LUẬN KIM
CƯƠNG TIÊN
QUYỂN
1
Kim
Cương Bát Nhã Ba La Mật: Là bao quát toàn thể tông chỉ lớn
của 8 Bộ, khế hợp với cương yếu của chúng kinh, điều
ấy cần được làm rõ. Chính là luận về Phật tánh của
quả thường cùng nhân của 10 địa. Nhân đầy, tánh hiển,
tức có cảm ứng hợp với đời, nên giảng nói 8 Bộ Bát-nhã,
dùng 10 thứ nghĩa để giải thích, đối trị 10 thứ chướng
ngại.
Bộ
thứ 1 có mười vạn kệ (Đại Phẩm).
Bộ
thứ 2 có hai vạn năm ngàn kệ (Phóng Quang).
Bộ
thứ 3 có một vạn tám ngàn kệ (Quang Tán).
Bộ
thứ 4 có tám ngàn kệ (Đạo Hành).
Bộ
thứ 5 có bốn ngàn kệ (Tiểu Phẩm).
Bộ
thứ 6 có hai ngàn năm trăm kệ (Thiên Vương Vấn).
Bộ
thứ 7 có sáu trăm kệ (Văn-thù).
Bộ
thứ 8 có ba trăm kệ (Tức là Kim Cương Bát Nhã nầy).
Đây
là tên gọi của 8 Bộ. 7 Bộ trước loại trừ tướng chưa
tận nên chỉ xưng là Bát-nhã. Bộ thứ 8 nầy loại bỏ tướng
hoàn toàn tận cùng, nên lập riêng tên là Kim Cương.
Đầu
tiên là Bộ thứ 1, Đức Như Lai thành đạo được năm năm,
thuyết giảng tại thành Vương-xá.
5 Bộ
tiếp theo cũng được thuyết giảng tại thành Vương-xá.
Hai
Bộ thứ 7, thứ 8 được giảng nói tại thành Xá-bà-đề.
Kim
Cương Bát Nhã nầy, chính là do Tôn giả Tu-bồ-đề chịu
ơn gia hộ nên nêu hỏi, Đức Như Lai trả lời.
10
chướng là:
1.
Chướng của tướng không vật. Như trong Bát-nhã nói: Tất
cả các pháp hữu vi, vô vi, cho đến Niết-bàn đều không.
Chúng sinh không hiểu, khởi đoạn kiến, cho hết thảy pháp
là không. Đối trị chướng nầy, Đức Phật nói với Tu-bồ-đề:
Có Đại Bồ-tát hành Bố thí Ba-la-mật, cho đến Bát-nhã
Ba-la-mật v.v... Trong kinh nầy, sự đối trị là nơi phần
thứ ba. Kinh viết: Bồ-tát không trụ nơi sự để hành bố
thí v.v... Đây là loại trừ đoạn kiến (chấp đoạn).
2.
Chướng của tướng có vật: Chúng sinh nghe Đức Như Lai nói
có Bồ-tát hành sáu Ba-la-mật, chúng sinh bèn chấp trước
khởi thường kiến (chấp thường), tức cho tất cả pháp
là có. Đối trị chướng nầy, Phật bảo Tôn giả Tu-bồ-đề:
Bồ-tát không thấy mình là Bồ-tát cùng các Ba-la-mật v.v...
Nơi kinh nầy, sự đối trị là ở phần tu hành. Kinh nói:
Nếu Bồ-tát khởi tướng chúng sinh, tướng nhân, tức không
phải là Bồ-tát. Đây là loại trừ chấp thường.
3.
Chướng không phải có, tợ như có: Đức Như Lai nói các pháp
như sắc v.v... là có. Nếu là có thì không nên nói lần nữa
các pháp là không. Đối trị chướng nầy, như Phật bảo
Tôn giả Xá-lợi-phất: Các pháp như sắc v.v... thể tướng
là không, như dợn nắng, không phải có, chỉ giống như có
v.v... Nơi kinh nầy, sự đối trị tức cho: Chỉ người phàm
phu tham chấp nơi sự v.v... Đây là loại trừ kiến chấp thật
có.
Ở
đây, phần thứ ba có khác gì với phần thứ nhất? Phần
thứ nhất ở trên là nêu rõ chung về tất cả pháp hữu vi,
vô vi là không. Còn phần thứ ba nầy là biện minh về pháp
hữu vi là không. Song người nghi nói: Nếu các pháp là không
thì do đâu có thể thấy mà có dụng cho là dị biệt?
4.
Chướng của tướng hủy báng: Ở trên, nghe Đức Như Lai nói
các pháp như sắc v.v..., thể tướng là không, như dợn nắng,
chẳng phải có, chỉ tợ như có, chúng sinh không hiểu, nên
khởi ý hủy báng, cho pháp vô vi của Phật tánh, Niết-bàn,
cũng đồng với các pháp hữu vi, tánh là không, không Thể.
Nếu thế thì không tu hành, không đắc quả. Làm rõ sự đối
trị nầy, như Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất: Chẳng phải
là không không v.v... Trong kinh nầy, sự đối trị tức trong
phần thứ sáu nói về các pháp không, cũng là nói tướng
của pháp là phi vô. Đây là loại trừ không kiến.
Chướng
thứ tư nầy có khác gì với chướng thứ nhất, thứ ba? Thứ
nhất là nêu rõ về tất cả các pháp hữu vi, vô vi là không.
Thứ ba là biện minh riêng về pháp hữu vi là không. Còn phần
thứ tư nầy chỉ nêu rõ về pháp vô vi, với thể của diệu
hữu, không có muôn hình tướng nên là không, không giống
với pháp hữu vi, không tánh nên không. Do đấy nên khác nhau.
5.
Chướng của tướng một có: Nghe Đức Như Lai nói sắc là
không, nhưng chúng sinh khởi tâm: Không khác với không lại
có sắc. Đối trị chướng nầy, như Đức Phật nói với
Tôn giả Xá-lợi-phất: Không là phi sắc v.v... Nơi kinh nầy,
chỗ đối trị là nói về: Một hợp tướng tức là không
thể nêu bày v.v... Đây là loại trừ tức kiến.
6.
Chướng của tướng khác có: Đức Như Lai trên nói không là
phi sắc, chúng sinh không hiểu, cho là khác với sắc tức riêng
có không. Đối trị chướng nầy, như Đức Phật nói với
Tôn giả Xá-lợi-phất: Chẳng lìa không lại có sắc. Sắc
tức là không, không tức là sắc v.v... Phần đối trị trong
kinh nầy, tức là: Do đấy, Phật nói tất cả pháp là không
ngã, không nhân, không chúng sinh v.v... Đây là trừ bỏ dị
kiến.
7.
Chướng của tướng thật có: Nghe Như Lai ở trên nói thể
hư không của muôn pháp là không, thì nêu: Do đâu Phật nói
các pháp như sắc v.v... là có? Đối trị chướng nầy, như
Đức Phật bảo Xá-lợi-phất: Các pháp như sắc v.v... chỉ
có dụng của danh v.v... Chỗ đối trị trong kinh nầy là: Như
Lai nói vi trần tức phi vi trần, thế giới tức phi thế giới
v.v... Đây là loại trừ chấp giáo kiến.
Chướng
thứ bảy nầy có khác gì với các chướng thứ nhất, thứ
ba, thứ tư ở trên? Ở đây là nêu rõ về không chẳng khác.
Ở trên chỉ vấn nạn về phương pháp: Nếu là không thì
do đâu Như Lai nói là có? Do đấy nên là khác.
8.
Chướng của tướng dị dị: Nghe Như Lai nói các pháp như
sắc v.v..., thể tướng là không, chỉ có dụng của danh. Chúng
sinh khởi tâm: Các pháp như sắc v.v..., nếu là không thì không
nên có sinh trụ diệt. Nếu thật có sinh trụ diệt, tức chẳng
phải là không. Đối trị chướng nầy, như Phật bảo Tôn
giả Xá-lợi-phất: Các pháp không sinh, không trụ, không diệt,
không tịnh, không nhiễm v.v... Trong kinh nầy, phấn đối trị
là trong phần thứ bảy nói về phần lượng. Vì sao? Vì lìa
tất cả các pháp tức gọi là chư Phật, Như Lai. Đây là
loại trừ hữu tướng kiến.
9.
Chướng của tướng nghĩa như danh: Như Lai nói các pháp như
sắc v.v... có thể thấy, có thể tiếp xúc. Các chúng sinh
khởi tâm cho: Như danh, nghĩa cũng như thế, có thể thấy,
có thể tiếp xúc. Đối trị chướng nầy, như Đức Phật
nói với với Tôn giả Xá-lợi-phất: Các pháp có danh là giả
nêu đặt v.v... Chỗ đối trị nơi kinh nầy là: Thật không
có pháp gọi là Bồ-tát v.v... Đây là loại bỏ kiến chấp
dựa nơi danh chấp nghĩa.
10.
Chướng của tướng danh như nghĩa: Như Lai ở trên nói các
pháp như sắc v.v... là tịch tĩnh, không, chỉ có danh là giả
nêu đặt, nêu đặt Hoặc (Phiền não) như thế. Chúng sinh
khởi tâm: Như nghĩa, danh cũng vậy, có nghĩa nên có danh, nếu
không nghĩa thì làm sao có danh? Đối trị chướng nầy, như
Phật bảo Tôn giả Tu-bồ-đề: Bồ-tát không thấy nơi tất
cả danh. Do không thấy nơi tất cả danh, nên không chấp nơi
tất cả nghĩa v.v... Chỗ đối trị nơi kinh nầy là trong phần
thứ mười một, nói:
Hết
thảy pháp hữu vi
Như
sao, màng, đèn, huyễn v.v...
Đây
là trừ bỏ kiến chấp dựa nơi nghĩa chấp giữ danh.
Đối
trị mười chướng nầy, nên giảng nói 8 Bộ Bát-nhã, nêu
tất cả trí đầy đủ, trọn vẹn.
Mười
thứ ấy do đâu gọi là chướng? Do mỗi mỗi thứ đã khiến
cho Thể mê lầm, đều có thể ngăn ngại đối với thắng
giải chân thật, nên gọi chung là chướng.
* Nói
Kim Cương: Là theo thí dụ để mang tên, chọn lấy nghĩa chắc
thật, như kim cương của thế gian. Có 2 nghĩa:
1.
Thể của kim cương là chắc thật, có thể phá vỡ muôn vật.
2.
Tức muôn vật không thể hủy hoại kim cương. Nêu rõ quả
nầy, đầu là pháp vô vi, thân là Kim Cương Bát Nhã cùng 10
địa là trí tuệ. Cũng có 2 nghĩa: 1. Có thể phá trừ ma oán
địch, hủy diệt các phiền não. 2. Các thứ ma phiền não
không thể phá hoại. Nên gọi là Kim Cương.
Lại,
hàng phàm phu, hai Thừa, đối với lý giáo nầy không thể
lãnh hội, thể nhập, nên cũng gọi là Kim Cương.
* Bát-nhã:
Là chánh âm của Tây Quốc (Ấn Độ), đời Ngụy dịch là
Tuệ minh. Kim cương ấy là tột cùng của lý vô tướng, Thể
là trụ nơi thật. Trí tuệ có thể chiếu sáng thông tỏ về
nguồn lý, thấu rõ về tướng của các pháp, hiển bày quả
Phật thường trụ, nên gọi là Bát-nhã.
* Ba-la-mật:
Đời Ngụy dịch là Đáo bỉ ngạn (Đến bờ giác), nêu rõ
lý của đối tượng được giảng giải nơi kinh nầy là pháp
chân thường trụ. Thể của bờ giác (Bỉ ngạn) có thể khiến
cho chúng sinh vượt qua sông sinh tử, đạt đến bờ giác Niết-bàn,
nên gọi là Ba-la-mật.
* Kinh:
Người xưa tương truyền, giải thích là thường. Dựa nơi
chánh bản của Tây Quốc, gọi là Tu-đa-la, phương nầy dịch
là gốc. Đây là biện minh lý, giáo đều có nghĩa gốc.
Lý
là gốc: Tức làm rõ pháp đã chứng đắc của đối tượng
được giảng giải. Lý của vô vi có thể nêu ngôn giáo của
mười hai bộ kinh làm gốc, nên gọi lý là gốc.
Giáo
là gốc: Tức làm rõ tìm cầu ngôn giáo nầy có thể đạt
được pháp chứng đắc, nên gọi ngôn giáo cùng pháp chứng
đắc là gốc. Do đó lấy giáo làm gốc.
Nay
nói kinh, không phải là chuyển dịch từ tên gọi. Song người
ở đây theo nghĩa dùng chữ kinh để hiển bày xứ Tu-đa-la,
nên nói là kinh.
* Luận:
Trong thời gian sau khi Đức Như Lai diệt độ, có bậc Đại
sĩ cao hạnh hiệu là Bà-tẩu-bàn-đậu, đời Ngụy dịch là
Thiên Thân. Người nầy thật sự là Bồ-tát đại quyền,
hiện hình hóa chung, thấy khắp ý nghĩa của giáo pháp Đại
Tiểu thừa do Đức Như Lai thuyết giảng trong một đời, đem
Kinh Kim Cương Bát Nhã nầy, văn cú hết sức tóm lược, nhưng
nghĩa thì vô cùng xa rộng, người đời không thể lãnh hội
diệu nghĩa sâu thẳm ấy, vì chúng sinh nên làm công việc
giải thích, tức là Luận (Luận nầy là giải thích Luận
số 1511/3 của Bồ-tát Thiên Thân).
