XXIV
PHẨM
CA DIẾP BỒ TÁT
THỨ
HAI MƯƠI BỐN
Trong
khế kinh ta nói thân của Như Lai có hai thứ : Một là sanh
thân, hai là pháp thân. Sanh thân là thân phương tiện ứng
hóa. Thân nầy có thể nói là sanh già bịnh chết, cao thấp
đen trắng, là đây là kia là học là vô học. Các đệ tử
của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta bèn cho
rằng đức Như Lai quyết định nói thân Phật là pháp hữu
vi. Pháp thân là thường lạc ngã tịnh, lìa hẳn tất cả
sanh già bịnh chết, chẳng phải trắng đen, chẳng phải cao
thấp, chẳng phải đây kia, chẳng phải học vô học, Phật
ra đời hoặc chẳng ra đời vẫn thường trụ chẳng động
không biến đổi. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng
hiểu được ý của ta, bèn cho rằng đức Như lai quyết định
nói thân Phật là pháp vô vi.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta nói mười hai nhơn duyên :
Từ vô minh sanh ra hành, từ hành sanh ra thức, từ thức sanh
ra danh sắc, từ danh sắc sanh ra lục nhập, từ lục nhập
sanh ra xúc, từ xúc sanh ra thọ, từ thọ sanh ra ái, từ ái
sanh ra thủ, từ thủ sanh ra hữu, từ hữu sanh ra sanh, từ
sanh thời có già chết buồn khổ. Các đệ tử của ta nghe
lời nầy chẳng hiểu được ý của ta bèn nói rằng đức
Như Lai nói mười hai nhơn duyên quyết định là hữu
vi.
Lại
một ngày kia ta bảo các Tỳ Kheo rằng mười hai nhơn duyên
tánh tướng là thường trụ không luận có Phật hay không
Phật. Có mười hai duyên chẳng từ duyên sanh, có từ duyên
sanh chẳng phải mười hai duyên, có từ duyên sanh cũng là
mười hai duyên, có chẳng phải duyên sanh mà cũng chẳng phải
là mười hai duyên.
Có
mười hai duyên chẳng phải là duyên sanh, chính là mười hai
chi đời vị lai. Có từ duyên sanh mà chẳng phải là mười
hai chính là thân ngũ ấm của A La Hán. Có từ duyên sanh cũng
là mười hai duyên chính là thân ngũ ấm của phàm phu. Mười
hai nhơn duyên chẳng phải là duyên sanh, chẳng phải mười
hai duyên chính là hư không Niết Bàn.
Các
đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta,
bèn cho rằng đức Như Lai nói mười hai nhơn duyên quyết định
là vô vi.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta nói tất cả chúng sanh tạo
nghiệp thiện ác, lúc chết, tứ đại nầy liền hư hoại.
Người tạo nghiệp thuần thiện tâm thức liền đi lên, người
tạo nghiệp thuần ác tâm thức liền đi xuống. Các đệ tử
của ta nghe lời nầy chẳng
hiểu
được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói tâm quyết
định là thường trụ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Một thuở kia ta nói với vua Tần Bà Ta La rằng
: Nầy Đại vương ! Sắc là vô thường vì từ nhơn vô thường
mà sanh ra sắc. Nếu sắc đã từ nhơn vô thường mà sanh,
người trí không bao giờ nói sắc là thường. Nếu sắc là
thường lẽ ra chẳng hoại diệt sanh các khổ não. Nay thấy
sắc hoại diệt nên biết rằng sắc là vô thường. Như sắc,
thọ tưởng hành thức cũng như vậy.
Các
đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta
bèn cho rằng đức Như Lai nói tâm quyết định đoạn diệt.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta nói hàng đệ tử lãnh thọ
những hoa hương vàng bạc vật báu vợ con tôi tớ, tám vật
bất tịnh chứng được chánh đạo cũng chẳng rời bỏ những
vật ấy. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được
ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói hưởng thọ ngũ dục
chẳng chướng ngại thánh đạo.
Lại
có lúc ta nói người tại gia không thể chứng được chánh
đạo. Hàng đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được
ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói hưởng thọ ngũ dục
quyết định chướng ngại chánh đạo.
Trong
khế kinh ta nói xa lìa phiền não chưa được giải thoát như
cõi dục tu tập pháp thế đệ nhứt. Các đệ tử của ta
nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức
Như Lai nói pháp thế đệ nhứt chỉ là cõi dục.
Trong
khế kinh ta lại nói noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế
đệ nhứt pháp thuộc nơi sơ thiền đến tứ thiền. Với
các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của
ta bèn cho rằng đức Như Lai nói bốn pháp ấy thuộc nơi cõi
sắc. Trong khế kinh ta lại nói hàng ngoại đạo đã dứt được
phiền não cõi tứ thiền tu tập noãn pháp đảnh pháp, nhẫn
pháp, thế đệ nhứt pháp, quán tứ đế chứng quả A Na Hàm.
Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của
ta bèn cho rằng đức Như Lai nói thế đệ nhứt pháp thuộc
nơi cõi vô sắc.
Trong
khế kinh ta từng nói trong bốn thứ bố thí có ba điều trong
sạch : Một là thí chủ tin nhơn tin quả tin bố thí, người
thọ chẳng tin nhơn, chẳng tin quả cùng bố thí, hai là thí
chủ chẳng tin nhơn quả và bố thí, người thọ tin nhơn quả
và bố thí ; ba là thí chỉ và người thọ cả hai đều có
lòng tin ; bốn là thí chủ và người thọ cả hai đều chẳng
tin. Bốn thứ bố thí trên đây ba hạng ban đầu là trong sạch.
Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của
ta bèn cho rằng đức Như Lai nói bố thí chỉ thuộc nơi ý.
Có
một lúc kia ta lại nói rằng người bố thí lúc bố thí đem
năm việc ra bố thí : Một là bố thí sắc, hai là bố thí
sức lực, ba là bố thí an ổn, bốn là bố thí mạng sống,
năm là bố thí biện tài, do nhơn duyên nầy nên thí chủ trở
lại được năm quả báo. Các đệ tử của ta nghe lời nầy
chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Phật nói
bố thí tức là năm ấm.
Có
một lúc ta nói rằng : Niết Bàn tức là viễn ly, phiền não
dứt hẳn không còn thừa sót, như đèn đã tắt, không còn
pháp gì sanh trở lại, Niết Bàn cũng như vậy.
Nói
hư không đó tức là không chỗ có, như trong đời gọi chỗ
không có là hư không, chẳng phải do trí dứt mới không chỗ
có. Nếu hư không là có lẽ ra phải có nhơn duyên nếu đã
có nhơn duyên lẽ ra phải có dứt diệt, bởi hư không vốn
là không nên không có dứt diệt. Các đệ tử của ta
nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức
Phật nói không có ba pháp vô vi.
Một
lúc kia ta bảo Mục Kiền Liên rằng luận về Niết Bàn tức
là chương cú, tức là dấu vết, tức là chỗ rốt ráo, là
chỗ vô sở úy, là bực đại sư, là đại quả, là trí rốt
ráo, là đại nhẫn, là vô ngại tam muội, là đại pháp giới,
là cam lộ vị, là khó thấy biết. Nầy Mục Kiền Liên ! Nếu
nói rằng không Niết Bàn, tại sao có người sanh lòng hủy
báng Niết Bàn lại phải đọa địa ngục. Các đệ tử của
ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng
đức Như Lai nói có Niết Bàn.
Lại
một lúc kia ta bảo Mục Kiền Liên rằng nhãn căn chẳng bền
chắc nhẫn đến thân cũng chẳng bền chắc. Vì chẳng bền
chắc nên gọi là hư không. Ăn nuốt xuống rồi xoay chuyển
tiêu hóa. Tất cả âm thanh đều gọi là hư không. Các đệ
tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng
đức Như Lai quyết định nói có hư không vô vi.
Ta
lại bảo Mục Kiền Liên có người chưa được quả Tu Đà
Hoàn, lúc trụ nơi nhẫn pháp, dứt vô lượng quả báo trong
ba đường dữ, nên biết rằng chẳng phải trừ nơi trí mà
dứt diệt. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu
ý của ta, bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói có chẳng
phải do trí mà dứt diệt. Lại một lúc kia ta nói với Tỳ
Kheo Bạt Ba nếu Tỳ Kheo quán nơi sắc : Hoặc quá khứ, vị
lai, hiện tại, hoặc gần hoặc xa, hoặc thô hoặc tế, những
sắc như vậy chẳng phải là ngã chẳng phải ngã sở : Quán
như vậy có thể dứt được lòng tham ái nơi sắc, _ Bạt
Ba bạch rằng : Thế nào gọi là sắc ?
