VII
PHẨM
TỨ TƯỚNG THỨ BẢY
(Hán
bộ trọn quyển thứ tư và thứ năm)
.
Ðức
Phật lại bảo Ca Diếp Bồ Tát: "Vị Ðại Bồ Tát phân biệt
khai thị Ðại Bát Niết Bàn có bốn tướng nghĩa: một là
tự chánh, hai là chánh tha, ba là hay tùy vấn đáp, bốn là
khéo hiểu nghĩa nhơn duyên.
Thế
nào là "Tự Chánh" ? Nếu đức Như Lai thấy các nhơn duyên
mà có chỗ đáng dạy bảo. Như có Tỳ Kheo thấy cụm lửa
lớn bèn nói rằng: thà rằng tôi tự ôm lấy cụm lửa nầy,
trọn chẳng dám ở nơi chỗ đức Như Lai giảng thuyết mười
hai phần kinh và tạng bí mật, mà hủy báng là của ma Ba Tuần
nói chứ không phải Phật. Thà lấy dao bén cắt đứt lưỡi
mình, không bao giờ nói Như Lai, Pháp và Tăng là vô thường.
Hoặc nghe người khác nói như vậy tôi cũng không tin nhận
mà còn thương xót cho kẻ ấy.
Như
Lai, Pháp và Tăng chẳng thể nghĩ bàn, nên thọ trì như vậy.
Tự xem thân mình như cụm lửa. Ðây gọi là Tự Chánh".
Thế
nào là "Chánh Tha" ? Lúc nọ Phật đang thuyết pháp, có một
người nữ vào l¬ Phật rồi ngồi qua một bên. Ðức Thế
Tôn biết mà cố ý hỏi rằng: Có phải nàng vì quá thương
con, mà mớm cho con ăn nhiều chất bơ, rồi không biết có
tiêu hoá hay không tiêu hoá? - Người nữ liền bạch Phật:
"Lạ lùng thay! đức Thế Tôn biết được tâm niệm của con.
Bạch Thế Tôn! Sớm mai này tiện nữ cho con ăn nhiều chất
bơ, lòng tiện nữ sợ rằng không tiêu hoá được, nó sẽ
phải bệnh. Ngưỡng mong đức Như Lai chỉ dạy cho." - Phật
dạy: "Con nàng ăn thức ấy đã tiêu hoá tốt, nó sẽ được
khoẻ mạnh". Người nữ nghe đức Phật nói, thời vui mừng
hớ hở và thốt lời rằng: "Vì đức Như Lai nói đúng như
thiệt nên con vui mừng".
Ðức
Thế Tôn vì muốn điều phục các chúng sanh, mà khéo phân
biệt nói tiêu hay chẳng tiêu, cũng nói các pháp vô ngã, vô
thường. Nếu Phật nói "thường" trước, các đệ tử sẽ
cho rằng pháp nầy đồng với ngoại đạo mà không chịu tin
theo, vì hàng thanh văn đệ tử sẽ chẳng tiêu được pháp
thường trụ, nên Như Lai trước dạy pháp "khổ", "vô thường".
Khi mà hàng thanh văn đệ tử đã đầy đủ công đức, đủ
sức tu tập kinh pháp đại thừa, Như Lai ở kinh nầy nói sáu
vị: Một là "Khổ", vị chua; hai là "vô thường", vị mặn;
ba là "vô ngã", vị đắng; bốn là "lạc", vị ngọt; năm là
"ngã", vị cay; sáu là "thường", vị lạt.
Trong
thế gian kia có ba vị: vô thường, vô ngã, và khổ, phiền
não làm củi, trí huệ làm lửa, do các nhơn duyên đó mà thành
cơm niết bàn tức là "thường, lạc và ngã", làm cho các đệ
tử đều được nếm mùi ngọt ngon.
Phật
lại bảo người nữ rằng: "Nếu nàng có sự duyên muốn đến
xứ khác, thời phải đuổi đứa con trai hung ác ra khỏi nhà,
rồi đem gia nghiệp giao cho đứa con trai hiền lành." Người
nữ bạch Phật rằng: "Thiệt đúng như lời đức Thế Tôn
dạy, gia nghiệp nên giao cho đứa con hiền, chớ chẳng nên
giao cho đứa con dữ." Phật nói: "Như Lai cũng vậy, lúc nhập
niết bàn, đem tạng pháp vô thượng phó chúc cho các vị Bồ
Tát, chớ không giao cho hàng Thanh văn, vì hàng Thanh văn tưởng
là Như Lai thiệt diệt độ. Còn các vị Bồ Tát thời nhận
rằng Như Lai thường trụ không biến đổi. Mà quả thiệt
Như Lai không có diệt độ. Như lúc nàng xa nhà chưa trở về,
đứa con ác kia bèn nói là nàng đã chết mất rồi, còn đứa
con hiền vẫn tin tưởng là nàng còn sống. Mà chính thiệt
thời nàng còn sống.
Nếu
có chúng sanh nào nhận rằng Phật là thường trụ không biến
đổi, phải biết nhà kẻ ấy thời là có Phật.
Ðây
gọi là Chánh Tha.
Thế
nào là Hay Tùy Vấn Ðáp? Nếu có người đến hỏi Phật rằng:
tôi phải làm thế nào không mất tiền của mà được gọi
là Ðàn Việt đại bố thí? Phật dạy: "Ðem tôi trai tớ gái
bố thí cho những bực Sa Môn, Bà La Môn thiểu dục tri túc
chẳng nhận chẳng chứa các vật bất tịnh. Ðem người nữ
thí cho vị tu phạm hạnh. Ðem rượu thịt thí cho người đã
dứt rượu thịt. Ðem thực phẩm phi thời thí cho người không
ăn phi thời. Ðem đồ trang sức thí cho người không trang sức.
Bố thí như vậy rất có danh tiếng, mà của tiền khỏi mất
hào ly."
Ðây
gọi là Hay Tùy Vấn Ðáp.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Với người ăn
thịt chẳng nên đem thịt đến cho. Vì con thấy người không
ăn thịt được công đức lớn."
Phật
khen: "Lành thay! Lành thay! Nay ông có thể khéo biết ý của
Như Lai. Bồ Tát hộ pháp phải như vậy.