Sở
dĩ phần đầu của Luận nêu ra hai bài kệ: Là vì Luận chủ
Thiên Thân, khi sắp sửa làm Luận giải thích diệu nghĩa sâu
xa của Kinh Kim Cương Bát Nhã nầy, nếu không nêu rõ thể
của pháp đặt ở đầu Luận, từ xa nương dựa nơi Phật
Tăng tại đầu Kinh, thì lấy gì để làm Luận giải thích
nghĩa sâu xa của Kinh ấy? Rõ ràng là sau khi Đức Như Lai diệt
độ, các Đại Luận sư thuộc Thanh-văn, Bồ-tát, phàm muốn
làm công việc giải thích Chánh Kinh của Phật, thảy đều
trước là quy kính Tam bảo, nhờ vào uy linh, sau đấy mới
làm Luận. Đại ý của 2 bài kệ được nêu lên là ở đó.
Dựa
theo nội dụng của hai kệ nầy nên phần làm hai đoạn:
1.
Gồm một kệ rưỡi (6 câu): Nêu rõ sự tôn kính hết mực
đối với Tam bảo.
2.
Gồm nửa kệ (2 câu sau): Giải thích, xác nhận về ý tôn
kính ấy.
+ Trong
6 câu đầu:
1 câu
trước là nêu rõ lý, giáo thâm diệu của Kim Cương Bát Nhã
nầy, tức là Thể của Pháp bảo.
Câu
thứ 2: Là biện minh lý giáo của pháp môn trên đã sâu xa,
người ngu của thế gian không thể tỏ ngộ. Tức nêu ra loại
người không thể lãnh hội.
Câu
thứ 3: Là làm rõ về chư Phật, Bồ-tát cùng có thể thông
đạt. Đây là hiển bày về hai bảo Phật, Tăng. Tức nêu
ra những bậc có thể lãnh hội.
Câu
thứ 4: Do chư Phật, Bồ-tát có thể thông đạt lý ấy, nên
chỉ dạy, dẫn dắt. Chúng ta phải nên quy kính bậc có vô
lượng công đức.
Hai
câu thứ 5, thứ 6: Là giải thích lần nữa về ý hết lòng
tôn kính.
+ 2
câu sau: Giải thích riêng về Bồ-tát có đức đánh kính.
* Pháp
(Trong câu kệ đầu: Pháp môn cú nghĩa cùng thứ lớp): Là
lấy phép tắc làm công năng. Lại, pháp gọi là tự thể không
làm mất tướng của mình.
Thế
nào là tướng tự thể của “nhà pháp” mà nói là không
mất? Tức nêu rõ pháp rất thâm diệu của Kim Cương Bát Nhã
nầy có thể ngăn giữ phi pháp của sinh tử, không khiến chúng
sinh đọa nơi ba đường ác. Có thể khiến chúng sinh đạt
được quả của hàng trời, người, hai Thừa. Cũng có thể
khiến chúng sinh hành đầy đủ mười địa, rốt cùng là
đạt được quả vị Phật, an lạc tột bậc, nên gọi là
Pháp.
Môn:
Là nêu rõ về lý cùng giáo của Kim Cương Bát Nhã nầy đều
có thể làm bến bãi xuất phát, để kẻ thông hành đi đến
chốn xa xôi là quả Phật, nên gọi là Môn.
Cú:
Tức là giáo nơi chủ thể giảng nêu (Năng thuyên) của Kim
Cương Bát Nhã nầy.
Nghĩa:
Là lý chứng của đối tượng được giảng nêu (Sở thuyên),
làm rõ lý, giáo của Bát-nhã nầy là thâm diệu, không phải
là chỗ có thể lãnh hội của tâm ý thức thuộc hàng phàm
phu, hai Thừa. Chính là chỗ sau cùng của 8 Bộ, Đức Như Lai
thuyết giảng còn ẩn giấu. Sở dĩ được biết, như phần
sau kinh viết: Như Lai nói chúng sinh tức phi chúng sinh v.v...
Đây tức là lý giáo của cú nghĩa khó lãnh hội, nên nói
là Cú Nghĩa.
Cùng
thứ lớp: Là nêu rõ về thứ lớp nơi phần số thuộc mười
hai đoạn của pháp môn ấy. Từ một đoạn nầy, đến một
đoạn nầy, sinh khởi dụng của pháp. Hoặc có lúc theo trình
tự, hoặc có khi vượt quá, do đấy khó nhận biết. Phần
sau của văn kinh nói: Thế nào là trụ?, tức sinh khởi Phần
Trụ. Thế nào là tu hành, làm thế nào để hàng phục tâm?,
tức sinh khởi Phần Tu hành như thật. Đây tức là ý khó
nhận biết của thứ lớp, nên nói là cùng thứ lớp.
* Thế
gian không hiểu, lìa Minh tuệ (kệ): Câu trên tuy đã nêu rõ
về Bát-nhã, nhưng lý giáo thì khó, thể của pháp thì chưa
biết. Ai là người không tỏ? Do vậy, câu thứ hai làm rõ
người ngu của thế gian không thể hiểu. Thế gian là thế
gian của chúng sinh. Không thể hiểu: Là những người phàm
phu nầy chưa có được pháp thắng giải xuất thế gian như
Văn, Tư, Tu, để đoạn trừ Hoặc (Phiền não), chướng, vĩnh
viễn dứt hết sinh tử, nên không thể đạt đến tận cùng
nguồn lý, tỏ ngộ pháp sâu nầy.
Nên
hỏi: Người ngu của thế gian vì sao không hiểu? Tức đáp:
Do lìa Minh tuệ. Lìa Minh tuệ: Là người ngu tối nêu trước,
chưa đắc Địa thứ nhất trở lên, có được thắng giải
vô lậu chân thật để đoạn trừ si ám, nên nói là lìa Minh
tuệ. Do lìa Minh tuệ xuất thế gian, nên không thể lãnh hội
pháp Bát-nhã sâu xa nầy.
* Đại
trí thông đạt, dạy chúng con (kệ): Câu trên, tuy đã làm
rõ về những kẻ không thể lãnh hội, nhưng vẫn chưa hiển
bày những người có thể thắng giải. Vì thế, câu kệ thứ
ba biện minh chư Phật, Bồ-tát cùng có thể biện giải thông
đạt lý ấy. Đây tức là cùng nêu ra hai bảo Phật và Tăng.
+ Đại
trí thông đạt: Là chư Phật, Như Lai, hai chướng đã hoàn
toàn dứt hết, chủng trí viên mãn, soi chiếu tột cùng pháp
môn nầy, lý giáo đều gồm trọn, lại không có ai hơn, nên
nói Đại trí thông đạt. Nếu dựa theo Bồ-tát mà luận,
cũng dần dần dứt trừ Hoặc chướng, có được từng phần
chủng trí, nửa phần tỏ ngộ đồng với Phật, lãnh hội
thứ lớp, cú nghĩa của pháp môn nầy, do đấy cũng được
gọi là Đạt trí thông đạt.
Ý
thứ hai, nếu lý giáo của Bát-nhã nầy là sâu xa khó hiểu,
thì Luận chủ do đâu hiểu được để làm luận giải thích?
Nên đáp: Đại trí thông đạt, dạy chúng con.
+ Dạy
chúng con: Đây là nêu rõ Luận chủ tự cho: Chư Phật, Bồ-tát
có phương tiện lớn, đối với tự thân đã đạt được
lý không danh tướng, hành nói danh tướng, chỉ dạy dẫn dắt
con (Luận chủ) cùng các Luận sư khác và hết thảy chúng
sinh. Vì thế lãnh hội được nghĩa thâm diệu của Bát-nhã
nầy. Công là do đại Thánh, chẳng phải tự sức mình có
thể hiểu được, nên nói là dạy chúng con.
* Quy
mạng thân công đức vô lượng (kệ): Ở trên tuy đã biện
biệt về sự tôn kính người, pháp, nhưng chưa luận về ý
tôn kính hết mực. Do vậy, câu kệ thứ tư là hiển bày sự
tôn kính tột cùng ấy. Hoặc pháp môn thâm diệu của Kim Cương
Bát Nhã nầy chính là mẹ của chư Phật, có thể xuất sinh
hiện quả là Niết-bàn thường trụ, Thể hiện bày khắp
vô lượng công đức, thế nên quy mạng.
Lại,
chư Phật Bồ-tát đều có mười lực, bốn vô sở úy cùng
vô lượng nhóm công đức lớn, có thể đem lý giáo nêu trước
dẫn dắt, đối với con (Luận chủ) có ân lớn không gì bằng,
nên cũng nói là quy mạng. Một câu nầy nên hiện bày khắp
ở trên, tức từ câu thứ ba tiếp xuống đều nói là quy
mạng.
* Phải
nên kính lễ bậc như thế (kệ): Từ đây trở xuống gồm
hai câu, là giải thích lần nữa về câu thứ tư: Ý tôn kính
tột cùng. Ở trên tuy nói là quy mạng, nhưng vẫn chưa nêu
ra tâm kính ngưỡng. Sắp sửa lại đem ba nghiệp để quy kính,
do nêu chung về người pháp được tôn kính ở trước tức
tiếp đến là Ta phải nên tôn kính như vậy.
* Đầu
mặt cung kính lễ nơi chân (kệ): Câu trên nói là cung kính
tột cùng, nhưng chưa nêu ra “Sở dĩ” của việc tôn kính.
Câu nầy chính là biện biệt về sự của cung kính. Đầu
là phần quan trọng của một hình. Chân là chỗ xem thường
của thân. Nay đem chỗ quý trọng của mình để bái nơi chân
của Phật, Tăng. Đây mới chính là hiển bày sự thành kính
tột bậc, nên nói: Đầu mặt cung kính lễ nơi chân. Cũng
nên nói ý nghiệp tôn trọng, khẩu nghiệp tán thán, song do
câu kệ có hạn định nên lược bỏ.
Một
câu nầy cũng hiện bày khắp ở trên, tức phần tiếp sau
của Tam bảo đều nói là đảnh lễ.
* Do
hay phụng Phật, sự khó vượt (kệ): Hai câu nơi nửa kệ
sau nầy là giải thích riêng về Bồ-tát có công đức đáng
tôn kính. Luận chủ ở đây giả nêu ra nghi vấn, ý nói: Chư
Phật Như Lai gồm đủ ba Đạt, Minh, Giải, soi chiếu khắp
hết muôn pháp, siệu vượt mọi dấu hiệu của Học địa,
không ai có thể hơn, lý hợp nên hết lòng tôn kính. Bồ-tát
tuy đã trụ nơi Học địa, nhưng xứ là cảnh giới không
đủ, lý tỏ chưa tròn, đoạn trừ Hoặc chưa hết, sao được
gọi là Đại trí kính đồng như Phật? Do đấy kệ giải
thích, nói: Do hay phụng Phật, sự khó vượt.
Thế
nào là sự khó hơn của “Nhà Phật”, mà cho là Bồ-tát
đã gánh vác? Nay biện minh về sự khó hơn của “Nhà Phật”:
Tức lý giáo của Bát-nhã nầy, tông chỉ càng sâu xa, không
phải là cảnh giới có thể suy lường của hàng phàm phu,
Nhị thừa, nên không kham nổi việc thọ trì, lưu hành rộng,
tạo lợi ích cho muôn loài. Rõ ràng là Bồ-tát, Đại sĩ riêng
gồm cả diệu giải, gánh vác công việc nặng nề ấy, ở
trong thời ký Tượng chánh pháp, sau khi Đức Như Lai diệt
độ, thọ trì, hoằng hóa, tiếp nối bước đi của bậc Thánh
trước. Đây tức là gánh vác sự nghiệp khó vượt của Phật,
nên công ngang bằng với chư Phật, do đấy được gọi là
Đại trí thông đạt, dốc lòng tôn kính chư Phật.
Ở
đây nêu rõ Bồ-tát có 2 loại:
1.
Bồ-tát từ Địa thứ nhất trở lên, đã tích chứa hành
trong vô số kiếp, hiện thấy rõ gốc lý, đoạn trừ phiền
não, tự chứng đắc mà thuyết giảng, nên có thể gánh vác,
thọ trì, lưu hành rộng, đem lại lợi ích cho muôn vật.
2.
Bồ-tát tín địa trước địa, cũng tích chứa hành lâu xa
một Đại A-tăng-kỳ, chưa đầy đủ, sắp đầy đủ, tuy
chưa hiện thấy rõ gốc lý, nhưng do có thể bước đầu tiếp
xúc, thấy hiểu chỗ tương tợ của lý, hàng phục phiền
não, nên cũng có khả năng đảm nhận công việc thọ trì,
lưu hành rộng khắp, tạo lợi ích cho muôn loài.
* Thâu
nhận chúng sinh, tạo lợi ích (kệ): Nay nói Bồ-tát tại thời
kỳ Tượng chánh pháp, lưu hành rộng khắp pháp Bát-nhã thù
thắng, là để tự mong cầu lợi dưỡng, hay là để đem lại
lợi ích cho muôn vật? Câu kệ sau cùng nói: Thâu nhận chúng
sinh, tạo lợi ích. Tức nêu rõ Bồ-tát, Đại sĩ, sau khi Đức
Phật diệt độ, đã lưu hành rộng kinh nầy, chính là để
thức tỉnh khắp quần sinh, thấm nhuần lợi ích cho họ, nên
đem pháp chọn lấy vật, khiến theo đấy mà được hóa độ,
đạt được phước đức vô tận của đạo Bồ-đề Vô thượng,
xuất thế gian. Đấy là làm sáng tỏ Bồ-tát không vì tự
lợi, nên nói là: Thân nhận chúng sinh, tạo lợi ích.
Hai
bài kệ ở trước Luận ấy là Luận chủ (Bồ-tát Thiên Thân)
quy kính Tam bảo, nêu bày ý tạo luận của mình.