_
Ta đáp : Tứ đại gọi rằng sắc, thọ tưởng hành thức
bốn ấm nầy gọi là danh. Các đệ tử của ta nghe lời nầy
chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định
nói sắc là tứ đại.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta lại nói rằng như nhơn nơi mặt gương mà
có bóng hình hiện ra, sắc cũng như vậy nhơn nơi tứ đại
tạo thành. Chính là những thứ to, nhỏ, rít, trơn, xanh, vàng,
đỏ, trắng, dài, vắn, vuông, tròn, cong , ngay, nhẹ, nặng,
lạnh, nóng, đói khát, khói, mây , bụi mù, đây gọi
là những sắc do tứ đại tạo thành dường như vang bóng.
Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn
cho rằng đức Như Lai nói có tứ đại thời có sắc do tứ
đại tạo thành, hoặc nói có tứ đại mà không có sắc.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trước kia Phương Tử Bồ Đề nói rằng nếu
có Tỳ Kheo trì giới lúc phát tâm ác, nên biết rằng lúc
đó mất giới Tỳ Kheo. Ta nghe lời nầy bèn bảo rằng : Nầy
Phương Tử ! Giới có bảy thứ từ nơi thân và miệng mà
có vô tác biểu sắc. Do nhơn duyên vô tác biểu sắc nầy
nên dầu tâm của Tỳ Kheo ở trong ác vô ký nhưng chẳng gọi
là mất giới, vẫn còn gọi là trì giới. Các đệ tử
của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức
Phật nói có vô tác biểu sắc.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong các kinh khác ta có nói rằng giới chính
là ngăn chế pháp ác, nếu chẳng làm ác đây gọi là trì
giới. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của
ta bèn xướng rằng đức Như Lai quyết định nói không có
vô tác biểu sắc.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta từng nói sắc ấm của thánh
nhơn nhẫn đến thức ấm đều là do vô minh sanh ra. Tất cả
phàm phu cũng như vậy, từ vô minh sanh ra ái, nên biết rằng
ái nầy chính là vô minh, từ ái sanh ra thủ, nên biết rằng
thủ nầy chính là vô minh ái. Tù thủ sanh ra hữu, hữu nầy
chính là vô minh ái thủ. Từ hữu sanh ra thọ, nên biết rằng
thọ nầy chính là hành hữu. Từ nơi thọ sanh ra danh sắc,
vô minh ái, thủ, hữu, hành, thọ, xúc, thức, lục, nhập v.v…
do đây nên thọ chính là mười hai chi. Các đệ tử của ta
nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như
Lai nói không có tâm sở.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta từng nói từ nơi nhãn, sắc,
minh và ác dục, do bốn thứ nầy làm nhơn duyên sanh ra nhãn
thức. Ác dục trong đây chính là vô minh, lúc dục cầu thời
gọi là ái, do ái mà có thủ, thủ đây gọi là nghiệp, nghiệp
làm duyên cho thức, thức làm duyên cho danh sắc, danh sắc làm
duyên cho lục nhập, lục nhập làm duyên cho xúc, xúc làm duyên
cho tưởng thọ ái, tín, tinh tấn định và huệ, những pháp
nầy nhơn nơi xúc mà sanh nhưng chẳng phải là xúc. Các đệ
tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng
đức Như Lai nói có tâm sở.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Hoặc có lúc ta nói chỉ có một cỏi, hoặc
nói hai ba bốn năm sáu mười tám chín nhẫn đến hai mươi
lăm cõi. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý
của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có năm cõi, hoặc nói
có sáu cõi.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ngày trước lúc ở nơi rừng Ni Câu Đà
tại thành Ca Tỳ La Vệ, Thích Ma Nam bạch với ta rằng : Thế
Tôn sao gọi là Ưu Bà Tắc ? Ta nói : Nếu có
Thiện nam tử hoặc Thiện nữ nhơn nào căn thân đầy đủ
thọ ba pháp quy y thời gọi là Ưu Bà Tắc. Thích Ma Nam lại
hỏi : Thế Tôn sao gọi là nhứt phần Ưu Bà Tắc ? Ta nói
: Nếu thọ ba pháp quy y và thọ một giới thời gọi là nhứt
phần Ưu Bà Tắc. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng
hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Ưu Bà Tắc được
thọ từ phần.
Lại
một lúc kia ta ở bên sông Hằng, Ca Chiên Diên đến bạch
với ta rằng : Thế Tôn ! Tôi giáo hoá chúng sanh khiến họ
thọ pháp bát quan trai : Hoặc một ngày, hoặc một đêm, hoặc
một giờ, hoặc một niệm, những người nầy được
thành trai pháp chăng ? Ta nói : Này Ca Chiên Diên, những người
nầy chỉ được điều lành mà chẳng được gọi là được
trai pháp. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý
của ta bèn nói rằng đức Như Lai nói pháp bát quan trai thọ
đủ mới được.
Trong
khế kinh ta từng nói rằng nếu có Tỳ Kheo đã phạm bốn
tội trọng thời chẳng gọi là Tỳ Kheo, gọi là phá Tỳ Kheo,
hư mất Tỳ Kheo chẳng còn có thể sanh chủng tử pháp lành,
như hột giống đã cháy chẳng còn mọc mầm sanh bông trái
, như cây đa la nếu ngọn đã bị đứt thời chẳng còn sanh
trái. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của
ta bèn cho rằng đức Như Lai nói các Tỳ Kheo phạm giới trọng
rồi bèn mất giới Tỳ Kheo.
Trong
khế kinh , ta vì Thuần Đà mà nói bốn hạng Tỳ Kheo : Một
là hạng rốt ráo đến chánh đạo, hai là hạng chỉ bày chánh
đạo, ba là hạng lãnh thọ chánh đạo, bốn là hạng nhiễm
ô chánh đạo. Người phạm bốn tội trọng là hạng nhiễm
ô chánh đạo. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu
ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói các Tỳ Kheo đã phạm
bốn tội trọng chẳng mất giới.
Trong
khế kinh ta bảo các Tỳ Kheo có nhứt thừa, nhứt đạo, nhứt
hạnh, nhứt duyên, bốn pháp nầy có thể làm cho chúng sanh
được đại tịch tịnh, dứt hẳn tất cả sự ràng buộc
sầu khổ, khổ quả cùng khổ nhơn, làm cho tất cả chúng
sanh đến nơi nhứt thừa. Các đệ tử của ta nghe lời nầy
chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Tu Đà
Hoàn nhẫn đến A La Hán đều được Phật đạo.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta nói Tu Đà Hoàn bảy lần sanh
qua lại trong nhơn gian cùng cõi trời, bèn chứng A La Hán nhập
Niết Bàn. Tư Đà Hàm một lần sanh trong nhơn gian và cõi trời
bèn nhập Niết Bàn. A Na Hàm phàm có năm hạng : Hoặc có trung
gian nhập Niết Bàn nhẫn đến thượng lưu nhập Niết bàn.
A La Hán phàm có hai hạng : Một là hiện tại, hai là vị lai,
hiện tại cũng dứt phiền não ngũ ấm, vị lai cũng dứt phiền
não ngũ ấm. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu
ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Tu Đà Hoàn đến A
La Hán chẳng được Phật đạo.
Trong
khế kinh ta từng nói Phật tánh đủ có sáu điều : Một là
thường, hai là thật, ba là chơn, bốn là thiện, năm là tịnh,
sáu là có thể thấy. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng
hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tánh của
chúng sanh rời ngoài chúng sanh mà có.
Ta
lại nói Phật tánh của chúng sanh như hư không. Hư không chẳng
phải quá khứ vị lai hiện tại, chẳng phải nội ngoại,
chẳng phải sắc thinh hương vị xúc, Phật tánh cũng như vậy.
Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn
cho rằng đức Như Lai nói Phật tánh của chúng sanh rời ngoài
chúng sanh mà có.
Ta
lại nói Phật tánh của chúng sanh dường như kho châu báu
ẩn kín trong nhà của bần nữ, như Kim Cang bảo châu ẩn trên
trán của lực sĩ, như suối Cam Lộ của Chuyển Luân Thánh
Vương. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu
ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tánh của chúng
sanh rời ngoài chúng sanh mà có.
