XXIV
PHẨM
CA DIẾP BỒ TÁT
THỨ
HAI MƯƠI BỐN
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì chúng sanh nên đức Như Lai thuyết pháp
có bảy thứ từ ngữ : Một là từ ngữ về nhơn, hai là từ
ngữ về quả, ba là từ ngữ về nhơn quả, bốn là từ ngữ
về ví dụ, năm là từ ngữ bất ưng thuyết, sáu là từ ngữ
về thế đế lưu bố, bảy là từ ngữ như ý.
Thế
nào gọi là từ ngữ về Nhơn ?
Trng
Nhơn hiện tại nói quả báo vị lai. Như ta từng bảo Tỳ
Kheo : Ông xem chúng sanh ưa sát hại nhẫn đến ưa tà kiến,
phải biết đó là người địa ngục vậy. Nếu có người
chẳng ưa sát hại nhẫn đến chẳng ưa tà kiến, phải biết
đó là người cõi trời. Đây gọi là từ ngữ về Nhơn.
Thế
nào là từ ngữ về Quả ?
Trong
quả báo hiện tại nói nhơn quá khứ. Như trong khế kinh, ta
bảo Tỳ Kheo : Như ông thấy mấy người nghèo khó, hình dung
xấu xa, không được thong thả, phải biết rằng những người
ấy quyết định đời trước có phá giới, tật đố, sân
hận, không lòng hổ thẹn. Nếu thấy người giàu có, lành
mạnh, có thế lực, phải biết rằng người nầy đời trước
quyết định có trì giới, bố thí, tinh tấn, hổ thẹn, không
lòng tật đố, sân hận. Đây gọi là từ ngữ về Quả.
Thế
nào là từ ngữ về Nhơn Quả ?
Như
trong khế kinh ta bảo các Tỳ Kheo chúng sanh hiện tại
lục nhập, xúc làm nhơn đây gọi là nghiệp quả quá khứ.
Đức Như Lai cũng gọi đó là nghiệp, nghiệp nầy làm nhơn
duyên sẽ có quả vị lai. Đây gọi là từ ngữ về nhơn quả.
Thế
nào là từ ngữ về Ví Dụ ?
Như
nói rằng Sư Tử Vương dụ cho thân của Phật. Cũng nói những
ví dụ : Đại Tượng Vương, Đại Long Vương, cây Ba Lợi
Chất Đa La, đấng Thất Bảo, Đại Hải, núi Tu Di, quả đất,
mưa to, Thuyền Sư, Đạo Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Đại
Lực Sĩ, Ngưu Vương, Bà La Môn, Sa Môn, Đại Thành, cây Đa
La, đây gọi là từ ngữ về ví dụ.
Thế
nào là từ ngữ Bất Ưng Thuyết ? Như trong kinh ta từng nói
: Trời đất có thể hiệp, con sông chẳng chảy vào biển.
Như ta nói với vua Ba Tư Nặc bốn phía núi đồng đến. Như
ta vì Lộc Mẫu Ưu Bà Di nói nếu cây Ta La có thể thọ giới
Bát Quan Trai thời nó được hưởng thọ sự vui sướng cõi
trời cõi người. Thà nói Thập Trụ Bồ Tát có tâm thối
chuyển chẳng nên nói đức Như Lai nói hai lời. Thà nói
bực Tu Đà Hoàn đọa ba ác đạo chẳng nên nói Thập Trụ
Bồ Tát có tâm thối chuyển. Đây gọi là từ ngữ Bất Ưng
Thuyết.
Thế
nào là từ ngữ Thế Đế Lưu Bố ? Như Phật nói : Nam,
nữ, lớn, nhỏ, đến, đi, nằm , ngồi, xe cộ, nhà cửa, bình,
áo, chúng sanh, thường, lạc, ngã, tịnh, quân, rừng, thành
, ấp, tăng, phường, hiệp, tan. Đây gọi là từ ngữ về
Thế Đế Lưu Bố.
Thế
nào là từ ngữ Như Ý ? Như ta quở trách người
hủy phạm cấm giới khiến họ tự trách hộ trì cấm giới.
Như ta khen ngợi bực Tu Đà Hoàn, khiến hàng phàm phu sanh tâm
lành. Ngợi khen Bồ Tát làm cho chúng sanh phát tâm Bồ Đề,
nói những sự khổ não của ba ác đạo khiến chúng sanh tu
tập các pháp lành. Chỉ vì tất cả pháp hữu vi mà nói tất
cả đều đốt cháy, vô ngã cũng như vậy, nói tất cả chúng
sanh đều có Phật tánh khiến mọi người chẳng phóng dật.
Đây gọi là từ ngữ Như Ý.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai lại có từ ngữ tùy tự ý :
Như nói Phật tánh của Như Lai có hai thứ : Một là có, hai
là không.
Có,
là Như Lai có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp,
mười trí lực, bốn vô sở úy, ba niệm xứ, đại từ, đại
bi, Thủ Lăng Nghiêm v.v… Vô lượng Tam Muội, Kim Cang v.v…Vô
lượng Tam Muội, phương tiện v.v… Vô lượng Tam Muội, năm
trí ấn v.v… vô lượng Tam Muội.