* Phần
1: Từ câu: Như thị… trở xuống đến hết phần cuối của
kinh là chính thức biện giải về Thể của kinh, gồm phần
Tự, Chánh tông, Lưu thông, nghĩa như thường biện biệt. Ở
đây theo nghĩa để phân đoạn, gồm có 12 đoạn, khởi đầu
từ Phần Tự, sau cùng là Phần Lưu Thông. Mười hai đoạn
giải thích gọi là sinh khởi, như thứ lớp tiếp sau sẽ giải
thích rộng, có thể nhận biết.
Trong
mười hai đoạn nầy, sở dĩ đoạn đầu nêu rõ về Phần
Tự, vì Đức Như Lai sắp sửa thuyết pháp, thường dùng uy
thần để gia hộ ngầm, triệu tập những người có duyên,
là lý do của sự phát khởi, nên gọi là Tự. Các kinh làm
rõ nghĩa của Tự theo thứ lớp phát khởi, đều trước là
phóng hào quang, đại địa chấn động, tập hợp các vị
có duyên, rộng tạo nguyên do, sau đấy mới thuyết giảng.
Kinh nầy sở dĩ khác với các kinh, là do Đức Như Lai thuyết
pháp, về nghĩa của Phần Tự gồm có nhiều thứ:
1.
Phóng hào quang, đại địa chấn động, triệp tập các vị
có duyên, rộng hiện tướng của điềm lành, sau đấy thì
nói pháp.
2.
Không phóng hào quang, không có đại địa chấn động, không
hiện rộng tướng của điềm lành. Đức Như Lai nhận biết
về căn cơ cảm ứng của chúng sinh, tự nhiên thuyết pháp,
không đợi phải thưa hỏi.
3.
Trong chúng có chúng sinh khiếp nhược, nội tâm hoài nghi, nhưng
không dám thưa hỏi Phật. Thế nên Đức Như Lai tự nói rõ:
Ta là bậc Nhất thiết trí. Ông vì sao không thưa hỏi Ta. Ông
nếu thưa hỏi, Ta sẽ vì ông giảng nói pháp.
4.
Đức Như Lai dùng uy thần gia hộ ngầm, ban cho người kia trí
lực, khiến nhân đấy thuyết pháp.
5.
Các Bồ-tát ở nơi xứ khác giảng nói pháp, xong xuôi thì
đi đến chỗ Như Lai, xin ấn chứng cho điều đã thuyết giảng.
6.
Có người sinh nghi thưa hỏi, Đức Như Lai nhân đó nên giảng
nói.
7.
Đức Như Lai trực tiếp dùng tướng mạo của mình, làm phần
mở đầu cho việc thuyết pháp.
Nay,
Phần Tự của kinh nầy, tức là trường hợp thứ tư, Đức
Như Lai dùng uy thần gia hộ ngầm, nên nói đấy là Phần Tự.
Như nơi Kinh Bát-nhã mười vạn kệ (Đại Phẩm), Đức Như
Lai dùng đầy đủ ba nghiệp để gia hộ cho Tôn giả Tu-bồ-đề.
Hoặc
như nơi Kinh Bát-nhã tám ngàn kệ (Đạo Hành) v.v…, trong sáu
bộ ấy chỉ dùng hai nghiệp khẩu, ý để gia hộ cho Tôn giả
Tu-bồ-đề. Kinh Kim Cương Bát Nhã nầy, chỉ dùng ý để gia
hộ, không gồm đủ thân, miệng.
Nếu
kinh nầy chỉ dùng ý để gia hộ nên thuyết giảng, vì sao
văn kinh không biện biệt về sự việc ấy? Là do Đức Như
Lai giảng nói 8 Bộ Bát-nhã, cách diễn đạt nối tiếp, không
đoạn không dứt, nên không biện minh riêng lần nữa.
5 câu
đầu kinh là phần Tự chung của các kinh:
1.
Như nhị (Như vầy).
2.
Ngã văn (Tôi nghe).
3.
Nhất thời (Một thời).
4.
Đức Bà-già-bà (Đức Thế Tôn).
5.
Trụ xứ (Ở tại…)
Sở
dĩ nơi phần đầu của tất cả kinh đều nêu đặt 5 câu
ấy là có 3 thứ nghĩa:
1.
Vì nhằm chứng nhận lý của kinh là không hư dối, khiến
đời vị lai sinh tin.
2.
Vì biểu thị sự khác biệt với ngoại đạo, dùng chữ A
ưu, cho là tốt lành.
3.
Vì nhằm dứt trừ sự tranh luận, biểu thị đã suy cầu tông
chỉ hiện có. Cùng chứng nhận, sinh tin tưởng, vì thế nên
biện minh trước.
* Như
thị: Là nhằm khiến cho người nhận biết kinh thấu đạt
diệu chỉ, nên nêu rõ lý giáo của Kim Cương Bát Nhã. Những
điều Tôi đang thuật lại như thế, so với Đức Phật trước
đã giảng nói không khác. Nên đầu tiên là làm rõ về Như
thị.
Tuy
nói nay thuyết giảng về lý giáo của Bát-nhã, so với Phật
thời trước đã thuyết giảng không khác, nhưng chưa biết
nghe kinh là ai. Nếu không có người nghe thì vị tất có thể
tin. Do đấy, tiếp theo, câu thứ 2 là nói về Ngã văn. Đây
là biện minh về điều: Có người nghe, không phải là nghe
truyền lại, thế nên là đáng tin.
Tôn
giả Tu-bồ-đề tuy nói là Tôi nghe (Ngã văn), nhưng nói tất
có thời gian (Thời), nếu giảng nói không có thời gian thì
cũng chưa hẳn có thể tin, nên câu thứ 3 tiếp theo là nêu
rõ về Một thời (Nhất thời).
Tuy
đã nêu ra thời gian thuyết giảng kinh, nhưng thuyết giảng
tất phải có người, chưa biết người thuyết giảng là ai.
Nếu là Thiên ma, Ngoại đạo, hoặc người khác giảng nói
thì vị tất đã đáng tin, nên câu thứ 4 tiếp theo là nêu
rõ về người có thể thuyết giảng, là Đức Phật - Thế
Tôn, do đó đáng tin.
Dù
cho lý, giáo của Bát-nhã nầy là do Đức Phật thuyết giảng,
nhưng chưa rõ Đức Như Lai ở tại xứ nào giảng nói. Nếu
thuyết giảng không nơi chốn cũng chưa hẳn đáng tín. Vì
thế, câu thứ 5 tiếp theo là nói rõ về xứ sở thuyết giảng
kinh tại khu vườn rừng Kỳ-đà – Cấp Cô Độc, thuộc thành
Xá-bà-đề.
Trong
5 câu, vì sao câu thứ nhất gọi là Như thị? Nếu dựa theo
sự biện biệt “Thích danh” của thế gian thì nghĩa của
Như thị tức có nhiều nẻo, nói tóm lược có 4 thứ:
1.
Phát tâm như thị.
2.
Giáo tha như thị.
3.
Thí dụ như thị.
4.
Quyết định như thị.
+ Phát
tâm như thị: Là tự suy niệm, Ta nên phát tâm Bồ-đề như
thế để tu các hành thiện v.v… Đó gọi là Phát tâm như
thị.
+ Giáo
tha như thị: Là chỉ dạy người trước, nói: Ông nên phát
tâm Bồ-đề, tu các hành v.v… như thế.
+ Thí
dụ như thị: Lại nêu: Uy đức rạng rỡ như ánh sáng mặt
trời. Trí tuệ sâu rộng cũng như biển cả. Diện mạo đoan
nghiêm dụ như vầng trăng tròn. Dũng mãnh, oai hùng như Sư
tử vương. Đó gọi là Thí dụ như thị.
+ Quyết
định như thị: Ta đã thấy nghe như vậy v.v… Đó gọi là
Quyết định như thị.
Nay
nói Như thị: Là chỉ chọn lấy loại thứ tư là Quyết định
như thị, nêu rõ Tôn giả Tu-bồ-đề tự cho mình đã thân
hành theo Như Lai, nghe lý cùng giáo của Kim Cương Bát Nhã nầy.
Điều thuyết giảng của mình (Tu-bồ-đề) như Đức Phật
đã giảng nói, không nhiều không ít, không phô diễn, không
sai lầm, quyết định như thế, không có lỗi của sự nghe
truyền, nên gọi là Như thị.
* Ngã
văn (Tôi nghe): Nghĩa của Như thị, nghe tất có người, nên
tiếp đến là nói Ngã văn. Ở đây, ai là người tự xưng
là Tôi (Ngã) mà nói là Tôi nghe? Giải thích thì có nhiều
hướng, nhưng Tôn giả Tu-bồ-đề nói Tôi cùng với một ngàn
hai trăm năm mươi Tỳ-kheo đồng nghe kinh nầy, nên gọi là
Tôi nghe. Rõ ràng là về lý thông mà lời cũng được thông.
Tôn giả A-nan nói Tôi nghe thì nghĩa riêng tức không đúng.
Ba loại A-nan nơi Đại Tiểu Trung thừa truyền giữ Pháp tạng
của ba Thừa, nghĩa ấy có thể nhận biết. Do đâu biết được?
Tôn giả Tu-bồ-đề nói Tôi nghe, không phải người khác,
gồm có 2 nghĩa, nghiệm biết.
1.
Do văn kinh: Tức trong phần đối chiếu ở sau, Tôn giả Tu-bồ-đề
hỏi: Nên gọi kinh nầy là gì, chúng con nên phụng trì như
thế nào? Dùng văn nầy để chứng nghiệm, nên biết nay nói
Tôi nghe (Ngã văn) là Tôn giả Tu-bồ-đề. Tuy là đương thời,
Tôn giả Tu-bồ-đề có thưa hỏi như thế, thời sau nói Tôi
nghe (Ngã văn) hà tất là Tu-bồ-đề.
2.
Nên lại dùng văn gì để nghiệm biết là Tôn giả Tu-bồ-đề
nói Tôi nghe. Xưa, sau khi Đức Như Lai diệt độ, gồm có ba
thời kết tập Pháp tạng. Đầu tiên là tại Hang Nhân-đà-la,
thuộc thành Vương-xá, năm trăm Tỳ-kheo kết tập Pháp tạng.
Các Tỳ-kheo A-la-hán như Tôn giả Xá-lợi-phất v.v… đều
tự nêu bày: Kinh ấy v.v… như vậy là Tôi nghe Đức Phật
ở tại xứ ấy v.v… thuyết giảng.
Thời
sau, vì quốc vương ác hoại diệt Phật pháp, từ đấy trở
về sau, lại có bảy trăm Tỳ-kheo, kết tập Pháp tạng lần
nữa, đều nói: Kinh nầy v.v… tôi từ ở bên Tỳ-kheo tên
v.v… được nghe, không nói tôi từ Phật nghe. Đây là kết
tập lại, đều là người của Tiểu thừa kết tập Pháp
tạng.
Lại
nữa, Đức Như Lai ở tại bên ngoài núi Thiết-vi, không đến
thế giới khác, khoảng giữa của hai cõi, có vô lượng chư
Phật cùng vân tập ở đấy, thuyết giảng Kinh Phật Thoại
xong, muốn kết tập Pháp tạng Đại thừa, lại triệu tập
đồ chúng, A-la-hán có tám mươi ức na-do-tha, chúng Bồ-tát
có vô lượng vô biên Hằng hà sa không thể nghĩ bàn, đều
tập hợp ở đó. Bấy giờ, Bồ-tát, Thanh-văn đều nói: “Như
thị ngã văn” Đức Như Lai ở tại xứ ấy v.v… thuyết
giảng kinh ấy v.v…
Như
vậy, Tôn giả Tu-bồ-đề nói: Kinh Kim Cương Bát Nhã, “Như
thị ngã văn”, Đức Phật ở tại thành Xá-bà-đề thuyết
giảng. Nên biết, nay nói Tôi nghe là Tôn giả Tu-bồ-đề.
* Một
thời: Đã nói là Tôi nghe, tức thuyết giảng tất có thời
gian, nên tiếp theo là nói về Một thời. Nhưng thời có nhiều
thứ: Hoặc có thời của một niệm, có thời của ngày đêm,
có thời của trăm năm, có thời là một kiếp, có thời của
xuân thu đông hạ. Nay nói Một thời, không phải là những
thời vừa nêu, mà chính là thời Đức Như Lai thuyết giảng
Kinh Kim Cương Bát Nhã nầy. Tuy gọi là Một thời, nhưng không
nói là năm nào tháng nào ngày nào thuyết giảng, nên không
biết rõ là thời nào. Như nơi Phẩm Thế Gian Tịnh Nhãn của
Kinh Đại Hoa Nghiêm, Đức Như Lai tức nơi ngày Thành đạo,
tại đạo tràng Tịch Diệt thuyết giảng. Phẩm Thập Địa,
vào bảy ngày lần thứ hai, tại cõi trời Tha-hóa-tự-tại
thuyết giảng. Như Bát-nhã mười vạn kệ, được thuyết
giảng sau khi Đức Như Lai thành đạo năm năm, kinh có thành
văn. Bảy bộ Bát-nhã còn lại chỉ nói là Một thời, đều
không biết rõ là thuyết giảng vào năm nào.
Kinh
Như Lai Tạng thuyết giảng khi Phật thành đạo được mười
năm. Như Phẩm Bảo Tràng của Kinh Đại Tập, Phật thành đạo
được một năm, thuyết giảng tại vườn Trúc Ca-lan-đà,
thuộc thành Vương-xá. Phẩm Đà La Ni Tự Tại Vương, thuyết
giảng sau khi Đức Thế Tôn thành đạo đã mười sáu năm,
tại khoảng giữa của hai cõi Dục, cõi Sắc. Kinh có văn nêu
rõ, tức có thể nhận biết, kinh không có văn nêu rõ thì
không thể nhận biết.
