LUẬN THÍCH
KINH NĂNG ĐOẠN KIM CƯƠNG
BÁT NHÃ BA
LA MẬT ĐA
QUYỂN 1
Kinh
nầy: Văn, câu nghĩa, thứ lớp
Đời
không minh tuệ, không thể hiểu
Đảnh
lễ bậc ấy dạy chúng con
Công
đức vô biên sinh khởi thân.
Đủ
đức như đây nên lễ kính
Dấu
chân hoằng hóa dốc phụng trì
Biết
rõ nẻo vận hành chánh pháp
Tâm
cầu lợi khắp mọi hàm thức.
* Kinh
viết: Có thể đem lại lợi ích tối thắng. Đây là căn cứ
vào các Bồ-tát đã thành thục. Có thể tạo được sự phó
chúc tối thắng. Đây là căn cứ vào các Bồ-tát chưa thành
thục. Thế nào là lợi ích tối thắng đối với các Bồ-tát?
Lại, những gì là phó chúc tối thắng? Đáp lại câu hỏi
ấy, tụng viết:
Lợi
ích thắng, nên biết
Nơi
thân cùng quyến thuộc
Đạt,
chưa đạt, không thối
Là
phó chúc tối thắng.
Nghĩa
là ở trong thân Bồ-tát, vì lợi ích kia, nên cũng có thể
khiến Bồ-tát ấy tạo lợi ích cho quyến thuộc, bạn bè
hiện có, gọi là lợi ích tối thắng. Ở trong thân đó, khiến
pháp Phật được thâu hợp thành thục, tức là tạo lợi
ích cho thân. Cũng khiến việc hóa độ các hữu tình khác,
những người có thể kham nhận hiện có đều thành tựu,
là đối với người thân thuộc có thể đạt được lợi
ích. Nên biết như thế.
Nơi
các công đức hiện có, đạt được, chưa đạt được, có
thể vì họ tạo nhân không thối chuyển. Do đối với thiện
hữu đã hết lòng phó thác. Đó gọi là đem sự phó chúc
thù thắng mà cùng phó chúc. Ở đây, đạt được mà không
thối chuyển: Là nhằm khiến không xả bỏ Đại thừa. Chưa
đạt được nhưng không thối chuyển: Là khiến đối với
Đại thừa, càng hướng tới nẻo thù thắng.
Các
hữu tình phát tâm hướng đến thừa Bồ-tát, nên trụ như
thế nào? Để đáp lại câu hỏi ấy, tụng nêu:
Nơi
tâm rộng, hơn hết
Tột
cùng, không điên đảo
Lợi
ích, chốn ý lạc
Thừa
nầy công đức đủ.
Đây
là nêu rõ về nghĩa gì? Nếu Bồ-tát tạo bốn thứ ý lạc
lợi ích ấy, khởi đầu là trụ phát tâm, đối với Đại
thừa có đủ ý lạc đó, mới có thể gọi là công đức
viên mãn.
Những
gì là 4 ý lạc lợi ích? Đó là:
1.
Rộng lớn.
2.
Hơn hết.
3.
Tột cùng.
4.
Không điên đảo.
* Kinh
viết: Các hữu tình phát tâm hướng đến thừa Bồ-tát, nên
sinh tâm như vầy: Nói rộng cho đến: Tất cả như thế. Đây
là nêu rõ về ý lạc lợi ích rộng lớn.
+ Ta
đều khiến nhập Niết-bàn vô dư, đạt được giải thoát:
Đây là làm rõ về ý lạc lợi ích hơn hết.
+ Tuy
hóa độ vô lượng chúng sinh như thế, cho đến: Không gọi
là Bồ-tát. Đây là làm rõ về ý lạc lợi ích tột cùng.
Đấy
là có ý gì? Tức muốn biện minh tất cả chúng sinh hiện
có thảy đều thâu giữ đồng với Bồ-tát. Thân mình do đấy
chỉ là vắng lặng. Thân mình không khác biệt với hữu tình.
Nếu tạo sự dị biệt là có chúng sinh, không phải là tưởng
của chính mình, thì đấy tức không gọi là Bồ-tát. Nếu
thâu giữ làm thể của mình, tức là tận cùng không xả bỏ.
Do đấy gọi là ý lạc tột cùng.
+ Nếu
Bồ-tát có tưởng về ngã, tưởng về chúng sinh, tưởng về
thọ giả, tưởng về cánh cầu thú, tức không gọi là Bồ-tát:
Đây là nêu rõ về ý lạc lợi ích không điên đảo. Đó
tức do dựa nơi hữu thân kiến, nên các tưởng như ngã v.v…
sinh khởi. Vì khiến chánh đoạn là không điên đảo, nên
phần tiếp sau sẽ hiển bày.
Các
hữu tình phát tâm hướng đến thừa Bồ-tát nên tu hành như
thế.
* Kinh
viết: Bồ-tát không trụ nơi sự để hành bố thí, nói rộng
như vậy. Ở đây do đâu chỉ dùng một tiếng bố thí mà
gồm thâu chung hết thảy sáu thứ Ba-la-mật? Kệ đáp:
Sáu
Độ đều gọi thí
Do
tài, pháp, vô úy
Trong
đó một, hai, ba
Gọi
tu hành chẳng trụ.
Tức
nêu rõ sáu Độ ấy đều có tướng thí. Tánh của thí do
tài, pháp, vô úy. Tài thí gồm thâu một thứ, đó là Thí
Ba-la-mật. Vô úy thí gồm thâu hai thứ là Giới, Nhẫn Ba-la-mật.
Nơi không oán thù (Giới) cùng xứ oán thù (Nhẫn) đều không
sợ hãi. Pháp thí gồm thâu ba: Là Cần (tinh tấn), Định,
Tuệ. Do quên hẳn mệt nhọc (Cần), rõ tâm kia rồi (Định)
thì nêu giảng pháp như thật (Tuệ). Đây là xứ tu hành của
Đại Bồ-tát, tức dùng một tiếng thí, gồm thâu hết sáu
Độ.
* Kinh
viết: Bồ-tát không trụ nơi sự để hành bố thí v.v…:
Ở đây thế nào là tánh không trụ? Tụng nêu:
Là
tự thân, báo ân
Quả
báo, đều không chấp.
+ Nói
không trụ nơi sự: Đó là hiển bày không chấp trước nơi
tự thân.
+ Không
trụ theo xứ để hành bố thí: Đây là làm rõ không chấp
trước nơi báo ân, đối với lợi dưỡng cung kính. Cầu ân,
mong xứ có lợi ích, sự việc ấy có nhiều đường, nên
gọi là: Không nên theo xứ sinh chấp trước mà hành bố thí.
+ Không
trụ nơi sắc v.v…: Là không chấp trước nơi quả báo.
Hỏi:
Do đâu hành không trụ như thế để bố thí?
Tụng
nêu:
Là
lìa nơi không khởi
Cùng
lìa các hành khác.
Do
quyến luyến tự thân, không hành bố thí, vì nhằm lìa tâm
không dấy khởi bố thí ấy, nên chớ chấp trước tự thân,
nên mau chóng hành thí. Vì tâm mong báo ân, cùng mong cầu quả,
nên bèn xả bỏ tánh của quả Bồ-đề Chánh giác. Do ở nơi
các sự khác mà hành tuệ thí, vì thế nên xả bỏ cầu hành
thí khác.
Phần
tiếp sau sẽ nói về thâu phục tâm. Sự ấy như thế nào?
Tụng nêu:
Thâu
phục tại ba luân
Nơi
tướng, tâm trừ dứt
Các
nghi hoặc về sau
Theo
đời, thảy đều diệt.
* Kinh
viết: Bồ-tát nên hành bố thí như thế, cho đến: Tướng
tưởng cũng không nên chấp trước: Đây là hiển bày về
vật được xả thí, cùng đối tượng được thí là chúng
sinh vả chủ thể thí.
Nơi
ba xứ ấy, đều trừ bỏ tâm tưởng chấp.
Tiếp
đến là nêu rõ về lợi ích của bố thí. Hoặc có vấn nạn:
Đã ở nơi thí v.v…, lìa các tướng trạng, như thế thì
có đạt được phước đức, lợi ích? Vì đáp lại vấn
nạn ấy, nên nói là sinh phước rất nhiều.
Hỏi:
Vì sao nêu bày về tu hành ở sau, không làm sáng rõ về phước
lợi đối với việc thâu phục, sau đấy mới bắt đầu nói?
Đáp:
Vì nhằm hiển bày: Nếu người không chấp trước nơi tướng,
tưởng, mới có thể hành bố thí không chấp trước.
Từ
đây trở về sau, phần văn kinh hiện có đều là nhằm trừ
bỏ các nghi hoặc tiếp sau. Ở đây, tức có sinh nghi như thế.
Hỏi:
Nếu không gắn liền với pháp mà hành bố thí, thì làm sao
hành tuệ thí để cầu thắng quả Chánh giác?
Nhằm
đáp lại nghi vấn ấy, nên kinh viết: Ý của Tôn giả thế
nào? Có thể dùng tướng thù thắng để quán Như Lai chăng?
Nói rộng như thế. Tụng nêu:
Nếu
dùng để hợp tạo
Diệu
tướng phi thắng tướng
Ba
tướng dời đổi khác
Không
đấy tức Như Lai.
Nếu
cho Như Lai là do nhân duyên như bố thí v.v… tạo nên, thì
ở trong tướng hữu vi đạt được tánh tối thắng, tức
thấy Như Lai có thắng tướng kia. Nếu đối chiếu với tánh
chân như của Như Lai, tức không có thắng tướng ấy. Do đấy,
không nên dùng tướng để quán Như Lai. Do Pháp thân kia không
phải là chỗ hiển bày của hợp tạo, nên tiếp theo nói:
Vì sao? Vì Như Lai nói thắng tướng kia nơi ba tướng là đổi
khác. Do thắng tướng ấy tức phi thắng tướng.
Ở
đây ý nói thể của ba tướng là dời chuyển, nên nầy Diệu
Sinh (Tu-bồ-đề)! Thắng tướng hiện có đều là hư vọng.
Vì vậy, nên dùng thắng tướng phi tướng để quán Như Lai.
Ý
nầy nhằm làm rõ: Từ nhân sinh pháp là hư giả, nên không.