Không,
là Như lai không có các điều thiện, bất thiện, vô ký, nghiệp
nhơn quả báo, phiền não, ngũ ấm, mười hai nhơn duyên.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như có và không, thiện , bất thiện, hữu
lậu, vô lậu, thế gian, phi thế gian, thánh, phi thánh, hữu
vi, vô vi, thật, bất thật, tịch tịnh, phi tịch tịnh, tránh,
phi tránh, giới, phi giới, phiền não, phi phiền não, thủ,
phi thủ, thọ ký, phi thọ ký, hưũ, phi hữu, tam thế, phi tam
thế, thời, phi thời, thường, vô thường, ngã, vô ngã, lạc,
vô lạc, tịnh, vô tịnh, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, phi
sắc thọ tưởng hành thức, nội nhập, phi nội nhập, ngoại
nhập, phi ngoại nhập, thập nhị nhơn duyên, phi thập nhị
nhơn duyên. Đây là Phật tánh của Như Lai hai thứ có và không,
nhẫn đến Nhứt Xiển Đề Phật tánh hai thứ có và không
cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Dầu ta nói rằng : Tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh, nhưng chúng sanh chẳng hiểu những từ ngữ
tùy tự ý của Phật như vậy. Những lời như vậy bực tối
hậu thân Bồ Tát còn chẳng hiểu được huống là những
Bồ Tát khác và hàng nhị thừa.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trước kia có một lúc tại núi Kỳ Xà Quật,
ta cùng Di Lặc Bồ Tát luận về thế đế, mà Xá Lợi Phất
v.v… năm trăm vị Thanh Văn đều chẳng hiểu biết những
việc ấy, huống là việc xuất thế đệ nhứt nghĩa đế.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Hoặc có Phật tánh Nhứt Xiển Đề có mà
người thiện căn thời không. Hoặc có Phật tánh người thiện
căn thời có còn Nhứt Xiển Đề thời không. Hoặc có Phật
tánh cả hai đều có, hoặc cả hai đều không. Nếu hàng đệ
tử của ta hiểu bốn nghĩa như vậy, chẳng nên gạn rằng
: Nhứt Xiển Đề quyết định có Phật tánh hay quyết định
không Phật tánh.
Như
nói chúng sanh đều có Phật tánh, đây là từ ngữ tùy tự
ý của Như Lai. Tù ngữ tùy tự ý của Như Lai như vậy,
sao chúng sanh lại nhận hiểu quyết định một bề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như trong sông Hằng có bảy hạng chúng sanh
: Một là chìm luôn, hai là tạm nổi lên lại chìm, ba là nổi
lên rồi thời dừng lại, bốn là nổi lên rồi xem khắp bốn
phương, năm là xem khắp rồi thời đi, sáu là đi rồi lại
đứng lại, bảy là dưới nước trên bờ đều đi.
Nói
chìm luôn , là cá lớn mang nghiệp ác lớn thân nặng ở sâu
nên chìm luôn.
Nói
tạm thời nổi lên rồi lại chìm, là cá lớn vì nghiệp ác
thân nặng ở chỗ cạn tạm thời thấy ánh sáng, do ánh sáng
tạm thời nổi lên, rồi vì thân nặng mà lại chìm xuống.
Nói
nổi lên rồi ở lại, là cá Kỳ Di ở chỗ nước cạn thích
thấy ánh sáng nên nổi lên rồi ở lại.
Nói
xem khắp bốn phương, là cá Tích vì kiếm ăn mà xem khắp
bốn phương.
Xem
khắp rồi đi, là nói cá Tích ấy thấy vật đằng xa cho là
ăn được nên mau lội đến.
Đi
rồi lại đứng lại, là cá nầy đi rồi đã đặng đồ ăn
bèn dừng lại.
Nói
dưới nước trên bờ đều đi tức là linh qui vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Con sông Đại Niết Bàn vi diệu nầy, trong
đó cũng có bảy hạng chúng sanh : Từ hạng ban đầu thường
chìm, nhẫn đến hạng thứ bảy hoặc xuống nước hoặc lên
bờ.
Nói
thường chìm, là như có người nghe kinh Đại Niết Bàn, nói
rằng đức Như Lai thường trụ không có biến đổi, là thường,
lạc, ngã, tịnh, trọn chẳng nhập Niết Bàn, tất cả chúng
sanh đều có Phật tánh, đến hạng Nhứt Xiển Đề cũng ắt
sẽ thành đạo Bồ Đề, Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm,
A La Hán, Bích Chi Phật v.v.. ắt sẽ được thành vô thượng
Bồ Đề. Người nầy nghe lời trên đây không tin mà nghĩ
và nói rằng kinh điển Đại Niết Bàn nầy là sách ngoại
đạo chẳng phải kinh Phật. Lúc bây giờ người nầy xa lìa
bạn lành, chẳng nghe chánh pháp, dầu có lúc được nghe nhưng
chẳng thể tư duy, dầu có tư duy nhưng chẳng tư duy pháp lành,
vì chẳng tư duy pháp lành nên trụ nơi pháp ác. Người trụ
nơi pháp ác có sáu hạng : Một là ác, hai là vô thiện, ba
là ô pháp, bốn là tăng hữu, năm là não nhiệt, sáu là thọ
quả ác, do đây nên gọi là chìm.
Cớ
sao gọi là chìm ? Vì không tâm lành mà thường làm việc ác,
vì chẳng tu tập pháp đối trị nên gọi là chìm.
Nói
rằng ác là vì thánh nhơn quở trách, vì tâm sợ sệt, vì
xa lìa người lành, vì không lợi ích chúngb sanh, nên gọi
là ác.
Nói
rằng vô thiện là vì có thể sanh vô lượng quả báo ác,
vì thường bị vô minh ràng buộc, vì thích cùng người ác
làm bạn, vì không tu tập những phương tiện lành, vì tâm
họ điên đảo luôn sai lầm.
Nói
rằng ô pháp là vì thân khẩu thường nhiễm ô,vì nhiễm ô
chúng sanh thanh tịnh, vì thêm lớn nghiệp chẳng lành, vì xa
lìa pháp lành, đây gọi là ô pháp.
Nói
tăng hữu là ba người như trên thật hành những pháp ác,
có thể thêm địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, chẳng thể tu
tập pháp giải thoát, thân, khẩu, ý chẳng nhàm các cõi, đây
gọi là tăng hữu.
Nói
rằng não nhiệt là những người nầy, làm đủ bốn việc
như trên có thể khiến thân tâm não nhiệt, xa lìa tịch tịnh
thời gọi là nhiệt, bị quả báo địa ngục nên gọi là
nhiệt, đốt cháy các chúng sanh nên gọi là nhiệt, đốt cháy
các pháp lành nên gọi là nhiệt, người nầy chẳng có tín
tâm mát mẻ nên gọi là nhiệt.