Về
thời gian thuyết giảng kinh nầy, tuy không biết rõ là năm
nào, nhưng cũng đủ biết là thời gian sau giữa ngày. Do đâu
biết được? Kinh viết: Sắp đến giờ thọ thực, mang y cầm
bát vào thành khất thực, được thức ăn rồi trở về trụ
xứ, thọ thực xong. Các Tỳ-kheo mới tập hợp lại và Phật
thuyết giảng kinh. Nên biết là thuyết giảng sau giữa ngày.
Tương
truyền: Đức Như Lai một đời, từ thành đạo cho đến Niết-bàn,
luôn thuyết giảng Ma-ha Bát-nhã, Hoa Nghiêm, Đại Tập, chưa
từng đoạn dứt. Kim Cương Bát Nhã nầy, trong 8 Bộ là được
thuyết giảng sau cùng. Tôn giả Tu-bồ-đề trực tiếp nói
là Tôi nghe, Một thời, không nói rõ là năm nào, thế nên
chỉ nói là Một thời.
Ở
trên, tuy nói như vậy là lý giáo của Bát-nhã, tôi đã nghe,
một thời… nhưng chưa biết là từ bên người nào để nghe.
Nếu ở bên người khác được nghe thì không đáng tin. Nay
nói: Tôi từ nơi Đức Phật được nghe, biết rõ là Đức
Như Lai đã thuyết giảng, do đó là đáng tin.
* Tiếp
theo là nói Đức Bà-già-bà. Nhưng tên gọi nầy là chánh âm
của Tây Quốc, đời Ngụy không có tên gọi tương đương
để chuyển dịch, nên mới giữ nguyên tiếng gốc. Nghĩa được
giải thích gồm nhiều nghĩa: Có thế phá trừ phiền não.
Hoặc gọi là: Đầy đủ công đức trí tuệ. Cũng gọi là
có danh tiếng lớn, trời người quy kính. Cũng nói là: Có
thể hàng phục Thiên ma, chế ngự các Ngoại đạo. Vì có
rất nhiều nghĩa, không thể luận đủ, chỉ nêu bốn nghĩa
như thế. Và dựa nơi chánh bản của Tây Quốc, ở đầu của
tất cả kinh đều nói là Bà-già-bà. Phương nầy, nơi đầu
kinh phần nhiều ghi là Phật tại. Lúc ấy, có chỗ ghi là
An-bà-già-bà, nên cũng cùng giữ lại hai tên gọi.
* Ở
đây, nơi câu thứ tư nêu rõ về người là chủ thể thuyết
giảng. Trước, tuy nói từ nơi bên Phật được nghe, nhưng
chưa biết Đức Như Lai ở xứ nào thuyết giảng. Nếu không
có nơi chốn thì không đáng tin, nên tiếp theo là nói về
“tại thành Xá-bà-đề”. Tuy nhiên, Pháp thân của Như Lai,
hình tướng diệu sắc, thường tại trụ trong Thánh hạnh,
phạm hạnh. Nên phần sau kinh nói: Chư Phật lấy đạo không
trụ làm trụ xứ. Thân như thế thì há có phương xứ, biên
vực hiển bày rõ.
Nhưng
nói tại Xá-bà-đề: Là biện minh về chư Phật ứng hiện,
chính là nhằm hướng tới, theo cảm ứng của chúng sinh. Chúng
sinh đã có nơi chốn, nên bậc Thánh cũng đồng. Lại, muốn
khiến cho chúng sinh đời vị lai nhận biết Đức Như Lai đã
ở tại xứ nầy thuyết giảng Kinh Kim Cương Bát Nhã, tức
sinh tâm kính trọng. Hoặc lúc lễ bái, hoặc lại tán thán.
Hoặc khi khởi xây tháp, dùng hương hoa cúng dường, tôn trọng
khí thế gian, sinh công đức.
Thành
Xá-bà-đề nầy, thời kiếp sơ xa xưa, có hai người anh em
là Tiên nhân, người em tên Xá-bà (Đời Ngụy dịch là Ấu
Tiểu), người anh tên A-bà-đề (Bất Khả Hại). Hai anh em
ấy, trụ nơi đây cầu đạo, tức nhân đấy đặt tên, người
em lược bỏ chữ Bà, người anh lược bớt chữ A, hai tên
gọi cùng giữ, nên gọi là thành Xá-bà-đề, cũng gọi là
thành Xá-vệ. Như nhân nơi Tiên nhân Câu-thi-na, gọi là thành
Câu-thi-na. Nhân nơi Tiên nhân Ca-tỳ-la, gọi là thành Ca-tỳ-la-vệ.
Đây đều là nhân nơi người để đặt tên thành. Chỉ có
thành A-dụ-xà là nhân nơi sự mà đặt tên, đời Ngụy dịch
là thành Bất Khả Trừ Phục.
* Kỳ
Thọ Cấp Cô Độc Viên (Khu vườn rừng Kỳ-đà – Cấp Cô
Độc): Ở trên, dù đã nói là tại thành Xá-bà-đề, nhưng
xứ ấy vẫn còn rộng, do đó phần thứ hai là chỉ rõ về
xứ riêng.
+ Kỳ:
Là âm của nước ngoài, tức Thái tử của nước ấy tên
là Kỳ-đà Cưu-ma-la. Kỳ-đà, đời Ngụy dịch là Thái tử.
Cưu-ma-la đời Ngụy dịch là Đồng tử.
+ Thọ:
Là tên gọi của phương nầy. Khu vườn ấy, trước thuộc
về Thái tử, Trưởng giả Tu-đạt sau đấy dùng vàng ròng
trải khắp đất, mua được khu vườn đó, tập hợp rộng
đám người nghèo khổ, già cả cô độc để cứu giúp, nuôi
dưỡng, lại lập Tinh xá ở đấy, người đương thời nhân
đó gọi là vườn Cấp Cô Độc, cùng nêu cả hai chủ, tên
gọi gồm cả Hồ, Hán, nên gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc
Viên.
* Cùng
với chúng Đại Tỳ-kheo: Trước tuy nói: Tôi nghe, nhưng không
biết cùng với những ai đồng nghe, nên kể ra những người
đồng nghe, đều là chúng A-la-hán.
* Một
ngàn hai trăm năm mươi người: Là nêu số lớn hiện tại.
Nếu tạo sáu câu, thì người đồng nghe nầy nên là câu thứ
sáu. Nếu tạo năm câu, thì ở đây thuộc về phần Tôi nghe.
Dựa trong Phần Lưu Thông ở sau nêu ra đủ Bồ-tát, bốn chúng,
tám bộ chúng hộ pháp nghe kinh, vì sao ở đây chỉ nói một
ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo, không nêu đủ các chúng? Là
do kinh nầy về nghĩa tuy rộng, nhưng về văn thì rất tóm
lược. Trong Phần Tự ấy, không biện giải rộng về những
người đồng nghe kinh, chỉ nêu số lượng Đại Tỳ-kheo,
thường là đồ chúng theo Phật, phần sau (Lưu Thông) tức
kể ra đủ. Các kinh khác đều nêu ra tên, tán thán đức,
biện về số ở trước. Sở dĩ kinh nầy thiếu các phần
ấy, cũng do văn tóm lược.
Đại
Tỳ-kheo: Về nghĩa có nhiều thứ, nay chỉ chọn lấy việc
đoạn trừ hết phiền não, đắc A-la-hán, cho đó là Đại
Tỳ-kheo. Ở đây không chọn lấy chín thứ Tỳ-kheo như Bạch
Tứ yết-ma v.v…, nên gọi là Đại. Tỳ-kheo: Là chánh âm
của nước ngoài, phương nầy về nghĩa giải thích, hoặc
gọi là Khất sĩ, hoặc gọi là Phá ác, hoặc gọi là Bố
ma, không có tên gọi tương đương để chuyển dịch, nên
giữ nguyên gốc tiếng Ấn Độ.
* Bấy
giờ, Đức Thế Tôn, sắp đến giờ thọ thực: Thời gian
trước giữa ngày, là biểu thị đức thiểu dục của Sa-môn,
tức thọ thực tất có thời gian.
* Đắp
y, cầm bát: Là biểu thị tướng tri túc của người xuất
gia, chỉ có ba y, bát, lại không có thứ gì khác, ra vào theo
thân, như chim bay không lìa hai cánh. Đi, dừng tùy ý, tình
không buộc luyến.
* Vào
đại thành Xá-bà-đề: Truyền rằng: Kỳ viên ở tại phía
Đông thành nầy, nên từ ngoài mà vào.
Đại
thành: Thành ấy rộng lớn, chiều dài, chiều ngang là mười
hai do-tuần, cư dân gồm có mười tám ức nhà, nên gọi là
Đại thành.
Đức
Như Lai sở dĩ vào thành: Là để khất thực. Nhưng Pháp thân
của Như Lai, Thể là kim cương, không nhờ vào ăn uống mà
tồn tại. Gọi là Như Lai khất thực: Tức Đức Như Lai hiện
hành khất thực có nhiều thứ lợi ích, thế nên Như Lai vào
thành khất thực. Nếu biện biệt đầy đủ về lợi ích
của khất thực, tức có nhiều thứ. Trong kinh chỉ nói 20.
Nay chỉ luận về 10 loại:
1.
Như Lai vào thành khất thực, chúng sinh thấy ba mươi hai tướng,
tám mươi thứ vẻ đẹp của Như Lai, là diệu tướng trang
nghiêm như núi chúa Tu-di, nên phát tâm Bồ-đề, cầu đạt
thân Như Lai.
2.
Các chúng sinh khổ như điếc, mù, câm, ngọng, được thấy
Như Lai, tức thời dứt khổ, phát tâm Bồ-đề.
3.
Các hàng Trưởng giả giàu sang, tự thị về tộc họ của
mình, sinh khởi kiêu mạn, thấy Như Lai với uy đức nghiêm
tịnh, thù thắng khác đời, nên tâm kiêu mạn liền dứt,
phát tâm Bồ-đề.
4.
Vì bảo hộ người nữ có ba loại giám sát: Lúc còn ở nhà,
do cha mẹ bảo hộ. Khi xuất giá thì người chồng bảo hộ.
Lúc già thì con cái bảo hộ. Những người ấy cùng với kẻ
biếng trễ không thể thấy Phật, nay thấy Như Lai vào thành,
tâm ý vui mừng phát tâm Bồ-đề.
5.
Vì các hàng Thích, Phạm, Tứ vương, tám bộ chúng như Trời,
Rồng, luôn đi theo Như Lai, mỗi mỗi vị đều dùng hương
hoa trời, kỹ nhạc, tán thán, cúng dường Đức Như Lai. Ở
đây, những người trông thấy, tức khởi niệm: Chư Thiên
hãy còn dùng nhạc trời cúng dường Như Lai. Chúng ta vì sao
không làm như thế? Bèn học theo chư Thiên, các vị thần,
bày biện cúng dường lớn và phát tâm Bồ-đề.
6.
Đức Như Lai vào thành khất thực, Tứ Thiên vương mỗi vị
đều dâng lên một bát, Như Lai nhận rồi, hợp bốn bát làm
một. Phật hiện sự việc không thể nghĩ bàn như thế, khiến
người trông thấy hoan hỷ, phát tâm Bồ-đề.
7.
Vì hai hạng người nghèo, giàu dâng thí thức ăn cho Đức
Như Lai. Người giàu thì thức ăn nhiều, muốn thí nhiều cho
Như Lai, liền thấy bát của Như Lai trống không nên được
dâng thí nhiều. Kẻ nghèo, thức ăn ít, e ngại không dám dâng
thí, liền thấy bát của Như Lai gần đầy, nên được thí
ít, khiến cả hai đều vừa ý, thấy đây là sự việc hy
hữu nên phát tâm Bồ-đề.
8.
Vì trong bát của Đức Như Lai đầy trăm vị thức ăn uống,
nhưng đều không lẫn lộn, như các vật chứa đựng đầy
khác. Khi thí cho tất cả chúng Tăng cùng các chúng sinh, thức
ăn không tăng không giảm. Người trông thấy hoan hỷ, phát
tâm Bồ-đề.
9.
Vì các đệ tử của Phật nơi đời vị lai, có thể bị người
đời trách cứ: Thầy của các vị là Đức Như Lai đâu có
đi khất thực. Các vị vì sao lại khất thực? Thế nên Như
Lai hiện hành khất thực.
10.
Như Lai, Thể là kim cương, trong thân chẳng không, lại thường
trụ nơi Tam-muội, kỳ thật là không thọ thực, chỉ có chư
Thiên nhận biết Như Lai không thọ thực. Vì hóa độ chúng
sinh nên vào thành khất thực, hiện hành khất thực.
Vì
có nhiều lợi ích như vậy nên Đức Phật vào thành khất
thực.
* Ở
trong thành ấy, lần lượt khất thực: Theo pháp của Tây Quốc
(Ấn Độ) thì bốn tộc họ trụ bên trong thành, đám người
đồ tể, chủ bán thịt v.v… thì ở bên ngoài thành. Nếu
khi họ vào thành thì lắc chuông nhỏ để báo hiệu, mọi
người đều tự đi riêng, không cùng gặp gỡ. Nay nói “lần
lượt” là đối với bốn tộc họ trong thành, không bỏ
kẻ nghèo theo người giàu, cũng không bỏ kẻ hèn theo người
sang, nên gọi là lần lượt khất thực. Như thế thì Phật
đối với chúng sinh tức tâm không bình đẳng chăng? Đây
là nêu rõ Như Lai, tâm không phải là không bình đẳng, chỉ
là tùy theo pháp của nước. Nhưng Đức Như Lai cũng vào những
nhà hạ tiện thì không khiến người trông thấy. Nếu các
tộc họ Sát-đế-lợi, Bà-la-môn cùng thấy, tức sẽ chê
trách: Sa-môn là người không thanh tịnh, nên mới theo kẻ
hạ tiện khất thực, liền không sinh kính trọng. Nếu các
hàng giàu sang không sinh kính trọng thì Phật pháp khó đứng
vững. Sa-môn Tây Quốc phần nhiều không đến các gia đình
đồ tể, Chiên-đà-la để khất thực. Lại cũng không tới
các nhà có voi dữ, ngựa dữ, chó dữ để khất thực. Chỉ
có Đức Như Lai là vị duy nhất có thể theo thứ lớp khất
thực. Các vị Tỳ-kheo khác hoàn toàn không thể theo thứ lớp
khất thực.