Nầy
Ca Diếp! Bắt đầu từ ngày nay trở đi Như Lai không cho phép
hàng thanh văn đệ tử ăn thịt, nếu đàn việt đem đến
dưng thí, phải xem thịt ấy như thịt con mình".
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Tại sao đức Như
Lai không cho phép ăn thịt?"
Phật
dạy: "Nầy Ca Diếp! Luận về người ăn thịt thời dứt mất
giống đại từ".
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Duyên cớ gì ngày trước đức
Như Lai cho phép hàng Tỳ Kheo ăn ba thứ tịnh nhục?" Phật
dạy: "Nầy Ca Diếp! Ba thứ tịnh nhục ấy chỉ là theo việc
mà tạm chế thôi".
Ca
Diếp Bồ Tát lại bạch: "Bạch Thế Tôn! Duyên cớ gì mà
mười thứ bất tịnh nhẫn đến chín thứ thanh tịnh, Như
Lai lại chẳng cho phép?
Phật
nói: "Cũng là nhơn nơi sự mà lần lượt chế. Nên biết chính
là nghĩa đoạn nhục hiện nay".
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Cớ sao Như Lai khen ngợi ngư nhục
là món ăn ngon?"
Phật
dạy: "Như Lai cũng chẳng nói loài ngư nhục là món ăn ngon,
mà Như Lai vẫn nói mía, đường, gạo, tất cả thứ lúa,
bắp, sữa, bơ, dầu, là những thức ăn ngon.
Dầu
rằng Như Lai nói được chứa các thứ y phục, mà đều phải
hoại sắc, huống lại tham ưa nơi vị ngư nhục kia"
Ca
Diếp lại bạch Phật: "Ðức Như Lai nếu chế không được
ăn ngư nhục, thời những thứ sữa, bơ, dầu, v.v... và các
thứ y phục kiều xa gia, đồ bằng da thú, ngọc ngà, bồn
chậu bằng vàng bạc, cũng đều chẳng nên dùng".
Phật
dạy: "Nầy Ca Diếp! Chẳng nên có kiến chấp đồng với bọn
lõa thể ngoại đạo kia. Bao nhiêu giới cấm của Như Lai chế
ra đều có dị ý. Vì dị ý nên cho ăn ba thứ tịnh nhục.
Vì dị ý nên cấm ăn mười thứ thịt. Vì dị ý nên cấm
tất cả thứ thịt đều không được ăn, dầu là thịt của
con vật tự chết.
Nầy
Ca Diếp! Từ nay Như Lai cấm các đệ tử không được ăn
tất cả thứ thịt.Ữ
Nầy
Ca Diếp! Người mà ăn thịt, hoặc đi đứng nằm ngồi chúng
sanh nào nghe đến hơi thịt thời kinh sợ. Ví như người ở
gần sư tử, đi đến đâu, mọi người nghe mùi hôi của sư
tử đều kinh sợ. Như người ăn tỏi, không ai dám gần người
ấy vì tanh mùi tỏi. Kẻ ăn thịt cũng vậy, tất cả chúng
sanh nghe hơi thịt, thảy đều kinh sợ, nghĩ đến sự chết,
các loài cá trạnh, muôn thú cùng chim chóc, đều chạy tránh
xa, đều có quan niệm rằng người ấy là kẻ hại ta. Vì
thế nên Bồ Tát không ăn thịt, vì độ chúng sanh mà thị
hiện ăn thịt. Dầu thị hiện ăn thịt mà thật ra thời không
có ăn.
Nầy
Ca Diếp! Hàng Bồ Tát nầy còn không ăn những thức ăn thanh
tịnh, huống lại ăn thịt.
Sau
khi Như Lai nhập niết bàn, các bực tứ quả Thánh Nhơn đều
lần lượt nhập niết bàn. Sau khi chánh pháp diệt, trong thời
tượng pháp, sẽ có các Tỳ Kheo in tuồng trì luật, ít đọc
tụng kinh, tham ưa ăn uống, lo bồi bổ thân thể, y phục mặc
trên thân thô xấu hôi dơ, hình dung tiều tụy không có oai
đức, chăn nuôi bò dê vác củi gánh cỏ, tóc râu để dài,
đầu mặc cà sa mà như thợ săn, dầu ngó xuống đi chậm
rãi mà như mèo rình chuột. Thường tự xướng rằng ta chứng
được quả A La Hán, mang nhiều bệnh khổ nằm lăn trên phẩn
uế, ngoài thời hiện ra tướng hiền thiện, trong thời đầy
lòng tham sân như bà la môn, thọ phép câm, thiệt chẳng phải
Sa môn mà hiện tướng Sa môn, tà kiến xí thạnh, chê bai chánh
pháp. Những người như vậy phá hoại giới luật, chánh hạnh
oai nghi của Như Lai chế, và quả giải thoát của Như Lai nói.
Họ
rời pháp thanh tịnh và làm hư hoại giáo pháp thậm thâm bí
mật. Họ theo ý riêng, nói ngược với kinh luật rằng đức
Phật cho phép chúng tôi ăn thịt. Họ đều tự xưng là Sa
môn Thích tử.
Nầy
Ca Diếp! Bấy giờ lại có các hàng Sa môn chứa thóc, nhận
lấy thịt cá, tay tự nấu ăn, cầm xách bình dầu ăn, cùng
giày dép bàng da và lọng báu, thân cận quốc vương, quan lớn,
nhà giàu sang, xem tướng, coi sao, siêng học nghề thuốc, chứa
nuôi tôi tớ, vàng bạc bảy báu, các thứ dưa trái, học tập
các nghề: nghề vẽ, nghề nắn, làm sách dạy học, gieo trồng,
chú thuật, chế thuốc, đờn ca xướng hát, hương hoa trang
điểm, cờ bạc, học các nghề thợ.
Nếu
có Tỳ Kheo nào hay tránh lìa các việc ác như trên, nên nói
người ấy thật là đệ tử của Như Lai.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Các Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, nhơn người khác giúp mà sống.
Lúc khất thực, nếu đặng món ăn lộn với thịt, phải làm
cách nào để ăn đúng với pháp thanh tịnh?
Phật
dạy: "Nầy Ca Diếp! Nên lấy nước rửa sạch thịt rồi hãy
ăn. Nếu đồ đựng bị thịt làm dơ, chỉ làm cho không có
vị thịt thời cho phép được dùng không tội. Nếu thấy
trong thức ăn có nhiều thịt thời không được nhận. Tất
cả thứ thịt đều không được ăn. Người ăn thịt thời
phải tội.
