên. Tôi
nghĩ đó là sự thật, nó không những chỉ xảy ra trong quá
khứ mà ngay cả ở xã hội ngày nay, không chỉ có ở Ấn
độ mà hầu như có khắp mọi nơi trên thế giới. Trước
một thực trạng như vậy, thế mà Đại Thiên dám làm việc
tày trời, ngang nhiên trước đại chúng đưa ra 5 việc để
phản đối quan điểm thần thánh hóa đức Phật của những
bậc kỳ cựu trưởng lão, là những người lãnh đạo, có
tiếng nói rất mạnh trong Tăng già. Kết quả của việc làm
này là một loạt bài viết phê bình đả kích về ông như
đã được ghi trong “Luận Bà Sa” và “Kathāvatthu”. Dù
gì đi nữa, lòng dũng cảm và tinh thần cải cách dám nghĩ
dám làm của Đại Thiên đáng được cho ngày nay chúng ta học
tập và ngưỡng vọng. Có thể nói, ông là người tiên phong
trong Tăng già lên tiếng chấn chỉnh Phật giáo, sự chấn
chỉnh này vô hình chung ông trở thành nhân vật lãnh đạo
tinh thần cho Đại chúng bộ, là phái có khuynh hướng cải
cách, đưa Phật giáo vào xã hội. Nếu như Phật giáo đương
thời không có sự xuất hiện của Đại Thiên thì trào lưu
cải cách Phật giáo của Đại chúng bộ sẽ gặp nhiều chướng
ngại.
Nếu
như chúng ta đứng từ góc độ này mà nhìn Đại Thiên thì
nhân vật Đại Thiên có 2 điểm mà chúng ta cần chú ý. Thứ
nhất là tinh thần chỉnh đốn cải cách của Đại Thiên;
Thứ hai là tư tưởng về 5 việc của Đại Thiên. Trong hai
tư tưởng này, Đại chúng bộ chỉ lấy tư tưởng cải cách
của Đại Thiên làm nền tảng cho sự thực thi đường lối
cải cách của mình, nhưng Đại chúng bộ không lấy tư tưởng
về 5 việc của ông làm tư tưởng cho mình Theo người viết,
đây chính là yếu tố các nhà Đại chúng bộ xem Đại Thiên
như là vị khai sơn cho trường phái của mình.
b.
Tư tưởng cơ bản của Đại Chúng bộ
Ở
đây, chúng ta gọi ‘Đại chúng bộ’ (Mahāsaögikā) là phái
có quan điểm đối lập với Thượng tọa bộ (Sthavira) là
2 phái lớn của Phật giáo Ấn Độ, tư tưởng của Đại
chúng bộ là tiền thân của Đại thừa Phật giáo. Theo “Luận
Dị Bộ” ghi Đại chúng bộ có tất cả là 9 bộ, gồm: 1.
Đại Chúng bộ, 2. Nhứt Thuyết bộ, 3. Thuyết Xuất Thế bộ,
4. Kê dẫn bộ, 5. Đa Văn bộ, 6. Thuyết Giả bộ, 7. Chế Đa
Sơn bộ, 8. Tây Sơn Trụ bộ, 9. Bắc Sơn Trụ bộ. 9 bộ phái
này, tất nhiên mỗi phái đều có lập trường và quan điểm
đặc thù của riêng mình, nhưng với nguồn tư liệu hiện
có trong Phật giáo, đề cập đến những quan điểm tư tưởng
của 9 bộ phái này thật là hiếm hoi, có thể nói là không
có, trừ “Luận Dị Bộ” đề cập một các khái quát. Nơi
đây, người viết cũng không có ý trình bày tư tưởng của
từng phái, chỉ khái quát quan điểm chung nhất của Đại
chúng bộ, với mục đích chỉ ra quan điểm của Đại chúng
bộ không cùng với quan điểm về 5 việc của Đại Thiên,
nhằm đính một thói quen không đúng, cho rằng quan điểm tư
tưởng là của Đại Thiên.
Ở
đây, điểm chung của Đại chúng bộ là ‘Phật Đà luận’
và ‘Bồ tát luận’, đã được “Luận Dị Bộ” ghi như
sau:
“Chư
Phật Thế Tôn đều là những bậc xuất thế gian, các đức
Như Lai không có pháp hữu lậu, những lời nói của Như Lai
đều có ý nghĩa chuyển pháp luân, Phật sử dụng một loại
âm thanh để nói pháp, lời Phật dạy không thể bàn cãi,
sắc thân của Như Lai không có bờ mé, oai lực của đấng
Như Lai cũng không thể lường được, tuổi thọ của Phật
không thể cùng tận. Đức Phật giáo hóa loài hữu tình với
mục đích làm cho chúng sanh có lòng tịnh tín không thối tâm.
Đức
Phật khi ngủ không có mộng mị, đức Phật trả lời câu
hỏi không cần suy nghĩ, không cần tư duy vận dụng văn chương
(danh cú văn thân), vì ngài lúc nào cũng ở trong chánh định…chỉ
trong khoảnh khắc của một sát na hiểu rõ tất cả các pháp,
chỉ trong một sát na tâm tương ưng với trí bát nhã (pra-jñāpāramitā)
liễu tri tất cả pháp. Lậu tận trí và vô sanh trí của Như
Lai thường ở trong bình đẳng, tùy tâm mà hành cho đến nhập
vô dư Niết bàn (Nirvāna).
