Trong
thời gian qua, tôi có xuất bản một vài tác phẩm, nhất là
tác phẩm “Nghiên Cứu về 5 Việc của Đại Thiên” được
một số độc giả đồng tình, nhưng cũng có một số phê
phán. Với tôi việc khen và chê được xem như là điều kiện
tốt nhất để kiểm tra lại công trình nghiên cứu của mình,
nó không là sự chướng ngại, vì khen và chê là cảm nhận
cá nhân của từng người, do vậy nó không phải là điều
mà tôi phải bận lòng. Điều mà tôi quan tâm nhất là sự
trình bày của mình nó có gắn liền với lịch sử, tiếp
cận với sự thật được bao nhiêu ?
Vấn
đề: Đức Phật có phải là bậc Nhất thiết trí hay không
? được đặt ra và sẽ được thảo luận trong bài viết
này, có lẽ nó không được nhiều người hoan nghênh tán đồng,
nhưng nó là vấn đề đã được đức Phật lập đi lập
lại nhiều lần, được ghi lại khá nhiều trong kinh điển
A hàm và NiKya, sẽ được người viết trích dẫn, tổng
hợp, phân tích và lý giải theo theo quá trình phát triển tư
tưởng của Phật giáo Ấn Độ. Theo nhận thức của người
viết nó là một trong những điểm tranh cãi giữa hai hệ
thống tư tưởng của Thượng Tọa bộ và Đại Thừa. Đó
cũng chính là lý do tại sao Bồ Tát Long Thọ (Ngrjuna) ở
phần Duyên khởi trong tác phẩm “Luận Đại Trí Độ” (Mahpraj?pramit§stra)
Ngài đã nêu lý do tại sao đức Phật nói Kinh Bát Nhã như
sau:
“Lại
nữa, có kẻ hoài nghi rằng Phật không chứng được Nhất
thiết trí, vì cớ sao ? Vì các pháp vô lượng, vô số, làm
sao một người mà có thể biết tất cả pháp ? Phật trú
trong Pháp Bát-nhã Ba-la-mật thật tướng thanh tịnh như hư
không, vô lượng vô số, mà tự nói lên lời chân thật rằng:
“Ta là bậc Nhất thiết trí, muốn dứt hết thảy nghi ngờ
của chúng sanh”; vì thế, Phật thuyết Kinh Đại Bát nhã
Ba la mật”[1].
Nội
dung đoạn văn vừa dẫn, nó gợi ý cho chúng ta hiểu rằng,
chính Long Thọ xác nhận có người không tin đức Phật là
bậc Nhất thiết trí. Một vấn đề nữa mà chúng ta cũng
cần chú ý, Bồ Tát Long Thọ gọi: ‘có kẻ hoài nghi rằng
Phật không chứng được Nhất thiết trí’ , kẻ đó là ai
? người ngoại đạo hay trong Phật giáo ? Đây là những vấn
đề mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong bài viết này.
Để
tránh sự hiểu lầm, người viết xin giới hạn phạm vi thảo
luận là trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy, chủ yếu các
kinh A hàm và Nikya.
1.
Nhất thiết trí vốn là quan điểm của sáu phái ngoại đạo
Phật
giáo là tôn giáo được xuất hiện khoảng thế kỷ thứ 6
trước CN tại nước Ấn Độ. Phật giáo là một tôn giáo
có hệ thống giáo lý độc lập, hay nói đúng hơn chống lại
tư tưởng truyền thống và phi truyền thống Ấn Độ, tuy
nhiên sau khi đức Phật nhập diệt, trong quá trình phát triển,
ít nhiều Phật giáo cũng chịu ảnh hưởng văn hóa tôn giáo
của Ấn Độ. Trong đó quan điểm Nhất thiết trí, Nhất thiết
kiến là một điển hình, nó vốn là quan điểm của 6 phái
ngoại đạo, trong thời kỳ Phật giáo nguyên thủy đức Thế
Tôn phủ nhận quan điểm này, thế nhưng sau khi Thế Tôn nhập
diệt Phật giáo Đại Chúng Bộ và Đại thừa lại cho rằng
đức Phật là bậc Nhất thiết trí. Vì để chúng ta nắm
rõ sự diễn biến tư tưởng Phật học ngang qua các giai đoạn
lịch sử khác nhau, cho nên ở đây tôi xin giới thiệu một
vài kinh để chúng ta hiểu rằng quan điểm Nhất thiết trí
vốn là của ngoại đạo. Trước hết chúng ta thử căn cứ
‘Kinh Tiễn Mao’ (II) trong “Kinh Trung A hàm” đề cập như
sau:
“Bạch
Cù-đàm, đó là Bất-lan Ca-diếp. Vì sao? Bạch Cù-đàm, vì
Bất-lan Ca-diếp tự cho là thật có Tát-vân-nhiên, biết
tất cả, thấy tất cả, không gì không biết, không gì không
thấy. Tôi có sách lự, có tư duy, trụ trong sách lự, trụ
trong tư duy có trí tuệ, có biện tài; tôi đến vấn sự.
Nhưng vị ấy không biết. Bạch Cù-đàm, vậy nên tôi nghĩ
thế này, ‘Đây là những ai?’
“Ma-tức-ca-lợi
Cù-xá-lợi Tử, Bà-nhã Bệ-la-trì Tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phù
Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi, các vị này cũng vậy.
Bạch Cù-đàm, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi tự cho thật sự
có Tát-vân-nhiên, biết tất cả thấy tất cả, không cái
gì không biết, không cái gì không thấy. Tôi có sách lự,
có tư duy, trú trong sách lự, trú trong tư duy, có trí tuệ,
có biện tài, tôi đến vấn sự những vị ấy không biết.’[2]
Hoặc
trong Nam truyền “Kinh Tăng Chi” tập 4 cũng lại ghi rằng:,
trang 182~186
“Thưa
Tôn giả Gotama, Pèrana Kassapa, bậc toàn tri, toàn kiến, tự
nhận mình là có tri kiến toàn bộ không dư, nói rằng: "Khi
ta đi, ta đứng , ta ngủ, ta thức, tri kiến được an trú liên
tục thường hằng". Vị ấy nói như sau: "Với trí vô biên,
ta sống, biết và thấy thế giới hữu biên". Thưa Tôn giả
Gotama, Nigantha Ntaputta, bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận
mình là có tri kiến toàn bộ không dư, nói rằng: "Khi ta đi,
ta đứng , ta ngủ, ta thức, tri kiến được an trú liên tục
thường hằng". Vị ấy nói như sau: "Với trí hữu biên, ta
sống, biết và thấy thế giới hữu biên".[3]
Tất
nhiên, ngoài hai bản kinh vừa dẫn rất còn nhiều kinh đề
cập đến các phái ngoại đạo tự xưng Tổ sư của mình
là bậc Nhất thiết trí. Đây chỉ là sự trích dẫn điển
hình.