Ta
lại nói hàng Nhứt Xiển Đề phạm bốn tội trọng, hủy
báng kinh điển đại thừa, tạo tội ngũ nghịch đều có
Phật tánh. Những chúng sanh nầy đều không có pháp lành.
Phật tánh là lành. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng
hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tánh của
chúng sanh rời ngoài chúng sanh mà có.
Ta
lại nói chúng sanh chính là Phật tánh, vì nếu rời chúng
sanh thời chẳng được vô thượng Bồ Đề. Do đây nên ta
vì vua Ba Tư Nặc mà nói ví dụ rờ voi : Như bọn người mù
nói hình dạng của voi, dầu chẳng trúng nhưng đều chẳng
rời ngoài voi. Chúng sanh nói sắc, nói thọ tưởng hành thức
là Phật tánh cũng như vậy, dầu chẳng phải là Phật tánh
nhưng chẳng phải rời Phật tánh. Như ta vì vua Ba Tư Nặc
mà nói ví dụ ống không hầu Phật tánh cũng như vậy. Các
đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn lập
ra nhiều thuyết khác nhau, như người mù hỏi màu của sữa,
Phật tánh cũng như vậy. Do cớ nầy, hoặc có người nói
hàng Nhứt Xiển Đề phạm bốn tội trọng hủy báng kinh Đại
Thừa tạo tội ngũ nghịch đều có Phật tánh. Hoặc có người
nói là không có Phật tánh.
Trong
khế kinh nhiều lần ta nói rằng một người xuất thế thời
nhiều người được lợi ích. Trong một cõi nước không
có hai vua Chuyển Luân. Trong một thế giới không có hai đức
Phật xuất thế. Một tứ thiên hạ không có tám Tứ Thiên
Vương, nhẫn đến không có hai Tha Hoá Tự Tại Thiên. Ta nói
từ Diêm Phù Đề, dưới đến địa ngục A Tỳ, trên đến
trời Sắc Cứu cánh. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng
hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói không có
Phật mười phương. Thật ra trong các kinh Đại Thừa ta nói
có thập phương chư Phật.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Những điều tránh tụng như vậy là cảnh
giới của chư Phật chẳng phải hàng Thanh Văn Duyên Giác biết
được. Nếu người nào đối với những việc nầy sanh lòng
nghi còn có thể phá hoại được vô lượng phiền não. Nếu
người nào ở trong những việc nầy sanh lòng quyết định
thời gọi là chấp trước.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật rằng : Thế nào là chấp trước
?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Những người như vậy hoặc do người khác
dạy bảo, hoặc nghe người khác nói, hoặc tự tìm kinh điển,
với những điều ham thích chẳng thể buông bỏ đây gọi
là chấp trước.
_ Bạch
Thế Tôn ! Sự chấp trước nầy là thiện hay là bất thiện
?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Sự chấp trước như vậy chẳng gọi là thiện,
vì không thể phá hoại những lưới nghi.
_ Bạch
Thế Tôn ! Những người nầy vốn tự chẳng nghi, sao lại
nói rằng chẳng phá hoại lưới nghi ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Luận về người chẳng nghi chính là nghi.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu có người nói rằng bực Tu Đà Hoàn chẳng
đọa ba ác đạo. Người nầy cũng nên gọi là chấp trước,
là nghi.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nên gọi là quyết định, mà chẳng được
gọi là nghi. Tại sao vậy ? Nầy Thiện Nam Tử ! Như có người
trước kia thấy cây thấy người, về sau đi ban đêm từ xa
thấy gốc cây trụi, bèn nghi rằng đó là người hay là cây
? Như người trước thấy Tỳ Kheo và Phạm Chí, lúc sau đi
đường từ xa thấy Tỳ Kheo bèn nghi rằng đó là Sa Môn hay
là Phạm Chí ? Như người trước thấy bò và trâu, lúc sau
từ xa thấy bò, bèn nghi rằng đó là bò hay trâu ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tấ cả chúng sanh trước thấy hai vật về
sau bèn sanh nghi, vì trong tâm họ chẳng nhận được rõ ràng.
Ta
cũng chẳng nói rằng bực tu Đà Hoàn có đọa ba đường ác
hay chẳng đọa ba đường ác, cớ gì người nầy lại sanh
lòng nghi !
_ Bạch
Thế Tôn ! Như Phật nói phải trước có thấy rồi sau mới
nghi. Nhưng có người lúc chưa thấy hai vật cũng lại sanh
nghi. Như đối với Niết Bàn. Như có người đi đường gặp
dòng nước đục, trước kia chưa từng thấy mà cũng sanh nghi
rằng dòng nước nầy sâu hay cạn.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Luận về Niết Bàn chính là dứt khổ, chẳng
phải là Niết Bàn thời chính là khổ. Tất cả chúng sanh
thấy có khổ cùng chẳng phải khổ. Như thấy đói khát, lạnh
nóng, giận mừng, bịnh gầy, an ổn, trẻ, già, sống chết,
trói buộc, cởi mở, ân ái biệt ly, oán thù gặp gỡ, sau
khi thấy những việc nầy, chúng sanh bèn nghi rằng sẽ có
những gì xa lìa vĩnh viễn những sự khổ não nầy chăng ?
Do đây nên chúng sanh đối với Niết Bàn mà sanh nghi.
Nếu
ông cho rằng người đó từ trước đến nay chưa từng thấy
dòng nước đục nầy sao lại sanh nghi. Lời nói nầy không
đúng nghĩa, vì người đó ở nơi chỗ khác đã từng thấy
rồi, nên ở nơi chỗ mới đến nầy mà sanh nghi.
_ Bạch
Thế Tôn ! Người đó lúc trước thấy nước sâu cạn đã
chẳng sanh nghi, nay cớ gì mà sanh nghi ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì trước kia chưa đi nên sanh nghi. Do đây
nên ta nói rằng vì trong tâm họ chẳng nhận được rõ ràng
nên sanh nghi.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như lời Phật nói nghi chính là chấp trước, chấp
trước chính là nghi, đây là ngườ nào ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Là người dứt căn lành.
_ Bạch
Thế Tôn ! Những hạng người nào có thể dứt căn lành.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Người thông minh lanh lợi có thể khéo phân
biệt, nếu xa lìa bạn lành chẳng nghe chánh pháp, chẳng khéo
tư duy, chẳng thật hành đúng pháp, người nầy có thể dứt
căn lành.
Người
thông minh nầy vì thiếu bốn điều trên mà tự suy nghĩ rằng
: Không có vật bố thí, vì người thí là rời bỏ của cải,
nếu bố thí mà có quả báo, thời thí chủ phải thường
nghèo cùng, vì nhơn cùng quả giống nhau. Do suy nghĩ những
việc như vậy nên người nầy nói rằng không nhơn không quả.
Nếu nói không nhơn không quả như vậy thời gọi là dứt
căn lành.
Người
thông minh nầy lại suy nghĩ rằng : Thí chủ, người thọ và
tài vật đều là vô thường biến đổi, nếu không biến
đổi sao lại nói rằng đây là thí chủ, đây là người thọ,
đây là của cải, nếu không người thọ sao lại được quả
báo, do nghĩa nầy nên biết rằng không nhơn không quả. Nếu
nói không nhơn không quả như vậy thời gọi là dứt căn lành.
Người
thông minh nầy lại suy nghĩ rằng : Lúc thí chủ bố thí có
năm sự bố thí : Người thọ thí khi lãnh được của cải
rồi hoặc làm lành, hoặc làm điều chẳng lành, mà thí chủ
nầy cũng chẳng mắc phải quả báo lành hay chẳng lành, như
trong đời từ hột sanh ra trái, rồi từ trái trở lại có
hột. Nhơn chính là thí chủ, quả chính là người thọ, mà
người thọ nầy không thể đem điều thiện, điều bất thiện
của mình đã làm khiến cho thí chủ được quả báo thiện
cùng bất thiện, do nghĩa nầy nên không nhơn không quả. Nếu
nói không nhơn không quả như vậy, nên biết người nầy có
thể dứt căn lành.
Người
thông minh nầy lại suy nghĩ rằng : Không có vật bố thí,
vì vật bố thí là vô ký, đã là vô ký thời đâu có quả
báo lành, không quả báo lành tức là vô ký, của vật nếu
là vô ký nên biết rằng không có quả báo thiện ác, nên
không có sự bố thí không nhơn không quả. Nếu nói rằng
không nhơn không quả như vậy phải biết người nầy có thể
dứt căn lành.