Đấy nghĩa là Như Lai do hoàn toàn không có ba thứ tướng
kia. Do lìa tướng ấy, tức lấy vô tướng làm tướng. Nếu
ở nơi xứ đó, không sinh khởi tánh biến dị trụ diệt,
có thể nhận biết rõ: Đấy là hiển bày Như Lai không là
tánh tạo tác của hữu vi, do nhân duyên tạo thành. Như vậy
là giải thích rõ về tánh của Như Lai rồi, tuy vì quả Phật
mà hành bố thí, không phải là chấp trước nơi pháp thí,
tức là trừ bỏ niệm nghi. Tiếp sau diệu sinh lại khởi niệm
nghi lần nữa: Nếu do hành không trụ như thế để bố thí,
tức là nhân hết sức thâm diệu. Lại nói Như Lai là tánh
vô vi, tức là quả vô cùng sâu xa. Vì sao vào đời sau cùng
có được người tin, khiến quả báo kia không bị dứt bỏ?
Vì đoạn trừ nghi ấy, tụng nêu:
Nhân
cùng quả sâu xa
Lúc
nơi ác kia nói
Đây
chính là lợi ích
Do
ba, Bồ-tát khác.
Nếu
ở đời sau cùng mà có Bồ-tát gồm đủ giới, đức, tuệ,
do đấy nói pháp, quả lợi không hư dối. Tụng nêu:
Từ
nơi chốn Phật trước
Phụng
trì về giới học
Cùng
gieo trồng thiện căn
Gọi
đủ giới đủ đức.
* Kinh
viết: Nhưng Bồ-tát kia không phải ở nơi một Đức Phật
mà hành sự cúng dường. Không phải ở nơi một Đức Phật
gieo trồng các thiện căn: Đây là hiển bày, nơi trụ xứ
của Đức Phật trước, vì trì giới mà hành cung kính, thừa
sự, cùng gieo trồng các thiện căn. Như thứ lớp ấy tức
là đủ giới đủ đức. Tiếp theo là làm rõ về người đủ
tuệ. Tụng nêu:
Hay
đoạn trừ tưởng ngã
Cùng
do nơi tưởng pháp
Đây
gọi là đủ tuệ
Hai,
bốn khác thành tám.
Đấy
là nêu rõ: Tưởng ngã có bốn, tưởng pháp cũng có bốn,
nên thành tám tưởng. Tụng nêu:
Thể
riêng nối tiếp khởi
Đến
thọ mạng hết, trụ
Lại
cầu tìm nẻo khác
Tưởng
tưởng có bốn thứ.
Bốn
thứ tưởng ngã:
1.
Tưởng ngã.
2.
Tưởng hữu tình.
3.
Tưởng thọ giả.
4.
Tưởng cánh cầu thú.
Bốn
thứ ấy chẳng đồng. Ở đây nơi hữu tình của năm uẩn,
mỗi mỗi riêng biệt tự sinh, đoạn dứt là tưởng ngã, thấy
nối tiếp khởi, tạo tưởng hữu tình, cho đến thọ mạng
tồn tại, tạo tưởng thọ giả. Mạng căn đã diệt, chuyển
cầu hữu sau, là tạo tưởng cánh cầu thú. Bốn thứ tưởng
pháp, tụng nêu:
Đều
không nên chẳng có
Có
nên không thể nói
Là
nêu bày về nhân
Tưởng
pháp có bốn thứ.
Bốn
thứ tưởng pháp:
1.
Tưởng pháp.
2.
Tưởng không pháp.
3.
Tưởng có.
4.
Tưởng không.
Đây
nghĩa là chủ thể giữ lấy, đối tượng được giữ lấy
là các pháp đều không, nên tưởng pháp không sinh, tức tưởng
không pháp. Chúng không phải là có pháp mà là không tự tánh.
Tánh không có, nên không phải là tưởng không pháp. Tức chúng
không phải có, có không phải là tánh có. Không phải là ngôn
từ nơi đối tượng được nêu giảng, nên không phải là
tưởng có. Là nhân của ngôn thuyết nên không phải là tưởng
không. Do sức của tưởng, nên tuy không phải là ngôn từ
hiển bày mà cho là ngôn thuyết, nên có tám nghĩa chẳng đồng.
Vì tám tưởng của ngã và pháp dứt hết, nên gọi là người
đủ tuệ. Nghĩa nầy có ý gì? Tức chỉ nơi gồm đủ tuệ
mà nói, không phải là đủ giới đủ đức, vì sao? Đáp:
Vì hiển bày về tưởng thật có sai biệt, nên nói như thế.
Tụng nêu:
Do
lực tin hiểu kia
Tin
nên sinh tưởng thật
Chẳng
như lời chấp giữ
Chấp
giữ cho chánh thuyết.
Do
nghĩa ấy nên nói. Về sau, tức gọi là người có thể nghe
kinh điển nầy sinh khởi nhất tâm tin tưởng. Do gồm đủ
tuệ, nên không như ngôn thuyết mà chấp giữ. Cùng do tùy
thuận trí thắng nghĩa, nên dùng làm chánh thuyết, gọi là
tưởng thật. Vì lý ấy nên nói, về sau tức cho là không
nên giữ lấy làm pháp, không nên giữ lấy làm phi pháp. Không
nên như ngôn thuyết dùng làm pháp, cũng lại chẳng tức cho
là phi pháp. Do đấy là có thể tùy thuận trí thắng nghĩa,
dùng làm chánh thuyết. Tức là kinh nói: Nghe thuyết giảng
kinh nầy sinh khởi tin thật chăng?
* Kinh
viết: Diệu Sinh! Như Lai đều đã thấy biết về người ấy
v.v…: Là hiển bày nghĩa gì? Tụng nêu:
Phật
rõ quả không đối
Do
nguyện trí nên biết.
Người
có đủ giới v.v… kia, với quả báo hiện có, Phật không
dùng so sánh để nhận biết, nhưng do hiện lượng của nguyện
trí mà thấu tỏ. Nếu không nói thấy, thì hoặc cho là do
so sánh nên biết. Nếu không nói biết, thì e cho là do nhục
nhãn v.v… mà thấy. Thế nên cùng nói là thấy, biết. Do đâu
Đức Thế Tôn nói như vậy? Tụng nêu:
Vì
cầu được lợi, kính
Ngăn
chỗ tự nêu ấy.
Kẻ
đủ giới kia, vì cầu được lợi dưỡng, cung kính, nên tự
nói về đức của mình, liền sinh niệm: Đức Như Lai đã
từ xa thấy rõ Ta, vì đấy, không nên tự nói.
* Kinh
viết: Diệu Sinh! Các hữu tình kia sẽ sinh, sẽ gồm thâu vô
lượng nhóm phước: Đây là nêu về nghĩa gì? Tức khiến
nhóm phước kia sẽ sinh. Lại, phước kia sẽ có thể nối
tiếp, huân tập không dứt.
Nói
có ngã chấp v.v…: Ý nói có tánh của tùy miên, không phải
là có chấp hiện hành.
* Kinh
viết: Do đó, Như Lai mật ý tuyên thuyết về pháp môn dụ
như chiếc bè. Các hữu tình trí tuệ, pháp hãy còn nên bỏ,
huống chi là phi pháp. Ở đây có mật ý gì? Tụng nêu:
Chứng
chẳng trụ nơi pháp
Đó
chính là tùy thuận
Cũng
như bỏ bè kia
Là
mật ý, nên biết.
Nghĩa
là đối với các pháp như kinh v.v…, không phải là trụ xứ
của tăng thượng chứng. Tức được chứng rồi, nên xả
bỏ pháp đó. Như tới bờ kia thì xả bỏ chiếc bè. Đối
với tăng thượng chứng, là tùy thuận, nên cần thâu giữ.
Như chưa đạt đến bờ tất nhờ vào bè ấy. Đó gọi là
mật ý.
Trên
một chiếc bè có sự lấy, bỏ, nên gọi là mật. Nếu là
từ nơi khác, không phải là thuận chứng lý pháp, cần xả
bỏ. Nên tiếp theo sau lại là trừ nghi. Thế nào là văn ở
trên viết: Không nên dùng thắng tướng để quán Như Lai.
Vì Như Lai là từ nơi vô vi hiển bày tánh. Nếu như thế,
thì vì sao lại nói: Như Lai Thích-ca Mâu-ni chứng đắc Chánh
đẳng Bồ-đề Vô thượng, mới có thể tuyên dương pháp
giáo hiện có. Do đạo lý ấy, nên Như Lai kia không phải là
Chánh giác, cũng khiến thuyết pháp. Đáp lại nghi vấn ấy,
tụng nêu:
Hóa,
thể không Phật thật
Cũng
không người thuyết pháp.
Do
có 3 Phật:
1.
Phật Pháp thân.
2.
Phật Thọ dụng thân.
3.
Phật Hóa thân.
Nói
Phật Thích-ca Mâu-ni, tức là Hóa thân. Đây chính là gốc,
không phải là chứng giác, cũng không thuyết pháp độ sinh.
Văn viết: Vì sao? Vì Phật đã thuyết pháp v.v… Vì nhằm
ngăn trừ sự bài bác chung về tất cả sự việc thuyết pháp,
nên nói:
Hóa,
thể không Phật thật
Cũng
không người nói pháp.
Nhưng
chẳng phải toàn bộ là không. Tụng nêu:
Thuyết
pháp không hai thủ
Chỗ
nói lìa giảng nêu.
Hai
thứ như thế, nghĩa là pháp tánh, phi pháp tánh, phi tai có
thể nghe, phi lời có thể nói. Do đó nên biết, phi pháp, phi
- phi pháp. Đây là căn cứ nơi đạo lý của chân như mà nói.
Phi kia là pháp, nghĩa là pháp, tánh là vô vi. Lại, phi - phi
pháp. Do pháp kia không tự tánh, thể là có, vì sao chỉ nói
pháp của đối tượng được nêu giảng, không nói người
chủ thể chứng đắc?
Đáp:
Chỉ nói về đối tượng được thuyết giảng thì nghĩa của
chủ thể chứng đắc hiển bày, do phi chẳng giác tức có
được đối tượng nêu giảng.
* Kinh
viết: Do các bậc Thánh đều từ nơi vô vi mà được hiển
bày: Là nêu rõ về nhân của pháp ấy. Do các Thánh nhân đều
từ pháp thanh tịnh của chân như mà hiển hiện, nên gọi
là chỗ hiển bày của vô vi, vì thế, Thánh nhân trở lại
thuyết giảng pháp vô vi. Phàm các sự hiện có, ngôn từ không
thể nêu bày: Đây tức nêu đâu có thể giữ lấy. Tự tánh
của pháp kia không phải là xứhành của ngôn thuyết, làm
rõ đây tức là tánh phi ngôn thuyết. Do đâu trong ấy không
có lựa chọn phân biệt, để nói chung về Thánh giả, không
chỉ nói Phật?