Trong
Kinh Tiễn Mao vừa đề cập sáu nhân vật, đó là tên của
các vị lãnh đạo của sáu phái ngoại đạo mà trong kinh điển
Phật giáo thường đề cập. Thứ nhất là Bất-lan Ca-diếp
(Pèraöa-Kassapa), vốn là vị lãnh đạo phái phủ nhận giá
trị đạo đức. Ông thuộc giai cấp nô lệ, sinh ra ở máng
chuồng bò, có lần ông đào tẩu kiếp làm nô lệ, nhưng lại
bị chủ bắt, lột hết quần áo, có lẽ do vậy mà ông chủ
trương không có giá trị khi làm thiện cũng như làm ác, chết
là hết; Thứ hai là Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi Tử (Makkhali-Gosla)
là vị lãnh đạo phái định mệnh, phủ nhận sự nỗ lực
của con người, cứ trải qua tám vạn bốn ngàn đại kiếp
là thoát được kiếp luân hồi và giải thoát; Thứ ba Bà-nhã
Bệ-la-trì Tử (Sa?jaya BelaÊÊhiputta) là vị Tổ Sư của phái
hoài nghi, cho rằng mọi việc xảy ra trong cuộc sống, con người
không thể quyết định gì cả, phải cũng đúng mà trái cũng
đúng, lập luận trườn uốn như con lương. Xá Lợi Phật
và Mục Kiền Liên trước khi xuất gia theo đạo Phật xuất
thân từ phái này; Thứ tư, Ni-kiền Thân Tử (NigaöÊha Ntha-putta)
là một trong những vị Tổ sư của phái Kỳ Na Giáo, chủ
trương tu tập khổ hạnh, cho rằng thân xác càng khổ bao nhiêu
nghiệp báo càng mau tiêu trừ; Thứ năm Ba-phù Ca-chiên (Pakudha-Kaccayana)
là vị lãnh đạo phái duy vật, cho rằng con người do bảy
yếu tố kết hợp mà thành, những yếu tố này tan rã, con
người liền chết và không còn gì sau đó; Thứ sáu A-di-đa
Kê-xá Kiếm-bà-lợi (Ajita Kesa Kambala) là bậc đạo sư của
phái đoạn diệt, cho rằng con người do tứ đại (đất nước
lửa gió) kết hợp lại mà thành, 4 đại tan rã con người
chết, linh hồn cũng theo đó mà mất. Đây là tên của sáu
phái ngoại đạo.
Qua
nội dung của hai bài kinh vừa dẫn cho thấy, các vị đạo
sư của sáu phái ngoại đạo này đều tự cho rằng họ là
những bậc Nhất thiết trí, nhất thiết kiến, có nghĩa là
cái gì cũng thấy, cái gì cũng biết, ngay cả khi ngủ họ
cũng thấy cũng biết. Tuy nhiên, Thế Tôn cho rằng, sự tự
xưng như thế chỉ là sự lừa dối chính mình và người khác,
vì có những việc ngay ở bản thân họ, nhưng họ không hề
hay biết. Mục đích thảo luận chính của mục này không phải
là thảo luận những vị Đạo sư này thật sự có Nhất
thiết trí, nhất thiết kiến hay không, ở đây người viết
chỉ muốn xác định quan điểm: Nhất thiết trí, nhất thiết
kiến vốn là loại văn hóa ca tụng đấng tôn sư của các
tôn giáo ở Ấn Độ, trước khi Phật giáo xuất hiện.
2.
Đức Phật phủ nhận Ngài không phải là vị Nhất thiết
trí, nhất thiết kiến
Như
vừa đề cập, các bậc Đạo sư của sáu phái ngoại đạo
đều cho rằng họ là người Nhất thiết trí, nhất thiết
kiến. Thế thì quan điểm của Phật như thế nào về vấn
đề này ? Liên quan đến vấn đề này trong A Hàm và Nikya,
nhất là trong “Trung A Hàm” và “Trung Bộ Kinh” có nhiều
kinh đức Thế Tôn bày tỏ quan điểm không đồng tình Ngài
có Nhất thiết trí, nhất thiết kiến qua ba khía cạnh sẽ
được trình bày dưới đây như sau:
a.
Thế Tôn phủ nhận khi ngủ ý thức vẫn tri kiến (nhận thức)
Sau
khi đức Thế Tôn thành đạo nhân cách và lời dạy của Ngài
giống như ánh bình minh phá tan màn đêm bị bao phủ bởi
văn hóa truyền thống của Ấn Độ. Sự xuất hiện của Ngài
càng ngày càng được nhiều người ngưỡng mộ, không những
chỉ có người dân mà ngay cả vua chúa, các vị Đạo sư các
Tôn giáo, các nhà triết học đều tỏ lòng kính ngưỡng Ngài.
Tiếng đồn tốt đẹp về Ngài bay khắp bốn phương, trong
ấy cũng không sao tránh khỏi có những tiếng đồn mang tính
thần thoại không trung thực về Ngài. Câu chuyện giữa Thế
Tôn và du sĩ Vacchagotta được ghi lại trong “Kinh Trung Bộ”
“Kinh Ba Minh Vacchagota” (Tevijja-vacchagotasuttam) là một điển
hình cụ thể. Với nội dung như sau:
“Du
sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, con nghe như sau:
“Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, là bậc nhứt thiết
kiến. Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: “Khi Ta đi, khi
Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn
tại, liên tục”. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: "Sa-môn
Gotama là bậc nhứt thiết trí, là bậc nhứt thiết kiến.
Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: "Khi Ta đi, khi Ta đứng,
khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại liên
tục". Bạch Thế Tôn, những vị ấy nói về Thế Tôn có đúng
với điều đã được nói, những vị ấy không vu khống Thế
Tôn với điều không thực, nhưng đã giải thích về Thế
Tôn đúng pháp và tùy pháp, và không một đồng pháp hành
nào nói lời đúng pháp có thể lấy cớ để quở trách ?
–
Này Vaccha, những ai nói như sau: "Sa-môn Gotama là bậc nhứt
thiết trí, là bậc nhứt thiết kiến. Ngài tự cho là có tri
kiến hoàn toàn: "Khi Ta đi, khi Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta
thức, tri kiến luôn luôn tồn tại, liên tục". Thì đấy là
họ nói về Ta không đúng với điều đã được nói, họ
đã vu khống Ta với điều không thực, hư ngụy.”[4]
Ý
nghĩa chính của đoạn kinh vừa dẫn, du sĩ Vaccchagotta nghe
tin đồn, Thế Tôn là bậc Nhất thiết trí, nhất thiết kiến,
có nghĩa là trong lúc đi đứng nằm ngồi thậm chí khi ngủ
ý thức của Ngài luôn luôn tỉnh thức. Nói một cách khác,
24 giờ trong một ngày đêm ý thức luôn tỉnh táo ngay khi ngủ.
Đức Thế Tôn đã phủ nhận điều này, chính Ngài xác nhận
rằng, lời đồn đó là sai sự thật, không đúng sự thật,
Ngài còn nhấn mạnh rằng, đó không phải là lời ca ngợi
mà là lời vu khống hủy báng Thế Tôn.
Để
cho vấn đề được rõ ràng hơn, chúng ta cần làm rõ tại
sao Thế Tôn phủ nhận và phủ nhận điểm nào ? Theo tôi điểm
mà đức Phật không đồng tình trong câu hỏi này chính là
khi ngủ vẫn hiểu, vẫn biết. Vì sao, vì khi con người ngủ
có nghĩa là 5 giác quan là mắt tai mũi lưỡi và thân tạm
thời ngưng hoạt động để cho ý thức được nghỉ ngơi,
khi ý thức nghỉ ngơi thì cái gì hoạt động để hiểu và
biết. Có khá nhiều kinh đức Phật xác nhận Ngài vốn là
một con người như bao nhiêu con người khác, do vậy khi Ngài
ngủ cũng giống như mọi người, nếu có khác đi chăng nữa
Ngài ngủ ít và không mê như con người, ngủ ít không mê
không đồng nghĩa là khi Ngài ngủ mọi việc xảy ra đều
biết và đều thấy. Theo tôi, đây chính là lý do tại sao
đức Phật phủ nhận lời đồn đãi mang tính thần thoại
ca ngợi về Ngài. Nhân tiện tôi xin trích dẫn một vài trường
hợp đức Phật xác nhận Ngài sinh ra và lớn lên vốn là
con người. Như “Kinh Tăng Nhất A Hàm” nói:
“Thân
ta được sinh ra từ nhân gian, trưởng thành từ nhân gian,
cũng từ nhân gian mà thành Phật”(我身生於人間,長於人間,於人間得佛.)[5]
Nội
dung và ý nghĩa đoạn kinh này, xác định đức Phật vốn
là con người, sinh ra là con người, được nuôi dưỡng và
trưởng thành bằng những chất liệu của con người, từ
con người tu dưỡng mà thành Phật. Mặt trái ý nghĩa này
muốn nói lên rằng, Ngài không phải là thần tiên, không phải
là một vị trời thần từ một cõi khác đến đây. Điều
đó Ngài muốn nói với mọi người rằng, mọi người chúng
ta đều có khả năng thành Phật, nếu như con người cải
tà qui chánh, bỏ ác làm lành, diệt tham sân si hành giới định
tuệ. Nếu thế thì giữa Ngài và mọi người chúng ta khác
nhau như thế nào ? Câu trả lời được ‘Kinh Thanh Bạch Liên
Hoa Dụ’ trong “Kinh Trung A Hàm” đức Thế Tôn giải thích:
“Giống
như hoa sen xanh, hồng, đỏ, trắng sanh từ trong nước, lớn
lên trong nước, vượt lên khỏi mặt nước, không bị dính
nước. Cũng như thế, Như Lai sanh từ trong thế gian, lớn lên
trong thế gian, tu hành vượt trên thế gian, không đắm trước
pháp thế gian. Vì sao? Vì Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác, vượt khỏi tất cả thế gian.”[6]
Ở
đây Ngài ví mình giống như loài hoa sen, được sinh ra từ
bùn từ nước, được nuôi dưỡng cũng nhờ bùn và nước,
nhưng hoa sen không bị bùn nước làm ô nhiễm. Cũng vậy, Ngài
là con người sinh ra và lớn lên từ thế gian, nhưng Ngài không
bị nhiễm ô từ thế gian, cho nên Ngài được gọi là Phật,
còn chúng ta bị đắm trước ngũ dục cho nên gọi là chúng
sanh. Sự khác biệt giữa Phật và chúng sinh chỉ là đắm
trước hay không đắm trước. Bị đắm trước cho nên gọi
là chúng sanh, không bị đắm trước cho nên gọi là Phật.
Không đắm trước là thái độ được nuôi dưỡng bởi lòng
không tham, không sân và không si và ngược lại lòng đắm
trước được trưởng thành từ lòng tham lam, sân hận và
si mê. Đây là sự khác biệt giữa Phật và chúng sanh. Ở
đây chúng ta cần chú ý một điều sự khác biệt đó là
sự khác biệt về sự nhận thức, nhưng về mặt thân thể
thì thân thể của Ngài và chúng sanh giống nhau. Điều đó
có nghĩa là, con người cần phải ăn uống và ngủ nghỉ thì
đức Phật cũng cần nuôi dưỡng bằng những chất liệu đó.
