Vấn
đề ăn chay không phải là quan điểm cá biệt của Phật giáo,
có thể nói nó là quan điểm chung của các tôn giáo cổ xưa.
Do vậy, nội dung và ý nghĩa ăn chay của mỗi tôn giáo
đều tùy thuộc vào chủ trương và quan niệm của tôn giáo
đó, từ đó có những hình thức ăn chay khác nhau. Ví dụ
ăn chay có thể là hình thức kiêng cữ không được ăn heo
chỉ ăn thịt loài thú khác, hoặc không được ăn thịt bò,
nhưng lại ăn được các loại thịt khác, hoặc không được
ăn thịt cá chỉ ăn những loại thảo mộc…thậm chí có
những tôn giáo cho rằng, ngày chay là ngày tiết chế dục
vọng, giảm thiểu việc ăn uống…
Chỉ
riêng trong Đạo Phật cũng đã có hai trường phái lớn có
chủ trương ăn chay khác nhau. Phật giáo Nam truyền hay còn
gọi là Nam Tông, vì muốn giữ truyền thống khất thực của
đức Phật, thời Phật giáo Nguyên thủy, cho nên phái này
chủ trương ăn chay theo cách ‘Tam tịnh nhục’, có nghĩa
là những loại thịt nào mà mình không thấy người ta giết,
không nghe tiếng kêu la của loài thú bị giết, hay không có
sự nghi ngờ nào người khác vì mình mà giết, những loại
thịt đó Tỷ kheo được thọ dụng, không phạm giới. Thế
nhưng, Phật giáo Đại thừa ở Trung Quốc thì không chấp
nhận cách ăn chay này, họ quan niệm rằng ăn chay không được
ăn thịt cá, chỉ ăn các loại rau đậu….Lý do tại sao có
sự khác biệt này, đó là nội dung của bài viết này. Tất
nhiên, ở đây người viết không phê bình đánh giá cách ăn
chay của trường phái nào đúng và trường phái nào sai, chỉ
căn cứ vào các sử liệu, tiến hành phân tích và trình bày
vấn đề tại sao có quan niệm ăn chay theo Phật giáo Nam Tông
hay cách ăn chay theo Phật giáo Bắc Tông – Trung Quốc mà thôi.
Ở đây, người viết cũng không có tham vọng làm việc so
sánh cách ăn chay giữa Phật giáo và các Tôn giáo khác. Do
vậy phần nhận định đúng sai, xin nhường lời lại cho độc
giả.
1.
Ý nghĩa ăn chay trong Phật giáo
Thông
thường chúng ta được hiểu khái niệm ăn chay là chỉ ăn
những thức ăn thuộc thực vật, như rau cải, các loại đậu…,
không phải các loại thuộc động vật như thịt cá. Thật
ra, ý nghĩa ăn chay này chỉ đúng với quan niệm ăn chay theo
Phật giáo Đại thừa ở Trung Quốc, hay những nước Phật
giáo chịu ảnh hưởng của Phật giáo nước này, nhưng nó
không phù hợp ý nghĩa ăn chay theo truyền thống Phật giáo
Nam Tông. Tại sao cùng là Phật giáo lại có sự khác biệt
và yếu tố nào dẫn đến sự dị biệt này ? Đây là những
vấn đề được trình bày ở phần 2 và 3 trong bài viết này.
Ở phần này chỉ giải thích ý nghĩa ăn chay trong Phật giáo.
Bất
luận Phật giáo Nam Tông hay Bắc Tông, mục đích cũa sự ăn
chay là làm tăng trưởng lòng từ bi, giảm bớt lòng sân hận,
bằng cách tu tập không sát sinh, biết thương yêu người đồng
loại và ngay cả các loài vật khác. Khi đã có lòng từ bi,
không nỡ giết loài cầm thú, thì người ấy khó có thể
giết người. Đó là lý do tại sao đức Phật đưa ra giới
cấm: ‘không được sát sinh’. Giới này cũng chính là nhân
tố để hình thành quan điểm ăn chay trong đạo Phật.
Như
vậy, vấn đề cần được tìm hiểu trước tiên là giới
không sát sinh. Thế nào gọi là không sát sinh và ý nghĩa của
nó như thế nào ? Từ thực tế mà nói, là con người sống
trong cuộc đời này không thể nào sống mà không sát sinh.
Vì nhu cầu đi lại là hình thức sát sinh, dùng lửa nấu ăn
cũng phải sát sinh… nói cách khác, nhất cử nhất động
của con người không nhiều thì ít đều có sát sinh dù là
vô tình hay cố ý. Thế thì vấn đề ăn chay có ý nghĩa gì
? Như tôi vừa trình bày, mục đích việc ăn chay là để tăng
trưởng lòng từ bi đối với mọi loài chúng sinh, nhất là
con người. Thế nhưng, điều đó không đồng nghĩa không sát
sinh là được thành Phật, hoặc người sát sinh không thể
thành Phật, tức giác ngộ giải thoát. Thật ra, điều kiện
quyết định cho sự giác ngộ và giải thoát tùy thuộc vào
vai trò của trí tuệ, không phải tùy thuộc vào hình thức
không sát sinh, nếu giác ngộ giải thoát tùy thuộc vào yếu
tố không sát sinh thì một số loài động vật không ăn thịt
đã giác ngộ và giải thoát, không cần đức Phật phải khổ
nhọc đi tìm chân lý, con người cũng không cần phí sức tu
học Phật pháp. Lẽ tất nhiên người đã giác ngộ giải
thoát là người có lòng từ bi, không có tâm giết hại chúng
sinh, nhưng nó không đồng nghĩa người đó hoàn toàn không
có sát sinh, vì dù đã chứng ngộ nhưng còn thân người thì
vẫn còn nhu cầu ăn uống đi lại, như vậy vẫn còn có sự
sát sinh vô ý. Đây chính là ý nghĩa câu: ‘Vô tâm bất phạm,
có nghĩa là hành vi ác, nhưng không cố ý thì không phạm tội[1].