Đáp:
Vì làm rõ Thánh nhân đều từ nơi chân như thanh tịnh hiển
bày. Do có một phần tịnh của hoàn toàn tịnh, theo chỗ ứng
hợp, nên không có lỗi. Lại nói phước sai khác, là muốn
hiển bày về gì?
Đáp:
Pháp tuy thật tánh là không thể giữ lấy, cùng không thể
nói, nhưng mà có ích. Tụng nêu:
Tự
thọ, vì khác nói
Hợp
phước không vô ích.
Do
đâu kinh viết: Thế Tôn! Nhóm phước nầy, tức không phải
là nhóm phước, thế nên Như Lai nói là nhóm phước, nhóm
phước. Tụng nêu:
Phước
không giữ Bồ-đề
Hai
ấy đều nên giữ.
Nói
phước đối với Bồ-đề không thể gánh giữ. Hai thứ đối
với Bồ-đề là có thể thọ trì. Ý của tụng là như thế.
Thế nào gọi là hai? Nghĩa là tự thọ nhận và vì kẻ khác
giảng nói.
* Kinh
viết: Đã tự thọ nhận rồi, ở nơi kẻ khác diễn nói.
Chưa rõ lời ấy sắp nêu về nghĩa gì? Do tiếng nhóm (tụ)
kia có 2 thứ nghĩa:
1.
Nghĩa tích tụ.
2.
Nghĩa gánh vác.
Cũng
như ở nơi vai, có thể gánh vác, vì đấy nên gọi vai là
tụ (Nhóm). Do lý ấy, nên phước kia tích tụ, gọi là phước
tụ. Do không thể nhận giữ Bồ-đề, nên nói là phi tụ,
tức chẳng phải là nghĩa về vai gánh vác, mà là nghĩa tích
tụ. Hai thứ đó là nhân của Bồ-đề, nên phước mới rất
nhiều.
Hỏi:
Do đâu hai thứ ấy có thể nhận giữ Bồ-đề? Vì hiển bày
nghĩa ấy, nên kinh nói: Vì sao? Nầy Diệu Sinh! Do quả Bồ-đề
Vô thượng của các Như Lai đã từ nơi kinh nầy xuất sinh.
Vì sao Bồ-đề gọi là xuất, chư Phật gọi là sinh? Tụng
nêu:
Đạt
nhân của tự tánh
Phần
khác ấy là sinh.
Nói
Bồ-đề tức là Pháp thân. Đây là tánh vô vi, nên gọi là
tự tánh. Do đó, hai thứ ấy là đạt được nhân của tự
tánh kia, không phải là nhân sinh. Nếu đối chiếu với hóa
thân thọ dụng khác đây, là nhân sinh. Do sự thân cận ấy,
có thể nắm giữ Bồ-đề, nên sinh phước đức rất nhiều.
Vì hiển bày nghĩa đó, nên kinh nói: Vì sao? v.v… Tức do đâu
đó là nhân có thể thành lập? Tụng nêu:
Nên
chính là pháp Phật
Hay
thành phước tối thắng.
Nói
Như Lai thuyết giảng là phi Phật pháp: Đây hiển bày về
pháp của đối tượng được giác ngộ, chỉ Phật mới có
thể chứng đắc, do tánh bất cộng, thế nên là tối thắng.
Đây là tánh của nhân nơi phước tối thắng, nên chiêu cảm
phước rất nhiều. Ý nêu rõ đấy là nhân gần có thể tạo
thành thắng phước. Ở trên, kinh nói: Thánh nhân đều chẳng
phải là chỗ hiển bày của tích tập tạo tác. Vì các bậc
Thánh ấy, nơi pháp chứng đắc kia là không thể giữ lấy,
không thể nêu bày. Các Thánh nhân như bậc Dự lưu v.v…,
thảy đều giữ lấy tự quả của mình, vì sao ở đây xác
nhận không phải là tánh được giữ lấy? Nơi đối tượng
được giữ lấy kia mà tuyên thuyết, thì không phải là tánh
không thể nêu bày? Vì nhằm dứt trừ nghi, nên sinh khởi phần
văn sau, tức làm rõ phi đối tượng được giữ lấy, phi
đối tượng được chứng đắc, lý khéo thành tựu. Tụng
nêu:
Không
giữ lấy tự quả
Phi
có thể giữ, nói.
Do
là chỗ hiển bày tánh của vô vi, nên vị kia đối với sáu
cảnh không có một chút pháp nào có thể thủ đắc. Đã không
thể tham dự gọi là Dự lưu, cho đến A-la-hán cũng không
có pháp, vì lý đều đồng nơi Thể của pháp vô vi ấy, không
thể giữ lấy cho đó là Thánh nhân. Đối với tự quả không
giữ lấy, không nêu bày. Nếu Thánh nhân khởi niệm như vầy:
Ta chứng đắc quả, tức là có các chấp như ngã v.v… Ý
nói có tùy miên Hoặc, không phải là hiện hành. Do không phải
vị kia lúc chứng hiện quán, có các chấp như ngã v.v…, mà
gọi là ngã chứng đắc. Vì đâu Diệu Sinh tự nói là đắc
A-la-hán? Vì khiến một phần hữu tình nhận biết là đã
thân chứng. Lại tự nói đạt được trụ vô tránh, là hiển
bày thân cùng thắng đức tương ưng. Vì nhằm khiến cho kẻ
khác sinh tin kính hơn hết. Do ý nghĩa sâu xa gì, mà nói: Diệu
Sinh đều không chỗ trụ? Nhưng đã nói: Ta đạt được trụ
vô tránh, đạt được trụ vô tránh? Tụng nêu:
Giải
thoát nơi hai chướng
Nói
Diệu Sinh không tranh.
Chướng
có 2 thứ:
1.
Chướng của phiền não.
2.
Chướng của định.
Đối
với các chướng ấy đã giải thoát, nên không trụ nơi hai
chướng. Vì đấy nên nói lần nữa. Nói hai lần về tánh
không tranh, tức là sự tranh cãi không hề có.
Tiếp
theo lại khởi nghi vấn: Đức Thế Tôn, thời xa xưa, ở nơi
trụ xứ của Phật Nhiên Đăng, có thể giữ lấy pháp hiện
có. Vị kia cũng vì người khác nêu giảng pháp yếu. Theo đấy
mà nói, vì sao được xác nhận là không giữ lấy, không nêu
bày? Vì đáp vấn nạn ấy, nên nói: Thật không có pháp nào
để Như Lai giữ lấy. Đây có ý gì? Tụng nêu:
Tại
nơi Phật Nhiên Đăng
Nói
không giữ pháp chứng.
Đây
là nói Đức Thế Tôn nơi trú xứ của Phật Nhiên Đăng, cũng
không dùng ngôn từ để giữ lấy pháp chứng đắc kia. Tụng
nêu:
Do
đấy pháp chứng thành
Không
nơi giữ chốn nêu.
Nếu
nói các Thánh đều là chỗ hiển bày của vô vi, thì pháp
kia không là chỗ được giữ lấy, cũng không phải là chỗ
được nêu bày. Vì sao các Bồ-tát đã giữ lấy việc làm
nghiêm tịnh quốc độ Phật? Lại, thân thọ dụng, vì sao
tự mình cho là Pháp vương? Thế gian đối với bậc ấy cũng
cho là Pháp vương? Vì dứt trừ nghi vấn ấy, nên mới sinh
khởi phần văn tiếp sau. Ý ở đây, như tụng nêu:
Trí
động, chỉ tánh thức
Quốc
độ không chỗ giữ.
Do
thật không có cõi Phật nghiêm tịnh, là sự việc có thể
giữ lấy, ngoại trừ từ nơi trí tịnh của chư Phật lưu
xuất, chỉ là thức hiện bày. Đây tức không thể có chỗ
chấp giữ. Nếu nói thật có hình chất, là tánh có thể giữ
lấy, Ta sẽ thành tựu quốc độ nghiêm tịnh, thì đấy thực
là vọng ngữ. Như Lai nói quốc độ kia không là nghiêm tịnh.
Do đấy nói là quốc độ nghiêm tịnh. Đây là có nghĩa gì?
Tụng nêu:
Không
hình nên hơn hẳn
Không
nghiêm, cho tánh nghiêm.
Nói
trang nghiêm, ở đây có 2 nghĩa:
1.
Hình tướng.
2.
Thắng tướng.
Đây
nói tối thắng là đệ nhất nghĩa. Đấy là cho không hình
chất, nên cõi Phật trang nghiêm, chẳng phải là trang nghiêm,
do cõi kia không là trang nghiêm đích thực, thế nên nói đấy
là tối thắng. Pháp thù thắng tích tập ở đấy nên gọi
là tối thắng. Nếu chấp có cõi Phật hình tướng thù thắng
trang nghiêm, nói là Ta sẽ thành tựu cõi ấy, tức là ở nơi
cảnh giới như sắc v.v…, có tâm trụ chấp. Vì nhằm ngăn
chận kiến chấp ấy, nên có văn nói về chẳng trụ. Lại
sinh khởi nghi vấn: Phật của thân thọ dụng, vì sao tự mình
cho là phó chúc, người khác cũng cho như thế. Vì đáp vấn
nạn ấy, nên đem thân thọ dụng đồng nơi núi Diệu Cao.
Văn nầy nhằm hiển bày nghĩa gì? Tụng nêu:
Ví
như núi Diệu Cao
Nơi
thọ dụng không lấy.
Như
núi chúa Diệu Cao, đạt được tánh của vị Tôn chủ lớn
lao hơn hẳn, nên gọi là Diệu Cao, nhưng không tự cho là tánh
của núi chúa, do tánh của núi không phân biệt. Phật của
thân thọ dụng cũng lại như thế: Gồm đủ tánh Pháp vương
do đạt được tánh của bậc Tôn chủ lớn lao thù thắng,
nên gọi là vĩ đại, thù thắng, nhưng không tự chấp giữ
tánh Pháp vương kia: Ta là Pháp vương, do không còn phân biệt.
Vì sao được nói là không phân biệt? Vì hiển bày nghĩa ấy,
văn viết: Như Lai nói là chẳng phải thân. Do thân kia không
phải là có, nên nói là có thân. Đây là có ý gì? Tụng nêu:
Tánh
không phải hữu lậu
Cũng
không là nhân tạo.