Tất
cả các vị Bồ tát nhập vào thai mẹ đều không bị nhiễm
những loại ô uế của người mẹ, tất cả những Bồ tát
khi nhập thai mẹ đều lấy hình thức con voi trắng chui vào
bụng, khi các vị Bồ tát sanh ra đều từ hông phải của
người mẹ, vì tất cả Bồ tát vào thai không phải vì dục
tưởng sân tưởng và hoại tưởng, chỉ vì mục đích làm
lợi lạc cho các loài hữu tình mà nguyện sanh vào cõi ác
này, cho nên sự kiện nhập thai hay xuất thai Bồ tát tùy ý
quyết định….”[2]
Qua
nội dung đoạn văn vừa dẫn, cho chúng ta thấy rằng, quan
điểm của Đại chúng bộ và tư tưởng về 5 việc của Đại
Thiên không giống nhau. Đại chúng bộ cho rằng đức Phật
và Bồ Tát là bậc ‘xuất thế’ và ‘vô lậu’. Ở đây,
khái niệm ‘xuất thế’ được các kinh điển Đại thừa
giải thích là vị đã thành Phật từ vô lượng kiếp. Sự
xuất hiện của Phật và Bồ tát ở thế gian chỉ là sự
‘Thị hiện’, do vậy Phật và Bồ tát đến hay ra đi đều
tùy tiện, nó không giống như sự ra đời của chúng ta, đều
do nghiệp lực quyết định; Khái niệm ‘vô lậu’ tức chỉ
cho sự thanh tịnh, không còn phiền não uế nhiễm. Khái niệm
‘vô lậu’ được mô tả trong đoạn văn vừa dẫn trên
mang ý nghĩa Phật và Bồ tát là vị hoàn toàn trong sạch,
không những chỉ có tâm vô lậu mà thân cũng thuộc vô lậu,
vì Phật và Bồ tát là người ‘thị hiện’, không phải
như chúng ta. Trong khi đó Đại Thiên có cái nhìn hoàn toàn
khác. Như chúng ta vừa thảo luận 5 việc của Đại Thiên,
việc thứ 1 đến việc thứ 4 đều mang ý nghĩa phản đối
việc thần thánh hóa đức Phật (trong thời gian này Phật
tức là A la Hán, A la Hán là Phật), cho rằng tuy Phật và A
la Hán là vị đã dứt sạch lòng tham sân si, nhưng không phải
vì thế mà cho rằng thân thể (vật chất) của ngài cũng trong
sạch, không còn chịu qui luật vô thường. Có nghĩa là khi
đức Phật và A la Hán khi còn là thân con người thì vẫn
những hiện tượng bịnh đau, đại tiểu tiện.v.v…cách lý
giải này mang ý nghĩa, tâm của Phật hay A la Hán thì đã giải
thoát, không còn phiền não, thuộc về vô lậu, nhưng thân
của Phật hay A la Hán vẫn là thân hữu lậu, vì vẫn phải
chịu luật vô thường chi phối.
Từ
những ý nghĩa này, chúng ta thấy quan điểm của Đại chúng
bộ và Đại Thiên hoàn toàn không giống nhau về Phật thân.
Do vậy, chúng ta không nên nhầm lẫn cho rằng, tư tưởng của
Đại chúng bộ là tư tưởng của Đại Thiên. Nhưng chúng
ta cũng không vì vậy mà cho rằng, Đại Thiên là nhân vật
của Đại chúng bộ. Điều này chúng ta có thể ngang qua sự
‘đổi mới’ của xã hội Việt Nam để hiểu về vấn đề
này. Vì mỗi thời kỳ lịch sử có mỗi bối cảnh xã hội
riêng của nó, những yêu cầu từ xã hội là yếu tố để
hình thành những suy tư của con người, suy tư của con người
là sự phản ánh những vấn đề xã hội, la những biện pháp
giải quyết những yêu cầu của xã hội đó, và chắc chắn
cũng có yếu tố tương tác với những xã hội kế tiếp.
Như vậy, nó đồng nghĩa là cái trước làm tiền đề cho
cái sau phát sinh, cái sau là sự kế thừa của cái trước,
hay nói một cách khác, cái trước làm nhân cho cái sau, cái
sau là quả của cái trước, nhưng cái trước không phải là
cái sau. Cũng vậy, tư tưởng của Đại Thiên khác với tư
tưởng của Đại chúng bộ cũng mang một ý nghĩa như vậy,
vì xã hội Phật giáo dưới thời của Đại Thiên, không phải
là bối cảnh xã hội của Đại chúng bộ. Xã hội của Đại
Thiên là xã hội giao thời giữa Phật giáo Nguyên thủy và
Phật giáo Bộ phái, điểm giao thời này là yếu tố tạo
ra quan điểm của Đại Thiên; Xã hội của Đại chúng bộ
là một xã hội đang đối diện với những nhu cầu xã hội
hoá Phật giáo, là chính sách đem Phật giáo thành quốc giáo
của nhà vua Asoka. Theo người viết, đây là yếu tố để
hình thành tư tưởng của Đại chúng bộ, nhưng nếu không
có sự đột phá của Đại Thiên, tư tưởng đem Phật giáo
vào xã hội của Đại chúng bộ chắc chắn sẽ gặp nhiều
khó khăn, vì phe bảo thủ chắc chắn không chấp nhận đại
chúng Phật giáo, có ảnh hưởng đến sự tu tập của giới
Tăng già.
Mặt
khác, vì nhu cầu của xã hội là nhu cầu tín ngưỡng, không
phải là nhu cầu triết lý cao xa, do đó Phật giáo Đại chúng
bộ không thể không vay mượn những hình thức tín ngưỡng
của người dân Ấn làm ‘phương tiện môn’ để đem Phật
pháp vào đời sống xã hội. Cũng từ đó, sự giải thích
đức Phật như là một vị toàn năng siêu việt trở thành
một việc làm phổ biến trong Phật giáo Đại chúng bộ, đó
cũng là một việc làm tất yếu.
[1]
[2]
“Luận Dị Bộ” ĐT 49, số: 2031, trang 15b~c.