Nói
rằng thọ lấy quả ác là người nầy làm đủ năm việc
trên khi chết đọa địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Có ba việc
ác nên gọi là quả ác : Một là phiền não ác, hai là nghiệp
ác, ba là báo ác, đây gọi làthọ lấy quả báo ác. Người
nầy có đủ sáu việc như trên thời có thể làm dứt mất
căn lành tạo tội ngũ nghịch, phạm bốn tội trọng, hủy
báng Tam bảo, dùng của vật của chúng Tăng, có thể làm những
việc phi pháp, do đây nên chìm đắm ở trong địa ngục A
Tỳ, thân hình rộng lớn tám muôn bốn ngàn do diên, vì người
nầy nghiệp ác nơi thân, khẩu, ý quá nặng nên không thể
ra khỏi được, vì tâm họ chẳng thể sanh pháp lành, dầu
có vô lượng chư Phật ra đời cũng chẳng được nghe được
thấy, đây gọi là thường chìm. Như cá lớn trong sông Hằng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Dầu ta nói Nhứt Xiển Đề gọi là thường
chìm, nhưng lại có hạng thường chìm, mà chẳng phải Nhứt
Xiển Đề : Như người vì cõi hữu lậu mà bố thí trì giới
làm các việc lành, đây cũng gọi là thường chìm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có bốn việc lành mang lấy quả ác : Một
là vì hơn người mà đọc tụng kinh điển, hai là vì lợi
dưỡng mà thọ trì cấm giới, ba là vì hệ thuộc người
khác mà làm việc bố thí, bốn là vì cõi phi tưởng, phi phi
tưởng mà nhiếp niệm tư duy, đây là bốn điều lành được
quả báo ác. Nếu người thật hành bốn việc như vậy thời
gọi là chìm rồi lại nổi lên, nổi lên rồi lại chìm xuống.
Vì ưa thích ba cõi hữu lậu nên gọi là chìm. Vì thấy ánh
sáng tức là được nghe pháp trì giới, bố thí, thiền định,
đây gọi là nổi lên. Thêm lớn tà kiến, sanh kiêu mạn nên
gọi là lại chìm xuống. Do đây nên trong khế kinh ta nói kệ
rằng :
Nếu
có chúng sanh thích các cõi, Vì các cõi mà tạo nghiệp
ác, Người nầy mê mất đạo Niết Bàn, Đây là
tạm nổi lại chìm xuống. Đi nơi biển sanh tử tối tăm,
Dầu được giải thoát xem phiền não, Người nầy lại
thọ quả báo ác, Đây là tạm ra lại chìm xuống.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như cá lớn kia do thấy ánh sáng tạm thời
nổi lên khỏi nước, vì thân nặng nên lại chìm xuống, hai
hạng người trên đây cũng lại như vậy.
Nầy
Thiện nam Tử ! Hoặc có người tham đắm ba cõi hữu lậu
đây gọi là chìm. Được nghe kinh Đại Niết Bàn nầy mà
sanh lòng tin, đây gọi là nổi lên. Duyên cớ gì gọi đó
là nổi lên ? Ví nghe kinh nầy rồi xa lìa pháp ác tu tập
pháp lành, nên gọi là nổi lên. Người nầy dầu tin nhưng
cũng chẳng đầy đủ. Duyên cớ gì tín tâm chẳng đầy đủ
? Người nầy dầu tin Đại Niết Bàn thường, lạc, ngã, tịnh,
mà nói rằng thân Như Lai là vô thường, vô lạc, vô ngã,
vô tịnh. Đức Như Lai có hai thứ Niết Bàn : Một là
hữu vi, hai là vô vi. Hữu vi Niết Bàn không có thường lạc
ngã tịnh. Vô vi Niết Bàn có thường lạc ngã tịnh. Dầu
tin Phật tánh là chúng sanh có, nhưng bất tất là tất cả
đều có. Do đây nên gọi là tín tâm chẳng đầy đủ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tín tâm có hai thứ : Một là tin, hai là cầu.
Người như trên đây dầu có tín tâm, nhưng chẳng thể suy
cầu, nên gọi là tín tâm chẳng đầy đủ.
Tín
tâm lại có hai thứ : Một là từ nghe pháp mà sanh lòng tin,
hai là từ tư duy mà sanh lòng tin. Tín tâm của người nầy
do nghe pháp mà sanh chẳng phải do tư duy, nên gọi là tín tâm
chẳng đầy đủ.
Tín
tâm lại có hai thứ : Một là tin có thánh đạo, hai là tin
người đắc đạo. Người nầy dầu tin có thánh đạo, nhưng
trọn chẳng tin có người đắc đạo, nên gọi là tín tâm
chẳng đầy đủ.
Tín
tâm lại có hai thứ : Một là tin chánh, hai là tin tà. Nói
rằng có nhơn quả, có Phật, Pháp, Tăng, đây gọi là tin chánh.
Nói rằng không nhơn quả, tánh Tam Bảo khác nhau, tin theo những
lời tà của ngoại đạo, đây gọi là tin tà. Người nầy
dầu tin Phật pháp Tăng Tam Bảo, nhưng chẳng tin Tam Bảo đồng
một tánh tướng, dầu tin nhơn quả nhưng chẳng tin người
đắc quả, nên gọi là tín tâm chẳng đầy đủ.
Người
nầy trọn nên tín tâm chẳng đầy đủ, thọ trì cấm giới
cũng chẳng đầy đủ. Vì nhơn chẳng đầy đủ nên chỗ được
cấm giới cũng chẳng đầy đủ. Lại giới có hai thứ : Một
là oai nghi, hai là tùng giới. Người nầy dầu đầy đủ những
giới về oai nghi nhưng chẳng đầy đủ những giới về tùng
giới, nên gọi là giới chẳng đầy đủ.