Nay
Như Lai xuống điều chế đoạn nhục như vậy, nếu giảng
rộng thời không thể hết. Giờ niết bàn gần đến phải
nói lược."
Ðây
gọi là "Hay tùy vấn đáp".
Nầy
Ca Diếp! Thế nào là Khéo Hiểu Nghĩa Nhơn Duyên?
Như
có bốn bộ chúng đến hỏi Như Lai rằng: những nghĩa như
vậy, thuở đức Như Lai mới ra đời, cớ sao chẳng vì vua
Ba Tư Nặc nói pháp môn nghĩa lý thâm diệu, hoặc có lúc nói
thâm, có lúc nói thiển, hoặc gọi là phạm, hoặc gọi là
không phạm, thế nào gọi là đọa? Thế nào gọi là luật?
Thế nào là Ba-la-đề-mộc-xoa?
Phật
dạy: " Ba-la-đề-mộc-xoa gọi là tri túc, thành tựu oai nghi,
không cất chứa, cũng gọi là tịnh mạng.
Ðọa
đó gọi là bốn ác thú, và lại đọa đó là đọa nơi địa
ngục, nhẫn A Tỳ, luận về chậm mau thời hơn nơi mưa to.
Người nghe sợ hãi bèn giữ chặt cấm giới không phạm oai
nghi, tu tập tri túc, chẳng thọ lấy tất cả vật bất tịnh.
Và lại đọa là thêm lớn địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.
Vì những nghĩa ấy nên gọi là đọa.
Ba-la-đề-mộc-xoa
là lìa nghiệp tà bất thiện của thân, khẩu, và ý.
Luật
là các giới, oai nghi, nghĩa hay trong các kinh thâm diệu, ngăn
thọ tất cả vật bất tịnh, và nhơn duyên bất tịnh, cũng
ngăn bốn trọng tội, mười ba tội tăng tàn, hai tội bất
định, ba mươi tội xả đọa, chín mươi tội đơn đọa,
bốn pháp hối quá, các pháp học, bảy pháp diệt tranh.
Hoặc
có người phá tất cả giới, nghĩa là bốn pháp trọng nhẫn
đến bảy pháp diệt tránh. Hoặc có người chê bai chánh pháp,
những kinh điển thậm thâm, và hạng hoàn toàn nhứt-xiển-đề.
Những người trên đây tự nói mình thông minh nhiều trí,
che dấu tất cả những tội nặng nhẹ, che dấu điều xấu
ác như rùa dấu cả sáu chi. Vì che dấu mãi không chịu sám
hối nên tội lỗi càng lớn thêm lần. Như Lai biết như vậy
nên lần lượt mà chế giới, chẳng đồng thời chế cả
thảy được.
Bấy
giờ có người đến hỏi: "Bạch Thế Tôn! Ðức Như Lai từ
lâu đã biết trước những sự ấy, sao không chế trước,
phải chăng đức Thế Tôn muốn để chúng sanh mắc tội đọa
địa ngục ư? Ví như có nhóm người muốn đến xứ khác,
quên đường, đi lạc, mà vẫn không tự biết là lạc đường,
lại không gặp ai để hỏi là phải hay không phải. Cũng vậy,
chúng sanh mê tối nơi Phật pháp chẳng thấy con đường chánh
chơn. Ðáng lẽ đức Như Lai nên trước dạy đạo chơn chánh.
Bảo các Tỳ Kheo này là phạm giới, nầy là trì giới, phải
chế giới như vậy. Vì đức Như Lai là bực chánh giác chơn
thiệt thấy rõ đạo chơn chánh. Chỉ có đức Như Lai là đấng
trời trong các trời, hay nói pháp thập thiện công đức tăng
thượng và nghĩa vị của pháp ấy. Thế nên khải thỉnh đức
Thế Tôn chế giới trước.
Phật
nói: "Nầy Thiện nam tử, nếu ông đã nói rằng đức Như
Lai hay vì chúng sanh mà dạy pháp thập thiện công đức tăng
thượng, thế thời Như Lai xem các chúng sanh như La Hầu La,
sao ông lại nạn rằng phải chăng Như Lai muốn chúng sanh phải
đọa địa ngục! Như Lai thấy một người có nhơn duyên đọa
A Tỳ địa ngục, còn vì người ấy mà trụ một kiếp, hoặc
không đầy một kiếp. Như Lai có lòng đại từ bi đối với
chúng sanh, đâu có cớ gì lại phỉnh gạt kẻ mà Như Lai đã
xem như con ruột, làm cho nó bị sa vào địa ngục!
Nầy
Thiện nam tử! Như người vá áo, thấy áo có lỗ rách vậy
sau mới vá. Cũng vậy, thấy chúng sanh có nhơn duyên sa vào
A Tỳ địa ngục, Như Lai bèn dùng giới lành mà vá đó.
Ví
như vua Chuyển Luân trước dạy nhơn dân mười nghiệp lành,
về sau có người làm ác, vua bèn theo mỗi sự mà dứt ác
lần lần, khi sự ác đã dứt rồi, pháp luật của nhà vua
tự hành trong dân chúng. Cũng vậy, Như Lai dầu có thuyết
pháp mà không được chế luật trước, phải do nơi Tỳ Kheo
làm phi pháp, mới theo sự mà chế lần lần. Những người
thích chánh pháp, tu hành theo lời dạy của Như Lai, hạng người
này mới có thể thấy pháp thân của Như Lai.
Như
luân bửu của vua Chuyển Luân không thể nghĩ bàn. Như Lai,
Pháp và Tăng cũng không thể nghĩ bàn. Người hay thuyết pháp
và người nghe pháp cũng không thể nghĩ bàn.
Ðây
gọi là Khéo Hiểu Nghĩa Nhơn Duyên.
Bồ
Tát phân biệt khai thị nghĩa của bốn điều như vậy, đây
là nghĩa nhơn duyên trong Ðại Thừa đại niết bàn.
Lại
còn có nghĩa thế nầy: "Tự Chánh" là được đại bát niết
bàn đây.
"Chánh
Tha" là Như Lai vì Tỳ Kheo mà nói rằng Như Lai thường còn
không biến đổi.