Người
thông minh nầy lại suy nghĩ rằng : Người bố thí do nơi ý,
ý nầy chẳng phải là sắc pháp, không thể thấy không đối
tượng, đã chẳng phải là sắc pháp thời đâu có thể bố
thí, do đây nên không có sự bố thí không nhơn không quả.
Nếu nói không nhơn không quả như vậy, phải biết rằng người
nầy có thể dứt căn lành.
Người
thông minh lại suy nghĩ rằng : Nếu thí chủ cúng thí cho tượng
Phật, tượng chư Thiên cho cha mẹ đã qua đời, như vậy là
có người thí mà không người thọ, nếu không người thọ
thời lẽ ra không quả báo, nếu không quả báo thời là không
nhơn, nếu đã không nhơn thời là không quả. Nếu nói không
nhơn quả như vậy, phải biết rằng người nầy có thể dứt
căn lành.
Người
thông minh nầy lại suy nghĩ rằng : Không cha không mẹ. Nếu
nói cha mẹ là nhơn sanh ra chúng sanh, đúng lý phải thường
sanh không có đoạn tuyệt, vì nhơn là thường có, nhưng chẳng
thường sanh, do đây nên biết rằng không có cha mẹ. Người
nầy lại nghĩ rằng : Không cha không mẹ. Vì nếu thân chúng
sanh do cha mẹ mà có, lẽ ra một người phải đủ cả hai
căn nam nữ, nhưng sự thật không có đủ, do đây biết rằng
chúng sanh chẳng phải do cha mẹ mà có. Người nầy lại
nghĩ rằng chẳng phải do cha mẹ mà có ra chúng sanh, vì chính
mắt họ thấy chúng sanh chẳng giống với cha mẹ, nghĩa là
thân hình diện mạo tâm tánh đi đứng cử động chẳng giống
với cha mẹ, nên cha mẹ chẳng phải là nhơn sanh ra chúng sanh.
Người nầy lại nghĩ rằng trong đời có bốn thứ không có
: Một là chưa sanh gọi là không có, như lúc còn là viên đất
sét thời chưa có công dụng của cái bình ; hai là đã diệt
mất gọi là không có, như cái bình đã bể hư thời gọi
là không có ; ba là riêng khác nhau nên lẫn không có, như trong
bò không có ngựa trong ngựa không có bò ; bốn là rốt ráo
gọi là không có, như sừng thỏ lông rùa. Cha mẹ cũng đồng
như bốn thứ không có nầy. Nếu nói cha mẹ là nhơn có ra
chúng sanh, lúc cha mẹ chết đứa con bất tất cũng chết,
do đây nên cha mẹ chẳng phải là nhơn sanh ra chúng sanh. Người
nầy lại nghĩ rằng : Nếu nói cha mẹ là nhơn sanh ra chúng
sanh, lẽ ra nhơn nơi cha mẹ thường sanh ra chúng sanh, nhưng
lại có hóa sanh và thấp sanh, do đây nên biết chẳng phải
nhơn nơi cha mẹ sanh ra chúng sanh. Người nầy lại nghĩ rằng
: Tự có chúng sanh chẳng phải nhơn nơi cha mẹ mà được
sanh trưởng như chim công nghe tiếng sấm nổ mà có trứng,
như chim thanh tước uống nước mắt của chim tước trống
mà có trứng, như chim cộng mạng thấy chim trống múa bèn
có trứng. Người nầy lúc suy nghĩ những điều trên đây
nếu chẳng gặp được bực thiện tri thức khai thị, phải
biết rằng người nầy có thể dứt căn lành.
Người
thông minh nầy lại nghĩ rằng : Trong đời không có quả thiện
ác, vì có những chúng sanh tu tập đủ mười điều lành,
ưa thật hành bố thí siêng làm công đức, mà những người
nầy cũng lại bị các bịnh tật nhóm trên thân, hoặc chết
yểu, hoặc mất của, hoặc nhiều sự lo khổ. Cũng có những
người tạo đủ mười điều dữ, tham lam bỏn xẻn tật đố
giải đãi, mà lại mạnh khỏe sống lâu, hoặc giàu có
không sầu khổ, do đây nên biết rằng không có quả thiện
ác. Người nầy lại nghĩ rằng : Tôi cũng từng nghe các thánh
nhơn nói có người tu tập pháp lành khi chết bị đọa trong
ba đường dữ. Có người làm điều ác khi chết sanh trong
loài người trên trời, do đây nên biết rằng không quả thiện
ác. Người nầy lại nghĩ rằng : Các thánh nhơn nói hai thuyết
: Hoặc nói sát sanh được quả báo lành, hoặc nói sát
sanh mắc quả báo dữ. Thánh nhơn còn nói bất định, tại
sao tôi lại nói quyết định, do đây nên biết không có quả
thiện ác.
Người
thông minh nầy lại nghĩ rằng : Trong đời không có thánh nhơn,
vì nếu nói là thánh nhơn thời phải chứng được thánh đạo.
Tất cả chúng sanh lúc có đủ phiền não tu hành chánh đạo,
nên biết rằng người nầy đồng thời đủ có phiền não
và chánh đạo. Nếu đồng thời có thời chánh đạo chẳn
g phá được kiết sử. Nếu không phiền não mà tu hành chánh
đạo, thời chánh đạo ấy dùng làm gì ? Do đây nên người
đủ phiền não thời chánh đạo chẳng thể phá hoại được,
người không phiền não thời chánh đạo lại vô dụng. Do
đây nên biết trong đời không có bực thánh nhơn.
Người
thông minh nầy lại nghĩ rằng : Vô minh làm duyên cho hành,
nhẫn đến sanh làm duyên cho lão tử, mười hai nhơn duyên
nầy tất cả chúng sanh đồng có. Tám thánh đạo tánh
nó bình đẳng cũng như vậy, lúc một người được, thời
tất cả người lẽ ra cũng được, lúc một người tu hành
lẽ ra tất cả khổ đều diệt, vì phiền não bình đẳng.
Mà nay chẳng đồng chứng đặng, do đây nên biết rằng không
có chánh đạo.
Người
thông minh nầy lại nghĩ rằng : Các thánh nhơn đều có những
pháp đồng với phàm phu, như là uống ăn, đi đứng ngồi
nằm, ngủ nghỉ, vui cười, đói khát, lạnh nóng, lo buồn
sợ sệt. Nếu đã đồng với phàm phu có những việc như
vậy, nên biết rằng bực thánh nhơn chẳng chứng được thánh
đạo, nếu đã được thánh đạo lẽ ra phải dứt hẳn những
việc như vậy. Những việc như vậy nếu đã chẳng dứt,
do đây nên biết rằng không thánh đạo.
Người
thông minh nầy lại nghĩ rằng : Thánh nhơn có thân thọ vui
ngũ dục, cũng mắng nhiếc đánh đập người, cũng tật đố
kiêu mạn thọ những sự khổ vui, tạo nghiệp thiện ác, do
đây nên biết rằng không có thánh nhơn. Nếu có chánh đạo
lẽ ra đã dứt những việc nầy, nếu những việc nầy chẳng
dứt nên biết rằng không chánh đạo.
Người
thông minh nầy lại nghĩ rằng : Người nhiều lòng từ mẫn
gọi là thánh nhơn. Do nhơn duyên gì gọi là thánh nhơn ? Nhơn
nơi thánh đạo mà gọi là thánh nhơn. Nếu tánh của thánh
đạo là từ mẫn, thời nên thương xót tất cả chúng sanh,
chẳng cần chờ tu hành rồi mới đặng. Nếu như không từ
mẫn cớ sao thánh nhơn chứng được thánh đạo lại hay từ
mẫn, do đây nên biết trong đời không có thánh đạo.
Người
thông minh nầy lại nghĩ rằng : Tất cả tứ đại chẳng từ
nhơn duyên sanh. Chúng sanh đồng có tánh tứ đại nầy. Chẳng
quán sát chúng sanh đáng đến bờ nầy, chẳng đáng đến
bờ kia, nếu là có thánh đạo, thời tánh của thánh đạo
lẽ ra cũng như vậy, nhưng nay chẳng phải như vậy, do đây
nên biết rằng trong đời không có thánh nhơn.