Giới
lại có hai thứ : Một là tác giới, hai là vô tác giới. Người
nầy dầu có tác giới nhưng chẳng đủ vô tác giới, nên
gọi là giới chẳng đầy đủ.
Giới
lại có hai thứ : Một là từ thân khẩu mà được chánh mạng,
hai là từ thân khẩu chẳng được chánh mạng. Người nầy
dầu từ thân khẩu nhưng chẳng được chánh mạng, nên gọi
là giới chẳng đầy đủ.
Giới
lại có hai thứ : Một là cầu giới, hai là xả giới. Người
nầy dầu đủ giới do cầu mà có nhưng chẳng được giới
do xả mà có, nên gọi là giới chẳng đầy đủ.
Giới
lại có hai thứ : Một là tùy hữu, hai là tùy đạo. Người
nầy dầu đủ giới tùy hữu nhưng chẳng đủ giới tùy đạo,
nên gọi là giới chẳng đầy đủ.
Giới
lại có hai thứ : Một là thiện giới, hai là ác giới. Thân
khẩu ý lành gọi là thiện giới. Ngưu giới, Cẩu giới v.v…
gọi là ác giới. Người nầy rất tin cả hai thứ giới đây
đều có quả lành, nên gọi là giới chẳng đầy đủ.
Người
nầy chẳng đầy đủ hai điều : Tín tâm và giới, nên chỗ
tu tập đa văn cũng chẳng đầy đủ,. Thế nào gọi là đa
văn chẳng đầy đủ ? Mười hai bộ kinh của đức Như
Lai nói ra người nầy chỉ tin sáu bộ, mà chẳng tin sáu bộ,
nên gọi là đa văn chẳng đầy đủ. Người nầy dầu thọ
trì sáu bộ kinh đây nhưng không thể đọc tụng cùng giảng
giải cho người, không chỗ lợi ích, nên gọi là đa văn chẳng
đầy đủ. Hoặc người nầy thọ trì sáu bộ kinh đây rồi
mà vì luận nghị, vì hơn người, vì lợi dưỡng, vì các
cõi hữu lậu mà đọc tụng giảng thuyết nên gọi là đa
văn chẳng đầy đủ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ở trong khế kinh ta từng nói đa văn đầy
đủ. Thế nào là đầy đủ ?â Nếu có Tỳ Kheo thân khẩu
ý đều lành, trước có thể cúng dường Hòa Thượng, chư
Sư, những người có đức. Chư Sư nầy đối với người
ấy sanh lòng thương mến, nên đem kinh pháp truyền dạy cho.
Người nầy chí tâm thọ trì tụng tập, được trí huệ.
Được trí huệ rồi có thể khéo tư duy thật hành đúng như
pháp. Khéo tư duy rồi thời được chánh nghĩa. Được
chánh nghĩa rồi thân tâm tịch tịnh. Thân tâm đã tịch tịnh
thời sanh hỷ tâm. Do hỷ tâm mà được định. Do được định
nên được chánh tri kiến. Được chánh tri kiến rồi sanh
lòng ăn năn nhàm chán các cõi hữu lậu. Vì nhàm chán các
cõi nên được giải thoát.
Người
trên đây không có những việc như vậy nên gọi là đa văn
chẳng đầy đủ.
Người
nầy chẳng đầy đủ ba việc như vậy nên bố thí cũng chẳng
đầy đủ.
Bố
thí có hai thứ : Một là tài thí, hai là pháp thí, người
nầy dầu thật hành về tài thí nhưng vì cầu cõi hữu lậu,
dầu thật hành pháp thí nhưng cũng chẳng đầy đủ, vì bí
lẫn chẳng nói hết sợ người hơn mình, nên gọi là bố
thí chẳng đầy đủ.
Hai
thứ tài thí, pháp thí đều riêng có hai : Một là thánh, hai
là chẳng phải thánh. Thánh nhơn bố thí rồi chẳng cầu quả
báo. Người chẳng phải thánh bố thí rồi cầu quả báo.
Thánh nhơn bố thí pháp để làm cho pháp được tăng trưởng.
Người chẳng phải thánh bố thí pháp để tăng trưởng các
cõi hữu lậu.
Người
nầy vì tăng trưởng của cải mà thật hành tài thí, vì tăng
trưởng cõi hữu lậu mà thật hành pháp thí, nên gọi là
bố thí chẳng đầy đủ.
Lại
người nầy lãnh thọ sáu bộ kinh, thấy người thọ pháp
thời cung cấp cho, gặp người chẳng thọ pháp thời chẳng
cung cấp, nên gọi là bố thí chẳng đầy đủ.
Người
nầy chẳng đủ bốn điều như trên nên chỗ tu trí huệ cũng
chẳng đầy đủ. Tánh của trí huệ là hay phân biệt. Người
nầy chẳng thể phân biệt Như Lai là thường hay vô thường.
Trong kinh Đại Niết Bàn nầy đức Phật nói Như Lai chính
là giải thoát, giải thoát chính là Như lai. Như Lai là Niết
bàn, Niết Bàn là giải thoát. Trong những nghĩa đây người
nầy chẳng thể phân biệt được.
Đức
Phật lại nói phạm hạnh là Như Lai, Như Lai là từ, bi, hỷ,
xả. Từ, bi, hỷ, xả là giải thoát, giải thoát là Niết
Bàn, Niết Bàn là từ, bi, hỷ, xả. Trong những nghĩa đây,
người nầy không phân biệt được nên gọi là trí chẳng
đầy đủ.
Người
nầy lại chẳng phân biệt được Phật tánh, Phật tánh là
Như Lai, Như Lai là tất cả pháp bất cộng, pháp bất cộng
là giải thoát, giải thoát là Niết Bàn, Niết Bàn là pháp
bất cộng. Người nầy lại chẳng phân biệt được bốn
đế lý khổ tập diệt đạo, vì không phân biệt được bốn
đế lý nên chẳng biết thánh hạnh, vì chẳng biết thánh
hạnh nên chẳng biết Như Lai, vì chẳng biết Như Lai
nên chẳng biết giải thoát, vì chẳng biết giải thoát nên
chẳng biết Niết Bàn, do đây nên gọi là trí chẳng đầy
đủ.