"Tùy
vấn đáp" là, nầy Ca Diếp! Nhơn ông hỏi mà Như Lai mới
được dịp vì đại chúng giảng nói nghĩa lý thậm thâm vi
diệu trên đây.
"Nghĩa
nhơn duyên" là, hàng Thanh văn Duyên giác không hiểu được
nghĩa rất sâu như vậy, chẳng nghe chữ y do ba điểm mà thành,
giải thoát cùng niết bàn và Ma ha bát nhã thành tạng bí mật.
Nay
Như Lai ở nơi đại hội đây xiển dương phân biệt, khai
phát huệ nhãn cho hàng Thanh văn. Giả sử có người nói rằng
bốn sự như vậy là một, thế nào chẳng phải hư vọng ư?
Thời nên gạn trở lại rằng hư không đây, không chỗ có,
không ngại, không động, bốn sự như vậy có gì là khác.
Ðâu gọi là hư vọng được!"
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Các câu như vậy
chính là một nghĩa, đó là nghĩa không.
Tự
chánh, chánh tha, hay tùy vấn đáp và hi¬u nghĩa nhơn duyên,
cũng lại như vậy, đồng là đại niết bàn cả"
Phật
bảo Ca Diếp Bồ Tát: "Nếu có người nói thế này: Như Lai
vô thường. Biết là vô thường, vì như lời Phật dạy diệt
các phiền não gọi là niết bàn, cũng như lửa tắt thời
không chỗ có, dứt các phiền não gọi là niết bàn cũng lại
như vậy, thế sao Như Lai là pháp thường trụ không biến
đổi ư? Lại như Phật dạy, rời các cõi hữu lậu, bèn gọi
là niết bàn, trong niết bàn đây không có các cõi hữu lậu,
thế sao Như Lai là pháp thường trụ không biến đổi ư? Như
cái áo hư rách hết, chẳng còn gọi là món vật. Cũng vậy,
niết bàn dứt các phiền não chẳng gọi là vật gì. Thế
sao Như Lai là pháp thường trụ không biến đổi ư? Ðức
Phật cũng dạy: ly dục tịch diệt gọi là niết bàn, như
người bị chém đứt đầu thời không còn có đầu, cũng
vậy, ly dục tịch diệt rỗng trống, không chỗ có nên gọi
là niết bàn. Thế sao Như Lai là pháp thường trụ không biến
đổi ư? Phật từng dạy rằng:
Như
sắt nướng đỏ
Ðập
văng mạt lửa
Văng
ra liền tắt,
Chẳng
biết ở đâu!
Ðược
chánh giải thoát.
Cũng
lại như vậy.
Ðã
lìa dâm dục,Ữ
Các
cõi hữu lậu.
Ðược
quả vô động,
Không
rõ đến đâu!
Thế
sao Như Lai là pháp thường trụ không biến đổi?
Nầy
Ca Diếp! Nếu ai hỏi gại như vậy, gọi là lời gạn tà.
Ông cũng chẳng nên suy nghĩ rằng tánh Như Lai là diệt tận.
Nầy
Ca Diếp! Dứt hết phiền não không còn gọi là vật, vì đã
trọn rốt ráo hẵn, thế nên gọi là "Thường". Câu này tịch
tịnh không có gì hơn. Dứt hết các tướng không có thừa
sót. Câu đây trắng sạch thường trụ không thối chuyển.
Thế nên niết bàn gọi là thường trụ. Như Lai thường trụ
không biến đổi cũng lại như vậy.
Mạt
lửa để dụ phiền não, văng ra liền tắt không biết ở
đâu, để chỉ Như Lai đã dứt phiền não, chẳng ở trong
năm loài. Thế nên Như Lai là pháp thường trụ không có biến
đổi.
Nầy
Ca Diếp! Chánh pháp là chỗ tôn thờ của chư Phật, nên Như
Lai cung kính cúng dường. Vì pháp là thường trụ nên chư
Phật cũng thường trụ".
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Nếu lửa phiền não tắt, Như Lai
cũng tắt, thế thời Như Lai không có chổ thường trụ, như
mạt sắt kia, mất ánh lửa đỏ rồi chẳng biết văng đến
đâu. Như Lai phiền não cũng vậy, diệt rồi thời vô thường.
Lại như trên thanh sắt kia, hơi nóng và màu đỏ tắt rồi
thời không còn có, Như Lai cũng vậy diệt rồi thời vô thường.
Diệt lửa phiền não bèn nhập niết bàn, nên biết Như Lai
tức là vô thường"
Phật
nói: "Nầy Ca Diếp! Thanh sắt là nói các phàm phu. Người phàm
dầu diệt phiền não, diệt rồi sanh lại, nên gọi là vô
thường. Như Lai chẳng phải như vậy, diệt rồi không còn
sanh lại nên gọi là thường".
Ca
Diếp Bồ Tát lại bạch: "Như nơi thanh sắt, màu lửa đỏ
đã tắt, đem thanh sắt để lại trong lửa, thời màu đỏ
sẽ sanh lại. Nếu như vậy, Như Lai lẽ ra sanh phiền não lại,
nếu phiền não sanh trở lại bèn là vô thường".
Phật
nói: "Nầy Ca Diếp! Ông không nên nói Như Lai vô thường, vì
Như Lai là thường trụ.
Như
đốt gỗ, khi gỗ hết lửa tắt thời còn tro, phiền não diệt
rồi bèn có niết bàn. Các điều dụ như áo hư, chém đầu,
lọ vỡ cũng như vậy.
Nầy
Ca Diếp! Như sắt nguội có thể làm nóng lại. Như Lai không
phải như vậy, dứt phiền não rồi rốt ráo thanh lương, lửa
phiền não chẳng còn sanh trở lại.
Vô
lượng chúng sanh như thanh sắt kia Như Lai dùng lửa mạnh trí
tuệ đốt sắt kiết sử phiền não của chúng sanh".
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Lành thay! Lành thay! Con nay thật
biết rõ chư Phật là thường trụ".
Phật
nói: "Nầy Ca Diếp! Ví như Thánh Vương vốn ở trong cung, hoặc
có lúc dạo chơi nơi vườn; dầu lúc ấy vua không có ở giữa
đám cung phi, cũng chẳng được nói là vua đã chết. Cũng
vậy, Như Lai dầu nhập vào trong niết bàn không hiện nơi
cõi Diêm Phù, chẳng gọi là vô thường. Như Lai ra khỏi vô
lượng phiền não vào nơi niết bàn an vui, dạo chơi vui vẻ
nơi các vườn hoa chánh giác".