Nhưng
thân thọ dụng, tánh không phải là hữu lậu. Do đấy, không
phải là có thân, nói là có thân, hiển nhiên, thuần tịnh
tự thể là có, nên cũng không phải là từ nhân gây tạo.
Do đấy có thân, không phải là dựa vào nhân duyên khác sinh
khởi. Vì sao ở trước phần hiển bày về tánh của phước
đức, đã nói dụ kia, nay lại nói nữa? Tụng nêu:
Vì
hiển nhiều sai biệt
Cùng
do thành thù thắng
Trước
sau phước không đồng
Lại
nêu ra dụ nói.
Trước
là nêu dụ về Tam thiên thế giới để hiển bày phước nhiều,
nay nói vô số Tam thiên, là làm rõ về sự việc kia càng rộng.
Do
đâu ở trước không nói dụ ấy? Là do chỗ ưa thích của
người thọ hóa không đồng. Trước ít, sau nhiều, ý ở tại
đấy. Phước trước sai biệt, không nêu rõ nhân được thành,
nên đối với Bồ-đề không có dụng của sự gánh vác, nhận
giữ. Nay muốn hiển bày về tướng của nhân có thể thành
lập, lại nêu dụ riêng theo sự mà nói.
HẾT
- QUYỂN 1
LUẬN THÍCH
KINH NĂNG ĐOẠN KIM CƯƠNG
BÁT NHÃ BA
LA MẬT ĐA
QUYỂN 2
Thế
nào là có thể lập tướng nhân? Tụng nêu:
Hai
thành, nên tôn trọng
Do
đẳng lưu thù thắng
Do
tánh nhân phiền não
Nên
kém cũng thành hơn.
+ Nói
hai thành nên tôn trọng: Là do nơi chốn nhờ gởi lưu giữ,
thành Tháp miếu (Chế để), nghĩa là vùng đất giảng nói
pháp. Là chỗ dựa nơi thân kia, thành tánh tôn trọng như bậc
Đại sư. Tức là người thọ trì kinh, vùng đất bố thí
châu báu, cùng với chủ thể hành thí, không có sự việc
như thế (?). Nên tiếp sau, văn kinh hiển bày về pháp môn
ấy, chính là chỗ chứng đắc gần của chư Phật hợp với
tánh của đẳng lưu.
+ Từng
có pháp là Như Lai thuyết giảng chăng?: Đấy là nêu rõ về
ý gì? Tức nói không có pháp là riêng của Như Lai giảng nêu,
đều là chư Phật cùng tuyên dương.
Lại,
phước có được do bố thí châu báu ấy là nhân sinh khởi
sự khổ não. Công đức của pháp môn chính là yếu tố đoạn
trừ các thứ Hoặc. Hơn kém đã quá cách biệt rõ, thế nên
phần tiếp sau, văn dùng vi trần làm dụ.
+ Như
Lai nói tạo phi vi trần, do đấy nói là vi trần. Gọi là thế
giới, Như Lai nói là phi thế giới, do đấy nói là thế giới.
Đây là có ý gì? Nói vi trần nầy không là tánh trần nhiễm
v.v…, do đấy gọi là vi trần. Lại, thế giới kia không phải
là nhân của phiền não, gọi là giới, vì đấy nói là thế
giới. Giới là nghĩa nhân, tức là nhân của đời. Ở đây
nói, ý là hiển bày phước đức ấy chính là nhân của phiền
hoặc trần cấu. Do ngoại trần kia tuy là vô ký, phước ấy
dù là thiện cũng là quá kém, so với nhân của phước đều
thành Phật, mà không lại là nhỏ kém!
Lại,
nghiệp phước hiện có kia có thể thành tựu tướng đại
trượng phu so với nhân thành Bồ-đề nầy, tức phước của
việc thọ trì, nêu giảng pháp môn cũng còn là kém. Do các
tướng ấy không phải là thể tánh của chánh giác. Vì đấy
gọi là tướng đại trượng phu, là nêu rõ về tướng ấy.
Do phước của việc thọ trì, giảng nói có thể đạt được
tánh của Đại giác. Vì vậy gọi là kém, cũng hơn hẳn phước
của hành bố thí châu báu, huống chi là nhân của Pháp thân
mà không siêu việt! Thế nên kém cũng là hơn. Tức là phước
của bố thí châu báu rất kém, có thể thành lập nhân. Đây
đã thành lập phước của bố thí châu báu, so với nhân của
phước nầy có sai biệt rồi, các văn tiếp theo lại thành
lập nữa. Là nhằm nêu rõ về điều gì? Tụng nêu:
Quả
kia hơn hẳn khổ
Khó
gặp được sự thắng
Cảnh,
cõi không phải biết
Nơi
phần khác chẳng cùng.
Tánh
ấy rất sâu xa
Hơn
khác, lược giảng nói
Tộc
họ vốn, cao, hơn
So
phước, phước hơn hẳn.
Đây
là nêu bày về nghĩa nào? Đáp: Phước của bố thí châu báu
là quả đã thọ dụng của tự thân đạt được. Thân kia
là hơn, do có thể xả bỏ vô biên thân. Phước nầy hơn trước,
vì tự thân ấy là tánh khổ, huống chi là đem thân ấy hành
bố thí.
* Kinh
viết: Bấy giờ, Cụ thọ Diệu Sinh, hiểu rõ tự thân đó
là sự khổ, do uy lực của pháp nên bèn rơi lệ. Pháp môn
nầy lại là khó gặp. Diệu Sinh, từ lúc phát sinh trí đến
giờ cũng chưa từng nghe. Lại là thắng sự. Ở đấy nói
muốn hiển bày về tên gọi của Bát-nhã. Từ đây trở xuống,
ý nhằm thành lập sự thắng diệu ấy. Tức như kinh nêu:
Như Lai nói là Bát-nhã Ba-la-mật-đa, đấy tức phi Ba-la-mật-đa.
Là do ý nghĩa sâu xa gì nên nói như thế? Đáp: Cảnh, cõi
không phải biết. Do cảnh, cõi của đối tượng được nhận
biết ấy, trừ Đức Phật, kẻ khác không thể nhận biết.
Tức đối với kẻ khác lại là bất cộng.
+ Pháp
môn nầy, với tưởng thật hiện có, tức là tưởng thật:
Là trừ giáo pháp của Phật ra, xứ khác không có.
+ Nói
tưởng thật: Tức chỉ xứ nầy có.
+ Nói
phi thật: Là nghĩa ở nơi khác không sinh. Vì thế, văn nêu:
Nếu có thể sinh tưởng như thật, thì người ấy sẽ thành
tựu sự hy hữu bậc nhất.
Lại,
pháp môn nầy cũng là thâm diệu. Do đối với kinh ấy hoặc
thọ nhận chút ít, hoặc hành trì đầy đủ, ở nơi các tưởng
như ngã v.v…, không còn sinh khởi. Do không còn sinh khởi các
tưởng đó: Là nêu rõ ở nơi nghĩa của đối tượng được
nhận lấy, không có điên đảo.
+ Đối
với các tưởng như ngã v.v…, tức là phi tưởng: Là làm
rõ, ở nơi chủ thể nhận lấy không có điên đảo. Hai thứ
đó, theo như trình tự là làm rõ hai trí vô tánh của ngã,
pháp.
Đức
Phật ở nơi nghĩa nầy đã thuận ấn chứng các sự việc
do Tôn giả Diệu Sinh nêu bày.
+ Nói
không kinh, không sợ, không hãi: Ba thứ ấy đều gọi là sợ,
tức là kinh sợ, lo sợ, sợ hãi, nhưng theo sự chẳng đồng
nên có ba thứ riêng. Nói kinh: Nghĩa là đối với phi xứ sinh
sợ hãi. Trái vượt với lý chánh, như vượt chánh đạo,
đáng chán ghét. Nói sợ: Là nối tiếp sinh sợ hãi, tức sinh
rồi, không thể đoạn trừ. Nói hãi: Là sinh tâm quyết định
hoàn toàn là sợ hãi. Những thứ ấy nếu không có, tức thành
tựu tâm lìa hoảng loạn, lầm lạc.
Lại,
pháp môn nầy đã giảng tóm lược, hơn hẳn các thứ khác.
Do
kinh nói: Đây là Ba-la-mật-đa tối thắng, do Đức Như Lai
đã thuyết giảng.
Lại,
pháp môn nầy, tộc họ cao, thắng. Nói tộc họ thắng: Là
do chư Phật cùng thuyết giảng.
Nhưng
bố thí châu báu kia không có các đức viên mãn như đây.
Tức là thành lập phước ấy, so với nhóm phước đức là
vượt hơn, huống chi là nói riêng về lý. Chỗ gọi đối
với thân là tánh khổ, thí kia tức là tánh của quả khổ,
nên phước đó là thấp kém. Nhưng pháp môn nầy, nếu có
người thọ trì, giảng nói, thì bậc Đại sĩ ấy hành các
hạnh khổ, đây cũng đâu phải là chiêu cảm khổ báo? Vì
sao không phải là nhận lấy quả khổ? Vì để trừ bỏ vấn
nạn ấy, nên có văn tiếp sau. Nhằm hiển bày về nghĩa gì?
Tụng nêu:
Hành
ấy khi gắng nhẫn
Tuy
hành khổ nhưng thiện
Đức
kia khó lường xét
Do
đấy gọi thắng sự.
Vì
tình không giận dữ
Không
gọi là tánh khổ
Có
an lạc, đại bi
Lúc
hành, không quả khổ.
Hỏi:
Đó là nêu bày về nghĩa gì?
Đáp:
Nếu khiến kẻ kia lúc hành hạnh khổ, có quả khổ não, nhưng
vào khi đó, do có tánh gắng nhẫn, nên đấy gọi là thắng
sự. Có 2 nhân:
1.
Là tánh thiện. Do các Ba-la-mật-đa đều dùng thiện làm thể
tánh.
2.
Là đức kia khó lường.
Như
kinh nói: Đây tức là phi Ba-la-mật-đa.
+ Do
bờ cõi của đức ấy từng không nhận biết: Vì đấy gọi
là không nhận biết về bờ bến. Do cùng với thắng pháp
tương ưng. Tức khổ của hành khó nầy, so với khổ não ở
trước, tự có khác biệt, huống hồ là tưởng ngã, tưởng
giận dữ thể tánh không có, tất không có khổ kia. Không
phải chỉ không khổ, mà lại sinh bi, lạc. Như kinh nói: Ta
không có tưởng ấy cũng không phải là không tưởng.