Thế thì khi đã ngủ thì làm sao biết được, thấy được
những gì xảy ra trong khi ngủ ? Ngay cả khi thức cũng không
ai có thể biết được mọi việc trên thế gian, bản thân
Ngài cũng thế, Ngài cần biết những gì cần biết, những
gì không liên quan đến cuộc sống tu tập phạm hạnh Ngài
không cần phải biết. Đây chính là lý do tại sao Ngài không
thừa nhận Ngài là bậc Nhứt thiết trí, nhứt thiết kiến,
ngay cả khi ngủ cũng biết cũng thấy, mặc dù các tôn giáo
đương thời đều cho rằng các vị đạo sư của họ là bậc
nhất thiết trí, nhất thiết kiến, nhưng riêng Ngài không
đồng tình. Ngài không muốn sử dụng sự thần thánh hóa
để mê hoặc chúng sanh. Có lẽ đây chính là lý do tại sao
Ngài nói:
“Như
Lai đối với quá khứ, vị lai, hiện tại, nói đúng thời,
nói sự thật, nói có nghĩa, có lợi, nói đúng pháp, đúng
luật, không có lời hư dối. Phật từ đêm đầu tiên thành
vô thượng chánh giác cho đến đêm cuối cùng, trong khoảng
giữa, có nói điều gì, thảy đều như thật; do đó gọi
là Như lai. Lại nữa, những điều Như Lai nói đúng với sự,
sự đúng với lời, do đó gọi là Như Lai.”[7]
Từ
thật tế cuộc sống cho chúng ta kinh nghiệm, gian dối nói
không đúng sự thật, nó không phải là con dao hay viên đạn
có thể giết người chết trong giây lát, nhưng xét cho cùng
sự nguy hiểm của lời nói gian dối không đúng sự thật
không kém phần nguy hiểm, làm kinh tế mà gian dối lừa gạt,
mất niềm tin khách hàng đó là nguyên nhân phá sản, trong
học tập mà gian dối thì dù có tốt nghiệp cũng không ai
thuê mướn những người thiếu khả năng. Vì vậy, trong tôn
giáo cũng thế, cách thần thánh hóa không những không có ích
lợi gì cho bản thân mình mà còn có hại cho người khác.
Mục đích giáo dục của đức Phật là giác ngộ và giải
thoát, giải thoát từ giác ngộ mà có, không phải là vật
ai cho, giác ngộ là chính mình hiểu rõ sự thật vấn đề,
cũng không phải là cái do ai trao truyền. Như vậy, người
muốn được giác ngộ giải thoát chính người ấy phải tu
và chứng. Đây chính là ý nghĩa đức Phật định nghĩa từ
Như Lai: “Như Lai nói đúng với sự; sự đúng với lời,
do đó gọi là Như Lai.” Nếu như Thế Tôn đã định nghĩa
về Ngài như thế, vô lý Ngài lại chấp nhận những gì mà
Ngài không có. Nếu như ai đó vì kính phục Ngài ca ngợi Ngài
không đúng với sự thật, Ngài cho rằng lời ca ngợi đó
là những lời hủy báng Như Lai không phải là ca ngợi Như
Lai.
b.
Phủ nhận trong một sát na thấy tất cả và biết tất cả
Liên
quan đến vấn đề có hay không Nhứt thiết trí, nhứt thiết
kiến, trong “Kinh Trung A hàm” ‘Kinh Nhất Thiết trí’ có
ghi lại câu chuyện giữa vua Ba Tư Nặc nước Câu Tát La và
Thế Tôn như sau:
“Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la hỏi rằng: “Bạch Cù-đàm, con nghe Sa-môn
Cù-đàm nói như vầy, ‘Trong quá khứ không có, trong tương
lai không, và hiện tại cũng không có, không có Sa-môn Phạm
chí nào là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến’. Bạch
Cù-đàm, Ngài đã nhớ là đã nói như vậy chăng?
Thế
Tôn đáp rằng: “Này Đại vương, Ta không nhớ là đã nói
như vậy, ‘Trong quá khứ không có, trong tương lai không có,
và hiện tại không có, không có Sa-môn Phạm chí nào là bậc
nhất thiết trí, nhất thiết kiến’.”[8]
Sau
khi bị Thế Tôn phủ nhận Ngài không có phát biểu như vậy,
cho nên Vua Ba Tư Nặc nước Câu Tát La lại hỏi: Thế thì
Ngài đã phát biểu như thế nào về vấn đề này ?
“Thế
Tôn đáp rằng: “Này Đại vương, Ta nhớ đã từng nói như
vầy, ‘Trong quá khứ không có, trong tương lai không có, trong
hiện tại cũng không có, không có Sa-môn Phạm chí nào trong
một thời biết tất cả, trong một thời thấy tất cả’.
Này Đại vương, Ta nhớ đã nói như vậy.”[9]
Qua
nội dung vấn đáp giữa vua Ba Tư Nặc và Thế Tôn cho thấy,
trong câu hỏi thứ nhất đức Phật phủ nhận Ngài không nói
như vậy, vì vua Ba Tư Nặc đã lập lại lời nói của Thế
Tôn, nhưng lập lại không đầy đủ và sai ý. Ngài chưa từng
nói: ‘Trong quá khứ trong tương lai, cũng như ở hiện tại
không có Sa-môn Phạm chí nào là bậc nhất thiết trí, nhất
thiết kiến’ mà Ngài chỉ có nói rằng: ‘Trong quá khứ,
trong tương lai cũng như trong hiện tại không có Sa-môn Phạm
chí nào trong một thời (sakideva), biết tất cả, thấy tất
cả’. Như vậy, nội dung chính mà đức Phật phủ nhận chính
là trong một thời gian một lúc biết tất cả thấy tất cả
(nhất thiết trí, nhất thiết kiến) mọi việc ở trong thế
gian, Ngài xác nhận rằng trong quá khứ, hiện tại ngay cả
ở tương lai cũng không ai có khả năng đó, ngay cả chính
Ngài. Vì sao ? vì khả năng suy tư và hiểu biết của con người
ngay cả người được gọi là giác ngộ cũng chỉ có thể
nhận biết một đối tượng. Nếu có sự khác nhau giữa bậc
giác ngộ và chúng sanh chỉ là sự khác biệt, bậc giác ngộ
nhận thức đối tượng bằng ‘như lý tác ý’[10] hay ‘chánh
kiến’ còn chúng sanh thì nhận thức đối tượng bằng ‘phi
như lý tác ý’ hay ‘tà kiến’, không có nghĩa là trong một
lúc Ngài biết tất cả. Nếu như sáu phái ngoại đạo cho
rằng, các bậc đạo sư của họ có khả năng, trong một thời
gian có thế thấy và biết được mọi chuyện xảy ra trong
thế gian, đó cũng chỉ là lời nói hoang đường không đúng
với sự thật. Theo đức Phật, lời nói đó vô giá trị với
người hiểu biết, không giúp ích gì cho việc tìm cầu giác
ngộ và giải thoát. Đây chính là lý do tại sao đức Phật
phủ nhận một người có khả năng trong một thời gian biết
và thấy tất cả.
c.