Ca
Diếp Bồ Tát lại hỏi: "Như đức Phật đã dạy: Từ lâu
Như Lai đã vượt khỏi biển phiền não. Duyên cớ gì lại
cùng Gia Du Ðà La sanh La Hầu La? Do cớ đây mà biết rằng
Như Lai chưa vượt khỏi biển cả phiền não. Cúi xin Như Lai
nói về nhơn duyên đó".
Phật
bảo Ca Diếp Bồ Tát: "Ông chẳng nên nói Như Lai từ lâu đã
vượt khỏi biển cả phiền não, duyên cớ gì lại cùng Gia
Du Ðà La sanh La Hầu La, vì cớ đây nên biết Như Lai chưa
vượt khỏi biển cả phiền não.
Nầy
Ca Diếp! Ðại niết bàn đây hay kiến lập sự nghĩa to lớn.
Nay các ông nên chí tâm lóng nghe, rồi rộng vì người mà
giảng thuyết, chớ sanh lòng nghi ngờ.
Nếu
có vị đại Bồ Tát trụ đại Niết bàn, có thể đem núi
Tu Di cao rộng để vào trong vỏ hột đình lịch. Các loài
ở tại núi Tu Di không bị chật hẹp, vẫn y như thường,
cũng không có quan niệm gì khác, chỉ có người đáng được
độ mới thấy vị Bồ Tát ấy đem núi Tu Di để vào vỏ
hột đình lịch, rồi đem để lại chỗ cũ.
Nầy
Ca Diếp! Lại có vị đại Bồ Tát trụ đại niết bàn, có
thể đem cả cõi đại thiên để vào vỏ hột đình lịch,
chỉ có người đáng được độ là thấy việc làm nầy,
ngoài ra tất cả chúng sanh đều không hay biết cũng không
thấy chật hẹp, vẫn y như cũ. Cho đến đem cõi đại thiên
để vào lỗ chưn lông cũng như vậy.
Lại
có vị đại Bồ Tát trụ đại niết bàn ngắt lấy nhiều
thế giới ở mười phương để nơi đầu mũi kim, như ghim
lá táo, rồi ném để nơi thế giới khác. Những chúng sanh
trong các thế giới bị ném đó không hay không biết, chỉ
có người đáng được độ là thấy việc làm nầy, và cũng
thấy Bồ Tát đem thế giới đã ném để lại chỗ cũ.
Lại
có vị đại Bồ Tát trụ đại niết bàn, bức lấy các thế
giới ở mười phương để trên bàn tay mặt, rồi ném vụt
qua khỏi vô lượng thế giới khác. Cũng có vị đại Bồ
Tát trụ đại niết bàn đem vô lượng thế giới ở mười
phương để vào trong thân mình, hoặc để vào trong một vi
trần, vẫn không chật hẹp. Chúng sanh trong các cõi ấy không
bị bức ngộp, cũng chẳng hay chẳng biết, chỉ có người
đáng được độ mới thấy biết việc làm nầy, và cũng
thấy Bồ Tát đem những thế giới để lại chỗ cũ.
Nầy
Ca Diếp! Vị đại Bồ Tát trụ đại niết bàn thời có thể
thị hiện vô lượng thần thông biến hoá, vì thế nên gọi
là đại bát niết bàn.
Tất
cả chúng sanh không có thể suy lường đến được. Nay ông
làm thế nào biết Như Lai gần nơi ái dục sanh La Hầu La?
Nầy
Ca Diếp! Như Lai từ lâu đã trụ nơi đại niết bàn , thị
hiện vô lượng thần thông biến hoá, ở trong cõi đại thiên
trăm ức mặt trời mặt trăng, trăm ức Diêm Phù Ðề nầy,
thị hiện vô lượng thần thông biến hoá, như trong kinh Thủ
Lăng Nghiêm đã có nói nhiều. Hoặc ở Diêm Phù Ðề thị
hiện nhập niết bàn, mà chẳng rốt ráo nhập niết bàn. Hoặc
ở Diêm Phù Ðề thị hiện vào thai mẹ, làm cho cha mẹ tưởng
là con trai của mình sanh đẻ, mà thân của Như Lai đây trọn
hẳn chẳng từ nơi ái dục hoà hiệp mà sanh. Như Lai đã lìa
ái dục từ nơi vô lượng kiếp rồi. Thân của Như Lai đây
chính là pháp thân, vì tùy thuận thế gian mà thị hiện vào
thai mẹ.
Nầy
Ca Diếp! Nơi vườn Lâm Tỳ Ni, thị hiện từ nơi mẹ là Ma-Gia
sanh ra, vừa sanh liền đi qua hướng đông bảy bước xướng
lên rằng: — trong hàng trời, người, A Tu La, ta là bực tôn
thượng hơn cả.
Cha
mẹ và trời người thấy thế vừa sợ vừa mừng cho rằng
hi hữu. Mà mọi người nói là đứa trẻ nhỏ. Nhưng chính
thiệt thời thân của Như Lai đã lìa cách trên đây từ vô
lượng kiếp.
Thân
của Như Lai tức là pháp thân, chẳng phải thân thịt máu
mạch gân xương tủy hiệp thành. Vì thuận cách sanh của chúng
sanh mà thị hiện làm đứa trẻ. Ði qua hướng Nam bảy bước
là thị hiện muốn làm phước điền vô thượng cho chúng
sanh. Ði qua hướng Tây bảy bước là thị hiện thân nầy
là thân cuối cùng không còn sanh tử nữa. Ði qua hướng Bắc
bảy bước là thị hiện đã qua khỏi sự sanh tử của các
cõi. Ði qua hướng Ðông bảy bước là thị hiện làm đạo
sư cho chúng sanh. Ði qua bốn hướng cạnh bảy bước là thị
hiện dứt diệt các thứ phiền não và bốn loài ma, mà thành
đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Ði lên bảy bước
là thị hiện không bị vật dơ làm ô nhi¬m, như hư không.
Ði xuống bảy bước, là thị hiện rưới mưa pháp dập tắt
lửa địa ngục, cho chúng sanh hưởng vui an ổn.