Người
nầy chẳng có đủ năm điều như vậy, thời thêm lớn hai
pháp : Một là thêm pháp lành, hai là thêm pháp ác.
Thế
nào gọi là thêm lớn pháp ác ? Người nầy chẳng biết rằng
mình không đầy đủ, tự cho rằng đầy đu ûmà sanh tâm tham
trước, đối với người đồng hàng cho mình là hơn, do đây
bèn gần gũi những bạn ác đồng với mình đã gần gũi bạn
ác rồi lại được nghe những pháp chẳng đầy đủ, sanh
tâm vui mừng nhiễm trước, kiêu mạn phóng dật, do phóng dật
mà gần gũi người tại gia, thích nghe nói những việc tại
gia, xa lìa pháp xuất gia thanh tịnh, do đây nên thêm lớn pháp
ác, vì đã thêm pháp ác nên thân khẩu ý gây nghiệp chẳng
thanh tịnh, vì ba nghiệp chẳng thanh tịnh nên thêm lớn địa
ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Đây gọi là tạm nổi lên lại
chìm xuống.
Trong
Phật pháp của ta ai là kẻ tạm nổi lên lại chìm xuống
? Chính là Đề Bà Đạt Đa, Cù Hoà Ly Tỳ Kheo, Uyển Thủ
Tỳ Kheo, Thiện Tinh Tỳ Kheo, Tỳ Xá Tỳ Kheo, Mãn Tú Tỳ Kheo,
Từ Địa Tỳ Kheo Ni, Khoáng Dã Tỳ Kheo Ni, Phương Tỳ Kheo
Ni, Mạn Tỳ Kheo Ni, Tịnh Khiết Trưởng Giả, Câu Hữu Ưu
Bà Tắc, Kim Lặc Thích Chủng, Tượng Trưởng Giả, Danh Xưng
Ưu Bà Di, Quang Minh Ưu Bà Di, Nan Đà Ưu Bà Di,
Quân
Ưu Bà Di, Linh Ưu Bà Di.Như cá lớn thấy ánh sáng nên nổi
lên, vì thân nặng lại chìm xuống.
Thế
nào gọi là thân lớn pháp lành ? Người nầy biết rõ mình
công hạnh chẳng đầy đủ, vì tự biết chẳng đầy đủ
nên cầu gần bạn lành, vì gần bạn lành nên thích nghe hỏi
chỗ chưa được nghe, nghe rồi thích thọ trì, thọ rồi thích
tư duy, khéo tư duy rồi có thể ở đúng như pháp, vì ở đúng
như pháp nên thêm lớn pháp lành, vì thêm lớn pháp lành nên
trọn chẳng còn chìm, đây gọi là nổi lên rồi ở lại.
Trong
Phật pháp của ta ai là người nổi lên rồi ở lại ? Chính
là Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, A Nhã Kiều Trần Như
v.v… năm vị Tỳ Kheo Da Xá v.v… năm mươi vị Tỳ Kheo, A
Nâu Lâu Đà, Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp v.v… ba
vị Tỳ Kheo Thập Lực Ca Diếp, Sấu Cù Đàm Di Tỳ Kheo Ni,
Ba Tra La Hoa Tỳ Kheo Ni, Thắng Tỳ Kheo Ni, Thiệt Nghĩa Tỳ Kheo
Ni, Hải Ý Tỳ Kheo Ni, Bạt Đà Tỳ Kheo Ni, Tịnh Tỳ Kheo Ni,
Bất Thối Chuyển Tỳ Kheo Ni, Tần Bà Ta La Vương, Úc
Dà Trưởng Giả, Tu Đạt Đa Trưởng Giả, Thích Ma Ha Nam Trưởng
Giả, Bần Tu Đạt ĐaThử Lang Trưởng Giả, Danh Xưng Trưởng
Giả, Cụ Túc Trưởng Giả, Sư Tử Tướng Quân, Ưu Bà Ly Trưởng
Giả, Đao Trưởng Giả, Vô Úy Ưu Bà Di, Thiện Trụ Ưu Bà
Di, Ái Pháp Ưu Bà Di, Dũng Kiện Ưu Bà Di, Thiên Đắc
Ưu Bà Di, Thiện Sanh Ưu Bà Di, Cụ Thân Ưu Bà Di, Ngưu Đắc
Ưu Bà Di, Khoáng Dã Ưu Bà Di, Ma Ha Tư Na Ưu Bà Di v.v…
Thế
nào gọi là ở lại ? Vì thường thích xem thấy ánh sáng pháp
lành. Do nhơn duyên nầy, hoặc Phật xuất thế, hoặc chẳng
xuất thế, những người trên đây trọn chẳng tạo nghiệp
ác nên gọi là ở lại. Như cá Kỳ Di thích thấy ánh sáng
nên chẳng lặn chẳng chìm. Hạng tứ chúng trên đây cũng
như vậy. Trong kinh ta từng nói kệ rằng :
Nếu
người khéo phân biệt pháp nghĩa, Chí tâm cầu được
quả Sa Môn, Quở trách tất cả cõi hữu lậu, Người
nầy gọi là ở đúng pháp. Nếu hay cúng dường vô lượng
Phật, Trong vô lượng đời tu thánh đạo, Hưởng thọ
vui sướng chẳng phóng dật, Người nầy gọi là ở đúng
pháp. Gần gũi bạn lành nghe chánh pháp, Tâm khéo tư duy
ở đúng pháp, Thích thấy ánh sáng tu thánh đạo, Chứng
được giải thoát thường an ổn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trí chẳng đầy đủ phàm có năm điều , người
nầy biết rồi cầu gần bạn lành. Bạn lành nầy nên xem
xét người trên đây nhiều tham dục hay nhiều sân khuể, ngu
si, tư giác, chấp ngã ?