Phủ nhận cái gì cũng thấy cái gì cũng biết
Như
ở mục thứ nhất đề cập, sáu phái ngoại đạo tự cho
rằng các bậc đạo sư của họ đều có khả năng biết tất
cả và thấy tất cả (Nhất thiết trí nhất thiết kiến).
Thế thì quan điểm của đức Phật về vấn đề này như
thế nào ? Trong “Kinh Tăng Chi Bộ” tập 1, đức Phật đã
trình bày quan điểm của Ngài như sau:
“Này
các Tỷ-kheo, cái gì trong tòan thế giới này ...được thấy,
được ý tư sát, Ta đã được biết rõ như sau: Tất cả
đều được Như Lai biết đến. Như Lai không có dựng đứng
lên. Này các Tỷ-kheo, nếu ta nói rằng: Ta biết tất cả,
cái gì trong toàn thế giới ... được thấy, được ý tư
sát. Như vậy, là có nói láo trong ta.” [11]
Nội
dung và ý nghĩa đoạn kinh vừa dẫn, đức Thế Tôn giải thích,
trong thế giới này, những gì được Ngài suy tư quan sát,
những cái đó được Như Lai biết một cách rõ ràng, nếu
ai hỏi thì Ngài cũng trả lời như vậy, không thêm cũng không
bớt, nhưng Ngài không vì sự biết đó lại nói rằng: Như
Lai biết tất cả những gì trong thế giới này. Nói như vậy
là không đúng sự thật, trở thành lời nói láo. Như Lai không
nói lời nói đó, vì một trong những nỗi khổ của cuộc
đời là sự dối trá, không tôn trọng sự thật, vì mục
đích trục lợi cho mình mà lường gạt người khác. Đức
Phật là người sinh ra đời với mục đích đem lại cho chúng
sinh sự an lạc và giải thoát. Sự bình an giải thoát đó
không thể có từ sự dối trá, không đúng sự thật, cho nên
chắc chắn Ngài không nói những lời như vậy. Đây chính
là ý nghĩa tại sao Ngài tuyên bố: “Như Lai là người nói
sao làm vậy, làm sao nói vậy, nên gọi là Như Lai”. Để
làm rõ thêm quan điểm của Phật đối với vấn đề Nhất
thiết trí, nhất thiết kiến, chúng ta thấy vấn đề này
được “Kinh Trung A Hàm” ‘Kinh A Di Na’ ghi lại cuộc đàm
luận giữa Thế Tôn và A Di Na như sau:
“Đức
Thế Tôn lại hỏi rằng: A-di-na, thế nào là Sa-môn Man-đầu
thật sự tư duy với năm trăm tư duy; nếu có dị học, Sa-môn,
Phạm chí nào là vị nhất thiết tri, nhất thiết kiến, tự
cho là ‘Ta biết không sót cái gì’, nhưng nếu có lầm lẫn
thì cũng phải tự nhận là lầm lẫn?
Dị
học A-di-na, đệ tử của Sa-môn Man-đầu, đáp rằng: Thưa
Cù-đàm! Sa-môn Man-đầu nói như vầy, ‘Nếu khi đi, khi đứng,
khi nằm, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, lúc tối hay ban ngày
vẫn thường không chướng ngại tri kiến. Nhưng cũng có khi
gặp voi chạy càn, ngựa phóng đại, xe ruỗi nhanh, lính bại
trận, con trai chạy trốn, con gái chạy trốn, hoặc đi trên
con đường nào đó mà gặp voi dữ, ngựa dữ, bò dữ, chó
dữ, hoặc gặp ổ rắn, hoặc bị ném đất, hoặc bị gậy
đánh, hoặc lọt xuống rãnh, hoặc rơi vào hầm xí, hoặc
đạp lên bò đang nằm, hoặc sa xuống hầm sâu, hoặc đâm
vào bụi gai, hoặc thấy thôn ấp mà phải hỏi tên đường,
hoặc gặp kẻ trai người gái phải hỏi họ hỏi tên, hoặc
nhìn lầm nhà trống, hoặc vào dòng họ nào đó và khi vào
rồi được hỏi rằng: ‘Ông ở đâu đến?’ Ta đáp rằng,
‘Này chư Hiền, tôi đi lộn đường’.
Thưa
Cù-đàm! Sa-môn Man-đầu đại loại như vậy, tư duy với năm
trăm tư duy, và nếu có dị học Sa-môn, Phạm chí nào là bậc
nhất thiết trí, nhất thiết kiến, tự cho rằng: Ta biết
không sót cái gì’, nhưng vị ấy cũng có những lầm lẫn
như vậy.….
Đức
Phật lại bảo rằng: Có hai chúng, một là chúng pháp, hai
là chúng phi pháp. Sao gọi là chúng phi pháp? Hoặc có người
làm việc phi pháp, nói lời phi pháp và chúng ấy cũng làm
việc phi pháp, nói lời phi pháp. Người phi pháp ấy đứng
đầu trong chúng phi pháp, theo những điều chính mình đã biết,
nhưng lại bằng những lời hư vọng, không chân thật mà hiển
thị, phân biệt, quy định hành vi, lưu bố, tuần tự thuyết
pháp, muốn đoạn trừ sự xấu xa trong tâm ý người khác,
bị cật vấn thì không thể trả lời được. Đối với trong
Chánh pháp luật không thể xứng lập những điều chính mình
đã biết. Nhưng người phi pháp đứng đầu trong chúng phi
pháp, tự cho là ‘Ta có trí tuệ, hiểu biết tất cả’.