Đây chính là lý do tại sao đạo Phật đặc biệt chú trọng
vai trò ‘ý nghiệp’ trong 3 nghiệp[2], đó là ý nghĩa xuyên
suốt và thống nhất từ tư tưởng Phật giáo Tiểu thừa
cho đến Phật giáo Đại thừa. Đặc biệt Phật giáo Đại
thừa đề cao và phát huy tư tưởng này.
Đây
cũng chính là quan điểm cơ bản hình thành quan điểm người
xuất gia được ăn các loại thịt thanh tịnh (sẽ được
trình bày ở phần mục 2 dưới đây) của Phật giáo Nam Tông.
Nói một cách khác, quan điểm nhà Phật tuyệt đối ngăn cấm
các đệ tử của mình không được cố ý sát hại chúng sinh,
không thể ngăn cấm hành vi vô ý.
Thế
nhưng, TÂM hay Ý là cái rất trừu tượng, khó bề hiểu được
cái tâm ấy như thế nào. Vì để cụ thể cái tâm ấy, để
chúng sinh dễ dàng nhận biết cái gì là tâm tốt cái gì là
tâm xấu, cho nên phải cụ thể hóa nó thành giới điều:
“Không được sát sinh”, là một trong 5 giới cấm cơ bản
trong Phật giáo. Thật ra, 5 giới này trừ giới thứ 5 là ‘không
được uống rượu’ (là giới cấm của Phật giáo), nó là
nguyên tắc chung cho các tôn giáo ở Ấn Độ, cụ thể là
giới điều của Kỳ Na giáo. Từ tinh thần ‘từ bi’ cụ
thể hóa thành ‘không được sát sinh’ hay từ nội dung chuyển
thành hình thức đôi khi gặp nhiều trở ngại, vì có những
trường hợp hình thức không phù họp với nội dung. Ví dụ,
người xấu lợi dụng hình tướng của người xuất gia để
trục lợi. Như vậy hình tướng người xuất gia bên ngoài
và việc trục lợi từ nội tâm là mâu thuẫn. Một ví dụ
khác, khi người Phật tử giết kẻ khủng bố cũng là sự
mâu thuẫn, hình thức và tinh thần không hợp nhau, hình thức
giết người là ác, nhưng với tâm giết người là thiện.
Trong trường hợp này, theo tinh thần của đạo Phật cho phép
người Phật tử được phép giết kẻ khủng bố, vì hành
vi giết đó với tâm cứu người, giết với tâm từ, được
quyết định từ tâm sáng suốt, không phải tâm sân hận với
lòng vô minh. Qua trường hợp này cho thấy, Phật giáo lấy
lòng từ bi được xây dựng trên cơ sở trí tuệ làm gốc,
không phải là lòng từ bi được xuất phát từ tâm ngu muội.
Đây chính là ý nghĩa ‘Kinh Đại Câu Si La’ trong “Kinh
Trung A Hàm” đức Phật giải thích sự khác biệt giữa ‘thiện’
và ‘căn bản thiện’.
“Thế
nào là biết bất thiện ? Ác hành của thân là bất thiện,
ác hành của khẩu là bất thiện, ác hành của ý là bất
thiện. Đó là biết về bất thiện. Thế nào là biết bất
thiện căn ? Tham là căn của bất thiện, nhuế, si là căn của
bất thiện. Đó là biết về căn của pháp bất thiện.”[3]
Qua
nội dung và ý nghĩa của đọan kinh vừa dẫn, khái niệm ‘bất
thiện’ được đức Phật phân chia thành hai lọai: ‘bất
thiện’ và ‘căn bản bất thiện’. Bất thiện là những
hành vi không tốt được thể hiện cụ thể bằng thân hay
bằng lời nói. Như là sát sinh, lấy của không cho, tà hạnh…
Ngược lại, căn bản bất thiện không phải là cái được
biểu hiện cụ thể bên ngoài, tức là động cơ sai sử từ
bên trong, chính là lòng tham lam sân hận và ngu si. Như vậy
theo Phật giáo cái gốc của hành vi bất thiện là tham sân
và si. Cái gì được thúc đẩy bởi lòng tham lam sân hận
và si mê đều gọi là bất thiện, cho dù hành vi đó núp dưới
hình thức hay danh nghĩa nào, dù là dưới danh nghĩa là thiện.