+ Nói
không phải là không tưởng: Đây là hiển bày có tưởng cùng
với tâm bi tương ưng.
Căn
cứ theo đấy, nói về lý, nếu các hữu tình, đối với tưởng
ngã v.v…, không trừ diệt, thì lúc hành khổ thấy có khổ
não, tức liền muốn bỏ tâm Bồ-đề. Do đó nên lìa các
tưởng, cho đến nói rộng. Đây là hiển bày về điều gì?
Nếu người không phát tâm Bồ-đề thù thắng, liền có lỗi
lầm sinh tâm sân hận như thế. Tụng nêu:
Nhân
sinh tâm không bỏ
Vì
thế nên dốc cầu.
Hỏi:
Nơi xứ nào, tâm là nhân sinh tâm ấy, mà khiến kiên cố siêng
cầu. Lại ở nơi xứ nào là không xả bỏ nhân của tâm Bồ-đề
khiến tinh tấn mong cầu? Tức là tâm không trụ. Văn viết:
Nên lìa các tưởng để phát khởi tâm Chánh đẳng giác vô
thượng.
+ Vì
sao? Vì đây là hiển bày về nhân sinh khởi của tâm không
trụ chấp. Nếu ở nơi xứ như sắc v.v…, có tâm trụ chấp:
Thì ở đấy tất không thể tiến cầu quả Phật.
+ Các
Bồ-tát nên không chỗ trụ mà hành bố thí: Ý của văn muốn
nêu rõ bố thí gồm thâu cả sáu Ba-la-mật. Tức là sinh khởi
phương tiện của tâm không trụ chấp. Nghĩa là, được nhẫn
rồi, tuy gặp phải khổ mà không từ bỏ tâm Đại Bồ-đề.
Hỏi:
Vì sao phát khởi hành tạo lợi ích cho hữu tình, lại khiến
không trụ nơi sự lợi ích cho hữu tình? Đây tức lấy bỏ
đồng môn, tâm nghi bèn khởi.
Đáp:
Bồ-tát nên hành bố thí như thế để tạo lợi ích cho chúng
sinh. Đây là hiển bày về ý gì? Tụng nêu:
Nên
biết kẻ chánh hành
Là
nhân của lợi sinh
Nơi
sự tướng hữu tình
Nên
biết dứt trừ khắp.
Đó
là nói về nghĩa nào?
Nói
chánh hành ấy: Là nhân tạo lợi ích cho chúng sinh. Nên biết
tức là tạo lợi ích cho hữu tình, nhưng không giữ lấy tướng
mạo hiện có của hữu tình.
Thế
nào là sự việc thuộc tướng mạo của hữu tình? Tụng nêu:
Sự
kia gọi là tụ.
+ Chúng
sinh ấy: Tức là danh tự được nêu đặt, gọi là chúng sinh,
cùng chỗ dựa là sự việc. Thế nào là chánh hành? Nghĩa
là đối với sự tướng của chúng sinh đều trừ bỏ.
+ Do
tưởng của danh tự kia, tức là phi tưởng. Do gốc của tự
thể ấy không có. Tức chúng sinh kia không là chúng sinh, nghĩa
là đối với năm uẩn gọi là chúng sinh, do tự thể của
chúng sinh đó là không, nên ngã pháp ấy là không tánh. Vì
sao? Vì do Đức Phật, Thế Tôn đều dứt trừ các tưởng.
Đây là làm rõ hai tưởng ngã, pháp đều không. Vì sao có
thể thành sự diệu tối thắng? Tụng nêu:
Hơn
hết trừ bỏ tưởng
Các
Thế Tôn không đấy
Do
thấy đúng tương ưng.
Đây
là nêu bày về gì? Do hai thứ kia không phải là tánh thật
có, nhưng các Đại sư quyết trừ bỏ tưởng ấy. Chư Như
Lai cùng với thấy đúng tương ưng, nên quả không trụ nơi
phần vị của nhân, do đâu có thể thấy nhân của quả kia?
Đã có nghi ấy, nên đáp: Như kinh nói: Nầy Diệu Sinh! Như
Lai là thật ngữ (có bốn câu). Tụng nêu:
Quả
không trụ vị nhân
Là
đạt nhân quả kia
Thế
Tôn nói lời thật
Nên
biết có bốn thứ.
Tánh
của thật ngữ ấy có bốn thứ. Những gì là bốn? Tụng
nêu:
Lập
nên nói thừa dưới
Cùng
nêu nghĩa Đại thừa
Do
các sự thọ ký
Đều
không có sai biệt.
Do
Đức Phật lập thời hạn cần thiết, gốc cầu quả Phật
không có sai lầm. Nơi Thừa thấp kém cùng với Đại thừa
và các thọ ký, đều không lầm lẫn. Ở đây, luôn tùy theo
thứ lớp: Thật ngữ (nói thật), như ngữ (nói như), nói không
dối trá, nói không sai khác, mà cùng phối hợp.
+ Nói
Như Lai: Là do nơi thừa Thanh-văn, giảng nói bốn đế như
khổ v.v…, là thật không hư giả. Đối với Đại thừa thuyết
pháp không tánh, hiển bày chân như, gọi là nhận biết thật,
nên Như Lai là nghĩa nhận biết. Nơi tất cả thời quá khứ,
hiện tại, vị lai, như sự thọ ký hiện có, đều không sai
lầm, nên gọi là Như Lai. Kinh nói: Như Lai chứng đắc pháp,
cùng thuyết giảng pháp. Đấy tức là phi thật phi vọng. Tụng
nêu:
Không
đạt chỗ thuận kia
Trái
phải thật không vọng
Như
lời mà chấp giữ
Đối
ứng nên tuyên thuyết.
Nói
chư Như Lai thuyết pháp hiện có. Là nói đây không đạt kia
(?), nhưng là tùy thuận nơi kia (?). Do thuyết pháp ấy không
thể gần đạt pháp nội chứng, ở nơi ngôn thuyết thấp,
không có thể tánh (?), nên không phải là thật (?). Do thuận
theo kia (?) nên không phải là vọng ngôn (?).
+ Ta
hiện chứng Chánh giác Vô thượng: Đây là nhằm căn cứ nơi
đạo lý văn cú (?) mà có lời nói ấy.
Hỏi:
Do đâu Đức Thế Tôn tự lập lời cốt yếu: Ta là người
nói lời chân thật, nhưng pháp được nêu giảng là phi thật
phi hư. Nói một gồm hai lý thành khó tin. Do đấy, đáp nói:
Như
lời mà chấp giữ
Đối
kia nên tuyên thuyết.
Nói
các Thánh nhân là chỗ hiện bày của vô vi: Tức tánh của
chân như là thường hằng, có khắp. Vì sao quả Phật phải
do tâm vô trụ mới có thể chứng đắc, không phải là tâm
hữu trụ? Lại nữa, vì sao thật thể nơi chân như là thường
hằng, có khắp, nhưng có trường hợp được, hoặc không
đạt được? Vì dứt trừ nghi vấn ấy, nên nói dụ về kẻ
đi vào nơi tối tăm. Đây là nêu rõ về nghĩa gì? Tụng nêu:
Thường
hằng, các xứ có
Nơi
chân tánh không đạt
Do
không biết, có trụ
Trí
vô trụ, đạt thật.
Ở
đây ý nói tánh của chân như tuy là thường hằng, có khắp,
nhưng do không trí, tâm có trụ, tức không thể đạt được,
là nghĩa không thanh tịnh. Do có trí, tâm không trụ, tức liền
được thấy, là nghĩa thanh tịnh. Nhưng Đức Phật, Thế Tôn
luôn là chỗ hiển bày của chân như, do lý ấy, nên vì tâm
có trụ tức không thể chứng đắc. Tụng nêu:
Không
trí, cũng như tối
Nên
trí tối hoặc sáng
Chủ
đối cùng chỗ trị
Được
mất đều hiện tiền.
Cũng
như kẻ tối tăm, là cùng với nghĩa tối tăm tương tợ, do
đấy, dùng tối tăm để so sánh với kẻ không hiểu biết.
Dùng ánh sáng mặt trời để ví cho người đồng có trí,
có mắt, như văn đã nêu đủ, nên nói:
Chủ
đối cùng chỗ trị
Được
mất đều hiện tiền.
Theo
chỗ ứng hợp, do người kia có mắt, nên hiển bày được
xem là chủ thể đối trị. Đêm dài đã sáng rồi, là làm
rõ việc phá trừ đối tượng được đối trị là bóng tối
đã lui. Mặt trời sáng tỏ đã xuất hiện, là hiển bày,
chủ thể đối trị hiện tiền. Ánh sáng mặt trời đã tỏa
chiếu, thấy rõ các sắc, tượng. Văn tiếp sau muốn nói về
sự việc gì? Tụng nêu:
Do
hành đúng như thế
Đạt
lượng phước như vậy
Nơi
pháp kẻ hành đúng
Nghiệp
dụng nay sẽ nói.
+ Do
hành đúng như thế: Đây là nêu rõ về người hành đúng.
Tụng nêu:
Nơi
người có ba loại
Thọ
trì, tụng, diễn nói.
Người
có 3 loại:
1.
Thọ trì.
2.
Đọc tụng.
3.
Diễn nói.
+ Nói
thọ trì: Là người duy trì pháp.
+ Đọc
tụng: Là dựa vào đa văn mà nói. Tuy không thể nhận giữ,
nhưng do có thể đọc tụng, nên cũng thuộc về đa văn.
+ Nghĩa
hành đúng: Tức là đạt được đủ khắp nghĩa ấy. Tụng
nêu:
Nghĩa
đạt do kẻ khác
Cùng
nghe, nghĩ của mình.
Nghĩa
đạt được, nhân từ nơi kẻ khác và chính mình. Thế nào
là từ nơi kẻ khác? Vì sao do chính mình? Là do nghe, nghĩ.
Như thứ lớp, từ nơi kẻ khác, cùng do chính mình mà đạt
được: Là căn cứ vào nghĩa đạt được khắp. Đây tức
là nghĩa hành đúng của người. Tụng nêu:
Đây
là thành thục nội
Còn
thành hữu tình khác
Do
sự khi tánh lớn
So
phước, phước hơn hẳn.
+ Thọ
trì v.v… ấy, chỉ là thành thục bên trong nơi chính mình.