Người
thông minh nầy lại nghĩ rằng : Nếu các bực thánh nhơn có
một Niết Bàn thời nên biết rằng không có thánh nhơn. Vì
Niết Bàn là bất khả đắc. Pháp thường trụ là bất khả
đắc chẳng thể lấy chẳng thể bỏ. Nếu các bực thánh
nhơn có nhiều Niết Bàn thời là vô thường, vì là pháp có
thể đếm được. Niết Bàn nếu là một, lúc một người
được thời lẽ ra tất cả đều được. Nếu Niết Bàn là
nhiều thời là có chừng ngằn, nếu là có chừng ngằn
thời đâu được gọi là thường trụ. Nếu nói rằng thể
của Niết Bàn là một, mà người giải thoát là nhiều, như
một cây lọng là một mà cọng cánh lá nhiều, lời nói nầy
chẳng đúng nghĩa, vì mỗi người chứng đặng chẳng phải
tất cả người chứng đặng, bởi có chừng ngằn lẽ ra là
vô thường nếu đã là vô thường thời đâu được gọi
là Niết Bàn. Nếu không có Niết Bàn thời ai là bực thánh
nhơn ? Do đây nên biết rằng không có thánh nhơn.
Người
thông minh nầy lại nghĩ rằng : Chánh đạo của thánh nhơn
chẳng phải do nhơn duyên mà được. Nếu chánh đạo của
thánh nhơn đã chẳng phải do nhơn duyên mà được, cớ sao
tất cả chúng sanh chẳng làm thánh nhơn. Nếu tất cả người
chẳng phải là thánh nhơn, thời biết rằng không có thánh
nhơn và không có thánh đạo.
Người
thông minh lại nghĩ rằng : Thánh nhơn nói có hai nhơn duyên
được chánh kiến : Một là nghe người khác thuyết pháp,
hai là tự mình tư duy. Hai nhơn duyên nầy đã từ duyên sanh,
thời duyên nầy lại từ duyên khác mà sanh, xoay vần mãi như
vậy thành ra có lỗi vô cùng. Nếu hai nhơn duyên nầy chẳng
từ duyên sanh, thời tất cả chúng sanh do cớ gì mà chẳng
đều được.
Lúc
người thông minh nầy suy nghĩ những điều như trên thời
có thể dứt mất căn lành.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có chúng sanh nào chấp chặt những điều
không nhơn không quả như vậy người nầy có thể dứt mất
năm căn : Tín, tấn, niệm, định và huệ. Người dứt mất
căn lành chẳng phải là người hạ liệt, ngu độn, cũng chẳng
phải chư thiên, chẳng phải ba ác đạo. Người phá Tăng cũng
như vậy.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch Phật rằng : Thế Tôn ! Người như vậy,
lúc nào sẽ có thể sanh căn lành trở lại.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Người nầy có hai lúc sanh căn lành trở lại
: Lúc mới vào địa ngục và lúc ra khỏi địa ngục.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Căn lành có ba thứ : Quá khứ, hiện tại và
vị lai. Nếu là quá khứ thời tánh nó tự diệt, dầu nhơn
diệt nhưng quả báo chưa thục nên chẳng gọi là dứt quả
quá khứ. Vì dứt nhơn lành ba đời nên gọi là dứt
mất.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu dứt nhơn lành ba đời mà gọi là mất căn
lành, người dứt căn lành vẫn có Phật tánh, Phật tánh nầy
là quá khứ, là hiện tại, là vị lai, hay là khắp cả ba
đời ? Nếu là quá khứ thế nào gọi là thường. Phật tánh
là thường trụ nên biết rằng không phải là quá khứ. Nếu
là vị lai thế nào gọi là thường ? Cớ sao Phật nói rằng
tất cả chúng sanh quyết định sẽ được ? Nếu quyết định
được thời sao lại nói rằng dứt mất ? Nếu là hiện tại
sao lại là thường ? Cớ sao lại nói rằng quyết định có
thể thấy ?
Đức
Như Lai cũng nói rằng Phật tánh cũng có sáu : Một là thường,
hai là chơn, ba là thật, bốn là thiện, năm là tịnh, sáu
là có thể thấy. Nếu người dứt mất thiện căn mà có Phật
tánh thời chẳng được gọi là dứt mất căn lành. Nếu không
có Phật tánh sao lại nói rằng tất cả chúng sanh đều có
Phật tánh. Nếu nói rằng Phật tánh cũng có, cũng dứt, thế
nào đức Như Lai lại nói Phật tánh là thường trụ ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai vì chúng sanh nên có ba thứ giải
đáp : Một là đáp quyết định, hai là phân biệt mà đáp,
ba là theo lời hỏi mà đáp, bốn là yên lặng mà đáp.
Thế
nào là quyết định đáp ? Nếu có ai hỏi rằng nghiệp ác
cảm quả lành hay quả chẳng lành ? Thời nêu quyết định
đáp rằng cảm quả chẳng lành. Hỏi thiện nghiệp cũng đáp
như vậy . Nếu hỏi đức Như Lai có phải là bực nhứt thiết
trí chăng ? Thời nên quyết định đáp rằng là bực nhứt
thiết trí. Nếu hỏi Phật pháp là thanh tịnh chăng ?
Thời nên quyết định đáp rằng là thanh tịnh. Nếu hỏi
đệ tử của Phật có ăn ở đúng như pháp chăng ? Thời nên
quyết định đáp rằng có đúng như pháp mà ở. Đây gọi
là quyết định đáp.
Thế
nào là phân biệt mà đáp ? _ Như đức Phật giảng nói bốn
chơn đế. _ Thế nào là bốn ? _ Là khổ tập diệt đạo.
_ Sao gọi rằng khổ đế ? _ Vì có tám điều khổ nên gọi
là khổ đế. _ Thế nào là tập đế ? _ Vì là nhơn của ngũ
ấm nên gọi là tập đế. _ Thế nào là diệt đến ? _ Vì
đã dứt hẳn tham sân si nên gọi là diệt đế. _ Thế nào
là đạo đế ? _ Ba mươi bảy pháp trợ đạo gọi đó là
đạo đế. Đây gọi là phân biệt mà giải đáp.
Thế
nào là theo lời hỏi mà đáp ? Hỏi rằng đức Thế Tôn nói
những pháp gì là vô thường ? _ Đáp rằng đức Như Lai nói
pháp hữu vi là vô thường. Vô ngã cũng như vậy. _ Hỏi
rằng đức Thế Tôn vì những pháp gì mà nói tất cả đốt
cháy ? _ Đáp rằng đức Như Lai vì tham, sân, si mà nói tất
cả đốt cháy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai có mười trí lực, bốn vô sở
úy, ba niệm xứ, Đại Từ Đại Bi, Thủ Lăng Nghiêm v.v…tám
muôn ức môn Tam Muội, ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp,
năm trí ấn v.v… ba muôn năm ngàn môn Tam Muội, Kim Cang định
v.v…bốn ngàn hai trăm môn Tam Muội, vô lượng vô biên phương
tiện Tam Muội, những công đức trên đây là Phật tánh của
Phật. Phật tánh nầy có bảy điều : Thường, lạc, ngã,
tịnh, chơn, thật và thiện. Đây gọi là phân biệt mà giải
đáp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Phật tánh của Bồ Tát thân rốt sau có
sáu điều : Thường, tịnh, chơn, thật, thiện và thiểu kiến.
Đây gọi là phân biệt mà giải đáp.
Như
trước kia ông hỏi : Người dứt mất căn lành có Phật tánh.
Người nầy cũng có Phật tánh của Như Lai, cũng có Phật
tánh của Bồ Tát thân rốt sau. Hai Phật tánh nầy vì chướng
ngại vị lai nên được gọi là không, vì rốt ráo sẽ được
nên gọi là có. Đây gọi là phân biệt mà đáp.
Phật
tánh của Như Lai chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại,
chẳng phải vị lai.
Phật
tánh của Bồ Tát thân rốt sau là hiện tại và vị lai : Vì
có thể thấy phần ít nên gọi là hiện tại, vì chưa thấy
đầy đủ nên gọi là vị lai.
Đức
Như Lai lúc chưa chứng được vô thượng Bồ Đề, về nhơn
Phật tánh cũng là quá khứ, hiện tại và vị lai. Về quả
Phật tánh thời chẳng như vậy : Có là ba đời, có chẳng
phải ba đời.
Phật
tánh của Bồ Tát thân rốt sau về nhơn cũng là ba đời, về
quả cũng như vậy. Đây gọi là phân biệt mà đáp.
Phật
tánh của Cửu Trụ Bồ Tát có sáu điều : Thường, thiện,
chơn, thật, tịnh, khả kiến. Nhơn Phật tánh cũng là ba đời,
quả cũng như vậy. Đây gọi là phân biệt mà nói.