Đây chính là lý do tại sao ‘Kinh Ngũ Chí Vật Chủ” Trong
“Kinh Trung A Hàm”[4] đức Phật không đồng tình với dị
học sa môn Văn Kì Tử, khi ông cho rằng: Thân không tạo các
nghiệp ác, miệng không nói lời ác, sống không tà mạng là
người thiện, là bậc phạm hạnh. Đức Phật đã phủ nhận
quan điểm này bằng câu hỏi: Nếu như quan điểm ông là đúng
thì đứa trẻ vừa mới sinh có phải là người thiện, bậc
phạm hạnh chăng ? Vì trẻ sơ sinh cũng không sát sinh,
trộm cắp, dâm dục…
Theo
quan điểm nhà Phật không làm việc ác chưa hẳn là thiện,
nếu như đó là thiện thì người bịnh không có khả năng
làm ác hay đứa trẻ sơ sinh cũng trở thành người thiện
người phạm hạnh sao ? Đạo Phật không chấp nhận quan điểm
như vậy, cho rằng con người là chủ nhân để giải quyết
vấn đề, không ai có thể thay thế. Con người là một sinh
vật có lý trí, lấy lý trí để giải quyết vấn đề. Cuộc
sống khổ hay vui đều tùy thuộc vào cách giải quyết hợp
lý hay không hợp lý đó. Do vậy, đứa trẻ sơ sinh chưa trưởng
thành không có khả năng làm điều ác, nó chưa hẳn là người
thiện. Chúng ta cũng không nên nhầm lẫn cho rằng, giới luật
Phật giáo giống như chiếc lồng sắt, nhốt mọi người vào
chiếc lồng ấy, tự cho rằng là những người tốt người
thiện, họ bị nhốt trong lồng có làm gì đâu mà cho là thiện
? Theo Phật giáo khái niệm thiện được thiết lập khi con
người sống trong thế giới tiền tài danh lợi, nhưng không
bị chúng làm ô nhiễm tâm thì mới gọi người ấy là người
tốt người thiện, không phải là người không có khả năng
hay cơ hội tiếp cận danh lợi, lại cho người đó là người
thiện, như vậy không phù hợp ý nghĩa thiện trong đạo Phật.
Một
điểm khác nữa cần được chú ý. Người ta làm vườn rào
vì mục đích bảo vệ hoa màu trong vườn, nhưng trong vườn
lại mọc toàn là cỏ dại, như vậy việc làm hàng rào có
ý nghĩa gì ? Cũng vậy, mục đích của việc ăn chay, không
sát sinh là để phát triển lòng từ bi biết thương yêu đồng
loại, sau đó là thương đến chúng sinh những loài cầm thú,
nhưng cha mẹ, người thân của chính mình lại không thương,
ngược lại có tâm độc ác, tìm cách hại người này, mắng
nhiếc mạ nhục người khác thì việc ăn chay có ý nghĩa gì
? Cha mẹ là người sinh ra mình, nuôi mình khôn lớn mà không
thương, lại thương người khác, tình thương ấy có vấn
đề; người đồng loại không thương tìm cách ám hại, lại
thương thú vật, tình thương ấy bắt nguồn từ sự hiểu
biết không chân chính. Cũng vậy, giới cấm không được sát
sinh là cách thể hiện hay nuôi dưỡng lòng từ bi, nếu như
người không sát sinh mà không có lòng thương chúng sinh, nhất
là người đồng loại thì việc giữ giới trở thành vô nghĩa,
không có giá trị gì.
Đó
là lý do tại sao trong kinh Phật thường mô tả giới sát:
“hoặc tự giết, hoặc bảo người giết, hoặc thấy người
giết mà vui theo” là cách mô tả nói lên hành vi và ý chí
có sự quan hệ mật thiết. Hành vi mà không có ý thức tham
gia, hành vi ấy không thành nghiệp. Đây chính là nội dung
và ý nghĩa của ‘Kinh Tư” trong “Kinh Trung A Hàm”.
“Nếu
kẻ nào cố ý tạo nghiệp, Ta nói rằng kẻ ấy phải thọ
quả báo, hoặc thọ ngay trong đời hiện tại, hoặc phải
thọ vào đời sau. Nếu tạo nghiệp mà không cố ý, ta nói
rằng người ấy chắc chắn không phải thọ quả báo.”[5]
Đức
Phật xác định, nếu như việc làm bất thiện nào của thân
và lời không có ý thức thì hành vi ấy không thọ quả báo
của nghiệp ác, điều đó cũng mang ý nghĩa, việc làm thiện
nào mà không có lòng từ bi tham gia thì việc thiện đó cũng
không có kết quả lành. Như vậy, không thể căn cứ vào hình
thức ăn chay đi đến kết luận, người ấy có đạo đức,
là người có tu tập, hoặc xem đó như là điều kiện cơ
bản cho sự giác ngộ giải thoát. Về nguyên tắc chung, người
muốn được giải thoát cần có sự giác ngộ, muốn giác
ngộ cần phải có trí tuệ. Do vậy, theo đạo Phật cấm không
được sát sinh mang ý nghĩa làm tăng trưởng lòng từ bi. Nó
là nhân tố gián tiếp để hình thành một xã hội không có
chiến tranh, sống trong hòa bình.