+ Còn
thành hữu tình khác: Tức là đối với kẻ khác, rộng vì
họ thuyết giảng đúng đắn. Đạt lượng phước như vậy:
Là hiển bày về số lượng phước kia có sai biệt.
+ Do
sự khi tánh lớn, So phước, phước hơn hẳn: Đây là phước
do xả bỏ thân mạng, so với phước do xả bỏ thân ở trước.
Do sự lớn nên có sai biệt, cùng do thời gian lớn. Vì trong
một ngày hãy còn dùng rất nhiều thân mạng mà hành bố thí.
Lại trải qua nhiều thời gian, đối với pháp đã hành đúng,
tức nghiệp dụng nay sẽ nói. Thế nào là nghiệp dụng của
hành kia? Tụng nêu:
Không
cảnh, tánh, riêng tánh
Chủ
dựa là đại nhân
Cùng
khó có thể nghe
Nhân
vô thượng tăng trưởng.
Nếu
chỉ giữ chánh pháp
Nơi
chốn dựa thành vật
Dứt
trừ các nghiệp chướng
Mau
đạt trí tánh thông.
Thế
diệu, sự viên mãn
Quả
báo rất tôn quý
Nơi
pháp ấy tu hành
Nên
biết đạt nghiệp kia.
+ Kinh
nói: Không thể tư duy: Đây tức làm rõ không phải là phàm
tình, so sánh, lường xét về cảnh giới của đối tượng
hành.
+ Nói
không thể nêu bày: Đó là hiển bày về phước đã đạt
được của tánh riêng. Đối với hàng Thanh-văn là tánh không
chung.
+ Nói
vì tạo lợi ích cho các hữu tình phát khởi, hướng tới
Thừa tối thượng tối thắng, nên thuyết giảng: Tức làm
rõ pháp môn nầy là giáo pháp Đại thừa, chỗ dựa của bậc
Đại nhân, gọi là hành của Đại thừa, Tối thượng thừa,
gọi là Tối thắng thừa, nên kẻ ưa thích nẻo thấp kém
không muốn nghe. Đây là nêu rõ về tánh khó được nghe, người
nghe khó đạt được, do có thể thành tựu các nhóm phước
không thể lường tính. Đó là hiển bày về nhân vô thượng
tăng trưởng, giống phước tăng trưởng.
+ Ở
đây văn nói không thể suy xét, không thể nêu bày: Nghĩa là
do không phải là lường, không phải là xét, như thứ lớp
nên biết.
+ Nên
biết người ấy tức là dùng vai gánh vác: Đây là làm rõ
người kia có thể nắm giữ pháp, do nắm giữ pháp tức là
nắm giữ Bồ-đề.
+ Nơi
chốn hiện có, nên dùng hương hoa cúng dường: Đây là nêu
rõ về xứ của chỗ dựa, để xác nhận vật chứa đựng
thắng diệu. Do bị hủy nhục: Tức nghiệp hiện có đáng
lẽ phải sinh nơi nẻo ác, đều được tiêu trừ hết. Đấy
là làm rõ về nghiệp chướng đã được dứt trừ sạch.
+ Nói
đây là sự thiện: Tức lúc gặp phải sự hủy nhục, nêu
rõ người nhẫn nhục có tánh phước đức, nên nói đấy
là sự thiện.
+ Nơi
trước thời Đức Phật Nhiên Đăng, cúng dường chư Phật,
phước đức đạt được, so với người ở đời sau cùng
đối với pháp môn nầy, có thể thọ trì v.v…, thì phước
đạt được là nhiều hơn: Đây là nêu rõ về việc thành
tựu được trí tánh thông, tư lương phước đều viên mãn.
Cho đến nên biết kinh nầy là không thể nghĩ bàn: Đó là
hiển bày về quả báo không thể lường xét. Tức là thế
diệu, sự viên mãn, quả báo rất tôn quý. Nghĩa là đối
với Hộ-thế, Đế-thích, Bà-la-môn, mọi viên mãn hiện có
đều được thâu giữ.
+ Nói
cuồng loạn: Nên biết đây là nhân của tâm cuồng.
+ Nói
quả báo không thể lường xét: Tức hai thứ tánh nhiều, tánh
thù thắng ấy, đều không phải là chỗ lường xét của phàm
tình. Đấy là đối với pháp hành đúng, nên có thể an trụ
nơi các đức như vậy. Do đó, gọi đấy là công dụng của
quả báo nơi hành nghiệp đúng đắn.
Lại
nữa, như ba thứ Hỏi - Đáp ở trước, ở đây lại hỏi
nữa, nghĩa có gì sai khác? Đáp:
Do
lúc tự thân hành
Xem
mình là Bồ-tát
Gọi
đó là chướng tâm
Trái
với tâm không trụ.
+ Diệu
Sinh! Thật không có pháp nào có thể gọi là Bồ-tát: Nếu
không có Bồ-tát, thì vì sao Đức Như Lai, ở nơi Phật Nhiên
Đăng hành trì hạnh Bồ-tát?
Đáp
nghi nầy, nói: Thật không có pháp, để Như Lai ở nơi Đức
Phật Nhiên Đăng v.v… Đây là nêu rõ về nghĩa gì? Tụng
viết:
Thọ
ký nơi thời sau
Nhiên
Đăng, hành không hơn
Bồ-đề,
hành kia đồng
Không
thật, do nhân tạo.
Ở
đây ý nói: Ta từ xưa, ở nơi trụ xứ của Phật Nhiên Đăng,
không phải là hành trì hành Bồ-tát thắng thượng. Tức Ta
thời xưa, lúc hành trì thật không có pháp để ở bên Đức
Phật ấy chứng đắc chánh giác. Nếu chứng đắc chánh giác,
tức Đức Phật ấy đã không thọ ký cho Ta thời sau thành
Phật. Ý ở đây nói: Lúc hành trì vào thời ấy, tự cho là
Ta sẽ thành Phật. Nếu nói Bồ-đề không có, thì Phật cũng
là không, tức bác bỏ toàn bộ là không. Đức Phật vì trừ
bỏ vấn nạn ấy, văn viết: Diệu Sinh! Nói Như Lai, tức là
tên gọi khác của thật tánh, chân như. Tức nghĩa không điên
đảo, gọi là thật tánh. Nghĩa không biến đổi, gọi là
chân như.
Diệu
Sinh! Nếu có người nói Như Lai chứng đắc Chánh đẳng giác
vô thượng. Đây là trở lại bác bỏ toàn bộ thật không,
có Chánh đẳng Bồ-đề Vô thượng. Đáp lại vấn nạn nầy,
nói: Nầy Diệu Sinh! Như Lai hiện có pháp của chánh giác.
+ Đây
tức là phi thật phi vọng: Đấy có ý gì? Rõ ràng là lý của
chân như là đối tượng được chứng đắc của Phật. Chúng
tức không phải là thật, vì từ nhân sinh khởi. Nghĩa của
các tướng hữu vi là tướng tích tụ. Chúng tức không có
tướng như sắc v.v… Tụng nêu:
Không
tướng kia là tướng
Nên
hiển chẳng là vọng
Do
pháp là pháp Phật
Đều
không có là tướng.
Nghĩa
là ở đây không có tướng như sắc, thanh v.v… kia. Tướng
như sắc v.v… không là tự tướng của chúng. Do đấy nên
viết:
Không
tướng kia là tướng
Nên
hiển chẳng là vọng.
+ Vì
thế, Đức Như Lai nói: Tất cả pháp tức là pháp Phật. Đây
là làm rõ về nghĩa gì? Do Đức Như Lai đã chứng đắc pháp
ấy.
+ Vì
pháp là pháp Phật, đều không phải là tướng hữu vi: Đó
là làm rõ dùng vô vi làm thể, nêu bày tất cả pháp lấy
chân như làm tự tánh. Đây mới chính là đối tượng được
giác ngộ của Phật. Thế nên, tất cả pháp gọi là pháp
Phật. Do đấy, sắc v.v… không thể mang giữ tướng của
tự thể kia. Các pháp như sắc, thanh v.v… kia hiện có, đều
không là pháp. Do không là pháp, vì vậy ở đây xác nhận
pháp kia tức là hoàn toàn có thể nắm giữ tướng không phải
có. Dụ về trượng phu là làm rõ về điều gì? Tụng nêu:
Là
do Pháp thân Phật
Nên
biết dụ Trượng phu
Thân
tròn đủ, không chướng
Là
tánh hiện đủ khắp.
Cùng
đạt được thể lớn
Cũng
gọi là thân lớn
Không
có thân là có
Nói
tạo kia không thân.
Hai
chướng phiền não và sở tri không còn, nên gọi là thân tròn
đủ.
+ Nói
hiện đủ khắp: Là nghĩa hành trì khắp, hiện hữu khắp
các xứ nên gọi là thân đầy đủ:
Cùng
đạt được thể lớn
Cũng
gọi là thân lớn.
+ Đây
là hành hiện có khắp: Nên biết tức là tánh của chân như.
Ở trong các pháp không có tánh khác, nên gọi:
Thân
phi hữu là có
Nói
tạo kia không thân.
Tức
Đức Như Lai nói là phi thân, do đấy gọi là thân đầy đủ.
+ Thân
lớn: Đây là nêu bày về nghĩa gì? Do phi hữu làm thân nên
gọi đấy là phi thân, tức tánh của chân như. Do vì không
thân, thế nên gọi đấy là thân đầy đủ, thân lớn.
+ Nếu
nói không có Bồ-tát, thì chánh giác cũng không có. Đối tượng
được giác ngộ cũng không. Cũng không chúng sinh khiến nhập
Niết-bàn, cũng không làm nghiêm tịnh quốc độ của chư Phật,
tức đâu có chỗ hành tác để các Bồ-tát v.v…, khiến các
chúng sinh nhập nơi viên tịch, lại tác ý làm thanh tịnh cõi
Phật? Vì đáp vấn nạn ấy nên có phần văn tiếp sau. Đây
là nêu rõ về nghĩa gì? Tụng nêu:
Chẳng
rõ nơi pháp giới
Tâm
tạo độ hữu tình
Cùng
đất ruộng thanh tịnh
Đấy
gọi là dối vọng.
Hỏi:
Nếu nói tâm ấy là dối vọng, vì đấy không gọi là Bồ-tát.
Nếu như thế thì do đâu được mang tên?