Nếu
biết là nhiều tham dục thời nên dạy cho pháp quán bất tịnh
: Nhiều sân khuể dạy pháp quán từ bi ; nhiều ngu si dạy
pháp quán nhơn duyên ; nhiều tư giác dạy pháp quán sổ tức
; nhiều chấp ngã nên dạy phân tích thập bát giới v.v…
Người
nầy nghe rồi chí tâm thọ trì, thọ trì rồi tu hành đúng
như pháp, thật hành đúng như pháp rồi lần lượt chứng
được tứ niệm xứ quán thân thọ tâm pháp, đặng pháp quán
nầy rồi lại quán mười hai nhơn duyên, quán rồi chứng được
noãn pháp.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch rằng : Thế Tôn ! Tất cả chúng sanh đều
có noãn pháp. Vì đức Phật nói ba pháp hòa hiệp gọi là
chúng sanh : Một là thọ, hai là noãn, ba là thức. Nếu theo
nghĩa nầy thời tất cả chúng sanh lẽ ra trước đã có noãn.
Tại sao đức Như Lai nói rằng noãn pháp do bạn lành mà có
?
Phật
nói : “ Nầy Thiện Nam Tử ! Như noãn pháp của ông hỏi thời
tất cả chúng sanh đến Nhứt Xiển Đề đều có. Noãn pháp
của ta nói hôm nay phải do phương tiện rồi sau mới được,
chẳng phải tất cả chúng sanh đều có trước.
Nay
ông chẳng nên gạn rằng tất cả chúng sanh đều có noãn
pháp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Noãn pháp nầy thuộc về cõi sắc, chẳng phải
cõi dục có được. Vì cõi dục không có, nên biết rằng
tất cả chúng sanh bất tất đều có.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Cõi sắc dầu có noãn pháp nhưng chẳng phải
tất cả đều có, vì đệ tử của ta thời có, còn ngoại
đạo thời không.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả ngoại đạo chỉ quán được sáu
hạnh. Đệ tử của ta thời quán đủ cả mười sáu hạnh.
Mười sáu hạnh nầy tất cả chúng sanh bất tất đều có.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào gọi là noãn ? Là tánh nó tự noãn hay
vì pháp khác mà noãn ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử !Noãn pháp nầy tánh nó là noãn chẳng phải
do pháp khác mà noãn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Đức Như Lai trước kia nói rằng Mã Sư và Mãn
Tú không có noãn pháp, vì hai người nầy không có tín tâm
đối với Tam Bảo. Do đây nên biết rằng tín tâm chính là
noãn pháp.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Tín tâm chẳng phải là noãn pháp, vì
do tín tâm mà chứng noãn pháp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Luận về noãn pháp chính là trí huệ, vì quán
tứ đế nên gọi là mười sáu hạnh. Hạnh đây chính là
trí.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như lời ông hỏi duyên cớ gì mà gọi là
noãn ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Luận về noãn pháp chính là tướng lửa của
tám thánh đạo.
Như
cọ lửa : Trước có hơi nóng, kế có lửa, rồi sau có khói,
đạo vô lậu nầy cũng như vậy : Hơi nóng là mười sáu hạnh,
lửa là quả T
u Đà Hoàn, khói là trong vị tu đạo dứt kiết sử.
_ Bạch
Thế Tôn ! Noãn pháp nầy cũng là pháp có, cũng là hữu vi.
Noãn pháp nầy được qủa báo thân ngũ ấm cõi sắc nên gọi
là có. Vì là nhơn duyên nên lại gọi là hữu vi. Nếu là
hữu vi tại sao có thể làm tướng đạo vô lậu ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Đúng như vậy ! Noãn pháp nầy dầu là pháp
hữu vi hữu lậu, nhưng trở lại có thể phá hoại pháp hữu
vi hữu lậu, nên có thể làm tướng đạo vô lậu. Như người
cỡi ngựa cũng thương ngựa nhưng cũng đánh ngựa. Noãn pháp
cũng vậy : Vì ái mà thọ sanh, vì nhàm mà tu quán hạnh, do
đây nên dầu là hữu lậu hữu vi mà có thể làm tướng cho
chánh đạo kia.
Có
bảy mươi ba hạng người được noãn pháp : Cõi dục mười
hạng người. Mười hạng người nầy đầy đủ tất cả
phiền não : Từ dứt một phần đến chín phần. Như cõi dục,
Sơ thiền nhẫn đến Vô Sở Hữu Xứ cũng như vậy. Đây gọi
là bảy mươi ba. Những người nầy được noãn pháp rồi
thời chẳng còn lại có thể dứt căn lành tạo tội ngũ nghịch
phạm bốn tội trọng. Những người nầy có hai hạng : Một
là gặp bạn lành, hai là gặp bạn ác.
Người
gặp bạn ác tạm thời nổi lên rồi chìm trở lại.
Người
gặp bạn lành thời quan sát khắp bốn phương. Quan sát bốn
phương chính là đảnh pháp, đảnh pháp nầy dầu cũng là
tánh ngũ ấm, nhưng vẫn duyên nơi bốn đế lý, nên được
gọi là quan sát khắp bốn phương. Được đảnh pháp rồi
kế được nhẫn pháp. Nhẫn pháp nầy tánh nó cũng là ngũ
ấm, cũng duyên bốn đế lý. Người nầy kế được thế
đệ nhứt pháp, pháp nầy dầu tánh là ngũ ấm nhưng cũng
duyên bốn đế lý. Người nầy kế được khổ pháp nhẫn,
tánh của nhẫn là huệ duyên nơi một đế lý. Pháp nhẫn
nầy duyên một đế lý rồi nhẫn đến kiến đạo dứt phiền
não đặng quả Tu Đà Hoàn. Đây gọi là quan sát khắp bốn
phương, bốn phương chính là bốn đế lý.
Bạch
Thế Tôn ! Trước kia đức Phật nói rằng những phiền não
của bực Tu Đà Hoàn dứt, dường như dòng nước rộng bốn
mươi dặm, những phiền não còn lại như giọt nước đầu
sợi lông.