2.
Quan điểm ăn chay theo Phật giáo nguyên thủy
Trong
Phật giáo có hai trường phái lớn: Đại thừa và Tiểu thừa
hay còn gọi là Phật giáo Nguyên thủy hay Nam Tông, nếu chúng
ta tìm hiểu vấn đề ăn chay qua hai trường phái này thì quả
nhiên mỗi phái có quan niệm khác nhau. Theo Phật giáo Nam Tông,
người xuất gia được phép thọ dụng các thức ăn thịt
cá… do thí chủ cúng dường, gọi là ‘tam tịnh nhục’,
nhưng theo truyền thống Phật giáo Đại thừa ở Trung Quốc
người xuất gia không được ăn mặn, cho dù những loại thịt
đó là tam tịnh nhục. Lý do tại sao có sự dị biệt này,
chúng ta cần làm sáng tỏ. Ở đây, trước tiên chúng ta thử
tìm hiểu ý nghĩa ăn chay qua các kinh điển Phật giáo Nam Tông.
Đề cập đến truyền thống ăn chay theo truyền thống Phật
giáo Nam Tông được tìm thấy từ ‘Kinh Jivaka’ (Jivakasuttam)
số 55 trong “Kinh Trung Bộ” tập 2 , với nội dung và
ý nghĩa được mô tả như sau:
“Này
Jivaka, những ai nói như sau: “Vì Sa môn Gotama, họ giết hại
sinh vật. Sa môn Gotama biết thế mà vẫn thọ dụng các loại
thịt được giết vì mình, được làm cho mình”, những người
ấy không nói chính lời của ta, họ xuyên tạc ta, không như
chân, như thật. Này Jivaka ta nói trong 3 trường hợp thịt
không được thọ dụng: Thấy nghe và nghi (vì mình mà giết).
Này Jivaka, Ta nói trong 3 trường hợp, thịt được thọ dụng:
Không thấy, không nghe và không nghi (vì mình mà giết). Này
Jivaka, ta nói trong 3 trường hợp này, thịt được thọ dụng.”[6]
Ở
đây, đức Thế Tôn phủ nhận lời xuyên tạc cho rằng, Ngài
biết người khác vì mình mà giết hại sinh vật, nhưng
Ngài vẫn thọ dụng các loại thịt ấy. Mặt trái của lời
phủ nhận này, lại xác định Thế Tôn là người thọ dụng
các loại thịt được cúng dường, nhưng Ngài hoàn toàn không
hay biết gì về sự giết hại đó. Thật ra đức Phật còn
tại thế và Tăng đoàn đều ăn chay theo nguyên tắc này. Ai
cúng thức ăn gì, Ngài thọ dụng thức ăn ấy, không đòi
hỏi, tuyệt đối không khuyến khích người khác vì mình mà
giết hại sinh vật, chính mình cũng không thấy người khác
giết hại, hay thấy người giết mà đồng lòng. Qua đó, Ngài
xác định có 3 loại thịt không được thọ dụng, và 3 loại
thịt được thọ dụng. 3 loại thịt không được thọ dụng
là thấy nghe và nghi. Thế nào gọi là thấy nghe và nghi ? Có
nghĩa là khi thấy người khác giết hại sinh vật mà không
ngăn cản, lại thọ dụng loại thịt đó, như thế là vi phạm;
khi nghe tiếng kêu la của các loài sinh vật bị giết, mà không
tìm cách ngăn cản hành vi giết hại, lại ăn những loại
thịt này, như thế là vi phạm; thứ 3 là hoài nghi người
nào đó có ý định giết hại sinh vật, nhưng lại không tìm
cách ngăn cản, thịt đó không được thọ dụng. Ngoài ra,
còn một trường hợp nữa, thịt cũng không được thọ dụng
là tự mình giết hại.
Ngược
lại, thế nào là 3 loại thịt được thọ dụng ? 3 loại
thịt được thọ dụng là không thấy không nghe và không nghi.
Không thấy có nghĩa là không thấy người khác giết hại
sinh vật; không nghe là không nghe thấy tiếng kêu la của loài
cầm thú bị giết; không nghi là không nghi ngờ ai đó giết
hại sinh vật. Thịt được cúng dường trong những trường
hợp này Tỷ kheo được thọ dụng, không phạm giới sát sinh.
Nói cách khác, những loại thịt nào không cố ý giết, không
bảo người khác giết, cũng không thấy người khác giết
tỏ ý đồng thuận vui theo, những loại thịt đó Tỷ kheo
được thọ dụng. Có nghĩa là Tỷ kheo đi khất thực, được
tín thí cúng dường bất cứ loại vật thực gì, ngay cả
cá thịt… Tỷ kheo thọ nhận và ăn vật ấy. Tỷ kheo không
được quyền lựa chọn, không được bảo thí chủ nên cúng
dường vật này, không nên cúng vật kia, thí chủ cúng gì
ăn nấy, cúng dường thịt ăn thịt, cúng dường rau đậu
thì ăn rau đậu, không được khen chê.