Đáp:
Nầy Diệu Sinh! Nếu có người tin hiểu tất cả pháp là vô
tánh. Tất cả pháp là vô tánh: Văn ấy nêu như thế là nhằm
hiển bày về nghĩa gì? Đáp viết:
Nơi
Bồ-tát, chúng sinh
Các
pháp không tự tánh
Nếu
hiểu, tuy không Thánh
Gọi
Thánh tuệ, nên biết.
Đấy
là làm rõ về nghĩa gì?
Nói
pháp không tánh, pháp không tánh: Đây là căn cứ vào pháp
hiện có của chúng sinh cùng Bồ-tát, đối với chúng nếu
có thể tin hiểu, hoặc thế gian, xuất thế gian, tức là phàm
phu cùng Thánh, đều gọi là Bồ-tát. Do đấy liền thành quyết
định, chấp thuận có hai loại Bồ-tát Phú tục và Thắng
nghĩa. Đây tức làm rõ về chỗ tùy thuận ấy, nên nói hai
lần Bồ-tát, Bồ-tát.
Văn
của kinh ở trước nói: Như Lai là chỗ hiển bày của vô
đắc, nghĩa trở thành sáng rõ. Nếu như thế, thì đâu có
Thánh nhân kia hoàn toàn không được thấy? Vì đáp lại vấn
nạn đó, nên cho là có năm thứ mắt. Để làm rõ nghĩa ấy,
tụng nêu:
Tuy
không thấy các pháp
Đây
chẳng phải không mắt
Phật
gồm đủ năm thứ
Do
nơi cảnh hư vọng.
Đấy
vì sao không là hư vọng? Vì đáp vấn nạn ấy, nên trước
là nêu dụ xong. Các chúng sinh kia, với vô số tánh, tâm đó
lưu chuyển, Như Lai đều nhận biết, nói rộng như thế. Ở
đây là nêu rõ về gì? Nói pháp kia không phải là vọng thấy,
chỉ do cảnh hư vọng. Thế nào là cảnh hư vọng? Nghĩa là
vô số thức vọng. Tụng nêu:
Các
thứ tâm lưu chuyển
Lìa
nơi các niệm xứ
Tâm
không giữ, luôn chuyển
Nên
nói là hư vọng.
Tức
là các thứ thức, có sáu thức khác nhau, lại là hư vọng.
Do đâu gọi thức là tâm lưu chuyển? Kinh nêu: Như Lai nói
là không Đà-la: Đây là làm rõ chỗ đã lìa tánh của niệm
xứ. Do niệm xứ ấy là nơi chốn nắm giữ chúng. Pháp kia
nếu không, tức là không nắm giữ. Đà-la, Nam-a-la, Ả-đa-la,
ba tên gọi ấy cùng nêu bày hai nghĩa, đều được gọi là
Nắm giữ, cũng có nghĩa là Lưu chú (Chảy tràn). Do không nắm
giữ, nên tâm tức lưu tán.
+ Nói
không nắm giữ: Là hiển bày về duyên của thường chuyển.
Đã không nắm giữ nên hiện rõ sự luôn chuyển biến ấy,
là tánh hư vọng.
+ Vì
sao: Vì do có tâm quá khứ v.v…, không thể nói được. Gọi
là tâm quá khứ, vị lai, vì là tánh của quá khứ, vị lai,
là không thể thủ đắc. Về hiện tại: Tức là “Biến kế
sở chấp”, tự tánh không phải là có. Đó là làm rõ về
tâm lưu chuyển, là đối tượng duyên của tánh thức hư vọng,
không có tánh của ba đời. Lại có ý gì khi nói dụ về nhóm
phước? Đáp viết:
Nên
biết trí ấy giữ
Phước
mới không hư vọng
Hiển
bày nhân của phước
Lại
nêu dụ lần nữa.
Đây
là nói về nghĩa gì? Tâm đã lưu chuyển, là tánh của vọng
dối, nên nhóm (số lượng) phước hiện có, cũng đều thành
hư giả. Đấy đã là vọng, thì sao thành nơi thiên? Đã có
nghi sâu, thì lý cần làm sáng tỏ. Đáp: Tâm lưu chuyển có
thể là vọng. Gọi là nhóm phước, thể không là hư giả,
do có trí chánh giác đã nắm giữ. Vì sao hiển bày đó là
tánh nắm giữ. Như kinh nói: Nầy Diệu Sinh! Nếu nhóm phước
ấy, Như Lai tức không nói là nhóm phước. Đây có nghĩa sâu
xa gì? Do năm thủ uẩn, thể là hư vọng. Nếu nhóm phước
ấy là thủ uẩn, Như Lai tức không nói nhóm phước ấy là
tánh của nhóm phước.
Không
nói đó là nghĩa nơi xứ nắm giữ của trí. Nếu nói Như
Lai là chỗ hiển bày của không phải tích tập, tạo tác,
vì sao Như Lai nói có các tướng cùng các vẻ đẹp kèm theo?
Vì trừ bỏ vấn nạn đó, nên nói: Không nên dùng sắc thân
viên mãn cùng tướng đầy đủ để quán Như Lai.
+ Nói
sắc thân: Là nghĩa gắn liền với tướng tốt.
HẾT
- QUYỂN 2
LUẬN
THÍCH KINH NĂNG ĐOẠN KIM CƯƠNG
BÁT NHÃ BA
LA MẬT ĐA
QUYỂN 3
+ Như
Lai nói đấy là tướng đầy đủ, đó không phải là tướng
đầy đủ, do đấy nói là tướng đầy đủ. Đây là có ý
gì? Tụng nêu:
Tức
nơi Chân Pháp thân
Không
tướng tốt viên mãn
Cũng
không là tướng đủ
Tánh
không thân, nên biết.
Nơi
Pháp thân không riêng
Không
Như Lai, không hai
Lại
nói tướng đủ kia
Do
hai thể đều không.
Nói
Pháp thân thật không là sắc thân của tướng hảo viên mãn,
nên biết cũng không là các tướng đầy đủ, vì chúng không
có tánh của thân. Đó gọi là nghĩa của Pháp thân không có
tướng đầy đủ. Cũng không phải là Như Lai không có hai
thứ ấy, tức sắc thân viên mãn cùng tướng đầy đủ. Do
hai thứ đó không lìa nơi Pháp thân, thế nên Như Lai có tướng
tốt kia. Vì đấy, nên nói lần nữa: Sắc thân viên mãn cùng
tướng đầy đủ. Do cả hai đều không, thế nên hai thứ
ấy cũng nói là không.
Nói
đây không phải là viên mãn, thì đây cũng không phải là
tướng đầy đủ, cũng nói là có, do nói sắc thân viên mãn
cùng nói tướng đầy đủ. Đây là có ý gì? Do Pháp thân
kia không có tướng hảo ấy, vì thế gọi đấy là Như Lai.
Sắc
thân viên mãn cùng với tướng đầy đủ, do so với thân kia
là không cùng lìa, nên tánh của Pháp thân tức không như thế.
Nhưng Pháp thân không phải là tự tánh ấy.
Nếu
nói không nên dùng sắc thân viên mãn cùng thân của tướng
đầy đủ để quán Như Lai, thì vì sao Như Lai có chỗ thuyết
pháp. Vì đáp lại vấn nạn ấy, ở đây tức do sự chấp
giữ sai lạc mà hủy báng Như Lai, vì không thể hiểu được
ý nghĩa do Như Lai đã giảng nói. Tụng nêu:
Như
Lai nói cũng không
Nói
hai là chỗ chấp.
Do
ý gì nói hai lần: Thuyết pháp. Thuyết pháp? Tụng nêu: Nói
hai là chỗ chấp. Thế nào là 2?
1.
Là văn.
2.
Là nghĩa.
Sở
dĩ như thế, vì văn nêu: Không pháp có thể thuyết giảng.
Đó gọi là thuyết pháp chăng? Đáp:
Do
không lìa pháp giới
Nói
cũng không tự tánh.
Do
không lìa pháp giới, vì ngoài pháp giới ấy không có tự
tánh của việc thuyết pháp có thể đạt được.
Nếu
nói không có Đức Thế Tôn là chủ thể thuyết giảng, thì
pháp của đối tượng được thuyết giảng cũng lại không
lìa nơi Pháp thân, nên thành không có. Như vậy, pháp thâm
diệu làm sao có người kính tin? Nhằm dứt trừ vấn nạn
ấy, nên đáp:
Năng
thuyết, sở thuyết tuy thâm diệu
Nhưng
cũng chẳng phải không kính tin.
* Kinh
viết: Diệu Sinh! Phi chúng sinh kia, là phi phi chúng sinh: Đây
có ý gì? Tụng nêu:
Do
phi chúng sinh, phi phi sinh
Phi
Thánh nên tánh Thánh tương ưng.
+ Các
hữu tình có thể sinh kính tin: Vì họ là phi chúng sinh. Do
các chúng sinh khác không cùng với tánh Thánh tương ưng, tức
cùng với tánh phàm phu tương ưng.
+ Phi
phi chúng sinh: Là do cùng với tánh Thánh tương ưng. Nghĩa ở
đây, tức do chúng đối chiếu với tánh phàm phu, không là
chúng sinh. Do so với tánh Thánh nhân, nên là phi phi chúng sinh.
Vì sao? Vì chúng sinh, chúng sinh, Như Lai nói là phi chúng sinh.
Đây là căn cứ nơi tánh của hàng phàm phu ngu, nhỏ.
+ Do
đấy, nói là chúng sinh: Đây là căn cứ nơi tánh của Thánh
nhân. Nếu nói Như Lai từng không có pháp là đối tượng
được nhận biết rõ, vì sao lìa chúng, càng về sau, chánh
tri theo thứ lớp, gọi là Chánh đẳng giác vô thượng? Để
đáp lại vấn nạn ấy, tức chẳng phải là có pháp để
có thể giác ngộ, mới gọi là Chánh giác Vô thượng. Tụng
nêu:
Ít
pháp nên không có
Vô
thượng giác, nên biết
Do
pháp giới không tăng
Tánh
thanh tịnh, bình đẳng
Cùng
phương tiện vô thượng.
Ở
đây, cho đến không có một chút pháp nào có thể vượt hơn,
nên gọi là vô thượng. Lại nữa, pháp giới không có tăng,
vì pháp ấy bình đẳng, nên gọi là vô thượng thượng, vì
tánh trên là không. Lại nữa, Pháp thân của Như Lai thanh tịnh,
bình đẳng, nên pháp ấy là luôn như nhau, không có một tí
tăng, nên gọi là vô thượng. Lại nữa, pháp ấy, tự tướng
là vô ngã. Đây tức là cao. Tánh cao là không, nên gọi là
vô thượng.