Ở nơi nào mà sự kiện trí tuệ được nói đến như vậy,
ở đó được gọi là chúng phi pháp…”[12]
Qua
nội dung vấn đáp giữa Thế Tôn và A Di Na, có mấy điểm
chúng ta cần chú ý. Thứ nhất, dị học A Di Na xác định
có những ngoại đạo tự cho rằng mình có khả năng cái gì
cũng biết cái gì cũng thấy, nhưng trên thực tế những người
này có lúc vẫn đi lầm đường, gặp phải loài thú hung dữ
như voi dữ, ngựa dữ, bò dữ, chó dữ, rắn độc, hoặc bị
ném đất, hoặc bị gậy đánh, hoặc lọt xuống rãnh, hoặc
rơi vào hầm xí, hoặc sa xuống hầm sâu, hoặc đâm vào bụi
gai… biểu thị lời tuyên bố và thật tế cuộc sống không
giống nhau. Thứ hai, theo Thế Tôn cho rằng đây là sự gian
dối không đúng sự thật, lời nói phi pháp, phi luật, không
liên hệ với mục đích của Phạm hạnh. Thứ ba, qua
hai yếu tố này, điều đó cũng đồng nghĩa đức Phật phủ
nhận Ngài không phải là người có khả năng cái gì cũng
thấy và cũng biết.
Đề
cập đến vấn đề này, chắc chắn có người đặt nghi vấn:
Đức Phật là người đã giác ngộ, có trí tuệ. Thế thì
phạm vi hiểu biết của trí tuệ đó như thế nào ? Để trả
lời cho câu hỏi này cũng trong “Kinh Tăng Chi Bộ” tập 1,
đức Phật tường tận giải thích:
“Như
vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai là vị đã thấy những gì cần
thấy, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thấy,
không có tưởng tượng những cái gì không được thấy, không
có tưởng tượng những gì cần phải thấy, không có tưởng
tượng đối với người thấy. Ðã nghe những gì cần nghe,
nhưng không có tưởng tượng điều đã được nghe, không
có tưởng tượng những cái gì không được nghe, không có
tưởng tượng những gì cần phải nghe, không có tưởng tượng
đối với người nghe. Ðã cảm giác những gì cần cảm giác,
nhưng không có tưởng tượng điều đã được cảm giác,
không có tưởng tượng những cái gì không được cảm giác,
không có tưởng tượng những gì cần phải cảm giác, không
có tưởng tượng đối với người cảm giác. Ðã thức tri
những gì cần thức tri, nhưng không có tưởng tượng điều
đã được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì
không được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì
cần phải thức tri, không có tưởng tượng đối với người
thức tri.”[13]
Nếu
chúng ta xem đức Phật như là vị thần thì chúng ta sẽ cảm
thấy ngạc nhiên khi Ngài xác định trí tuệ của Ngài là:
Thấy những gì cần thấy, nghe những gì cần nghe, cảm giác
những gì cần cảm giác và nhận thức (tìm hiểu) những gì
cần nhận thức. Điều đó có nghĩa là Ngài không cần thấy,
nghe, cảm giác và hiểu biết những gì không cần thấy, nghe,
cảm giác và hiểu biết. Đồng thời những gì Ngài đã thấy,
nghe, cảm giác và nhận thức một cách rõ ràng, không mù mờ,
không tưởng tượng về chúng. Nhận thức đó trong “Kinh
Tất Cả Lậu Hoặc” (Sabbasavasuttam) trong “Kinh Trung Bộ”
gọi là ‘Như lý tác ý’, ‘chánh tư duy’ hay trong “Kinh
Kim Cang Bát Nhã” gọi là ‘không điên đảo mộng tưởng’
cũng chính là ý nghĩa trong kinh vừa dẫn gọi là ‘không tưởng
tượng’ (na ma??ati) . Chính nhận thức đó, nó là vũ khí
ngăn chận sự sinh khởi phiền não, tạo thành sự an lạc
và giải thoát. Điều đó không đồng nghĩa, đức Phật là
vị có khả năng cái gì cũng biết. Giả như nếu có người
có khả năng cái gì cũng biết, chưa chắc gì họ đã chấm
dứt khổ đau, như sự hiểu biết của người thế gian, vì
sự hiểu biết đó, không có chức năng làm giảm lòng tham
lam, sân hận mà ngược lại còn làm tăng thêm tham và sân,
cho nên nó không làm chấm dứt đau khổ. Sự hiểu biết của
đức Phật thì không như vậy, nó là sự hiểu biết được
xây dựng trên lòng không tham, không sân và không si, do vậy
khổ đau phiền não không có cơ hội xuất hiện.
Một
điểm nữa mà chúng ta cũng cần tìm hiểu ở đây là, cái
gì được gọi là ‘cần’ và ‘không cần’ ? Liên quan
câu trả lời này, trong kinh A hàm và Nikya có nhiều kinh đề
cập đến vấn đề này, qua nhiều lãnh vực khác nhau. Trước
nhất “Kinh Tiễn Dụ” trong “Kinh Trung A Hàm” đức Phật
cho rằng những vấn đề triết học siêu hình là những vấn
đề không liên quan đến giác ngộ giải thoát, cho nên chính
Ngài đã từ chối không bàn luận những vấn đề này, Ngài
giải thích lý do như sau:
“‘Thế
giới hữu thường’, Ta không xác quyết điều này. Vì điều
này không tương ưng với cứu cánh, không tương ưng với pháp,
không phải căn bản phạm hạnh, không đưa đến trí, không
đưa đến giác, không dẫn đến Niết-bàn. Cho nên Ta không
xác quyết điều này. Cũng vậy, ‘Thế giới vô thường,
thế giới hữu biên hay vô biên; sinh mạng tức là thân hay
sinh mạng khác thân khác; Như Lai tuyệt diệt hay Như Lai không
tuyệt diệt, hay Như Lai vừa tuyệt diệt vừa không tuyệt
diệt hay Như Lai cũng không phải tuyệt diệt cũng không phải
không tuyệt diệt?’ Ta không xác quyết điều này. Vì lý
do gì mà Ta không xác quyết những điều này? Vì những điều
này không tương ưng với cứu cánh, không tương ưng với pháp,
không phải là căn bản phạm hạnh, không đưa đến trí, không
đưa đến giác, không dẫn đến Niết-bàn. Cho nên Ta không
xác quyết những điều này.
