CHƯƠNG
VI
LỜI
KẾT
Đề
cập đến nguyên nhân làm rạn nứt Tăng đoàn phân chia Phật
giáo thành hai phái Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, chúng
ta không thể không đề cập đến nhân vật Đại Thiên, đề
cập đến Đại Thiên là đề cập đến 5 việc của ông.
Theo
nguồn tư liệu hiện có của Phật giáo cho thấy, không biết
vì lý do gì Đại Thiên và các phái thuộc Đại chúng bộ
không có một tác phẩm nào để lại, ghi chép về sự kiện
này, do vậy khi nghiên cứu về Đại Thiên và 5 việc của
ông, các nhà nghiên cứu phải lấy những tác phẩm Bắc truyền
gồm có” Luận Dị Bộ”, “Luận Bà Sa” và “Luận Phát
Trí”, là những bộ luận của phái Thuyết Nhứt Thuyết Hữu
bộ (Sarvāstivādin); hay căn tác phẩm “Kathāvatthu” và bản
chú thích của luận này là “Kathāvatthu-pakarana- aææhakathā”,
là những bộ luận của phái Đồng Diệp bộ (Tāmrāśtīya),
nhưng xét về nguồn gốc, những luận này đều thuộc về
Thượng tọa bộ, là phái kịch liệt phản đối quan điểm
tư tưởng của Đại chúng bộ, người đứng đầu là Đại
Thiên. Do vậy, chúng ta cần lưu ý, khi tiến hành nghiên cứu
những luận này.
Nhìn
chung sự ghi chép về Đại Thiên của hai nguồn tư liệu này,
tuy có sự sai biệt nhỏ, nhưng đại để thì giống nhau. Theo
sự ghi chép trong các luận của Hữu bộ gợi ý cho chúng ta
hiểu rằng, lý do mà Đại Thiên đưa ra 5 việc này chính là
do ông ta đã tạo 3 nghịch tội, giết cha giết mẹ và giết
A la Hán, và ngay cả việc loạn luân với người mẹ của
chính mình, cho nên các nhà Hữu bộ kết tội ông là người
có ác kiến với Phật pháp. Còn ghi chép trong tác phẩm “Kathāvatthu”
của Phật giáo Nam truyền chỉ thảo luận 5 việc, nhưng hoàn
toàn không đề cập gì đến nhân vật Đại Thiên. Sự khác
nhau về điểm này cũng là vấn đề đáng được chú ý khi
thảo luận về nhân cách của ông. Một điểm mà chúng ta
cần lưu ý trong tác phẩm “Kathāvatthu” là sự biên tập.
Luận này sử dụng hình thức vấn đáp để phận biện sự
sai trái của đối phương. Về mặt hình thức thảo luận,chúng
ta mới đọc lướt qua, có vẻ như là rất hữu lý, những
nếu chúng ta nghiên cứu nó một cách nghiêm túc thì vấn đề
không phải là như thế, đậy chỉ là một hình thức che đậy
tính chủ quan của người biên tập, vì không thể một cuộc
thảo luận nào chì có một bên đặt nghi vấn và một bên
trả lời, và cách trả lời cũng rất là đơn giản là: ‘có’
hay ‘không’, cách trả lời này lại là biểu hiện sự mâu
thuẩn hay sai lầm của chính mình. Lý do nào Đại Thiên trả
lời ‘có’ và lý do nào Đại Thiên trả lời ‘không’,
trong luận này hoàn toàn không giải thích. Tạo sao lại xảy
là một cuộc thảo luận thiếu công bằng như thế? Như vậy
cuộc thảo luận này có khách quan không? Có lẽ mọi người
chúng ta đã có câu trả lời rõ ràng. Thế thì nội dung và
ý nghĩa của 5 việc như thế nào, đây là điểm mà người
viết tập trung giải quyết.
Thật
ra, nội dung và ý nghĩa của 5 việc của Đại Thiên, quả
là một vấn đề khá phức tạp. Lý do vì nhân vật Đại
Thiên và 5 việc của ông mà chúng ta biết đến không phải
là chính ông hoặc chính hệ phái của mình ghi lại mà chúng
ta phải dựa vào sự ghi chép trong các luận của phái đối
lập, bất đồng ý kiến với ông. Nếu đó là sự thật,
thì vấn đề cần đặt ra là, sự ghi chép này phải chăng
mang tính trung thực và khách quan? hay nó chỉ là ý kiến riêng
của phái Thượng tọa bộ? Chúng ta thấy lập trường và
quan điểm như thế nào thì câu trả lời cũng tùy theo đó
mà hình thành. Đó là lý do tại sao có một số người cho
rằng sự kiện 5 việc của Đại Thiên được ghi chép trong
các luận là sự thật, nhưng cũng có một số người không
đồng tình sự ghi chép của luận này, bằng tình cảm và
niềm tin của mình phủ nhận sự ghi chép của các luận ấy.