* Khất
thực xong, trở về trụ xứ: Khất thực đủ thức ăn rồi
thì trở về Kỳ viên.
* Thọ
trai xong: Như Lai không thọ thực các thức ăn hiện có. Thức
ăn hiện có nơi bát ấy được phân làm ba phần: Một phần
được đặt trên lá cỏ, để thí cho các chúng sinh nơi đất
liền. Một phần để trong nước, thí cho chúng sinh sống nơi
nước. Một phần là tự thọ thực. Nhưng Đức Như Lai thật
sự không thọ thực, chỉ có chư Thiên là biết Đức Như
Lai không ăn các thức ăn hiện có.
* Thâu
cất y bát: Là xếp y Tăng-già-lê, rửa bát xong, cất vào chỗ
thường để.
* Rửa
chân xong: Bàn chân của Như Lai cũng như hoa sen, bụi, nước
không bám vào. Thường pháp của chư Phật là thọ nhận pháp
hành, trụ, nhưng Như Lai khi bước đi nơi đất, chân cách
mặt đất bốn lóng tay, bàn chân không chạm đất, bên dưới
sinh hoa sen nâng theo bước đi, há có bụi bặm cấu uế? Nhưng
nói rửa chân, là chỉ rõ oai nghi nghiêm tịnh của người
xuất gia có tướng đáng kính.
* Như
thường lệ, trải tòa ngồi: Đây không phải là người, trời,
tám bộ chúng đã tạo, hay đệ tử trải bày, cũng không phải
Như Lai khởi niệm nên mới có. Đó là nêu rõ chư Phật Như
Lai đã gieo trồng nhân rất sâu dày, nên tự nhiên có báo.
Có đền, gác bảy báu với các tòa ngồi thượng diệu do
các thứ báu tạo thành, không nhờ vào sự sắp đặt, nên
nói là: Như thường lệ, trải tòa ngồi. Phật muốn ngồi
liền có, đi rồi thì không còn.
* Ngồi
kiết già: Trong bốn oai nghi, oai nghi ngồi là hơn hết. Nếu
là hành, trụ, tức có nhiều mỏi mệt. Ngồi thì lâu mà không
lo lắng, lại thuận theo Tam-muội, người thấy sinh hoan hỷ,
đều phát khởi đạo ý.
* Thân
ngay ngắn an trụ: Đây là làm rõ về thân nghiệp của Như
Lai, biểu thị Như Lai lìa mọi thứ oai nghi tạp loạn, có
tướng Tam-muội, cùng an nhiên bất động, như tượng đúc
bằng vàng, như người tự nhận lấy hình pháp.
* Chánh
niệm, không động: Đây là biện minh về ý nghiệp của Như
Lai, chuyên tâm nơi một cảnh, đạt được Tam-muội thù thắng,
lại không dời động nên chẳng động. Chánh niệm đã là
pháp của tâm, do đâu có thể nhận biết? Chánh niệm tuy là
pháp của tâm nhưng vô hình, mông lung khó lường, do hình tĩnh
chứng nghiệm tâm, đủ biết là có định. Như Tỳ-kheo đắc
định, hoặc một ngày không động, hoặc bảy ngày chẳng
động. Do thân chẳng động nên biết rõ nội tâm có định.
Từ
đây trở về trước là Phần Tự.
* Phần
2: Từ câu: Lúc ấy, các Tỳ-kheo tiếp xuống, đến hết câu:
Khéo phó chúc các Bồ-tát: Đây là đoạn văn kinh thứ 2, gọi
là Phần Khéo hộ niệm.
Sở
dĩ đoạn nầy được gọi là Khéo hộ niệm: Vì Tôn giả
Tu-bồ-đề đã được Đức Như Lai ngầm gia hộ về lực,
sắp sửa thưa hỏi Đức Như Lai. Do lực được gia hộ ngầm
ấy nên thân đối Như Lai thỉnh vấn, Như Lai vì các Bồ-tát
thuyết giảng Kinh Kim Cương Bát Nhã. Tôn giả Tu-bồ-đề sắp
hỏi về ba thứ sự phát khởi của bậc trên địa phát khởi
sau kinh nên trước hết là tán thán, nói: Hy hữu thay, Đức
Thế Tôn! Đức Như Lai khéo hộ niệm, khéo phó chúc các Bồ-tát:
Đây là làm rõ Đức Như Lai đã khéo có thể giáo hóa hai
loại Bồ-tát căn đã thành thục và chưa thành thục, khiến
hiểu đầy đủ về thế gian, mau chóng nhập tánh địa cùng
Địa thứ nhất trong pháp Đại thừa. Do đó, tiếp theo Phần
Tự là biện minh phần thứ hai.
* Các
Tỳ-kheo: Đây cũng là số các Tỳ-kheo trong một ngàn hai trăm
năm mươi vị, là đồ chúng thường tùy hành với Đức Như
Lai. Sở dĩ nói: Đi đến chỗ Phật: Là vì các Tỳ-kheo nầy,
theo pháp thường, đều ở bốn bên, cách bên ngoài trụ xứ
của Phật một trăm hoặc hai trăm bộ, theo chỗ thích hợp
của mình, như pháp hành đạo, không được gần Phật, vì
nếu gần Phật tức có nhiều trở ngại, thế nên phải trụ
xa.
Đức
Như Lai khất thực, tự mang y bát, không dẫn theo đệ tử.
Lại, các Tỳ-kheo đều tự hành khất thực, không đi theo
Như Lai. Pháp thường của Như Lai, sau khi thọ thực, thì vì
bốn chúng, tám bộ chúng, như chỗ ứng hợp, thuyết pháp.
Do vậy, Đức Như Lai đã dùng uy lực gia hộ ngầm khiến các
Tỳ-kheo đi tối chỗ Phật. Nếu Đức Như Lai không dùng ý
lực để gia hộ thì các Tỳ-kheo không có lý do để được
đến.
* Bấy
giờ, Huệ mạng Tu-bồ-đề cung kính đứng yên, bạch Phật:
Hy hữu thay, Đức Thế Tôn: Hết thảy Thanh-văn, Bồ-tát, ở
trước Đức Như Lai, phàm sắp có điều muốn thỉnh vấn,
nếu không nhờ Phật gia bị, tức không dám thưa hỏi. Tôn
giả Tu-bồ-đề, nếu thật là Thanh-văn, tức cần nhờ Phật
gia bị mới có thể thưa hỏi. Nếu là Bồ-tát quyền phương
tiện làm Thanh-văn, cũng phải nhờ Như Lai gia bị, mới có
thể thưa bày. Như Lai vừa rồi sắp tập hợp chúng, nhưng
chưa có đối tượng để thuyết giảng. Tôn giả Tu-bồ-đề
tất có nhân duyên, nên ở trong đại chúng liền tán thán
Như Lai, nói: Hy hữu thay, Đức Thế Tôn! Đức Như Lai đã
khéo hộ niệm, khéo phó chúc các Bồ-tát: Là do Tôn giả Tu-bồ-đề,
trước đã được Đức Như Lai ngầm gia bị về lực, nên
trí tuệ biện tài cùng với Phật không khác, biết Phật sắp
vì các Bồ-tát thuyết giảng Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba-la-mật,
nên muốn thưa hỏi Như Lai về ba thứ sự của bậc trên địa,
phát khởi sau kinh, vì vậy đã tán thán: Hy hữu thay, Đức
Thế Tôn! Ở đây nói hy hữu: Tức không phải cho là luôn
luôn có, nên là hy hữu. Tiếng hy hữu nầy, hoặc nói là “Khéo
léo”, cũng nói là “Có thể”, cũng có thể nói là “Thiện”.
Đấy là nêu rõ Đức Như Lai khéo có thể hộ niệm, phó chúc
hai loại Bồ-tát, ứng căn trao thuốc, không sai cơ hội, không
khiến mất thời gian thọ đạo nên gọi là hy hữu.
* Như
Lai Ứng Chánh Biến Tri: Là lược tán thán về ba tôn hiệu
của Phật.
* Khéo
hộ niệm, khéo phó chúc các Bồ-tát: Luận rộng về Bồ-tát
có 2 loại:
1.
Bồ-tát xuất thế gian, từ Địa thứ nhất trở lên.
2.
Bồ-tát thế gian, trước địa.
Bồ-tát
ở trước địa lại có 2 thứ: 1. Ngoại phàm. 2. Nội phàm.
Dựa
theo Bồ-tát nội phàm lại có 2 loại: 1. Căn thành thục. 2.
Căn chưa thành thục.
+ Nay
nói khéo hộ niệm: Là tán thán Như Lai khéo hộ niệm Bồ-tát
trước địa tánh chủng giải hành, căn thành thục.
+ Khéo
phó chúc: Là tán thán Như Lai khéo phó chúc Bồ-tát trong tập
chủng tánh, căn chưa thành thục.
Hai
loại Bồ-tát nầy, sở dĩ nói hộ niệm, phó chúc: Vì nếu
Đức Như Lai không hộ niệm, không phó chúc, thì các Bồ-tát
nầy, khởi tâm thực hiện hành quán về cảnh giới tất có
lầm lẫn, thối thất, không thể quyết định nhập nơi tánh
địa, cho đến hoặc thời gian ở đời trải qua hàng kiếp,
cũng không thể mau chóng nhập nơi Địa thứ nhất, nên cần
được Đức Thế Tôn hộ niệm, phó chúc.
+ Căn
thành thục: Là trong tánh chủng giải hành, quán ba thứ hai
đế, hai thứ vô ngã, một Đại A-tăng-kỳ kiếp sắp mãn,
chẳng mãn, sắp chứng, mường tượng thấy lý, ánh sáng của
pháp Nhẫn vô sinh đã hiện tiền giữa phần, đầy đủ hai
thứ công đức, trí tuệ trang nghiêm, tám vạn bốn ngàn các
Ba-la-mật quyết định có thể chứng đắc, đối với Địa
thứ nhất vĩnh viễn không thối thất, nên gọi là căn thành
thục, nhưng chưa được gọi là Bồ-tát đại lực, từ Địa
thứ nhất trở lên, chứng pháp Nhẫn vô sinh.
+ Căn
chưa thành thục: Là ở trong tập chủng tánh. Nhưng người
của tập chủng tánh nầy cũng có 2 loại:
1.
Hoàn toàn quyết định.
2.
Bất định.
Bất
định: Là tuy đã hành tập các thứ công đức, trí tuệ như
văn, tư, tu của thế gian, đã hành tập các hành Ba-la-mật,
nhưng chưa thể quyết định nhập nơi tánh địa cho đến
Địa thứ nhất, gồm có tiến, thoái, nên gọi hạng thoái
ấy là căn chưa thành thục. Như bảy thứ người phát tâm
Bồ-đề, ba thứ người trước phần nhiều là không thối
chuyển. Bốn thứ người sau, hoặc thối chuyển, hoặc không
thối chuyển. Nếu gặp chư Phật, Bồ-tát, là thiện tri thức,
thì không thối chuyển. Nếu không gặp thiện tri thức thì
thối tâm Bồ-đề, chuyển nhập nơi địa của hai Thừa, ngoại
phàm. Đây là người của tập chủng tánh có thối chuyển,
không thối chuyển.
Hoặc
cho Bồ-tát tánh chủng cũng thối chuyển, đọa nơi địa ngục.
Trong Kinh Lạc Trang Nghiêm nói, Bồ-tát tánh địa quyết định
không thối chuyển. Do đấy, trong Luận Bảo Man có người
hỏi Bồ-tát Long Thọ: Trong Kinh Địa Trì nói: Bồ-tát tánh
địa thối chuyển, đọa vào địa ngục A-tỳ, nghĩa ấy là
thế nào? Bồ-tát Long Thọ đáp: Kinh Địa Trì tuy nói: Bồ-tát
tánh địa bị đọa nơi địa ngục, nhưng Tôi thì không dám
nói như thế. Vì sao? Vì trong Kinh Bất Tăng Bất Giảm có nêu
rõ: Bồ-tát tánh địa rốt ráo không bị đọa nơi địa ngục.
Lại, trong Kinh Lạc Trang Nghiêm nói, Bồ-tát tánh địa, hoặc
một lúc giết hại các chúng sinh ở châu Diêm-phù-đề, tuy
có tội ấy cũng không bị đọa vào địa ngục. Nếu giết
hại chúng sinh nơi bốn chân thiên hạ, cho đến cả Tam thiên
đại thiên thế giới, cũng không bị đọa nơi địa ngục.
Vì sao? Vì người nầy trong vô số kiếp đã tu tập, cúng
dường nhiều chư Phật, công đức, trí tuệ, thiện căn thuần
thục, tuy tạo trọng tội, nhưng do diệu lực của phước
đức là rất lớn, nên tội liền tiêu trừ, không bị đọa
vào địa ngục. Như sắt để trong vật chứa nung đỏ rực,
chỉ dùng một ít nước rưới lên là liền tắt ngay. Do đó
nghiệm biết, Bồ-tát tánh địa không bị đọa vào địa
ngục.