“Những
pháp nào được Ta xác quyết nói đến? ‘Đây là khổ’,
Ta xác quyết nói ‘Đây là khổ’, ‘Khổ tập, Khổ diệt,
Khổ diệt đạo tích’ Ta xác quyết nói. Vì những lý do gì
mà Ta xác quyết nói những điều này ? Vì những điều này
tương ưng với cứu cánh, tương ưng với pháp, là căn bản
phạm hạnh, đưa đến trí, đưa đến giác, dẫn đến Niết-bàn,
cho nên Ta xác quyết nói những điều này.”[14]
Đây
là những vấn đề mang tính triết học siêu hình mà các nhà
tôn giáo triết học đương thời ở Ấn Độ thường cùng
nhau tranh luận. Lý thuyết duyên khởi, vô thường, vô ngã,
nhân quả, nghiệp báo của đức Phật, có nội dung ý nghĩa
không đồng tình những gì mà các nhà tôn giáo triết học
truyền thống và phi truyền thống chủ trương. Đây chính
là lý do tại sao mà các nhà tôn giáo triết học đương thời
luôn luôn tra hỏi đức Phật về những vấn đề này, nhưng
đức Phật luôn giữ thái độ im lặng không trả lời. Dần
dần về sau những vấn đề này, nó không còn là nghi vấn
của những người ngoại đạo mà xuất hiện trong Tăng già,
một vị tỷ kheo tên là Man Đồng tử đã đặt điều kiện
với Thế Tôn, nếu như Thế Tôn không trả lời thì Tỷ kheo
ấy sẽ hoàn tục. Dù vậy, đức Phật cũng không trả lời,
nhưng Ngài lý giải tại sao Ngài không trả lời, vì những
vấn này dù có biết hay không biết, nó cũng không liên quan
đến mục đích giác ngộ giải thoát của người xuất gia,
không giúp gì cho việc đoạn tận khổ đau, chứng ngộ Niết
bàn, cho nên đức Phật không trả lời. Những gì cần giảng
dạy thì Ngài đã giảng dạy, vì nó là những phương pháp
đoạn trừ khổ đau cho con người. Qua ý nghĩa đoạn kinh này,
nó gợi ý cho chúng ta hiểu rằng, khái niệm trí tuệ hay giác
ngộ trong đạo Phật không mang ý nghĩa cái gì cũng hiểu và
cái gì cũng biết, mà mang ý nghĩa là sự hiểu biết hướng
đến sự chấm dứt khổ đau, tức là diệt trừ tham, sân
và si.
Ngoài
việc không bàn luận phạm vi triết học siêu hình, đức Phật
còn khuyên các vị Tỷ kheo không nên tìm hiểu bàn luận, những
vấn đề không liên quan đến giác ngộ giải thoát, như là
vấn đề chính trị, thương mại, tôi tớ, đàn ông đàn bà…,
như trong “Kinh Tạp A Hàm” như sau:
“Bấy
giờ, có số đông Tỳ-kheo tụ tập nơi nhà ăn, bàn luận
những đề tài như vầy: hoặc là bàn luận việc vua, việc
giặc cướp, việc đấu tranh, việc tiền bạc, việc y phục,
việc ăn uống, việc nam nữ, việc ngôn ngữ thế gian, việc
sự nghiệp, việc trong biển cả. Bấy giờ, Đức Thế Tôn
đang ở trong thiền định, bằng thiên nhĩ, nghe tiếng bàn
luận của các Tỳ-kheo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi
đến nhà ăn, trải tọa cụ mà ngồi trước đại chúng, rồi
bảo các Tỳ-kheo: “Này các Tỳ-kheo, các ông tụ tập để
bàn luận việc gì?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, chúng con tụ tập ở
đây bàn nói về việc vua…” Nói đầy đủ như trên.
Phật
bảo các Tỳ-kheo: “Các ông chớ bàn luận những đề tài
như vầy: Bàn luận những việc vua… cho đến..., không hướng
đến Niết-bàn. Nếu có bàn luận thì nên nói về Khổ Thánh
đế, Khổ tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế, Khổ diệt
đạo tích Thánh đế. Vì sao? Vì bốn Thánh đế này có lợi
ích cho nghĩa, lợi ích cho pháp, lợi ích cho phạm hạnh, là
chánh trí, chánh giác, chánh hướng Niết-bàn.”[15]
Nội
dung đoạn kinh vừa trích dẫn, đức Phật cấm các vị Tỷ
kheo bàn luận hay tìm hiểu những vấn đề như: Việc vua,
việc giặc cướp, việc đấu tranh, việc tiền bạc, việc
y phục, việc ăn uống, việc nam nữ, việc ngôn ngữ thế
gian, việc sự nghiệp, việc trong biển cả. Nói chung những
vấn đề gì không liên hệ đến giác ngộ giải thoát, những
việc đó tăng thêm sầu bi khổ ưu não, tăng thêm lòng tham
lam, sân hận và ngu si, việc ấy Thế Tôn ngăn cấm các Tỷ
kheo không bàn luận suy tư, ngay cả Thế Tôn cũng không tìm
hiểu suy tư vào những việc vô ích đó. Những gì không thuộc
phạm vi suy tư tìm hiểu của các Tỷ kheo hay đức Phật, lẽ
tất nhiên, Ngài không biết, không biết những việc vô ích
này, điều đó không đồng nghĩa không có khả năng hiểu
biết. Ví dụ như bạn không biết uống rượu, không đồng
nghĩa bạn không có khả năng uống rượu, tôi không muốn
nhìn cảnh xấu xa, không đồng nghĩa tôi không có khả năng
thấy. Theo quan điểm đức Phật, vai trò trí tuệ là để
giúp hành giả thấy biết đúng, để giái quyết công việc
hợp tình hợp lý, không phải mọi việc đều biết.
3.
Kết luận
Phật
giáo là một Tôn giáo được sinh ra từ nền văn hóa tư tưởng
của Ấn Độ, nhưng nếu nói một cách nghiêm túc tư tưởng
Phật giáo, nhất là tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy không
chịu ảnh hưởng tư tưởng mang sắc thái thần quyền, thần
thoại của các tôn giáo Ấn Độ, ngược lại phản đối
tư tưởng này.
Bất
cứ tôn giáo nào cũng đề cao vị sáng lập tôn giáo đó,
qua những mẫu chuyện thần thoại, nhưng riêng đức Phật
không chấp nhận việc đề cao không thật, tự xác nhận Ngài
vốn là một con người, từ vị trí con người mà thành Phật.