Bát
Trụ Bồ Tát xuống đến bực Lục Trụ, Phật tánh có năm
điều : Chơn, thật, tịnh, thiện và khả kiến. Nhơn Phật
tánh cũng là ba đời, quả cũng như vậy. Đây gọi là phân
biệt mà đáp.
Ngũ
Trụ Bồ Tát xuống đến bực Sơ Trụ, Phật tánh có năm điều
: Chơn, thật, tịnh, khả kiến và thiện bất thiện.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Năm thứ Phật tánh, sáu thứ Phật tánh, bảy
thứ Phật tánh, người dứt mất căn lành quyết sẽ được
nên gọi là có, đây gọi là phân biệt mà đáp.
Nếu
nói rằng người dứt mất căn lành quyết định có Phật
tánh quyết định không Phật tánh. Đây gọi là yên lặng
mà đáp.
_ Bạch
Thế Tôn ! Tôi nghe rằng chẳng đáp mới gọi là yên lặng
mà đáp. Nay cớ gì đức Như Lai đáp mà lại gọi là yên
lặng đáp ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta cũng chẳng nói ra, để đó chẳng giải
đáp nên gọi là yên lặng mà đáp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Yên lặng đáp như vậy lại có hai thứ : Một
là ngăn dứt, hai là chẳng chấp trước. Do nghĩa nầy nên
được gọi là yên lặng đáp.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như lời Phật nói, thế nào gọi rằng nhơn Phật
tánh cũng là ba đời, quả cũng là ba đời, lại chẳng phải
là ba đời ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ngũ ấm có hai thứ : Một là nhơn hai là quả.
Nhơn ngũ ấm nầy cũng là ba đời, quả ngũ ấm nầy cũng
là ba đời mà cũng chẳng phải là ba đời.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả những kiết sử vô minh phiền não
đều là Phật tánh, vì là nhơn của Phật tánh. Từ vô minh,
hành và các phiền não mà được ngũ ấm lành, đây gọi là
Phật tánh. Từ ngũ ấm lành nhẫn đến chứng đặng vô thượng
Bồ Đề. Do đây nên trong kinh ta nói trước rằng Phật tánh
của chúng sanh như sữa lẫn lộn trong máu. Máu là nói vô
minh, hành v.v… tất cả những phiền não. Sữa là nói ngũ
ấm lành. Nên ta nói rằng do từ những phiền não và ngũ ấm
lành mà chứng được vô thượng Bồ Đề như thân chúng sanh
đều do từ tinh huyết mà được thành, Phật tánh cũng như
vậy.
Bực
Tu Đà Hoàn và Tư Đà Hàm dứt phần ít phiền não, Phật tánh
của những bực nầy như sữa. Bực A Na Hàm Phật tánh như
lạc. Bực A La Hán Phật tánh như sanh tô. Từ bực Bích Chi
Phật đến Thập Trụ Bồ tát, Phật tánh như thục tô. Phật
tánh của đức Như Lai như đề hồ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì phiền não hiện tại chướng ngăn làm cho
chúng sanh chẳng thấy được Phật tánh. Như trong núi Hương
Sơn có cỏ nhẫn nhục chẳng phải tất cả bò đều có thể
được ăn. Phật tánh cũng như vậy. Đây gọi là phân biệt
và giải đáp.
_ Bạch
Thế Tôn ! Năm thứ, sáu thứ, bảy thứ Phật tánh, nếu là
đến vị lai sẽ có, tại sao nói rằng người dứt căn
lành có Phật tánh ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Như các chúng sanh có nghiệp quá khứ, do nghiệp
nầy mà chúng sanh thọ lấy quả báo hiện tại. Có nghiệp
vị lai vì chưa sanh nên trọn chẳng thành quả. Chúng sanh hiện
tại có phiền não, nếu không phiền não thời tất cả chúng
sanh lẽ ra phải thấy rõ Phật tánh hiện tại. Do đây nên
người dứt căn lành do phiền não đời hiện tại nên có
thể dứt căn lành, do năng lực Phật tánh đời vị lai nên
căn lành sanh trở lại.
_ Bạch
Thế Tôn ! Đời vị lai thế nào có thể sanh căn lành ?
_Nầy
Thiện Nam Tử ! Như ngọn đèn và mặt trời dầu lại là vị
lai mới sáng nhưng cũng phá tối tăm. Tánh vị lai có thể
sanh ra chúng sanh, Phật tánh đời vị lai cũng như vậy. Đây
gọi là phân biệt mà giải đáp.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu nói ngũ ấm là Phật tánh tại sao nói rằng
Phật tánh của chúng sanh chẳng phải trong chẳng phải ngoài.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Cớ sao quên mất như vậy. Trước kia ta chẳng
nói rằng Phật tánh của chúng sanh là trung đạo ư ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Thiệt ra tôi chẳng quên lời Phật dạy. Chỉ vì
chúng sanh chẳng hiểu được trung đạo nầy nên bạch hỏi
đức Phật như vậy.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Chỗ mà chúng sanh chẳng hiểu được chính
đó là trung đạo. Có lúc hoặc có hiểu hoặc có người chẳng
hiểu. Ta vì muốn làm cho chúng sanh được hiểu rõ nên nói
Phật tánh của chúng sanh chẳng phải trong chẳng phải ngoài.
Vì kẻ phàm phu cho rằng Phật tánh ở trong ngũ ấm, như trái
cây đựng trong chậu. Cũng có kẻ cho rằng rời ngoài ngũ
ấm mà có Phật tánh, như hư không. Do đây nên đức Như Lai
nói nghĩa trung đạo : Phật tánh của chúng sanh chẳng phải
là sáu căn ở trong, chẳng phải là sáu trần ở ngoài. Vì
hiệp trong và ngoài nên gọi là trung đạo. Do đây đức Như
Lai nói rằng : Phật tánh chẳng phải trong chẳng phải ngoài,
nên gọi là trung đạo, đây là phân biệt mà giải đáp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thế nào gọi là chẳng phải trong chẳng phải
ngoài ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có người nói rằng Phật tánh chính là ngoại
đạo, vì các bực đại Bồ Tát trải qua vô lượng kiếp
ở trong ngoại đạo, mà dứt phiền não điều phục tâm của
mình, giáo hoá vô lượng chúng sanh, rồi sau mới được vô
thượng Bồ Đề.
Hoặc
có người cho rằng Phật tánh chính là nội đạo. Vì đại
Bồ Tát dầu trong vô lượng kiếp tập học ngoại đạo, nhưng
nếu rời nội đạo thời chẳng thể được vô thượng Bồ
Đề.
Đức
Như Lai vì ngăn hai thứ chấp trước nầy nên nói rằng Phật
tánh chẳng phải trong chẳng phải ngoài, cũng gọi là trong
ngoài, đây là trung đạo.
Có
người nói Phật tánh chính là Kim Cang của Như Lai : Ba mươi
hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Có người nói Phật tánh
chính là mười trí lực, bốn món vô sở úy, đại từ đại
bi, tam niệm xứ, Thủ Lăng Nghiêm v.v… tất cả môn Tam Muội,
vì do những Tam Muội nầy mà sanh ra thân Kim Cang ba mươi hai
tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Đức Như Lai vì ngăn hai
sự chấp trước nầy nên nói rằng Phật tánh chẳng phải
trong, chẳng phải ngoài cũng là trong ngoài, đây gọi là trung
đạo.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có người cho rằng Phật tánh chính là trong
tâm khéo tư duy, vì rời khéo tư duy thời chẳng thể được
vô thượng Bồ Đề. Có người nói rằng Phật tánh chính
là do nghe pháp với người khác, vì nghe pháp với người khác
thời có thể trong tâm khéo tư duy, nếu chẳng nghe pháp thời
không tư duy.
Do
đây nên Như Lai vì ngăn hai sự chấp trước nầy nên nói
Phật tánh chẳng phải trong chẳng phải ngoài, cũng là trong
ngoài, đây gọi là trung đạo.
Lại
có người nói Phật tánh là ngoài nghĩa là Đàn Ba La Mật.
Từ Đàn Ba La Mật mà chứng được vô thượng Bồ Đề. Có
người nói Phật tánh là trong nghĩa là năm môn Ba La Mật,
vì rời năm môn nầy thời không có nhơn quả Phật tánh.