Tất
nhiên, riêng tôi không thể chấp nhận với hai cách nhận định
này., vì một bên thì căn cứ tư liệu nhưng không xử lý
và phân tích tư liệu, còn một bên chỉ căn cứ vào niềm
tin và tình cảm riêng tư của mình đi đến phủ nhận là
không phù hợp với công việc nghiên cứu..
Với
sự lý giải của người viết, tất nhiên cũng căn cứ vào
những nguồn tư liệu này, đồng thời tham khảo nguồn tư
liệu A hàm để phân tích và đánh giá tư tưởng về 5 việc
của Đại Thiên. Vì người viết cho rằng, tư tưởng về
5 việc của Đại Thiên không thể là những suy nghĩ từ trên
không rơi xuống hoặc từ dưới đất chui lên, nó phải xuất
phát từ một bối cảnh xã hội của Phật giáo lúc bấy giờ,
và khi ông đưa ra 5 việc này cũng không thể tùy tiện, chắc
chắn phải căn cứ vào một loại kinh điển nào đó. Ở vào
thời ông kinh điển đó phải là Kinh Āgama (A hàm). Từ đó
người viết tiến hành tìm kiếm ở trong hai hệ thống kinh
điển A hàm và Nikāya, phát hiện có khá nhiều quan điểm
tư tưởng trong kinh này phù hợp với quan điểm của Đại
Thiên. Do vậy người viết lý giải tư tưởng về 5 việc
của Đại Thiên như sau.
Đại
Thiên chỉ là người kế thừa và phát huy tư tưởng: Đức
Phật phủ nhận mình là người ‘Nhứt Thiết Trí, Nhứt Thiết
Kiến’ trong ‘kinh Ba Minh vacchagota’ trong “Kinh Trung Bộ”
để hình thành việc đầu trong 5 việc của mình. Sự phủ
nhận này mang ý nghĩa vị A la hán không phải ở mọi lúc
mọi nơi và việc gì ngài cũng đều biết cả. Ngài chỉ biết
những gì cần biết và không cần biết những gì không liên
hệ đến đời sống phạm hạnh. Với tư cách và vị trí
là một con người, A la hán cũng cần phải ngủ nghĩ. Ngủ
nghỉ là trạng thái không kiểm soát của ý thức, như vậy,
khi vị A la hán trong lúc ngủ nằm mộng xuất tinh là sự kiện
tự nhiên của cơ thể, vì nó không phải là hành vi cố ý,
đó là lý do ông chủ trương vị A la hán còn có hiện tượng
xuất tinh trong khi ngủ; Cũng căn cứ từ ý nghĩa của bài
kinh này ông cho rằng, vị A la hán vẫn còn trạng thái ‘bất
nhiễm ô vô tri’, tức là loại vô tri (không biết) không
phải là vô minh vô tri. Ví dụ như sự vô tri về những lãnh
vực không phải là lãnh vực tu tập, liên hệ đến đời
sống xuất gia hay là A la Hán. Đó là lý do tại sao Đại Thiên
cho rằng A la hán vẫn còn trạng thái ‘vô tri’; Thứ 3, ông
cho rằng vị A la hán vẫn còn sự ‘nghi ngờ’ hay ‘do dự’.