Khi
đức Phật còn tại thế, Ngài và Tăng đoàn cũng sống theo
hình thức khất thực này, sống bằng những vật thực do
tín thí cúng dường, là các loại thức ăn của người dân
sống hằng ngày, họ lấy ra một phần nhỏ trong phần ăn
của mình để cúng dường Tăng sĩ, bao gồm những vị Tăng
sĩ của những tôn giáo khác. Có thể nói, đây là bài kinh
cơ bản để hình thành quan điểm ăn chay theo Phật giáo Nam
Tông, cho đến ngày nay Phật giáo Nam Tông vẫn còn giữ hình
thức ăn chay này. Khái niệm ăn chay ở đây mang ý nghĩa ‘sống
bằng đời sống khất thực, không cố ý sát sinh’, nhưng
nó không đồng nghĩa với cách ăn chay theo Phật giáo Đại
thừa ở Trung Quốc, hay những nước Phật giáo chịu ảnh
hưởng Phật giáo này.
Có
người đặt nghi vấn: Theo tinh thần giới luật của Phật
giáo Nam Tông và Bắc Tông đều qui định: Tỷ kheo vi phạm
giới sát sinh thì phạm giời Ba la di, là một trong 4 giới
trọng của Phật giáo, thế thì tại sao là vị xuất gia lại
ăn thịt sinh vật ? Nếu bảo rằng, các loại thịt không thấy
không nghe không nghi được thọ dụng, có nghĩa là những thịt
cá làm sẵn được thọ dụng. Thế thì vấn đề được đặt
ra là, nếu không có người mua thì làm gì có người bán ?
có nghĩa là vì có người ăn thịt cho nên có người sát sinh,
người giết là trực tiếp sát sinh, người ăn là gián tiếp
sát sinh, cả hai đồng phạm tội sát. Thế thì tại sao cho
rằng, ăn thịt thuộc ‘tam tịnh nhục’ thì không phạm tội
sát ?
Thật
ra, những nghi vấn này đã giải thích một cách tổng quát
ở phần một. Nhưng dù sao đã thành nghi vấn thì người viết
cũng xin được trình bày ý kiến riêng của mình. Điểm chung
nhất giữa các luật, trong 4 tội Ba la di, tội thứ 3 là cấm
Tỷ kheo không được ‘sát sinh’. Nội dung và ý nghĩa của
tội này qui định: “Nghiêm cấm Tỷ kheo không được cố
ý sát hại sinh mạng cho dù dưới hình thức nào”[7]. Với
ý nghĩa này, Phật giáo Nam Tông ăn chay theo quan điểm ‘Tam
tịnh nhục’ tức không thấy không nghe và không nghi thì nó
không trái với tinh thần giới luật, vì cố ý giết hại.
Nếu cho rằng, ‘tam tịnh nhục’ là loại thịt Tỷ kheo không
trực tiếp giết, nhưng nó vẫn mang ý nghĩa Tỷ kheo gián tiếp
giết hại, có nghĩa là Tỷ kheo ăn thịt là vi phạm tội sát
sinh. Nếu như chúng ta chấp nhận cách lý giải này, điều
đó đồng nghĩa cho rằng giới cấm ‘không sát sinh’ của
đức Phật là vô nghĩa, vì không ai sống trên cuộc đời
này lại không sát sinh, ngay cả người xuất gia, hay người
đã chứng quả. Vì còn là con người thì còn đi lại, còn
có nhu cầu ăn uống, nấu nướng…còn ăn uống nấu nướng
là còn sát sinh. Thế thì với tư cách là con người làm thế
nào triệt để tuân giữ giới không sát sinh ? Nếu như mọi
người không ai tuân giữ được giới này, như vậy phải
chăng giới luật nhà Phật là những giới điều vô nghĩa,
không có giá trị gì với cuộc sống con người ? Nếu như
Ngài từng tuyên bố rằng: “Giáo pháp của ta là thiết thực
hiện tại”, có nghĩa là lời giảng dạy của Ngài có liên
hệ, gần gũi với cuộc sống và ai cũng có thể làm được,
thế thì tại sao có sự mâu thuẫn này ? Theo tôi, sự mâu
thuẫn này bắt nguồn từ sự nhận thức không đúng của
chúng ta, không phải là giáo lý của Ngài. Để lý giải vấn
đề này, theo tôi, bản chất cuộc sống của con người là
như vậy, không thể tránh khỏi những sự sát hại vô tình,
cho nên Ngài chỉ khuyên con người không nên cố ý giết hại
sinh vật.. Đó là nguyên do tại sao Phật giáo đề cao vai trò
ý nghiệp trong 3 nghiệp, lấy ý nghiệp làm tiêu chuẩn để
đánh giá đạo đức, thiện ác...
3.
Quan điểm ăn chay theo Phật giáo Đại thừa ở Trung Quốc
Ở
đây, tôi gọi Phật giáo Đại thừa là chỉ cho Phật giáo
Đại thừa ở Trung Quốc, ngay cả những nước Phật giáo
chịu ảnh hưởng Phật giáo nước này, trong đó có Việt
Nam, sở dĩ tôi phải làm cuộc khoanh vùng này, vì cùng là
Phật giáo Đại thừa nhưng có một số nước không có truyền
thống ăn chay như Trung Quốc, như Phật giáo Tây Tạng, Mông
cổ… Tại sao có trường hợp dị biệt này, đó là nội
dung được trình bày trong phần này.