Nơi
Diêm Phù Ðề, sau khi sanh bảy ngày lại thị hiện cạo tóc,
mọi người đều cho rằng Như Lai là đứa trẻ mới cạo
tóc lần đầu. Kỳ thiệt, tất cả trời, người, ma vương,
Sa môn, Bà la môn, không một ai có thể thấy được đảnh
tướng của Như Lai, huống là có người cầm dao đến cạo
tóc được. Trong vô lượng kiếp lâu xa về trước, Như Lai
đã cạo bỏ râu tóc rồi. Vì muốn tuỳ thuận theo pháp thế
gian, nên Như Lai thị hiện cạo tóc.
Cha
mẹ đem ta đến miếu thờ trời, ra mắt Ðại Tự Thiên. Lúc
Ðại Tự Thiên thấy Như Lai, liền chấp tay cung kính đứng
qua một bên. Từ lâu xa vô lượng kiếp, Như Lai đã bỏ lìa
cách vào miếu trời, nhưng vì tuỳ thuận thế gian mà thị
hiện như vậy.
—
Diêm Phù Ðề, Như Lai thị hiện xỏ lỗ tai, kỳ thiệt, tất
cả chúng sanh không ai có thể xỏ lỗ tai Như Lai được, vì
tùy thuận thế gian mà thị hiện như vậy.
Lại
lấy các châu báu làm bông tai sư tử để đeo vào, kỳ thiệt
từ vô lượng kiếp, Như Lai đã bỏ lìa đồ trang điểm,
nhưng vì muốn tuỳ thuận thế gian mà thị hiện việc như
vậy.
Rồi
vào học đường học tập chữ nghĩa, võ nghệ, nghề nghiệp
v.v... kỳ thiệt từ vô lượng kiếp Như Lai đã hoàn toàn
rành rẽ tất cả những môn ấy. Xem khắp cả ba cõi, không
một ai có khả năng làm thầy của Như Lai được, vì muốn
tùy thuận thế gian mà thị hiện vào học đường. Vì thế
nên gọi là đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri.
—
cõi Diêm Phù Ðề, tùy thuận thế gian mà thị hiện làm Thái
Tử, mọi người đều thấy Như Lai là Thái Tử con trai lớn
vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia, hưởng sự vui sướng trong
cảnh ngũ dục (41). Kỳ thiệt trong vô lượng kiếp, Như Lai
đã bỏ lìa sự vui ngũ dục rồi.
Nhà
tướng số đoán rằng Thái Tử nếu chẳng xuất gia thời
sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương cai trị Diêm Phù Ðề, mọi
người đều tin lời đoán ấy. Kỳ thiệt, từ vô lượng
kiếp, Như Lai đã bỏ vị Chuyển Luân Thánh Vương mà làm
bực Pháp Vương.
Thị
hiện nhằm lìa cảnh vui ngũ dục, dạo thành gặp người già,
bịnh, chết cùng vị Sa môn, rồi vượt thành xuất gia hành
đạo. Mọi người đều cho rằng Thái Tử Sĩ Ðạt Ða mới
xuất gia. Nhưng từ vô lượng kiếp Như Lai đã xuất gia hành
đạo rồi.
Thị
hiện thọ giới cụ túc, tinh tấn tu hành đạo, chứng quả
Tu Ðà Hoàn, quả Tư Ðà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán. Mọi
người thấy vậy đều nói quả A La Hán d¬ được không khó.
Nhưng từ vô lượng kiếp Như Lai đã thành tựu quả A La Hán
rồi.
Vì
muốn độ thoát mọi loài chúng sanh, mà thị hiện trải cỏ
làm tòa, ngồi nơi đạo tràng dưới cội Bồ Ðề hàng phục
Ma quân. Ðại chúng đều cho rằng Như Lai mới thành đạo,
hàng phục Ma quân. Nhưng từ vô lượng kiếp Như Lai đã hàng
phục Ma quân rồi. Vì muốn hàng phục chúng sanh cang cường
nên thị hiện như vậy.
Như
Lai lại thị hiện đại tiện, tiểu tiện, thở ra, hít vào.
Mọi người đều cho rằng Như Lai có đại tiện, tiểu tiện
và thở. Kỳ thiệt thân của Như Lai đây đều không có những
việc ấy, vì tùy thuận thế gian mà thị hiện như vậy.
Lại
thị hiện thọ thực phẩm của người dưng cúng, nhưng thiệt
ra thân của Như Lai đều không có sự đói khát. Lại thị
hiện ngủ nghỉ đồng như chúng sanh, nhưng từ vô lượng
kiếp, Như Lai đầy đủ trí huệ thâm diệu, xa lìa tất cả
những sự thế gian như đi, đứng, nằm, ngồi, đau đầu,
đau bụng, đau lưng, rửa tay, rửa mặt, súc miệng v.v..., mọi
người đều cho rằng Như Lai có các oai nghi như vậy. Nhưng
thân của Như Lai đều không có những sự ấy, tay chơn trong
sạch như hoa sen, hơi miệng thơm sạch như mùi thơm ưu-bát-la.
Ðại
chúng cho rằng Như Lai là nhơn loại, mà thiệt thời Như Lai
không phải nhơn loại.
Lại
thị hiện nhận lấy y phấn tảo, giặt giủ may nhuộm, nhưng
từ lâu Như Lai chẳng cần đến cái y ấy.
Nầy
Ca Diếp! Dầu Như Lai luôn thị hiện nhập niết bàn tại Diêm
Phù Ðề nầy. Kỳ thiệt Như Lai chẳng rốt ráo nhập niết
bàn, mà chúng sanh cho rằng Như Lai thiệt diệt độ. Phải
biết tánh Như Lai thiệt chẳng diệt hẳn, là pháp thường
trụ, là pháp không biến đổi.
Nầy
Ca Diếp! Ðại Niết bàn là pháp giới của Phật Như Lai.
Như
Lai thị hiện ra đời thành Phật, chúng sanh đều nói Như
Lai mới thành Phật; nhưng thiệt ra Như Lai chỗ làm đã xong
từ vô lượng kiếp rồi, vì tùy thuận thế gian mà thị hiện
như vậy.
Nầy
Ca Diếp! — Diêm Phù Ðề có lúc Như Lai thị hiện chẳng
giữ giới cấm, phạm tứ trọng tội, nhưng từ vô lượng
kiếp Như Lai giữ chặt cấm giới chẳng một mảy thiếu xót.