Lý do mà ông đưa ra quan điểm này, chính là trường hợp
khi vị A la hán đối diện với sự kiện không thuộc phạm
vi hiểu biết của mình cho nên phát sinh trạng thái bỡ ngỡ,
không quyết đoán được việc đó. Ví như ở một nơi hoàn
toàn xa lạ, giữa ngã 3 đường A la hán không xác định được
hướng đi, trong trường hợp này tâm tư của A la hán phát
sinh trạng thái đắn đo do dự là sự việc tư nhiên, vì thái
độ do dự hoài nghi này, không phải là trạng thái tâm lý
xuất phát từ vô minh, cho nên ông chủ trương là A la hán
vẫn còn sự do dự; Việc thứ 4, ông cho rằng đối những
việc không liên hệ đến đời sống phạm hạnh, như khi bệnh
cần làm theo sự chỉ dẫn của Bác sĩ là chuyện tự nhiên,
sự chỉ dẫn của y bác sĩ là là hợp lý, không thể căn
cứ vào việc A la Hán bị bác sĩ chỉ dẫn mà cho rằng A la
Hán vẫn còn tham sân si. Đây chính là lý do tại sao ông đưa
ra việc thứ 4. Riêng về việc thứ 5, nội dung và ý nghĩa
được ghi chép trong hai luận này không đồng nhất, hơn nữa
bất cứ cách giải thích nào trong những cách giải thích trong
2 nguồn tư liệu này, nó hoàn toàn không có liên hệ đến
4 việc mà Đại Thiên đã đưa ra, ngược lại còn mang ý nghĩa
phản lại tư tưởng của ông. Do vậy, người viết căn cứ
từ các mặt lịch sử, tư tưởng cho rằng ý nghĩa của việc
thứ 5 chính là ý nghĩa đã được ghi trong “Luận Bà Sa”
là ‘Đạo nhân thinh cố khởi’, nhưng không hiểu theo cách
mà các nhà Hữu bộ lý giải mà tôi giải thích khái niệm
này mang ý nghĩa chỉ cho kinh điển ‘Āgama’. Lý do mà tôi
giải thích như vậy, vì khi Đại Thiên đưa ra 4 việc này,
chắc chắn các nhà Thượng tọa bộ cật vấn: Thế thì ông
căn cứ vào kinh điển nào mà đưa ra quan điểm này? Câu trả
lời của ông phải là ‘Đạo nhân thinh cố khởi’. Có nghĩa
là kinh điển mà tôi căn cứ đó là Āgama, là những kinh điển
chưa kết tập thành văn tự, được lưu truyền dưới hình
thức ‘khẩu truyền’. Các kinh điển Āgama này, sau được
kết tập thành gọi là ‘Kinh A hàm’ của Bắc truyền hay
‘Kinh Nikāya’ trong Phật giáo Nam truyền vào thời vua Asoka.
Theo người viết, đây mới chính là ý nghĩa của câu ‘Đạo
nhân thinh cố khởi’, là việc thứ 5 của Đại Thiên.
Thế
nhưng, tác phẩm “Luận Bà Sa” và “Kathāvatthu” đã ghi
chép với nội dung và ý nghĩa hoàn toàn ngược lại, cố tình
bóp méo tư tưởng về 5 việc của ông.
Từ
những kết quả nghiên cứu này, chúng ta có thể bác bỏ quan
điểm cho rằng Đại Thiên là người ‘có ác tà kiến’.
Sự kiện giết cha giết mẹ và giết A la hán của Đại Thiên
như thế nào vẫn chưa làm sáng tỏ, nhưng dù gì đi nữa,
tất cả những sự kiện đó xảy ra trước khi ông xuất gia,
không phải là những hành vi sau khi ông xuất gia. Do vậy, chúng
ta không nên căn cứ từ những việc làm trong quá khứ của
ông để đánh giá những gì sau khi ông xuất gia, điều đó
có thể phát sanh sai lầm.
Từ
quan điểm về 5 việc của Đại Thiên, nếu chúng ta so với
tư tưởng chung của các phái thuộc Đại Chúng bộ về ‘Phật
Đà luận’ và ‘Bồ tát luận’, chúng ta thấy phát sinh
sự mâu thuẫn. Thế thì tại sao nhân vật Đại Thiên lại
trở thành vị khai sơn của Đại Chúng bộ? Theo cách nhìn
của người viết. Đại Thiên có hai đặc điểm mà chúng
ta cần lưu ý: Một là sự dũng cảm trong việc cải cách Phật
giáo và hai là tư tưởng về 5 việc của ông. Theo người
viết, Đại chúng bộ lấy Đại Thiên làm vị tổ khai sơn
cho trường phái của mình, chỉ lấy tư tưởng cải cách của
ông để thực thi chính sách cải cách, đưa Phật giáo vào
xã hội của Đại chúng bộ, không phải Đại chúng bộ lấy
tư tưởng 5 việc của Đại Thiên làm tư tưởng nồng cốt
cho mình.
Khi
Phật giáo đã trở thành một tôn giáo, muốn nó gắn liền
với xã hội đó, thì Phật giáo không thể giữ thái độ
bảo thủ, cứng nhắc, mà phải uyển chuyển vây mượn những
văn hóa tập tục tín ngưỡng của nhân gian để giới thiệu
Phật pháp, đưa Phật giáo vào xã hội. Sự uyển chuyển này
là yếu tố hình thành quan điểm tư tưởng ‘Phật Đà luận’
và ‘Bồ tát luận’ được ghi chép trong “Luận Dị Bộ”.
Đây cũng là một điều hiển nhiên của Phật giáo trong quá
trình tồn tại và phát triển với xã hội.