Nơi
đây sao lại nói dứt ba món kiết sử gọi là bực Tu
Đà Hoàn : Một là ngã kiến, hai là chẳng phải nhơn thấy
là nhơn, ba là lưới nghi.ï
Bạch
Thế Tôn ! Nhơn duyên gì gọi là Tu Đà Hoàn xem khắp bốn
phương ? Lại do duyên gì mà gọi là Tu Đà Hoàn ? Duyên cớ
gì đem cá Tích để dụ bực Tu Đà Hoàn ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Bực Tu Đà Hoàn dầu có thể dứt vô lượng
phiền não, nhưng ba món kiết nầy nặng nhứt và cũng nhiếp
tất cả những kiết sử của bực Tu Đà Hoàn dứt, nên nói
là dứt ba món kiết sử.
Như
Quốc Vương lúc đi tuần du, dầu có các quan và bốn đạo
binh, nhưng người đời chỉ nói rằng nhà vua đến, nhà vua
đi. Trong đây nói dứt ba món phiền não nầy cũng như vậy.
Duyên cớ gì ba món kiết nầy là nặng ? Vì tất cả chúng
sanh thường khởi phiền não nầy và vì vi tế khó biết, nên
gọi là nặng. Vì ba món kiết nầy khó dứt được, vì nó
có thể làm nhơn cho tất cả phiền não, là oán địch bị
đối trị của giới, định và huệ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có những chúng sanh nghe bực Tu Đà Hoàn có
thể dứt vô lượng phiền não như vậy, thời chúng nó sanh
lòng thối chuyển mà nói rằng : Chúng ta thế nào có thể
dứt vô lượng phiền não như vậy. Do đây nên đức Như
Lai phương tiện nói dứt ba kiết sử.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Bực Tu Đà Hòan quán tứ đế được bốn
điều : Một là kiên cố trụ chánh đạo, hai là có thể khắp
quan sát, ba là có thể thấy đúng như thật, bốn là có thể
phá hoại oán địch lớn. Bực Tu Đà Hoàn, thành tựu tín
v.v… Ngũ căn không ai có thể lay động, nên gọi là kiên
cố trụ nơi chánh đạo. Bực nầy đều có thể quở trách
những phiền não trong và ngoài, nên gọi là khắp quan sát.
Thấy đúng như thật chính là nhẫn trí. Oán địch lớn là
nói bốn thứ điên đảo.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Chữ Tu là vô lậu, chữ Đà Hoàn là tu tập,
vì tu tập vô lậu nên gọi là Tu Đà Hoàn. Lại có nghĩa chữ
Tu là dòng, vì ngược dòng nên gọi là Tu Đà Hoàn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu theo nghĩa nầy, duyên cớ gì những bực
Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán chẳng được gọi là Tu Đà
Hoàn ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Từ bực Tu Đà Hoàn nhẫn đến chư Phật cũng
đều được gọi là Tu Đà Hoàn cả. Nếu bực Tư Đà Hàm
đến chư Phật mà không có danh nghĩa Tu Đà Hoàn, thời đâu
được gọi là Tư Đà Hàm nhẫn đến Phật.
Tất
cả chúng sanh về danh tự có hai thứ : Một là tên cũ, hai
là tên mới. Lúc còn phàm phu có danh tự thế tục, lúc đã
đắc đạo lại đặt tên gọi là Tu Đà Hoàn. Trước gọi
là Tu Đà Hoàn, vì lúc sau đắc quả nên gọi là Tư Đà Hàm.
Người nầy cũng gọi là Tu Đà Hoàn, cũng gọi là Tư Đà
Hàm, nhẫn đến chư Phật cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có hai thứ dòng : Một là giải thoát, hai là
Niết Bàn. Tất cả Thánh nhơn đều có hai dòng nầy, nên cũng
được gọi là Tu Đà Hoàn cũng gọi là Tư Đà Hàm, nhẫn
đến Phật cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Bực Tu Đà Hoàn cũng gọi là Bồ Tát. Vì Bồ
Tát chính là tận trí và vô sanh trí. Bực Tu Đà Hoàn
cũng mong cầu hai trí nầy, nên được gọi là Bồ Tát.
Bực
Tu Đà Hoàn cũng được gọi là giác. Vì chánh giác kiến đạo
dứt phiền não, vì chánh giác nhơn quả, vì chánh giác cộng
đạo và bất cộng đạo. Bực Tư Đà Hàm nhẫn đến bực
A La Hán cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có hai hạng Tu Đà Hoàn : Lợi căn và độn
căn. Bực độn căn bảy lần sanh cõi người cõi trời, hoặc
sáu lần, năm lần, bốn lần, ba lần, hai lần sanh cõi người
trời mới chứng quả A La Hán. Bực lợi căn hiện đời chứng
quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Cá Tích có bốn điều : Một là xương nhỏ
nên nhẹ, hai là có cánh nên nhẹ, ba là thích thấy ánh sáng,
bốn là ngậm được vật thời giữ chặt.
Bực
Tu Đà Hoàn cũng có bốn điều : Một là phiền não nhỏ nhẹ
như cá Tích nhỏ xương, hai là có chỉ có quán như cá Tích
có cánh, ba là kiến đạo, như cá Tích thích thấy ánh sáng,
bốn là nghe thấy đức Phật nói nghĩa vô thường khổ vô
ngã bất tịnh thời kiên trì chẳng bỏ như cá Tích ngậm
được vật thời giữ chặt.
Như
trước kia Ma Vương hóa làm thân Phật. Thủ La Trưởng Giả
xem thấy trong lòng kinh sợ, Ma thấy tâm Trưởng giả động
bèn bảo Trưởng giả rằng : Trước kia ta nói bốn chơn đế,
thuyết đó không chơn thật. Nay ta vì ông mà nói năm đế,
sáu ấm , mười ba nhập, mười chín giới. Thủ La Trưởng
Giả nghe lời nầy liền quan sát pháp tướng đều không có
lý do, nên kiên trì nghĩa cũ, tâm ông chẳng lay động.