Trước
tiên, chúng ta thử tìm hiểu quan điểm văn hóa của đất
nước Trung Quốc có liên quan gì đến vấn đề ăn chay của
nước này. Như chúng ta biết, văn hóa khất thực ở Ấn Độ
được người dân Ấn Độ xem đó là hình ảnh cao quí, là
người có đạo đức trong xã hội, do vậy người dân rất
tôn kính những người hành khất thực. Thế nhưng, người
Trung Quốc có quan niệm ngược lại, họ cho rằng, người
hành khất thực là người ăn xin (cái ban). Người ăn xin không
thể là người thanh cao, có tài có đức trong xã hội. Do vậy
truyền thống khất thực của Phật giáo không thể phát huy
tại đất nước Trung Quốc. Nếu thế thì hàng Tăng lữ ở
đây duy trì mạng sống bằng cách nào ? Đứng từ góc độ
kinh điển tìm hiểu, nếu như kinh điển Tiểu thừa (Thượng
tọa bộ) ca ngợi hạnh khất thực, thì kinh điển Đại thừa
ca ngợi sự bố thí – cúng dường. Dẫu rằng tư tưởng
Phật giáo Đại thừa phát sinh tại Ấn Độ, nhưng nó được
đơm hoa kết trái lại ở Trung Quốc. Bố thí là một trong
sáu ba la mật được Phật giáo Đại thừa triển khai triệt
để. Bố thí là một phương tiện tu tập của Bồ tát, nhưng
mặt khác của nó là phương pháp giải quyết vấn đề kinh
tế cho giới Tăng lữ. Tư tưởng này phát triển đến giai
đoạn nào đó, Phật giáo vấp phải một số vấn đề như:
1. Giới Tăng lữ càng ngày càng đông, có những tự viện
lên đến hàng vạn người xuất gia. 2. Vì để cầu phước,
cho nên các địa chủ, quan lại đem ruộng nương điền thổ
cúng dường nhà chùa, do vậy nhà chùa trở thành người có
ruộng đất nhiều nhất. Tăng chúng đông, ruộng đất nhiều,
bên cạnh đó chế độ cúng dường bị phê phán, cho nên chế
độ ‘tự cung tự cấp’ phải được triển khai. Chế độ
này được Bách Trượng gọi là ‘Nhất nhựt bất tác, nhất
nhựt bất thực’, có nghĩa là: Một ngày không làm, một
ngày không ăn. Qui định này nhắm vào thành phần xuất gia,
xuất gia cũng phải làm việc để sống, không thể dựa vào
tín đồ. Đây là hoàn cảnh và nhu cầu thực tế của xã
hội Phật giáo Trung Quốc bấy giờ, cũng là điểm đặc thù
của Phật giáo nước này. Nó cần được nghiên cứu nghiêm
túc để gợi ý và đề ra một biện pháp kinh tế hợp lý
và hữu hiệu cho Phật giáo Việt Nam trong thời hội nhập
hiện nay.
Phải
chăng chính vì phong tục tập quán, văn hóa nước này như
vậy, cho nên người Trung Quốc tỏ ra không mấy hấp dẫn
với hệ tư tưởng kinh điển Thượng tọa bộ (Tiểu thừa),
chỉ chấp nhận quan điểm của Phật giáo Đại thừa, vì
tư tưởng Phật giáo Đại thừa và Lão Trang có những điểm
na ná tương đồng ? Phải chăng vì lý do đó mà ‘kinh
Jivaka’ như đã được trình bày ở trên, nó không được
dịch sang chữ Hán, vì nó không phù hợp với truyền thống
văn hóa ở đây ? Đây là điểm đáng được chú ý và tìm
hiểu.
Một
điểm văn hóa khác nữa là trong hệ thống triết học Trung
Quốc, Đạo gia đề cao cõi Tiên. Từ đó đưa ra quan điểm,
ai muốn thành Tiên, người ấy cần phải tiết dục, kiêng
cữ rượu thit, nên ăn những thức ăn là những loại thảo
mộc, để thân thể được nhẹ nhàng, dễ bề thăng Thiên.
Có lẽ đó cũng là lý do để chúng ta tìm hiểu việc hình
thành quan điểm ăn chay theo Phật giáo Trung Quốc.
Như
chúng ta đã biết, Phật giáo Trung Quốc hay những nước Phật
giáo chịu ảnh hưởng theo Phật giáo Trung Quốc, đều có
quan niệm chung về việc ăn chay là không ăn thịt các loài
động vật, cho dù là loại thịt không thấy không nghe và
không nghi. Thậm chí cho rằng, ai mà ăn thịt người ấy phải
đọa vào địa ngục và không thể thành Phật. quan điểm
ăn chay này, bắt nguồn từ đâu ? Đó là câu hỏi mà bất
cứ người nghiên cứu nào cũng đặt ra và tìm hiểu, bản
thân người viết cũng không ngoại lệ.