Có
lúc thị hiện làm gã nhứt-xiển-đề, nhưng thiệt ra không
phải nhứt-xiển-đề. Làm gì có nhứt-xiển-đề mà thành
bực vô thượng chánh giác!
Có
lúc thị hiện phá hoà hiệp tăng, có lúc thị hiện hộ trì
chánh pháp, mọi người đều phải kinh quái.
Có
lúc thị hiện làm Ma vương Ba tuần, nhưng từ vô lượng kiếp,
Như Lai đã lìa ma sự, trong sạch không nhi¬m như hoa sen.
Có
lúc thị hiện thân gái thành Phật, mọi người đều nói,
rất lạ cho người nữ mà có thể thành Phật. Phải biết
Như Lai trọn hẳn không thọ thân gái, vì muốn điều phục
vô lượng chúng sanh nên hiện thân gái. Và cũng vì thương
xót chúng sanh mà hiện nhiều thứ thân, cho đến hiện thân
A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Ðịa Ngục, để độ chúng sanh
trong các loài ấy.
Lại
thị hiện làm Phạm Thiên Vương để cho người thờ Phạm
Thiên vào trong chánh pháp, nhẫn đến thị hiện các thân trời
khắp các miếu trời cũng vì mục đích ấy. Nhưng thiệt ra
Như Lai không phải Phạm Thiên, không phải thân trời.
Có
lúc thị hiện vào nhà gái dâm, nhưng Như Lai thiệt không có
niệm dục, lòng Như Lai trong sạch không nhiểm ô như hoa sen,
vào đấy để tuyên thuyết diệu pháp cho hạng người say
mê sắc dục.
Lại
thị hiện vào nhà thanh y, để giáo hóa hạng nô tỳ cho chúng
nó được trụ nơi chánh pháp.
Lại
thị hiện làm bác sĩ để dạy học trò, thị hiện chơi bài
bạc để độ hạng người bài bạc, thị hiện thân chim thứu
để độ loài thứu, lại thị hiện làm trưởng giả để
an lập mọi người trụ nơi chánh pháp, thị hiện làm vua,
làm quan, để dìu dắt nhơn dân tu chánh pháp.
Lại
thị hiện tật dịch (42) tại nơi Diêm Phù đề, rồi trước
thí thuốc cho bịnh nhơn, sau giảng dạy đạo pháp. Lại thị
hiện cơ cẩn tai, trước bố thí cơm áo, sau tuyên truyền
diệu pháp. Lại thị hiện đao binh tai, rồi thuyết diệu pháp.Ữ
Lại
thị hiện vì hạng chấp thường mà giảng pháp vô thường,
vì hạng chấp lạc mà giảng pháp khổ, vì hạng chấp ngã
mà giảng pháp vô ngã, vì hạng chấp tịnh mà giảng pháp
bất tịnh. Vì người tham chấp ba cõi, mà thuyết pháp cho
họ xa lìa ba cõi, vì độ chúng sanh mà tuyên thuyết diệu
pháp vô thượng, trồng cây pháp dược vô thượng để thay
cây phiền não, di¬n nói chánh pháp để cứu bọn ngoại đạo
tà kiến. Dầu thị hiện làm thầy chúng sanh, nhưng Như Lai
trọn không có quan niệm là Thầy.
Ðức
Như Lai chánh giác an trụ đại bát niết bàn như vậy, nên
gọi là thường trụ không biến đổi.
Cũng
như thị hiện ở Diêm Phù Ðề, ở Ðông Thắng Thần Châu,
Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Cu Lô Châu, nhẫn đến ở khắp cõi
đại thiên, Như Lai đều thị hiện như vậy. Như kinh Thủ
Lăng Nghiêm đã nói rộng. Vì lẽ ấy nên gọi là đại bát
niết bàn.
Nếu
có vị đại Bồ Tát an trụ đại bát niết bàn như vậy,
thời có thể thị hiện vô lượng thần thông biến hóa như
trên, mà trọn không có chút chướng ngại cùng e sợ.
Nầy
Ca Diếp! Do nhơn duyên trên đây, ông chẳng nên nói rằng La
Hầu La là con trai của Phật, vì từ vô lượng kiếp. Như
Lai đã lìa hẵn dục nhi¬m, nên Như Lai gọi thường trụ không
biến đổi".
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Như lời Phật nói: như ngọn đèn
đã tắt thời không có phương sở. Cũng vậy, Như Lai diệt
độ rồi thời không phương sở. Thế nào Như Lai gọi là
thường trụ?"
Phật
nói: "Nầy Ca Diếp! Ví như người đời thắp đèn dầu, theo
số dầu còn thời ngọn đèn cháy, khi dầu hết thời ngọn
đèn tắt, ngọn đèn tắt dụ cho lửa phiền não dứt. Ngọn
đèn tắt mà bình đèn vẫn còn. Cũng vậy, phiền não dầu
dứt mà Như Lai pháp thân thường còn.
Nầy
Ca Diếp! Ngọn đèn cùng bình đèn có cùng tắt dứt cả không?"
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, không ạ! Tuy không
cùng tắt dứt cả, nhưng là vô thường. Nếu đem pháp thân
dụ với bình đèn, thời pháp thân cũng vô thường".
Phật
nói: "Nầy Ca Diếp! Ông không nên nạn như vậy. Ðồ vật
thế gian là vô thường, Như Lai không phải vô thường. Trong
tất cả pháp niết bàn là thường, Như Lai tức niết bàn
nên gọi là thường.
Nầy
Ca Diếp! Nói đèn tắt đó, là nói niết bàn của bực A La
Hán chứng, vì A La Hán dứt tham ái phiền não nên dụ như
đèn tắt. Bực A Na Hàm gọi là có tham, vì có tham nên chẳng
được gọi là đồng với đèn tắt. Do nghĩa ấy nên ngày
trước Như Lai nói dụ như đèn tắt, chớ chẳng phải đại
niết Bàn đồng với đèn tắt. Bực A Na Hàm chẳng còn lại
thọ thân trong ba cõn nữa, chẳng còn lại thọ thân hôi nhơ,
thân trùng, thân ăn uống, thân độc khổ, nên gọi là A Na
Hàm. Nếu còn thọ thân thời gọi là Na Hàm, không còn thọ
thân mới gọi là A Na Hàm. Nếu còn khứ lai thời gọi là
Na Hàm, không còn khứ lai mới gọi là A Na Hàm.