Nếu
như thế thì hai kinh trái nhau, làm sao hợp thông? Giải thích:
Trong Kinh Địa Trì nói “bị đọa”, là nhằm “dọa” Bồ-tát
trước địa, khiến họ sinh sợ hãi, mau chóng chứng đắc
Địa thứ nhất, không phải cho là thật sự bị đọa vào
địa ngục A-tỳ. Như trong Kinh Thập Địa, bảy lượt khuyên
Bồ-tát tám địa, nói: Ông chớ vui trụ nơi định tịch diệt.
Nhưng Bồ-tát tám địa đã ở vị ra khỏi công dụng, vĩnh
viễn dứt hẳn “chức vụ”, niệm niệm không sinh, chuyển
vận tự tiến, há có vui trụ nơi định tịch diệt? Đây
chỉ là giả khuyên nẻo tiến, muốn khiến mau chóng nhập
nơi chín địa, mười địa, cho đến Phật địa. Vì thế
nên khuyên như vậy, không phải cho là thật sự vui trụ nơi
tịch diệt. Do đâu biết được? Kinh nói: Cũng chớ xả bỏ
môn nhẫn nầy, nên biết rõ không phải thật sự vui thích
trụ nơi tịch diệt. Đây cũng như thế, thật sự không bị
đọa nơi địa ngục, mà nói là đọa, tức muốn khiến mau
chứng đắc Địa thứ nhất, không phải cho là thật sự bị
đọa. Do đấy nên biết, tánh chủng trở lên, là hoàn toàn
không thối chuyển.
Sở
dĩ nói khéo hộ niệm: Là chỉ dựa nơi Bồ-tát căn thành
thục. Khéo phó chúc là chỉ dựa vào Bồ-tát căn chưa thành
thục. Tức làm rõ chư Phật tuy có lực tự tại, song chỉ
có thể hóa độ đối với chúng sinh có duyên, không thể
hóa độ chúng sinh không có duyên. Thế nào là có duyên? Như
nơi Kinh Hải Long Vương nói: Chư Phật từ nhân địa đến,
dùng các pháp như bốn nhiếp, sáu độ v.v… để nhiếp phục
đối
với người có duyên nơi Phật. Như Lai tự thân hóa độ là
căn cứ theo chúng sinh căn đã thành thục, nêu rõ sự hộ
niệm kia. Những người không được các pháp như bốn nhiếp
v.v… của Như Lai nhiếp hóa, tức đối với Phật không có
duyên.
Phó
chúc các Bồ-tát có duyên nơi thiện tri thức, nhớ nghĩ về
văn tư tu v.v… Đã được hành thuận hợp thì không thối
chuyển, chưa được hành thuận hợp, thì đối với các bậc
trên, chứng pháp thắng tiến, không mất. Tuy nhiên, Đức Như
Lai không phải là không khéo hộ niệm các Bồ-tát căn chưa
thành thục. Cũng không phải là không khéo phó chúc người
căn đã thành thục. Chỉ do ý của người biên chép kinh không
thể dẫn nhiều văn, nên chỉ nêu lên một phía.
* Luận
viết (Tức luận của Bồ-tát Thế Thân): Khéo hộ niệm là
dựa nơi Bồ-tát căn đã thành thục mà nói v.v… Tức Luận
chủ (Bồ-tát Thế Thân) trước tiên phân ra hai loại Bồ-tát.
Lại
nói: Thế nào là khéo hộ niệm, khéo phó chúc? Dẫn kệ để
giải thích, giả nêu đặt câu hỏi, hỏi Như Lai: Do những
tâm hành nào, tạo phương pháp gì, cùng với niệm lực nào
gọi là lực hộ niệm, gọi là hộ niệm, phó chúc hai loại
Bồ-tát. Do đấy, tức dùng kệ đáp: Khéo hộ, nghĩa nên biết…
Ở
đây, Luận chủ đã tạo 80 bài kệ để giải thích kinh nầy.
2 kệ
trước (Mỗi câu bảy chữ) là Luận chủ sắp sửa tạo luận,
nên trước hết nêu rõ việc quy kính Tam bảo, giải bày ý
tạo luận của mình. Từ đây trở xuống gồm 77 kệ (năm
chữ) là chính thức giải thích văn của kinh. 1 kệ sau cùng
(bảy chữ) là luận đã hoàn thành, nên tán thán, hồi hướng.
+ Một
kệ: Khéo hộ, nghĩa nên biết… (câu đầu) nầy biện minh
về những nghĩa gì? Chính là giải thích văn của kinh: Hy hữu
thay v.v… ở trước. Rõ ràng là “Hy hữu” ấy, tức tán
thán Đức Như Lai đã nhanh chóng có thể hộ niệm, phó chúc
hai loại Bồ-tát, nên gọi là khéo léo. Tức do khéo léo hộ
niệm v.v… là hy hữu, dùng sự khéo léo ấy để giải thích
hy hữu.
Hộ
là giải thích chung cho khéo hộ niệm, phó chúc. Câu kệ nầy
nên nói là khéo hộ niệm, phó chúc, nhưng do hạn lượng số
chữ nơi câu kệ, nên chỉ nêu mỗi chữ Hộ.
Nghĩa
nên biết: Là lý đúng như thế, khuyên người thưa hỏi khiến
nhận biết. Một câu kệ nầy giải thích về khéo hộ niệm,
khéo phó chúc xong.
+ Câu
thứ hai sở dĩ nói: “Gia thân kia đồng hành”, là để giải
thích nghi vấn trong kinh đã nêu trên. Nghi vấn: Kinh nầy không
nên nói như thế. Nên nói là: “Khéo hộ niệm các chúng sinh,
khéo phó chúc các chúng sinh”. Sở dĩ như vậy là vì, đã
nêu rõ Đức Như Lai luôn từ bi, bình đẳng trùm khắp muôn
vật không riêng tư, nên nhớ nghĩ khắp sáu đường, không
bỏ sót phàm, Thánh. Nếu nói hộ niệm tất cả chúng sinh
tức nghĩa chung cả Thánh phàm. Chỉ nói hộ niệm Bồ-tát
là chỉ thâu giữ người tu hành, tức sự gồm thâu không
hết. Do đâu không nói: Khéo hộ niệm các chúng sinh, chỉ
nói hộ niệm các Bồ-tát? Tức kệ đáp: “Gia thân kia đồng
hành”.
Nói
hộ niệm các Bồ-tát, tức là hộ niệm tất cả chúng sinh.
Gia
trì thân kia: Là Như Lai dùng diệu lực của trí tuệ, gia bị
hai loại Bồ-tát, khiến thân nhập nơi tánh địa, cho đến
chứng trí của Địa thứ nhất. Nếu như thế thì trở lại
nghi vấn trước: Vẫn là Như Lai chỉ hộ niệm các Bồ-tát,
không hộ niệm chúng sinh, nên tiếp theo là hai chữ đồng
hành. Đồng hành: Tức là Bồ-tát dùng bốn nhiếp, sáu độ
để thâu giữ hết thảy chúng sinh, làm bạn bè, làm quyến
thuộc. Như vậy, Bồ-tát đã tu tập vạn hạnh, nhưng chúng
sinh thì chưa tu tập, làm sao nói là đồng hành? Đáp: Ý nhằm
nêu rõ bậc Đại sĩ đã thấy pháp tánh, chân như, ở trong
lý bình đẳng đạt được thắng giải tương tợ, cũng đạt
được tâm bi nhất thể tương tợ, nên không thấy chúng sinh
khác với thân mình, mình khác với thân chúng sinh. Bồ-tát
tu hành tức tất cả chúng sinh tu hành. Đây là làm rõ Bồ-tát
cùng với chúng sinh là đồng, không khác chúng sinh đồng nơi
Bồ-tát, nên viết là: Gia thân kia đồng hành, biện minh chư
Phật gia bị cho Bồ-tát hóa độ chúng sinh lần lượt truyền
nối cùng thâu giữ, tức pháp môn liên kết.
Một
câu nầy, theo lý mà nói, là giải thích chung hai loại Bồ-tát.
Theo phần riêng mà nêu, là chỉ giải thích về khéo hộ niệm.
+ Không
thối, được chưa được: Là giải thích câu khéo phó chúc
nơi kinh.
Được:
Là trước đã tu hành.
Chưa
được: Là chưa tu tập.
Không
thối: Là nhằm khiến người của tập chủng tánh, trước
đã được hành thuận hợp thì kiên cố không để mất, chưa
được hành thuận hợp thì khiến thắng tiến không thối
chuyển, nên nhờ vào thiện tri thức.
+ Đó
là khéo phó chúc: Là câu kết, nên nói: Đó gọi là khéo hộ
niệm, đó gọi là khéo phó chúc. Do số chữ nơi câu kệ có
giới hạn nên phải lược bớt.
+ Thế
nào là gia hộ thân kia đồng hành?: Luận chủ nêu câu thứ
hai trong kệ, dựa vào phần đáp tiếp sau phân làm 2 câu hỏi:
1.
Hỏi: Thế nào là gia hộ thân kia?
2.
Hỏi: Thế nào là đồng hành?
Phần
đáp tiếp sau cũng có hai: “Nghĩa là ở trong thân Bồ-tát,
ban cho sức trí tuệ khiến thành tựu pháp Phật” là đáp
câu hỏi 1: Gia hộ thân kia, nêu rõ Bồ-tát nhờ Phật gia hộ
nên đạt được trí lực thù thắng, cũng thành tựu được
pháp Phật của Địa thứ nhất.
“Lại,
Bồ-tát kia thâu giữ chúng sinh cùng với diệu lực giáo hóa
v.v…”, là đáp câu hỏi 2: Thế nào là đồng hành, làm sáng
tỏ Bồ-tát do Phật gia hộ nên có được diệu lực giáo
hóa, có thể tạo lợi ích cho chúng sinh, tức là đồng hành.
+ Thế
nào là không thối, được, chưa được?: Là hỏi về câu
thứ ba trong kệ: Thế nào là được chưa được trong không
thối? Nên đáp: Nghĩa là ở trong chỗ công đức đã được,
chưa được, e sợ có thối thất, nhằm khiến Bồ-tát tập
chủng, ở trong hai hành kiên cố thắng giải, không thối,
nên dựa vào bậc trí.
+ Lại
được không thối chuyển, cho đến phó chúc nên biết: Tức
tuy nói không thối thất trong chỗ được, chưa được, chưa
biết là ở trong những pháp nào không thối thất? Nên nêu
ra, nghĩa là ở trong pháp Đại thừa không thối chuyển, mà
được thắng tiến.
+ Không
bỏ Đại thừa: Là khiến không bỏ tâm Bồ-đề trong nhân,
cùng bốn vô lượng như từ, bi v.v… các hành và quả là
Pháp thân vô vi nơi pháp Đại thừa.
HẾT
- QUYỂN 1
LUẬN
KIM CƯƠNG TIÊN
QUYỂN 2
* Phần
3: Từ câu: Thế Tôn! Thế nào là Bồ-tát ở trong Đại thừa
phát tâm Bồ-đề cầu đắc đạo quả Chánh giác Vô thượng,
cho đến: Thì không gọi là Bồ-tát. Đây là đoạn văn kinh
thứ 3, gọi là Phần Trụ, cũng gọi là Ngã Tâm (Tâm Ta).
Sở
dĩ gọi là trụ: Vì muốn nêu rõ Bồ-tát đã được gọi
là đắc Địa thứ nhất, hiện thấy lý vô ngã của pháp
chân như, vĩnh viễn đoạn trừ bốn trụ tập khí cùng phẩm
thô vô minh, ra khỏi phần đoạn sinh tử của hai mươi lăm
Hữu, lìa năm thứ sợ hãi. Lúc nầy, đã vượt quá địa
phàm phu, nhập nơi phần vị Bồ-tát, sinh tại nhà Phật, là
chủng tánh tôn quý, không ai có thể chê trách, đầy đủ
bốn thứ thâm tâm như rộng lớn v.v…, hoàn toàn tạo lợi
ích cho hết thảy chúng sinh, tức có thể quyết định an trụ
nơi Địa thứ nhất của Bồ-tát.
Gọi
là trụ: Là do lãnh hội về đạo không trụ là trụ.
Thế
nào là không trụ? Nghĩa là quán xét về hữu vi là hư dối,
đoạn dứt hết nhân của sinh tử, nên không trụ nơi thế
gian. Hiện thấy chân như bình đẳng, đạt được đại từ
bi, nguyện lực thành tựu nên không trụ nơi Niết-bàn. Do
không trụ ấy làm trụ, nên gọi là trụ. Sở dĩ lại gọi
là Ngã Tâm (Tâm Ta): Là nêu rõ Bồ-tát Địa thứ nhất đã
chứng Thánh vị, hiện thấy lý bình đẳng của chân như.
Do hội nhập lý ấy, nên hiểu biết rõ về chân như, Phật
tánh, Pháp thân vô vi hiện có của ngã so với chân như, Phật
tánh, Pháp thân vô vi hiện có của chúng sinh cũng lại như
thế, là một thể bình đẳng, không hai, không sai biệt. Ở
trong lý ấy không tự thấy Ta là Bồ-tát, là người tu tập,
có chân như, Pháp thân; kia là chúng sinh, là người không tu
hành, không có Pháp thân, chân như. Hiểu biết rõ tất cả
chúng sinh tức là thân ta. Phàm Thánh tuy khác, nhưng chân như
bình đẳng, nên gọi là Ngã tâm, cũng được gọi là tâm
bi thành tựu nhất thể, đây kia không hai, nên gọi là Ngã
tâm. Đấy là do hiểu ngã tự tại của chân như là Ngã tâm,
nên trong Kinh Thập Địa nói: Nơi tất cả chúng sinh khởi
Ngã tâm.