Để
trả lời nghi vấn này, chúng ta có thể dựa vào tác phẩm
“Trung Quốc Phật giáo sử” của nhà sử học Quách Bằng
để tìm hiểu vấn đề ăn chay này. Trong tác phẩm này, chương
thứ 3, tiết thứ 3 là chuyên đề thảo luận về: Vua Lương
Võ Đế (502 ~ 536)[8] và vấn đề ăn chay. Tác giả trích dẫn
một số sắc lịnh của nhà vua, từng ban hành bắt buộc Tăng
ni phải triệt để ăn chay, không được ăn mặn. Ở đây
chúng ta cũng cần hiểu sơ lược về nhà vua này, Lương Võ
Đế vốn là nhà vua rất thuần thành tín ngưỡng Phật giáo,
ông là người có công kiến tạo nhiều ngôi chùa đồ sộ
ở Trung Quốc, lập đàn tràng trai tăng chẩn tế, còn thay
mặt Tăng già giảng kinh nói pháp, ngay cả việc chú giải
kinh điển. Một quan điểm đặc biệt của ông có ảnh hưởng
sâu sắc đến hậu thế là đề xướng vấn đề ăn chay (hoàn
toàn không ăn thịt cá). Vì muốn toàn thể Tăng Ni triệt để
thực thi, cho nên nhà vua đã ban ra tổng cộng 4 sắc lịnh,
với nội dung bắt Tăng Ni phải triệt để ăn chay. Trong đó
có đoạn ông viết: “Nay, các Tăng ni, các vị trụ trì, cần
phải cảnh giác, nghiêm dạy chúng tăng (không được ăn mặn);
nếu giải đãi, không tuân lệnh…sẽ trị tội” hay “Nếu
Tăng chúng không tuân lệnh…vẫn còn ăn mặn, đệ tử (Lương
Võ Đế) sẽ căn cứ theo pháp lệnh trị tội”.
Từ
đó, Tăng Ni Phật giáo Trung Quốc bắt đầu ăn chay theo kiểu
này. Có lẽ đó là lý do chính đáng để lý giải tại sao
Phật giáo Đại thừa ở Trung Quốc lại ăn chay không ăn mặn.
Nó khác với một số nước Phật Giáo Đại thừa như Tây
Tạng, Mông Cổ, họ không ăn chay như Phật giáo Trung Quốc.
Nhưng một số nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung
Quốc, như Việt Nam, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản
đều ăn chay, không ăn mặn.
Sự
hình thành cách ăn chay này có nhiều lý do, trước nhất là
yếu tố cơ bản về tâm từ bi của Phật giáo, trong đó có
cả yếu tố lòng nhiệt thành của nhà vua đối với Phật
Pháp, ngang qua địa vị của mình nhà vua đã nới rộng lòng
từ bằng cách không ăn thịt. Xét thấy, nó không không những
không trái với lòng từ bi của Phật giáo, còn phù hợp với
bản sắc văn hóa của Trung Quốc, cho nên việc ăn chay hình
thành.
4.
Lời Kết
Ăn
chay không phải là quan điểm riêng của Phật giáo, các tôn
giáo khác cũng có quan niệm ăn chay. Ngày nay vấn đề ăn chay
lại càng phổ biến hơn, ăn chay không phải chỉ vì phát triển
lòng từ bi - đạo đức, chủ yếu vì sức khỏe. Từ đó,
tùy theo lập trường và quan điểm của mỗi tôn giáo mà hình
thức ăn chay cũng có sự dị biệt.
Chỉ
trong Phật giáo cũng đã xuất hiện hai trường phái ăn chay
khác nhau. Phật giáo Nam truyền hay còn gọi là Phật giáo Nam
Tông có truyền thống ăn chay theo ‘tam tịnh nhục’,
có nghĩa là các loại thịt không thấy không nghe và không
nghi Tỷ kheo được phép thọ dụng, không vi phạm giới sát.
Qui định này chắc chắn có liên quan đến đời sống khất
thực. Buổi sáng Tỷ kheo vào thôn xóm khất thực, thí chủ
cúng gì ăn nấy, ngay cả thịt cá là thức ăn mặn, Tỷ kheo
không được đòi hỏi hay lựa chọn. Đó là lối sống giản
dị, vì đức Phật không muốn Tỷ kheo bận bịu việc ăn
ở, dành mọi thời gian cho việc tu tập. Ngài cũng không vì
sự sinh tồn của Tăng già mà làm phiền quá nhiều người
tín thí, thí chủ chỉ lấy một phần thức ăn trong ngày của
mình cúng dường cho chư Tăng là được rồi, không vì Tăng
già mà phải sắm sửa riêng. Đó là lý do tại sao có hình
thức khất thực ăn chay này.
Phật
giáo truyền đến Trung Quốc được nhà vua Lương Võ Đế
ủng hộ và phát huy. Vì tính chất đặc thù của địa phương,
cộng sự nhiệt tâm của nhà vua, đã lấy tư tưởng từ bi
của Phật giáo kết hợp với bản sắc văn hóa dân tộc,
tạo thành cách ăn chay, hoàn toàn không ăn thịt cá, nó không
những chỉ phù hợp với giáo lý từ bi của đức Phật, còn
gói gém trong đó phong cách văn hóa của Trung Quốc. Nó không
những chỉ có giá trị về mặt đạo đức, văn hóa mà còn
có giá trị về mặt dưỡng sinh, thẩm mỹ… giúp cho con người
có nhiều sức khỏe và đẹp hơn. Nó đã tạo thành phong trào
ăn chay trên thế giới, được mọi người ưa chuộng.