Bấy
giờ Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Như lời
Phật dạy "Chư Phật Thế Tôn có tạng bí mật!" Nghĩa nầy
không phải. Vì chư Phật Thế Tôn chỉ có mật ngữ mà không
có mật tạng. Như nhà ảo thuật điều khiển người máy.
Mọi người dầu thấy người máy co duỗi cúi ngửa, nhưng
chẳng biết bộ phận trong thế nào. Phật pháp không phải
như vậy, Phật pháp làm cho chúng sanh đều hiểu đều biết.
Thế sao lại bão rằng chư Phật Thế Tôn tôn có tạng bí
mật?"
Phật
khen: "Lành thay! Lành thay! Ðúng như lời ông vừa nói. Như
Lai thiệt không có tạng bí mật. Như trăng tròn giữa đêm
thu, trời trong không mây mù, mọi người ai cũng thấy rõ vầng
trăng sáng. Lời của Như Lai cũng khai phát hiển lộ rõ ràng,
kẻ ngu kia tự không hiểu rồi cho là tạng bí mật. Người
trí suốt thấu thời không gọi là tạng.
Nầy
Ca Diếp! Ví như có người để dành vàng bạc đến số ức
triệu, vì lòng bỏn xẻn nên chẳng ban ơn bố thí cho kẻ
nghèo cùng, chứa của như vậy mới gọi là dấu kín. Như
Lai thời không phải thế, từ vô lượng kiếp chứa để vô
lượng diệu pháp, lòng không bỏn xẻn, thường đem ban bố
cho mọi loài chúng sanh, đâu có thể gọi là Như Lai bí tạng
được.
Như
có người tật nguyền, hoặc một mắt, cụt tay, què chơn,
vì hổ thẹn mà không cho người thấy, vì thế nên gọi là
núp kín. Như Lai thời không phải thế, bao nhiêu chánh pháp
đầy đủ không thiếu đều cho người thấy cả nên pháp
của Như Lai không gọi là bí tạng được.
Như
người nghèo thiếu nợ nhiều, vì sợ chủ nợ đòi mà ẩn
trốn, nên gọi là trốn kín. Như Lai thời không phải thế,
Như Lai không có nợ chúng sanh về pháp thế gian. Dầu đối
với chúng sanh có nợ xuất thế, nhưng cũng chẳng ẩn mặt,
vì Như Lai luôn xem chúng sanh như con đẻ, mà thường di¬n
thuyết pháp nghĩa vô thượng.
Như
trưởng giả giàu có nhiều của, chỉ có một người con trai,
trưởng giả rất mến yêu con, bao nhiêu tiền của châu báu
đều chỉ cho con biết. Cũng vậy, Như Lai xem chúng sanh đồng
là con một.
Như
người đời vì nam căn, nữ căn (43) xấu xí nên dùng y phục
để che đậy nên gọi là phúc tàng. Như Lai không phải thế,
đã dứt hẳn thứ căn ấy, vì không căn nên không chỗ phúc
tàng.
Như
dòng Bà La Môn có những điều luận nói, trọn không muốn
cho người trong dòng Sát Lợi, Tỳ Xá, Thủ Ðà (44) nghe biết,
vì trong các luận điều của họ có chỗ lỗi ác. Chánh pháp
của Như Lai thời không phải như vậy, tất cả đều là lành
là phải, vì thế nên chẳng được gọi là bí tạng.
Như
trưởng giả (45) rất cưng yêu đứa con trai một, dắt đến
nhà trường ý muốn cho học, sau vì sợ con không được mau
thành tài nên lại dắt về. Vì thương con nên trưởng giả
ngày đêm ân cần dạy cho nó về bán tự, mà không dạy luận
Tỳ Già La, vì nó còn nhỏ tuổi quá, chưa đủ sức học.
Nầy
Ca Diếp! Giả sử trưởng giả dạy về bán tự xong, đứa
con trai ấy có thể liền đặng hiểu biết luận Tỳ Già La
không?
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn không!"
Phật
hỏi: "Như vậy trưởng giả có bí tàng đối với con của
ông không?"
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn không! Vì đứa con
còn thơ ấu, nên trưởng giả không dạy, chớ chẳng phải
vì bí tàng lẩn tiếc mà không dạy. Nếu có lòng tật đố
lẩn tiếc mới gọi là bí tàng. Như Lai không như vậy, sao
lại gọi là Như Lai bí tàng được."
Phật
nói: "Lành thay! Lành thay! Ðúng như lời ông nói. Nếu có lòng
tật đố giận hờn lẩn tiếc mới gọi là bí tàng. Như Lai
không có những lòng quấy ấy đâu gọi là bí tàng được.
Nầy
Ca Diếp! Ông trưởng giả trên kia là chỉ cho Như Lai, đứa
con trai một của ông là chỉ cho tất cả chúng sanh. Như Lai
xem tất cả chúng sanh như con một. Dạy con trai một là nói
hàng Thanh văn đệ tử. Còn bán tự (46) đó là nói chín bộ
kinh Tiểu Thừa. Luận Tỳ Già La là nói về kinh điển Phương
Ðẳng (47) Ðại Thừa. Vì hàng Thanh văn không đủ sức trí
huệ nên Như Lai dạy cho họ bán tự chín bộ kinh điển mà
chẳng dạy luận Tỳ Già La kinh điển Phương Ðẳng Ðại
Thừa.
Nầy
Ca Diếp! Như đứa con trai kia tuổi đã lớn, đủ sức học
tập, mà trưởng giả không dạy luận Tỳ Già La mới có thể
gọi trưởng giả là bí tàng. Nếu hàng Thanh văn (48) đủ
sức lãnh thọ Ðại Thừa mà Như Lai lẩn tiếc không dạy,
mới có thể gọi Như Lai có tạng bí mật. Nhưng thiệt ra
Như Lai không phải như vậy, nên Như Lai không có bí tàng.
Như
trưởng giả sau khi dạy bán tự xong, kế vì con mà di¬n nói
Luận Tỳ Già La. Cũng vậy, Như Lai vì các đệ tử giảng
nói bán tự chín phần kinh xong, kế vì giảng nói luận Tỳ
Già La Phương Ðẳng Ðại Thừa, chính là diệu lý Như Lai
thường còn không biến đổi.
Xem
Tiếp Trang 02