Văn
kinh của Phần Trụ nầy sở dĩ nối tiếp, vì trong đoạn
thứ hai ở trên đã biện minh về Đức Như Lai khéo hộ niệm
hai loại Bồ-tát trước địa, ban cho họ trí lực khiến chứng
đắc Địa thứ nhất. Nhưng ở trên chỉ đã biện minh về
hành có thể nhập vô lậu tương tợ của hàng trước địa,
chưa nêu ra hành để chứng địa. Vì vậy, Phần thứ 3 nầy
tiếp theo chính là biện biệt về hành nhập chân như vô lậu
của hàng Địa thứ nhất trở lên. Tức hỏi: Bồ-tát bấy
giờ, do những tâm nào, quán cảnh giới nào, tu tập những
hành nào, chứng đắc những pháp gì mà được trụ nơi Địa
thứ nhất trong pháp Đại thừa? Lúc trụ nơi Địa thứ nhất,
có tướng mạo gì? Nên nêu rõ: Bấy giờ Bồ-tát nơi A-tăng-kỳ
hành viên mãn, đầy đủ bốn thứ thâm tâm, hành sáu độ
thành, hiện thấy chân như, chứng pháp Nhẫn vô sinh, vượt
quá địa phàm phu, nhập phần vị Bồ-tát, sinh tại nhà Phật,
có tâm hành tướng mạo như thế, tức được trụ nơi Địa
thứ nhất, gọi là Bồ-tát đại lực. Thế nên, tiếp theo
là biện minh về phần thứ 3, tức Phần Trụ.
* Trong
một đoạn kinh ấy, Tôn giả Tu-bồ-đề có hai thứ câu chung
riêng. Hỏi: Bồ-tát làm thế nào, ở trong Đại thừa, phát
tâm Bồ-đề, cầu đạt đạo quả Chánh giác Vô thượng?
Đây là câu chung trong phần hỏi. Nhưng biện minh rộng về
Đại thừa có 2 thứ:
1.
Đại thừa của nhân: Nghĩa là mười địa, sáu Ba-la-mật,
nêu rõ Bồ-tát mười địa, hành sáu Ba-la-mật hướng đến
quả tột cùng, nên gọi là Đại thừa của nhân.
2.
Đại thừa của quả: Nghĩa là Pháp thân vô vi nơi quả Phật.
Nay
nói ở trong Đại thừa: Là nói về Đại thừa của nhân,
nghĩa cũng có thể chung cho nhân quả.
Nghĩa
của Đại thừa thì có vô lượng, chỉ xin lược biện biệt
4 thứ:
1.
Thể đại: Nêu rõ thể của Đại thừa bao hàm muôn đức,
xuất sinh nhân quả của năm Thừa, nên gọi là Thể lớn.
2.
Đối tượng thừa của bậc Đại nhân: Nêu rõ Bồ-tát Đại
sĩ vận hành (Thừa) địa nầy, đi đến quả vị Phật.
3.
Đối tượng chứng đắc của bậc Đại nhân: Biện minh chỉ
có chư Phật Như Lai là hội nhập tận cùng nơi pháp nầy.
4.
Có thể thành tựu nghĩa lớn: Biện minh chư Phật đã chứng
đắc quả thường, lại có thể hóa độ, tạo lợi ích cho
chúng sinh, có ân lớn, nên gọi là có thể thành tựu nghĩa
lớn.
Gồm
đủ 4 nghĩa nầy, nên gọi là Đại thừa.
* Phát
tâm Bồ-đề cầu đạt đạo quả Chánh giác Vô thượng: Bồ-đề
cũng có 2 thứ:
1.
Bồ-đề của nhân: Tức là mười địa, muôn hạnh.
2.
Bồ-đề của quả: Là Pháp thân vô vi.
Chung
cho hai thứ nhân quả nầy, tức là Bồ-đề Vô thượng.
Nay
nói là tâm Bồ-đề: Tức là Địa thứ nhất nơi A-tăng-kỳ
hành đầy đủ, hiện thấy chân như, chứng đắc pháp Nhẫn
vô sinh, lấy đó làm tâm Bồ-đề. Theo phần chứng đắc Pháp
thân vô vi tức là quả Bồ-đề.
Phát:
Cũng nói là sinh thành, chứng đắc. A gọi là vô. Nậu-đa-la
gọi là thượng. Gọi là vô thượng, cũng gọi là tối thắng,
tối thượng. Tam gọi là chánh, Miệu gọi là biến tri. Chánh
là trí của chân như, tức Nhất thiết trí. Biến tri là Nhất
thiết chủng trí. Lại nói Tam cũng là chánh, Bồ-đề là đạo.
Đây là Chánh Biến Tri, vô thượng tối thắng nơi quả của
Như Lai, lìa hai biên đoạn thường, biết rõ lý chánh của
trung đạo. Bồ-tát Địa thứ nhất chứng ngộ đạo ấy,
nên nói là Phát tâm Bồ-đề cầu đạt đạo quả Chánh giác
Vô thượng.
Cũng
có chỗ giải thích: Tam miệu là chánh, nêu rõ đạo Thanh-văn
không chánh, đạo Bồ-tát, Phật là chánh. Đây là biện minh
về chỗ không đồng với Thanh-văn. Chữ Tam sau gọi là biến,
biện minh người của Duyên giác quán cảnh khởi hành không
thể đủ khắp. Chư Phật, Bồ-tát có thể quán khắp muôn
cảnh tu rộng vạn hạnh. Đây là làm rõ chỗ bất đồng với
Duyên giác.
Làm
thế nào để trụ v.v…: 3 câu nầy là câu riêng trong phần
hỏi:
1.
Làm thế nào để trụ? Tức khởi Phần Trụ nơi kinh nầy.
2.
Làm thế nào để tu hành?
3.
Làm thế nào để hàng phục tâm? Hai câu hỏi nầy là khởi
phần thứ 4: Phần Tu hành như thật tiếp sau.
Đức
Như Lai sở dĩ khen ngợi, nói: Lành thay! Lành thay! Nầy Tu-bồ-đề!:
Là vì trong đoạn thứ hai ở trên, Tôn giả Tu-bồ-đề tuy
tán thán Như Lai là hy hữu, khéo hộ niệm, phó chúc cho hai
loại Bồ-tát trước địa, căn đã thành thục, chưa thành
thục, lại nêu ra bốn thứ câu hỏi chung, riêng, nhưng ý của
đại chúng cho Tôn giả Tu-bồ-đề là người của Thanh-văn,
vừa rồi đã tán thán Như Lai khéo hộ niệm, phó chúc cho
hai loại Bồ-tát, cùng thưa hỏi về hành của Bồ-tát từ
Địa thứ nhất trở lên. Đây chính là cảnh giới của chư
Phật Bồ-tát, không phải là đối tượng nhận biết của
Thanh-văn. Sợ rằng những nêu bày ấy vị tất đã hợp nơi
lý, xứng với tâm của bậc Thánh, tức có nghi niệm như thế.
Nay làm rõ Tôn giả Tu-bồ-đề đã được Đức Như Lai gia
bị ngầm về diệu lực, nên lời nói hợp với lý, chỗ tán
thán, thưa hỏi đều hợp với tâm của bậc Thánh, chân thật
không dối, không phải là lời nói sai lầm, do đó Như Lai
đã khen ngợi: Lành thay! Tức Phật đã loại trừ tâm nghi
của đại chúng lúc ấy.
* Đức
Phật bảo Tôn giả Tu-bồ-đề: Bồ-tát sinh tâm như vầy,
tiếp xuống: Một đoạn văn kinh ấy là đáp lại câu hỏi
1: Làm thế nào để trụ? Dựa theo lời đáp đó, trong câu
hỏi 1, là nêu rõ Bồ-tát có đầy đủ bốn thứ thâm tâm,
nên trụ nơi Địa thứ nhất, trong pháp được Đại thừa
sinh tâm như thế.
Bồ-tát
Địa thứ nhất, duyên nơi ba thứ chúng sinh, quyết định
chứng đắc bốn thứ thâm tâm.
Tất
cả chúng sinh hiện có được nhiếp phục v.v…: Luận gọi
là tâm rộng. Sở dĩ gọi là tâm rộng: Là biện minh Bồ-tát
Địa thứ nhất, hiện thấy rõ lý của Phật tánh bình đẳng,
đắc từ bi nhất thể, nên có thể hóa độ tất cả chúng
sinh trong hư không pháp giới, tình không hạn cuộc, nên gọi
là tâm rộng. Nhưng tâm nầy hóa độ chúng sinh có hai lớp
chung riêng.
+ Tất
cả chúng sinh hiện có: Tức là trước nêu rõ chung về tất
cả chúng sinh của hư không pháp giới.
+ Chúng
sinh được nhiếp phục: Là làm rõ về đối tượng được
hóa độ nầy, là chỉ hóa độ các chúng sinh có tâm, không
hóa độ các vật vô tình.
Từ
đây trở xuống, là biện minh riêng về chúng sinh được nhiếp
phục của tâm rộng, có ba thứ sai biệt:
1.
Bốn loài như hóa sinh v.v…, gọi là sai biệt về chỗ nương
dựa của sinh.
2.
Sáu loại có sắc, không sắc v.v…, gọi là sai biệt về thô
tế.
3.
Chúng sinh của chúng sinh giới hiện có được nhiếp phục,
là sai biệt thuộc ý sinh thân của hai Thừa, cũng gọi là
sai biệt về kiêu mạn. Sai biệt thứ ba nầy nêu rõ người
của hai Thừa đã gọi là ra khỏi ba cõi, không thuộc về
hai loài trước, do đó biện minh riêng.
Nhưng
người của hai Thừa có hai loại:
1.
Thanh-văn phát tâm Bồ-đề: Như trong Kinh Pháp Hoa, Tôn giả
Xá-lợi-phất v.v… được thọ ký làm Phật.
2.
Thanh-văn tịch diệt: Đoạn trừ hết Hoặc của ba cõi ra khỏi
phần đoạn sinh tử, khởi tướng cứu cánh, dấy tâm kiêu
mạn, nhập định tịch diệt, trải qua ngàn vạn ức kiếp,
ở trong định ấy vẫn không tránh khỏi những hành khổ vi
tế của biến dịch sinh tử. Thời gian sau, định lực đã
tận, từ thiền định xuất, lại không có chỗ dựa nên trở
lại tìm kiếm thiện tri thức, phát tâm Bồ-đề, cầu đạo
vô thượng. Bồ-tát đối với các chúng sinh kiêu mạn ấy,
cũng khởi tâm bi cứu độ, nên cần nêu rõ. Cũng được gọi
là 11 thứ chúng sinh: Trong chỗ nương dựa của sinh có 4, trong
thô tế có 6, trong ý sinh thân có 1, hợp lại là 11 loại.
* Ta
đều khiến nhập Niết-bàn vô dư mà được giải thoát: Luận
gọi là tâm bậc nhất. Trước tuy nói là độ rộng khắp
tất cả chúng sinh, như loài thấp sinh v.v…, nhưng chưa biết
hóa độ chúng sinh ấy thì đem lại cho họ những an lạc gì.
Do đấy, phần thứ hai tiếp theo là biện minh, chỉ có Niết-bàn
vô dư của quả Phật thường trụ là an lạc bậc nhất, đem
lại cho các chúng sinh ấy, không đem đạo đã chứng đắc
trong hai Thừa là Niết-bàn khôi thân để ban cho họ, huống
chi là những an lạc của hàng trời, người, nên gọi là tâm
bậc nhất.
Đây
nói là vô dư, có 2 loại:
1.
Hai chướng đã vĩnh viễn dứt trừ hết.
2.
Muôn đức viên mãn.
Gồm
đủ hai nghĩa ấy nên gọi là vô dư, không phải như Tiểu
thừa cho thân, trí cùng dứt bặt, gọi là vô dư.
Niết-bàn:
Ở đây chuyển dịch là Tịch diệt.
* Hóa
độ khiến đạt giải thoát vô lượng vô biên chúng sinh như
thế, nhưng thật không có chúng sinh nào được giải thoát:
Luận gọi là tâm thường. Thường có 2 loại:
1.
Căn cứ theo Pháp thân Phật tánh an nhiên thường trụ, đây
kia bình đẳng, để làm rõ về thường. Nhưng Pháp thân Phật
tánh tuy là bình đẳng, nhưng nếu căn cứ theo người hành
trì mà nói, thì trên một Pháp thân có ba thứ tên gọi: Hoặc
che phủ Pháp thân toàn là bất tịnh, gọi là chúng sinh. Tu
hành đoạn trừ Hoặc, nửa tịnh nửa bất tịnh, gọi là
Bồ-tát. Hành mười địa viên mãn, đoạn trừ Hoặc, chướng
hết hẳn, đầy đủ thanh tịnh, gọi là Phật. Nếu dựa theo
chân như cùng có Pháp thân, đây kia không hai, nên gọi là
tâm thường một thể.
2.
Căn cứ theo tâm thường đạt được từ bi nhất thể, chúng
sinh như tự thân mình, tâm luôn hiện tiền, không lìa bỏ,
tức gọi là tâm thường.
Đủ
hai nghĩa ấy, nên gọi là tâm thường.
Dựa
nơi nơi Luận giải thích về nghĩa của từ bi nhất thể ấy
mà nói, thì Bồ-tát Địa thứ nhất có được “Địa một
con” cũng không phải là lời nói tận lý. Do đâu được
biết? Như có người nữ chỉ có một đứa con, hết sức
yêu quý con, thường nói thà gây họa loạn cho thân mình, không
nên gây họa loạn cho con tôi. Vua liền sai người dùng ngọn
lửa lớn để dọa. Người nữ nầy sợ nóng nên đẩy đứa
con ra ngăn lửa. Tiếc giữ thân mình, nên biết nói “Địa
một con” không phải là lời tận lý. Tức nêu dẫn sự việc
để làm rõ nghĩa từ bi nhất thể ấy.