Do
đây nên Như Lai vì ngăn hai thứ chấp trước nầy mà nói
Phật tánh chẳng phải trong chẳng phải ngoài, đây gọi là
trung đạo.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có người nói Phật tánh ở nơi trong, như
viên bảo châu trtên trán của lực sĩ, vì thường, lạc, ngã,
tịnh như bảo châu. Có người nói Phật tánh ở nơi ngoài
như kho báu của bần nữ, vì do phương tiện mà được thấy.
Vì
ngăn hai thứ chấp trước nầy nên đức Như Lai nói rằng
Phật tánh chẳng phải trong, chẳng phải ngoài cũng là trong
ngoài, đây gọi là trung đạo.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Phật tánh của chúng sanh chẳng phải có chẳng
phải không. Vì Phật tánh dầu là có nhưng chẳng phải như
hư không. Vì hư không của thế gian dầu dùng vô lượng thiện
xảo phương tiện cũng chẳng thể thấy được, còn Phật
tánh thời có thể thấy, do đây nên Phật tánh dầu là có
nhưng chẳng phải như hư không.
Phật
tánh dầu là không nhưng chẳng đồng như sừng thỏ. Vì lông
rùa, sừng thỏ dầu dùng vô lượng thiện xảo phương tiện
cũng chẳng thể sanh lên được, còn Phật tánh thời có thể
sanh. Do đây nên Phật tánh chẳng phải có, chẳng phải không,
cũng là có, cũng là không.
Thế
nào gọi là có ? Tất cả chúng sanh đều có chẳng dứt chẳng
diệt, dường như ngọn đèn, mãi đến chứng đặng vô thượng
Bồ Đề, nên gọi là có Phật tánh.
Thế
nào gọi là không ? Tất cả chúng sanh hiện tại chưa có đủ
tất cả Phật pháp thường, lạc, ngã, tịnh nên gọi là không
Phật tánh.
Vì
có và không hiệp lại chính là trung đạo, nên đức Như Lai
nói Phật tánh chúng sanh chẳng phải có, chẳng phải không.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như có người hỏi trong hột giống nầy có
trái hay không ? Tất phải đáp rằng cũng có cũng không. Vì
ngoài hột giống thời không thể sanh ra trái nên gọi là có,
còn hột giống chưa mọc mọng nên gọi rằng không. Do nghĩa
nầy nên nói cũng có cũng không. Vì thời tiết có khác, nhưng
thể chất của hột giống là một. Phật tánh của chúng sanh
cũng như vậy. Nếu nói rằng trong chúng sanh riêng có Phật
tánh thời không đúng nghĩa. Vì chúng sanh là Phật tánh, Phật
tánh là chúng sanh, chỉ do thời gian có tịnh và bất tịnh
sai khác.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có người hỏi hột nầy có thể sanh
trái chăng, trái nầy có thể sanh hột chăng ? Tất phải đáp
rằng cũng sanh cũng chẳng sanh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như người đời nói rằng trong sữa có chất lạc,
nghĩa nầy như thế
nào
?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nói trong sữa có chất lạc thời
là chấp trước. Nếu nói trong sữa không chất lạc thời
là hư vọng. Tất phải nói rằng cũng có cũng không. Từ sữa
sanh ra chất lạc : Nhơn là sữa, quả là lạc, đây gọi là
có. Màu sắc cùng mùi vị đều khác nhau, ăn dùng cũng chẳng
đồng : Bịnh nóng thời dùng sữa, bịnh lạnh thời dùng lạc,
sữa sanh bịnh lạnh, lạc sanh bịnh nóng.
Nếu
nói trong sữa có tánh của lạc, sữa là lạc, lạc là sữa,
hai thứ đồng một tánh, nhơn duyên gì mà sữa lại có trước,
còn lạc chẳng sanh ra trước ? Nếu có nhơn duyên tại sao
tất cả người đời chẳng nói ? Nếu không nhơn duyên cớ
sao lạc chẳng sanh ra trước ? Nếu lạc chẳng sanh ra trước
thời ai làmra có thứ tự : Sữa, lạc, sanh, tô, thục tô,
đề hồ ? Do đây nên biết rằng chất lạc trước không
có nay mới có, nếu là trước không nay có thời là pháp vô
thường.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nói rằng trong sữa có chất lạc có thể
sanh ra lạc, trong nước không có chất lạc nên chẳng
sanh ra lạc, lời nầy không đúng nghĩa. Vì nước cỏ cũng
có tánh chất của sữa và lạc, vì do nước cỏ mà sanh ra
sữa và lạc. Nếu nói trong sữa quyết định có chất lạc,
còn nước cỏ không chất lạc, lời nầy gọi là hư
vọng, vì tâm chẳng bình đẳng nên gọi là hư vọng.
Nầy
Thiện nam Tử ! Nếu nói trong sữa quyết định có chất lạc,
thời lẽ ra trong chất lạc cũng quyết định có chất sữa.
Cớ gì trong sữa sanh ra lạc mà trong lạc chẳng sanh ra sữa
? Nếu là không duyên cớ thời nên biết rằng chất lạc
nầy trước không mà nay có. Do đây nên người trí phải nói
rằng trong sữa chẳng phải có chất lạc chẳng phải không
chất lạc.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Do đây nên đức Như Lai từng nói trong khế
kinh rằng :Nếu cho tất cả chúng sanh quyết định có Phật
tánh thời gọi là chấp trước, nếu cho không Phật tánh thời
gọi là hư vọng. Người trí nên nói rằng : Phật tánh của
chúng sanh cũng có cũng không.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Do bốn pháp hòa hiệp mà có nhãn thức : Nhãn
căn, sắc trần, ánh sáng, tác ý. Tánh nhãn thức nầy chẳng
phải là nhãn căn, chẳng phải sắc trần, chẳng phải ánh
sáng, chẳng phải tác ý. Do bốn pháp nầy hòa hiệp mà nhãn
thức được sanh. Nhãn thức như vậy là trước không mà nay
có, đã có trở lại không. Do đây nên biết rằng nhãn thức
vốn không có tánh. Chất lạc ở trong sữa cũng như vậy.
Nếu
nói rằng trong nước không chất lạc nên chẳng xuất sanh
ra lạc, còn trong sữa sanh ra lạc, nên trong sữa quyết định
có chất lạc. Lời nói trên đây không đúng nghĩa. Vì tất
cả pháp : Nhơn khác, quả khác, cũng chẳng phải một nhơn
sanh tất cả quả, chẳng phải tất cả quả từ một nhơn
sanh. Như do bốn pháp sanh ra nhãn thức, chẳng nên nói rằng
từ bốn pháp nầy phải sanh ra nhĩ thức hay tỷ thức.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Rời các phương tiện thời không thể được
chất lạc trong sữa, cũng không thể từ chất lạc sanh ra
chất tô. Do đây nên cần phải có phương tiện. Người trí
chẳng nên có quan niệm rằng rời các phương tiện mà được
chất lạc từ nơi sữa. Được sanh tô cũng như vậy.
Do
đó nên trong khế kinh ta từng nói : Vì “nhơn” sanh nên có
pháp, vì “ nhơn” diệt nên không pháp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như muối tánh chất là mặn có thể làm cho
vật chẳng phải mặn thành mặn. Nếu vật chẳng phải mặn
mà trước có tánh chất mặn, cớ sao người đời cho rằng
chẳng phải là muối ư ! Nếu trước không mặn thời nên
biết rằng trước không mà nay có, do các duyên khác mà thành
mặn.
Nếu
nói rằng tất cả vật chẳng mặn đều có tánh chất mặn
vì quá ít nên chẳng biết, do tánh chất quá ít nầy nên muối
có thể làm cho vật ấy thành mặn, nếu vốn không tánh chất
mặn thời dầu có muối cũng chẳng thể làm thành mặn
được. Như hột giống tự nó có tứ đại, duyên nhờ tứ
đại ngoài mà nó được tăng trưởng : Nẩy mầm, lên cây,
đâm chồi ra lá, tánh chất của muối cũng vậy. Lời nói
trên đây không đúng nghĩa, vì vật chẳng mặn nếu trước
đã có tánh chất mặn, muối lẽ ra cũng có tánh chất chút
ít chẳng mặn. Muối nầy nếu có hai tánh chất như vậy,
duyên cớ gì rời vật chẳng mặn nó không thể riêng dùng
? Do đây nên biết muối vốn không có hai tánh. Như muối không
có hai tánh, tất cả vật chẳng mặn cũng không có hai tánh
như vậy.