Riêng
tôi rất tán đồng cách ăn chay này, tuy nhiên, không chấp
nhận góc độ cực đoan: Thứ nhất, người quá đề cao việc
ăn chay, thường xem nó như là thước đo đạo đức hay sự
tu tập của người khác, thậm chí nghĩ rằng, ăn chay là yếu
tố chính để được giác ngộ và giải thoát, cố tình xem
thường sự học tập tìm hiểu Phật pháp, chính điều đó
là yếu tố gián tiếp làm cản trở cho sự phát triển Phật
giáo, đưa Phật giáo đến với xã hội ngày nay. Thứ hai,
chúng ta cũng không thể dựa vào tư tưởng Kinh Jivaka để
bào chữa cho thói quen không tốt về việc ăn uống của mình.
Việc ăn chay theo ‘tam tịnh nhục’ được đức Phật chế
định, nó có liên hệ đến đời sống khất thực và điều
kiện kinh tế yếu kém lúc bấy giờ, không phải là hoàn cảnh
xã hội hiện nay, là xã hội có kinh tế dồi dào, thức ăn
phong phú, đời sống Tăng già lại định cư, vật thực được
thí chủ mang đến cúng dường, hay được nấu nướng tại
tự viện, không phải vào thôn xóm khất thực. Một đời
sống tiện nghi như vậy, ắt hẳn việc ăn chay không ăn mặn
vẫn phù hợp với tinh thần từ bi của đức Phật hơn.
Đài
Bắc ngày 8 tháng 8 năm 2007
KINH
SÁCH THAM KHẢO
- HT.
Minh Châu dịch, “Kinh Tương Ưng Bộ” tập 1, Viện NCPHVN
ấn hành năm 1993.
- HT.
Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1,2 và 3, Viện NCPHVN
ấn hành.
- Thích
Tuệ Sỹ dịch, “Kinh Trung A hàm” trong bộ “Linh Sơn Pháp
Bảo Đại Tạng Kinh” tập 3, Hội Văn Hóa Linh Sơn Đài Bắc
xuất bản, năm 2000.
- Thích
Hạnh Bình, ‘Quan điểm nghiệp trong Phật giáo Nguyên thủy’
trong “Tìm Hiểu Giáo Lý Phật Giáo Nguyên Thủy”, Nhà Xuất
Bản Phương Đông, 2007..
[1]
Viện CĐPHHĐ Nha Trang dịch, ‘Kinh Tư’ trong “Kinh Trung A
Hàm” tập 4, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 137.
[2]
Tham khảo Thích Hạnh Bình, ‘Quan điểm nghiệp trong Phật
giáo Nguyên thủy’ trong “Tìm hiểu Phật giáo Nguyên thủy”,
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội 2004, trang 134 -140.
[3]
Viện CĐPHHĐ Nha Trang dịch, ‘Kinh Tư’ trong “Kinh Trung
A Hàm” tập 1, Viện Nghiên Cứu Phật học Việt nam ấn hành
1992, trang 332.
[4]
Viện CĐPHHĐ Nha Trang dịch, ‘Kinh Ngũ Chí Vật Chủ’
trong “Kinh Trung A Hàm” tập 4, Viện Nghiên Cứu Phật học
Việt nam ấn hành 1992, trang 97~107.
[5]
Viện CĐPHHĐ Nha Trang dịch, ‘Kinh Tư’ trong “Kinh Trung
A Hàm” tập 4, Viện Nghiên Cứu Phật học Việt nam ấn hành
1992, trang 137.
[6]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 2, Viện NCPHVN ấn
hành 2000, trang 72.
[7]
Thao khảo: “Thập Tụng Tỷ Kheo Ba la dề mộc xoa Giới Bổn”
(T23, Số 1436, trang 471).
[8]
Trịnh Bằng, “Trung Quốc Phật Giáo Sử”, NXB Văn Tân, Taipei
Trung Hoa Dân Quốc năm 82, trang 79~81.
Bài
liên quan:
Có
Phải Con Người Được Tạo Ra Để Ăn Thịt?
Nguyên Tác: Dr. D. P. Atukorale, M.D.
Huyền
Thoại và Sự Thật Về Ăn Chay"
Dr. D. P. Atukorale
Lời
dạy của Đức Drubwang Konchok Norbu Rinpoche về việc Ăn Thịt,
Liên Hoa Việt dịch
Lập
Trường Dứt Khoát, Ven. Abhinyana
Người
Phật tử Có Nên Là Người Ăn Chay Không? Nguyên Tác: Dr.
D. P. Atukorale
Shabkar
và Truyền Thống Ăn Chay Trong Phật Giáo Tây Tạng, Đại
sư Shabkar
Thông
Điệp Hùng Hồn của Một Yogi Tây Tạng,
Kyabje Chatral Rinpoche-Việt dịch: Thanh Liên
Trả
Lời Về Vấn Ðề ăn Thịt, Giáo sư S. Weeratunga, Pita Kotte,
Dr. Liên Trần Việt Dịch
06-10-2008
10:23:12