Nhưng
chúng sinh đó, sở dĩ tiếc giữ thân mình: Là do từ vô lượng
đời đến giờ luôn chấp trước về ngã kiến hư vọng,
hành tập lâu xa nên thế. Như trong kinh nói: Có người tạo
tội ngũ nghịch, trải qua năm đại kiếp ở địa ngục A-tỳ,
tội trả sắp hết, có kẻ bảo: Ngày mai ông được ra khỏi
địa ngục, nhưng tuy được ra khỏi, mà thân nầy của ông
liền bị đoạn diệt. Tội nhân nghe rồi, liền đáp: Tôi
thà ở lại trong địa ngục nầy từng ấy số kiếp nữa,
chớ không muốn được ra khỏi rồi bị đoạn diệt! Là do
chúng sinh đó, từ đời vô thỉ đến nay, tham chấp về ngã
vọng nên tiếc giữ thân mình, không phải là thật có ngã.
Ở đây, Bồ-tát cũng lại như vậy. Từ một Đại A-tăng-kỳ
kiếp đến nay, hành tập từ bi, nên khi chứng đắc Địa
thứ nhất, đối với tất cả chúng sinh đạt được tâm
thành một Thể, hoàn toàn là một Thể, không thấy có hai
tướng, hai sai biệt, nên gọi là một Thể, lấy đó làm tâm
thường. Tâm thường nầy cũng được gọi là 2 tâm:
1.
Ngã tự tại của chân như.
2.
Phần tâm bi một Thể.
* Hóa
độ khiến đạt giải thoát vô lượng vô biên chúng sinh như
thế: Là nhắc lại chúng sinh được Bồ-tát hóa độ khiến
nhập Niết-bàn ở trước.
* Nhưng
thật không có chúng sinh nào được diệt độ cả: Là biện
minh Bồ-tát tuy hóa độ vô lượng chúng sinh khiến nhập Niết-bàn,
nhưng ở trong lý chân như bình đẳng thì không thấy Ta là
Bồ-tát có Phật tánh chân như. Cũng không thấy kia là chúng
sinh, khác với thân ta, không có chân như Phật tánh, nên có
thể hóa độ. Do trong lý chân như bình đẳng tuyệt nhiên
chỉ một quán, đây kia không hai, nên nói là: Thật không có
chúng sinh nào được diệt độ cả.
Lại,
Bồ-tát nầy đạt được tâm bi thành một thể, nên nhận
lấy tất cả chúng sinh như tự thân mình, hoàn toàn là một
Thể, không thấy đây kia có khác, nên viết là: Thật không
có chúng sinh nào được diệt độ cả.
* Vì
sao? Vì nếu Bồ-tát có tướng chúng sinh tức không phải là
Bồ-tát: Đây là giải thích câu trước: “Thật không có
chúng sinh nào được diệt độ cả”. Vì sao giải thích?
Tức nêu rõ Bồ-tát đã hóa độ rộng khắp pháp giới chúng
sinh khiến nhập Niết-bàn, mà lại nói: Thật không có chúng
sinh nào được diệt độ. Vì sao hai câu nói nầy như là trái
nhau? Nay nên làm rõ Bồ-tát do chứng đắc chân như bình đẳng
ấy, cùng từ bi thành một Thể, nên dứt tuyệt tâm phân biệt,
không thấy kia là chúng sinh, Ta là Bồ-tát, để khởi tâm
hóa độ khiến được giải thoát, nên nói: Thật không có
chúng sinh nào được diệt độ cả. Không phải ở trong thế
đế vọng tưởng có duyên dụng, cần làm sáng rõ: Cũng không
có chúng sinh có thể hóa độ, nên hai lời ấy không mâu thuẫn.
* Nếu
Bồ-tát có tưởng chúng sinh, thì không phải là Bồ-tát: Là
biện minh nếu Bồ-tát khởi tâm phân biệt, nghĩa là cho lìa
ngoài lý chân như, Phật tánh bình đẳng, thì riêng có thật
chúng sinh khác với tự thân mình để có thể hóa độ, nên
có tưởng về chúng sinh v.v… Đấy chưa là Bồ-tát đạt
Địa thứ nhất, để lãnh hội chân ngã của chân như bình
đẳng, nên nói tức chẳng phải là Bồ-tát. Đây là nêu lên
có tướng chúng sinh, khởi tướng phân biệt, chẳng phải
là Bồ-tát, nên làm rõ là đạt được ngã tâm thì không
còn có tướng chúng sinh. Tức là dùng phi tướng hình để
đáp. Do đâu biết được? Như trong Kinh Thủ-lăng-nghiêm, Bồ-tát
Kiên Ý bạch Phật: Bồ-tát trụ trong địa nào để đạt
được Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm? Đức Phật bảo Bồ-tát
Kiên Ý: Không phải ở trong Địa thứ nhất đạt được,
cho đến không phải ở trong chín địa đạt được. Như thế
thì rốt cuộc là ở địa nào đạt được? Nên đáp là ở
trong Địa thứ mười đạt được. Lại nói: Nếu không đạt
được Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm thì không gọi là Bồ-tát.
Như vậy thì từ chín địa trở xuống há có thể hoàn toàn
không phải là Bồ-tát? Tức đáp: Cũng được như phần lực
để đạt Tam-muội ấy. Nhưng ở đây nói: Tức chẳng phải
là Bồ-tát: Là nêu rõ chín địa trở xuống tuy là Bồ-tát,
nhưng không được gọi là Bồ-tát trong Địa thứ mười,
chứng đắc đầy đủ Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm, không phải
là không có phần đạt được Tam-muội đó. Trong Luận Bảo
Man có người hỏi Bồ-tát Long Thọ: Bồ-tát đạt đến địa
nào thì đạt được Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm? Đáp: Trong
Địa thứ nhất đạt được, cho đến trong Địa thứ mười
đạt được. Lại nói: Bồ-tát không đạt được Tam-muội
nầy thì không gọi là Bồ-tát. Do văn ấy để nghiệm chứng
đủ biết, chín địa trở về trước cũng gọi là đạt được
Tam-muội ấy, chỉ tùy theo thắng xứ mà làm rõ về tên gọi,
nên nói: Không đạt được Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm thì không
gọi là Bồ-tát. Như Kinh Niết Bàn nói: Bồ-tát mười địa
“Mắt thấy” Phật tánh, chín địa trở lui gọi là nghe
thấy. Nhưng chín địa trở xuống cũng có phần “Mắt thấy”,
song do dùng phần dưới để hiện rõ phần trên, nên nói chín
địa là “Nghe thấy”, không phải là hoàn toàn không có
“Mắt thấy”. Do đâu biết được? Lại tức nói: Chỉ có
một người là Phật là “Mắt thấy” Phật tánh, mười
địa trở xuống đều gọi là “Nghe thấy”. Do đấy nghiệm
biết, cũng có thể nói là từ Địa thứ nhất trở lên là
“Mắt thấy” Phật tánh, phàm phu trước địa gọi là “Nghe
thấy”. Đây đều là dựa theo người có trên dưới, lần
lượt cùng hiện bày, cùng mất hết. Là trong chỗ hơn kém
mà nói, không phải là luận bàn xứng thật. Nên nay nói “Tức
không phải là Bồ-tát”, chính là không phải Bồ-tát Địa
thứ nhất đã lãnh hội về chân như bình đẳng.
* Vì
sao, không phải là, cho đến, không gọi là Bồ-tát: Ở đây,
Luận giải thích là tâm không điên đảo.
Do
đâu nêu rõ trong chúng nầy có người sinh nghi: Bồ-tát lúc
trụ nơi Địa thứ nhất, vì sao đối với tất cả chúng
sinh đạt được Ngã tâm? Do nơi nghĩa nào nên gọi là Ngã
tâm. Như ngoại đạo, phàm phu, do kiến điên đảo, nên ở
trong năm ấm của chúng sinh là pháp vô ngã, lại ngang nhiên
cho là Thần ngã, chưa rõ Bồ-tát nầy có Ngã tâm như thế
nào, có khác với lối chấp Thần ngã của phàm phu, ngoại
đạo?, nên nói là Vì sao? Vì nhằm trừ bỏ nghi đó, nên Phật
sắp sửa đáp: Bồ-tát dấy khởi về Ngã tâm, không phải
là lối chấp ngã điên đảo, nên nói là không phải. Biện
minh rộng về ngã có hai thứ:
1.
Ngã tự tại của chân như Phật tánh bình đẳng một thể
nơi tất cả chúng sinh.
2.
Ở trong năm ấm của chúng sinh, tâm điên đảo cố chấp về
thần ngã, như tức, lìa v.v…
Như
vậy, Bồ-tát đạt được thắng giải về ngã tự tại của
chân như bình đẳng, an trụ nơi Địa thứ nhất, nên đấy
không phải là cố chấp về ngã điên đảo. Nên trực tiếp
tạo ra lời đáp ấy là để đáp lại: Do đâu mà nói có
tướng chúng sinh v.v…, thì không gọi là Bồ-tát. Lại do
đâu chưa đạt được thắng giải về hai thứ vô ngã bình
đẳng, nên có tướng chúng sinh v.v…, tức chẳng phải là
Bồ-tát. Vậy là biết rõ, có được thắng giải về hai thứ
vô ngã bình đẳng, thì không có tướng chúng sinh, đó gọi
là Bồ-tát. Do chưa đạt được là phi, hiện bày đạt được
thị. Đây là chuyển đáp.
* Nếu
Bồ-tát có tướng chúng sinh, cho đến tướng thọ giả v.v…:
Đây là nêu rõ, nếu Bồ-tát còn có các tướng ngã, nhân
v.v… tức không gọi là Bồ-tát trụ nơi Địa thứ nhất
trở lên, thắng giải về chân như bình đẳng, chứng đắc
vô ngã, nên nói: Tức không gọi là Bồ-tát.
* Luận
viết: Thế nào là Bồ-tát trụ trong Đại thừa v.v…: Đây
là Luận chủ (Bồ-tát Thiên Thân) sắp giải thích đoạn kinh
nêu trước, nên đặt ra chỗ sinh khởi của luận ấy.
+ Trụ
trong Đại thừa: Chọn lấy nghĩa của Hỏi, Đáp đã nêu rõ
trong kinh để làm tên gọi cho một đoạn kinh nầy. Người
hỏi là Tôn giả Tu-bồ-đề, người đáp là Đức Như Lai.
+ Thị
hiện nghĩa ấy: Là làm rõ kinh nầy đã biện giải đầy đủ
về nghĩa của bốn thứ tâm sâu xa (Thâm tâm), vĩnh viễn trụ
trong Đại thừa.
Một
đoạn kinh ấy, tuy phân làm bốn câu, nhưng Luận dùng 1 kệ
để giải thích đủ. Thứ nhất là tâm rộng, giải thích
riêng về ba thứ chúng sinh như loài sinh từ trứng v.v…, biện
minh Bồ-tát phát tâm giáo hóa hết thảy chúng sinh giới gồm
các loài có sắc, không sắc v.v… như các loài sinh từ trứng
v.v…, tình không hạn cuộc, nên gọi là tâm rộng.
Lớn
và rộng, về nghĩa là một, nhưng tên gọi khác, chỉ vì thành
kệ, do đó cùng nêu ra (Rộng lớn, bậc nhất, thường).
+ Bậc
nhất: Là giải thích câu: “Ta đều khiến nhập Niết-bàn
vô dư mà diệt độ” trong kinh, làm rõ là Bồ-tát đã đem
Niết-bàn thường trụ với sự an lạc tột cùng để hóa
độ chúng sinh. Không đem đạo đã chứng đắc trong thừa
Thanh-văn, Duyên giác để giáo hóa khiến họ đạt giải thoát,
huống chi là những an lạc của hàng trời, người. Thế nên
gọi là tâm bậc nhất.
+ Thường:
Là giải thích câu: “Thật không có chúng sinh nào được
diệt độ cả” trong kinh nêu trước. Thường có 2 loại:
1.
Nêu rõ Bồ-tát Địa thứ nhất lãnh hội lý chân như Phật
tánh thường trụ. Lý thường nầy là diệu hữu trong lặng,
xưa nay nhất định, không có chỗ khác nhau của phàm Thánh
đây kia. Ở trong lý chân như bình đẳng một Thể ấy, sao
có thể thấy có chúng sinh khác với tự thân mà khiến diệt
độ, nên nói là tâm thường.
2.
Làm rõ Bồ-tát đạt được thắng giải về từ bi một Thể
bình đẳng, chỗ tu tập thiện căn của mình tức là thiện
căn của chúng sinh. Giáo hóa chúng sinh như tự thân mình, thường
không dừng nghỉ, nên gọi là tâm thường.
+ Kệ
nói: Tâm ấy không điên đảo: Là giải thích câu: Nếu Bồ-tát
khởi tướng chúng sinh v.v…, tức không gọi là Bồ-tát trong
kinh, nêu rõ đạo nói là “Ngã tâm”, không phải là tâm
điên đảo vọng chấp về Thần ngã.
+ Lợi
ích thâm tâm trụ: Đây là nghĩa chuyển nhanh chung cho bốn
thứ tâm nêu trước, nên phần tiếp sau đều nói: Lợi ích
thâm tâm trụ. Nói thâm tâm (Tâm sâu xa): Là nơi lý sâu của
chân như, khởi bốn tâm ấy (Rộng, Bậc nhất, Thường, Không
điên đảo), nên gọi là sâu xa. Lại từ sâu xa khởi tâm
bi, cũng gọi là sâu. Nay nói trụ, là gồm đủ bốn tâm trên,
trong pháp Đại thừa, quyết định trụ nơi Địa thứ nhất.
+ Thừa
nầy công đức đủ: Là làm rõ Bồ-tát Địa thứ nhất có
đủ bốn tâm nêu trước, nên trong phần công đức của Đại