Nếu
nói rằng tứ đại ngoài có năng lực làm tăng trưởng tứ
đại trong. Lời nói nầy không đúng nghĩa, vì là theo thứ
tự mà nói chẳng phải từ phương tiện : Trong sữa được
chất lạc, chất sanh tô, nhẫn đến tất cả pháp đều cũng
chẳng phải do phương tiện mà được, tứ đại cũng như
vậy. Nếu nói từ tứ đại trong tăng trưởng tứ đại ngoài.
Như trái Thi lợi sa, từ trước không hình chất, lúc gặp
sao Mão mọc thời sanh trái lớn đủ năm tấc. Trái nầy thiệt
chẳng do nơi tứ đại ngoài mà tăng trưởng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như mười hai bộ kinh của ta nói : Hoặc tùy
tự ý mà nói, hoặc tùy tha ý mà nói, hoặc tùy tự tha ý
mà nói.
Thế
nào gọi là tùy tự ý mà nói ? Như năm trăm Tỳ Kheo hỏi
Xá Lợi Phất : Bạch Đại Đức ! Phật nói nhơn của thân
là những gì ? Xá Lợi Phất nói : Chư Đại Đức cũng đều
được chánh giải thoát tự mình nên biết đó, duyên cớ
gì mà hỏi như vậy ? Có Tỳ Kheo nói : Bạch Đại Đức !
Lúc tôi chưa được chánh giải thoát, cho rằng vô minh là
nhơn của thân, lúc quán sát như vậy chứng được quả A
La Hán.
Lại
có Tỳ Kheo nói : Bạch Đại Đức ! Lúc tôi chưa được chánh
giải thoát, cho rằng thọ và vô minh là nhơn của thân, lúc
quán sát như vậy đặng quả A La Hán.
Hoặc
có Tỳ Kheo nói : Hành, thức, danh, sắc, lục nhập, xúc, thọ,
ái, thủ, hữu, sanh, ẩm thực, ngũ dục là nhơn của thân.
Lúc
đó năm trăm Tỳ Kheo mỗi người tự nói chỗ hiểu biết
của mình rồi, bèn cùng nhau đến đảnh lễ chơn Phật, đi
nhiễu ba vòng rồi ngồi qua một bên. Mỗi người tự đem
chổ hiểu của mình như đã nói ở trên mà bạch với Phật.
Xá Lợi Phất bạch rằng : Thế Tôn ! Những Tỳ Kheo nầy ai
là chánh thuyết, ai là không chánh thuyết.
Phật
nói : Lành thay ! Lành thay ! Tất cả Tỳ Kheo đây đều là
chánh thuyết cả.
Xá
Lợi Phất bạch rằng : Thế Tôn ! Ý của Đức Phật
thế nào ?
_ Nầy
Xá Lợi Phất ! Ta vì chúng sanh trong cõi dục mà nói cha mẹ
là nhơn của thân.
Những
kinh như vậy gọi là tùy tự ý mà nói.
Thế
nào gọi là tùy tha ý mà nói ? Như Bà Tra La Trưởng giả đến
hỏi ta rằng : Thưa Cù Đàm ! Ngài có biết ảo thuật
chăng ? Nếu biết ảo thuật thời ngài là nhà đại ảo thuật,
còn nếu không biết thời ngài chẳng phải là nhứt thiết
trí.
Phật
nói : Nầy Trưởng giả ! Người biết ảo thuật có gọi là
người ảo thuật chăng ?
Trưởng
giả nói : Đúng vậy ! Đúng vậy ! Người biết ảo thuật
chính là người ảo thuật.
Phật
nói : Nầy Trưởng giả ! Trong nước Xá Vệ vua Ba Tư
Nặc có gã Chiên Đà La tên là Khí Hứ, ông có biết không
?
Trưởng
giả thưa rằng : Từ lâu tôi đã biết người ấy.
Phật
nói : Từ lâu ông đã biết người ấy mà ông có thể
chính là Chiên Đà La không ?
Trưởng
giả thưa : Tôi dầu biết gã Chiên Đà La ấy, nhưng thân của
tôi chẳng phải Chiên Đà La.
Phật
nói : Ông biết được nghĩa ấy : Người biết Chiên Đà La
chẳng phải là Chiên Đà La. Nay cớ sao ta chẳng được biết
ảo thuật mà chẳng phải là ảo thuật ? Nầy Trưởng giả,
thiệt ra ta biết ảo thuật, biết người ảo thuật, biết
quả báo ảo thuật, biết nghề ảo thuật. Ta biết sát nghiệp,
biết người sát nghiệp, biết quả báo sát nghiệp, biết
giải thoát sát nghiệp, nhẫn đến biết tà kiến, biết người
tà kiến, biết quả báo tà kiến, biết giải thoát tà kiến.
Nếu
Trưởng giả nói người chẳng phải ảo thuật gọi là người
ảo thuật, người chẳng phải tà kiến gọi là người tà
kiến, thời mắc vô lượng tội.
Trưởng
giả nói : Thưa Cù Đàm ! Cứ như lời của ngài nói thời
tôi mắc tội rất lớn. Nay tất cả của cải của tôi, tôi
đem dâng cho ngài tất cả. Mong ngài chớ cho vua Ba Tư Nặc
biết việc của tôi.
Phật
nói : Nầy Trưởng giả ! Tội của ông bất tất mất của.
Ông sẽ do tội nầy mà phải bị đọa trong ba ác đạo.
Trưởng
giả nghe nói đến ba ác đạo, kinh sợ bạch Phật rằng :
Thưa Thánh Nhơn ! Nay tôi vì quên sót mà mắc lấy tội lớn.
Thánh nhơn là bực nhứt thiết trí tất là biết rõ con đường
giải thoát. Nay tôi phải thế nào để thoát khỏi địa ngục,
ngạ quỉ và súc sanh ?
Lúc
đó đức Phật giảng giải về bốn lý chơn đế. Nghe xong
trưởng giả chứng được quả Tu Đà Hoàn. Trong lòng hổ
thẹn hướng về đức Phật mà sám hối : Tôi vốn ngu si,
đức Phật không phải người ảo mà nói là ảo. Ngày nay
tôi xin quy y Tam Bảo.
Đức
Phật nói : Lành thay ! Lành thay !
Đây
gọi là tùy tha ý mà nói.
Thế
nào gọi là tùy tự tha ý mà nói ? Như ta từng nói : Trong
tất cả thế gian, người trí nói có thời ta cũng nói có,
người trí nói không thời ta cũng nói không.
Người
trí trong đời nói sự vui ngũ dục có vô thường, khổ, vô
ngã, đáng dứt diệt, thời ta cũng nói là có như vậy.
Người
trí trong đời nói không bao giờ có vui ngũ dục, mà có thường,
lạc, ngã, tịnh, thời ta cũng nói là không bao giờ có.
Đây
gọi là tùy tự tha ý mà nói.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như ta nói bực Thập Trụ Bồ Tát thấy Phật
tánh một phần ít. Đây gọi là tùy tha ý mà nói.
Thế
nào gọi là thấy phần ít ? Thập Trụ Bồ Tát được
ba ngàn môn Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội v.v…nên biết rõ mình
sẽ được vô thượng Bồ Đề, mà chẳng thấy tất cả chúng
sanh quyết định được vô thượng Bồ Đề, do đây nên ta
nói bực Thập Trụ Bồ Tát thấy Phật tánh phần ít.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta thường tuyên nói : Tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh. Đây gọi là tùy tự ý mà nói.
Tất
cả chúng sanh chẳng đoạn chẳng diệt mãi đến chứng được
vô thượng Bồ Đề. Đây gọi là tùy tự ý mà nói.
Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì phiền não che ngăn nên
chẳng thể thấy được. Ta nói như vậy, ông cũng nói như
vậy. Đây gọi là tùy tự tha ý mà nói.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai có lúc vì một pháp mà nói vô
lượng pháp. Như trong khế kinh nói : Tất cả phạm hạnh nhơn
nơi thiện tri thức. Tất cả phạm hạnh dầu có vô lượng
nhơn, nhưng nói thiện tri thức thời đã nhiếp hết cả.
Như
ta từng nói : Tất cả ác hạnh nhơn nơi tà kiến. Tất cả
ác hạnh dầu có vô lượng nhơn nhưng nói tà kiến thời đã
nhiếp hết cả.
Hoặc
như ta nói : Tín tâm là nhơn của vô thượng Bồ Đề, dầu
Bồ Đề có vô lượng nhơn, nhưng nói tín tâm thời đã nhiếp
hết cả.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Dầu đức Như Lai nói vô lượng pháp là Phật
tánh, nhưng chẳng rời ấm, nhập, giới.
Xem
Tiếp: Trang 03