Lại
nữa, đối với các phương tiện cũng là vô thượng. Các
pháp thiện hiện có đều viên mãn, nên gọi là vô thượng.
Ngoài Bồ-đề ấy ra, nơi các pháp thiện không viên mãn, tức
phương tiện đó thật sự là hữu thượng. Đây chính là
chỗ Như Lai nói là phi pháp.
+ Do
đấy gọi là pháp thiện: Ở đây có ý gì? Tụng nêu:
Do
tánh lậu, phi pháp
Vì
thế chẳng pháp thiện
Do
đấy gọi là thiện.
Do
tánh hữu lậu, nên chúng không thể nắm giữ tướng hữu
lậu, tức không thể duy trì. Do đấy gọi là pháp thiện,
tức vì tánh vô lậu quyết định có thể nắm giữ là tánh
thiện.
+ Nếu
cần dùng pháp thiện đạt được Đại Bồ-đề, thì mọi
pháp thuyết giảng hiện có cũng không thể đạt được Bồ-đề,
vì là tánh vô ký. Vì ngăn dứt vấn nạn ấy, nên lại nói
về phước có sai biệt để đáp. Pháp được nêu giảng,
giả như khiến là vô ký, thì chung cuộc vẫn có chỗ đạt
được. Tụng nêu:
Nói
pháp tuy vô ký
Không
chẳng được, nên biết.
Do
không phải lìa pháp ấy mới có thể đạt Bồ-đề, nên biết
dựa vào đấy Bồ-đề mới khế hợp. Tụng nêu:
Do
một pháp bảo nầy
Hơn
vô lượng báu kia.
Nên
ở đây tuyên thuyết pháp bảo, so với vô biên các báu như
vô số núi Diệu Cao ở trước, là hiển bày về phước có
sai biệt. Giả như chia ra hàng trăm phần, thì cũng không thể
bằng một, cho đến nói rộng. Tụng nêu:
Nơi
các loại toán, thế
Nhân
cũng có sai khác
Tầm
tư nơi thế gian
Dụ
chỗ không sánh kịp.
Đây
là nói về nghĩa gì? Tức đem phước ấy so với nhóm phước
ở trước. Là nói về các loại toán số, thế phần, nhân
nơi bốn thứ sai biệt. Tìm xét khắp thế gian rồi, cũng không
một dụ nào có thể so sánh.
+ Nói
do toán số sai biệt: Là khởi đầu từ giả phân làm trăm
phần, cho đến hoặc là toán phần, cũng không làm rõ chỗ
sai khác.
+ Chỉ
nói về tính toán: Đây tức nên biết là thâu gồm chung. Ngoài
ra, còn kể đến các thứ toán số hiện có.
+ Hoặc
là thế phần: Do thế lực ấy có sai biệt. Như người mạnh
yếu, sự việc không như nhau.
+ Hoặc
là tỷ số: Do phẩm loại sai khác. Nói loại phước nầy vốn
không so đối về số lượng với loại phước ở trước.
Như kẻ sang – hèn không cùng số đối chiếu.
+ Nhân:
Là nêu rõ về nhân ấy. Quả cũng không can dự, nên nói kia
cũng không thể cùng với đây làm nhân. Nơi thế gian nầy
hoàn toàn không có dụ để có thể so đối với phước. Do
phước ở trước ấy so với phước nầy thật là giảm thiểu,
đều không đủ nói, nên viết là: Cho đến thí dụ cũng không
thể đạt được.
+ Nếu
nói pháp kia, tánh tướng bình đẳng, nên không bình đẳng,
tức không có chủ thể hóa độ, đối tượng được hóa
độ. Vì sao Đức Như Lai nói là giải thoát hữu tình? Vì
nhằm loại trừ vấn nạn ấy nên khởi phần văn sau. Là để
hiển bày về nghĩa gì? Tụng nêu:
Pháp
giới là bình đẳng
Phật
không độ chúng sinh
Nơi
các tên cùng nhóm
Không
ở ngoài pháp giới.
Phàm
gọi là hữu tình, tức nơi uẩn xứ kia, do danh cùng uẩn,
không ở ngoài pháp giới. Tức tánh của pháp giới ấy là
bình đẳng. Vì thế, không từng có một chúng sinh nào có
thể là đối tượng độ thoát của Như Lai. Đây tức vì
sao nên có ngã chấp? Đó là có ý gì? Nếu nói chỉ giải
thoát mỗi năm uẩn ấy mà thôi, thì đấy tức là có sự
thừa nhận chúng sinh. Do như thế nên tụng nêu:
Nếu
khởi nơi pháp chấp
Cùng
ngã chấp hơn, đồng
Định
chấp thoát hữu tình
Là
không chấp, vọng chấp.
Như
viết: Nầy Diệu Sinh! Ngã chấp, Như Lai nói là phi chấp. Vọng
chấp, Như Lai nói là phi sinh. Là nghĩa không thể sinh khởi
pháp Thánh. Nếu nói không nên dùng tướng đầy đủ để
quán Như Lai, vì không phải là tự tánh kia. Do là tự tánh
của Pháp thân. Nhưng Pháp thân, tự tánh của Như Lai ấy,
có thể dùng tướng đầy đủ để so sánh, nhận biết. Có
người tạo nên vấn nạn như thế. Vì dứt trừ ý nghi, nên
dấy khởi phần văn tiếp sau. Là nhằm làm rõ về nghĩa gì?
Tụng nêu:
Chẳng
nên dùng thể sắc
Chỉ
Pháp thân Như Lai
Chớ
khiến Chuyển luân vương
Cùng
Như Lai ngang nhau.
Đây
tức chỉ cho phước của tướng báo, cũng gọi là tướng
đầy đủ. Do kia thành tựu đây, tức nhờ vào diệu lực
của phước nên đạt được Bồ-đề. Có người nói như
vầy: Đây tức Đức Như Lai dùng tướng đầy đủ kia để
hiện chứng Chánh giác Vô thượng. Vì dứt bỏ ý ấy, nên
nói: Không nên dùng tướng đầy đủ v.v… Là nhằm làm rõ
về gì? Tụng nêu:
Tức
quả báo tướng đủ
Phước
viên mãn không nhận
Có
thể tạo Pháp thân
Do
phương tiện, tánh khác.
Do
chân Pháp thân là tự tánh của trí, so với thể tánh của
phước kia là không đồng. Hai tụng nầy, chính là hiển bày
về nghĩa thế nào? Tụng nêu:
Nếu
dùng sắc thấy Ta
Dùng
âm thanh tìm Ta
Người
kia khởi cần tà
Không
thể được thấy Ta.
Nên
quán pháp tánh Phật
Tức
Pháp thân Đạo sư
Pháp
tánh, tức khó biết
Kẻ
kia không thể tỏ.
Trong
hai tụng ấy, về nghĩa như đã nói. Tụng nêu:
Chỉ
thấy sắc, nghe tiếng
Người
ấy chẳng biết Phật
Pháp
thân, chân như ấy
Chẳng
phải cảnh giới thức.
Ý
của văn nầy là nêu rõ, không nên dùng hai thứ sắc, thanh
để quán Như Lai. Do đó phàm phu không thể thấy. Đây là
thế nào? Tức người kia khởi tinh tấn sai lạc (Cần tà).
Là nói phàm phu đó vọng khởi tinh tấn sai lạc, không dựa
nơi chánh đạo, để cầu thấy Như Lai.
Đây
gọi là pháp tánh, tức là chân như.
Nếu
nói phước không chứng đắc Bồ-đề, thì đấy tức nghiệp
phước của Bồ-tát, quả đó nên đoạn. Vì giải thích nghi
vấn ấy, nên có phần văn tiếp sau.
Nói
tánh của phước ấy, tuy không thể tự mình tạo nên xứ
giác ngộ, như tụng nêu:
Phước
kia không hề mất
Quả
báo không đoạn dứt
Được
nhẫn cũng không đoạn
Do
đạt không cấu nhiễm.
Lại
luận về nhân phước
Vì
đấy nêu dụ kia
Phước
ấy không có báo
Chánh
nhận, không nhận vượt.
Do
đấy là tánh tư lương của trí kia. Lại còn là thế nào?
Tức lại ở nơi phước đó đã nêu bày về dụ chăng? Nên
nói:
Được
nhẫn cũng không đoạn
Do
đạt không cấu nhiễm
Lại
luận về nhân phước
Vì
đấy nêu dụ kia.
Lại
có nghi vấn: Đã đắc pháp Nhẫn vô sinh, nên trí chẳng sinh.
Các phước của Bồ-tát đều nên đoạn dứt. Vì hiển bày
phước không đoạn dứt, lại thanh tịnh tột cùng, tức phước
đạt được đã nhiều, quả báo cũng hơn hẳn. Ở nơi pháp
không sinh, chứng đắc vô tánh. Có hai thứ vô tánh. Do thể
tánh của hai thứ ấy không sinh.
* Kinh
nói: Nầy Diệu Sinh! Nên nhận lấy đúng, không nên nhận lấy
vượt quá.
Thế
nào là nhận lấy đúng, không nên thọ nhận vượt quá?
Đáp:
Do phước kia không báo, nên thọ nhận đúng, không vượt quá.
Phàm các phước hiện có, chiêu cảm quả báo, khiến đáng
chán bỏ, nên biết sự thọ nhận ấy là nhận lấy vượt
quá, như vượt quá đường chánh mà đi vào đường hiểm.
Nhưng phước kia không chiêu cảm quả báo, do đó, chỗ thọ
nhận như vậy là nhận lấy đúng đắn, không phải là vượt
quá.
Hỏi:
Nhóm phước của Bồ-tát đã không chiêu cảm báo, thì quả
đạt được, làm sao có thể nhận biết?
Đáp:
Phước
kia tạo quả hóa
Tạo
lợi ích hữu tình
Sự
ấy do tự nhiên
Thành
Phật, hiện các phương.
Đến,
đi cũng là hóa
Chánh
giác luôn chẳng động
Nơi
xứ pháp giới kia
Chẳng
một, khác nên biết.
Chư
Phật, Thế Tôn hiện các thứ biến hóa, không phải Như Lai
kia hoặc đến hoặc đi v.v…, nên nói:
Sự
ấy do tự nhiên
Thành
Phật, hiện các phương
Đến,
đi cũng là hóa
Chánh
giác luôn chẳng động.
Vì
hiển bày về nghĩa đó, nên sinh khởi phần văn sau.