Sự khác biệt giữa Ngài và chúng sinh có trí tuệ hay không
có trí tuệ. Khái niệm trí tuệ mà Ngài định nghĩa là sự
diệt trừ lòng tham lam, sân hận và ngu si, không mang ý nghĩa
cái gì cũng thấy, cái gì cũng biết. Bất cứ sự thấy biết
dù cao siêu đến đâu, nhưng nó làm tăng thêm phiền não, sầu
muộn thì nó không phải là trí tuệ trong đạo Phật. Đây
chính là sự dị biệt giữa trí tuệ trong đạo Phật và tri
thức ở thế gian.
Sự
xác định Ngài là một con người từ vị trí con người mà
thành Phật, mang ý nghĩa khá sâu sắc. Điều đó nói lên những
điều Ngài chứng ngộ và giáo pháp được Ngài nói ra đều
là những vấn đề của con người, có liên quan đến con người,
và giải quyết những khổ đau của con người, không phải
những lý thuyết mơ hồ ảo tưởng.
Tuy
nhiên, có một vấn đề khá quan trọng là, những gì được
Ngài giảng dạy đó, nó có bối cảnh cụ thể và đối tượng
cụ thể, muốn hiểu nó cần phải trả nó về bối cảnh
lịch sử của nó, không thể lấy những vấn đề hôm nay
lý giải những vấn đề quá khứ.
Qua
nội dung và ý nghĩa vừa trình bày, nó là quan điểm được
căn cứ từ các Kinh A hàm và Nikaya. Các Kinh này được cho
là kinh điển của Tiểu thừa, cụ thể là Hóa Địa bộ (Mahi§saka),
Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvstivd)… Như vậy, trong
“Đại Trí Độ Luận“ mà Long Thọ giải thích lý do tại
sao đức Phật nói “Kinh Bát Nhã“ vì có người hoài nghi
Phật không phải là bậc Nhất Thiết Trí. Người đó là ai
? câu trả lời chính là các nhà Hữu Bộ, Hóa Địa Bộ...
Từ ý nghĩa này, nó gợi ý cho chúng ta hiểu thêm rằng nội
dung và ý nghĩa tư tưởng trong kinh điển Đại thừa có mối
quan hệ mật thiết với tư tưởng của các Bộ phái. Như
vậy, muốn nắm rõ tư tưởng của Phật giáo Đại thừa không
thể không hiểu hệ thống tư tưởng của Phật giáo Bộ phái.
Taipei
ngày 30 tháng 4 năm 2008
KINH
SÁCH THAM KHẢO
-
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 2, Viện NCPHVN ấn
hành, 2000.
-
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tăng Chi Bộ” tập 4, Viện NCPHVN
ấn hành, 1996.
-
Thích Đức Thắng dịch, “Kinh Tạp A Hàm” “Linh Sơn Pháp
Bảo Đại Tạng Kinh” tập 5,6, Hội Văn Hóa Linh Sơn Giáo
Dục Đài Bắc xuất bản, 2000.
-
Thích Tuệ Sĩ dịch, “Kinh Trung A Hàm” “Linh Sơn Pháp Bảo
Đại Tạng Kinh” tập 4, Hội Văn Hóa Linh Sơn Giáo Dục Đài
Bắc xuất bản, 2000.
-
Thích Tuệ Sĩ dịch, “Kinh Trường A Hàm” “Linh Sơn Pháp
Bảo Đại Tạng Kinh” tập 1, Hội Văn Hóa Linh Sơn Giáo Dục
Đài Bắc xuất bản, 2000.
-
Thích Thiện Siêu dịch, “Luận Đại Trí Độ” tập I, Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành 1997.
[1]
Thích Thiện Siêu dịch, “Luận Đại Trí Độ” tập I, Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành 1997, trang 16.
[2]
Thích Tuệ Sĩ dịch, “Kinh Trung A Hàm” “Linh Sơn Pháp Bảo
Đại Tạng Kinh” tập 4, Hội Văn Hóa Linh Sơn Giáo Dục Đài
Bắc xuất bản, 2000, trang 839.
[3]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tăng Chi Bộ” tập 4, Viện NCPHVN
ấn hành, 1996, trang 182.
[4]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 2, Viện NCPHVN ấn
hành, 2000, trang 308-309.
[5]
Trích dịch từ “Kinh Tăng Nhất A Hàm”(增壹阿含經) (CBETA,
T02, no. 125, p. 705, c20-21).
[6]
TT. Tuệ Sĩ dịch, “Kinh Trung A Hàm” “Linh Sơn Pháp Bảo
Đại Tạng Kinh” tập 3, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn đài
Bắc xuất bản, 2000. trang 742.
[7]
Thích Tuệ Sĩ dịch, “Kinh Trường A Hàm” “Linh Sơn Pháp
Bảo Đại Tạng Kinh” tập 1, Hội Văn Hóa Linh Sơn Giáo Dục
Đài Bắc xuất bản, 2000, trang 356.
[8]
TT. Tuệ sĩ dịch, “Kinh Trung A Hàm” “Linh Sơn Pháp Bảo
Đại Tạng Kinh” tập 4, Hội Văn Hóa Linh Sơn Giáo Dục Đài
Bắc xuất bản, 2000, trang 822.
[9]
Sđd trang 823.
[10]
‘như lý tác ý’ có nghĩa là đạo lý của nó như thế nào
thì suy nghĩ như thế ấy, đồng nghĩa với từ chánh kiến.
[11]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tăng Chi Bộ” tập 1, Viện NCPHVN
ấn hành, 1996, trang 595.
[12]
TT. Tuệ sĩ dịch, “Kinh Trung A hàm” “Linh Sơn Pháp Bảo
Đại Tạng Kinh” tập 4, Hội Văn hóa Giáo dục Linh sơn Đài
Bắc xuất bản, 2000, trang 620-621.
[13]
Sđd, trang 595-596.
[14]
TT. Tuệ Sĩ dịch, “Kinh Trung A Hàm” “Kinh Trung A Hàm” “Linh
Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh” tập 4, Hội Văn Hóa Linh Sơn
Giáo Dục Đài Bắc xuất bản, 2000, trang 944.
[15]
Thích Đức Thắng dịch, “Kinh Tạp A Hàm” “Linh Sơn Pháp
Bảo Đại Tạng Kinh” tập 6, Hội Văn Hóa Linh Sơn Giáo Dục
Đài Bắc xuất bản, 2000, trang 7.
06-11-2008
11:23:12