_ Bạch
Thế Tôn ! Bực Tu Đà Hoàn nầy vì đắc đạo trước
mà gọi là Tu Đà Hoàn hay là vì chứng sơ quả mà gọi
là Tu Đà Hoàn ? Nếu vì đắc đạo trước, thời lúc được
khổ pháp nhẫn cớ sao chẳng gọi là Tu Đà Hoàn mà gọi là
Hướng ? Nếu vì được sơ quả, thời người ngoại
đạo trước dứt phiền não đến vô sở hữu xứ tu đạo
vô lậu được quả A Na Hàm, cớ sao chẳng gọi là Tu Đà
Hoàn ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì được sơ quả mà gọi là Tu Đà Hoàn,
lúc đó người nầy đầy đủ tám trí và mười sáu hạnh.
Bạch
Thế Tôn ! Người được A Na Hàm cũng đầy đủ tám trí và
mười sáu hạnh. Cớ sao chẳng được gọi là Tu Đà
Hoàn ?
_
Nầy Thiện Nam Tử ! Mười sáu hạnh hữu lậu có hai thứ
: Cộng và bất cộng. Mười sáu hạnh vô lậu cũng có hai
: Hướng quả và đắc quả. Tám trí cũng có hai, hướng quả
và đắc quả. Bực Tu Đà Hoàn rời bỏ mười sáu hạnh công,
chứng được mười sáu hạnh bất công, rời bỏ tám
trí hướng quả chứng được tám trí đắc quả. Bực A Na
Hàm thời chẳng như vậy. Do đây nên sơ quả gọi là Tu Đà
Hoàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Bực Tu Đà Hoàn duyên nơi tứ đế, bực A
Na Hàm chỉ duyên nhứt đế, nên sơ quả gọi là Tu Đà Hoàn.
Do
nhơn duyên trên đây nên dùng cá Tích để ví dụ, ngó khắp
bốn phương rồi bèn đi. Nói đi là chỉ cho bực Tư Đà Hàm
nhiếp tâm tu hành để dứt trừ tham, sân, si, mạn.
Như
cá Tích kia nhìn xem khắp bốn phương rồi vì kiếm ăn nên
đi, đi rồi lại đứng lại, đây là dụ bực A Na Hàm được
món ăn rồi thời dừng lại. Có hai hạng A Na Hàm : Một
là hiện tại được quả A Na Hàm rồi tiến tu được quả
A La Hán, hai là hạng tham trước Tam Muội tịch tịnh trong
cõi sắc và cõi vô sắc, bực nầy chẳng thọ thân cõi dục
nên gọi là A Na Hàm. Bực A Na Hàm nầy lại có năm hạng :
Một là trung bát Niết Bàn, hai là thọ thân bát Niết Bàn,
ba là hành bát Niết Bàn, bốn là vô hành bát Niết Bàn, năm
là thượng lưu bát Niết Bàn. Lại có sáu hạng là thân hiện
tại bát Niết Bàn. Lại có bảy hạng là thân vô sắc giới
bát Niết Bàn.
Hạng
hành bát Niết Bàn có hai : Hoặc thọ hai thân, hoặc thọ bốn
thân. Nếu thọ hai thân thời gọi là lợi căn, nếu thọ bốn
thân thời gọi là độn căn. Lại có hai hạng, một là tinh
tấn mà không chánh định tự tại, hai là giải đãi mà có
chánh định tự tại. Lại có hai hạng : Một là có đủ tinh
tấn và chánh định tự tại, hai là chẳng có cả hai.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Chúng sanh trong cõi dục, cõi sắc có hai thứ
nghiệp : Tác nghiệp và thọ sanh nghiệp. Bực A Na Hàm trung
bát Niết Bàn chỉ có tác nghiệp mà không thọ sanh nghiệp,
nên bỏ thân cõi dục lúc chưa đến cõi sắc, vì lợi căn
mà bát Niết Bàn. Bực A Na Hàm trung bát Niết Bàn nầy
có bốn tâm : Một là phi học, phi vô học, hai là học, ba
là vô học, bốn là phi học, phi vô học nhập Niết Bàn. Thế
nào lại gọi là trung bát Niết Bàn ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong bốn thứ tâm của bực A Na Hàm nầy hai
tâm là Niết Bàn, hai tâm là chẳng phải Niết Bàn, do đây
nên gọi là trung bát Niết Bàn.
Bực
A Na Hàm thọ thân bát Niết Bàn có hai thứ : Một là tác nghiệp,
hai là sanh nghiệp. Bực nầy bỏ thân dục giới thọ thân
sắc giới, tinh tấn tu hành mãn thọ mạng thời nhập Niết
Bàn.
Bạch
Thế Tôn ! Nếu là thọ mạng hết nhập Niết Bàn, tại sao
gọi rằng thọ thân Niết Bàn ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Bực nầy thọ thân rồi sau mới dứt
hết phiền não trong tam giới, nên gọi là thọ thân Niết
Bàn.
Bực
A Na Hàm thường tu hành do sức Tam Muội hữu vi có thể dứt
phiền não nhập Niết Bàn, do đây nên gọi là hành bát Niết
Bàn.
Bực
A Na Hàm rõ biết quyết định sẽ chứng được Niết Bàn
nên giải đãi, cũng do sức Tam Muội hữu vi mãn thọ mạng
thời được nhập Niết Bàn, do đây gọi là vô hành bát Niết
Bàn.
Nếu
bực A Na Hàm được đệ tứ thiền rồi lại sanh lòng mến
sơ thiền do đây sanh xuống trời sơ thiền. Nơi đây có hai
dòng : Dòng phiền não và dòng đạo mà mến nhị thiền, nên
sanh lên trời nhị thiền, lần đến trời tứ thiền cũng
như vậy.
Bực
nầy trong trời tứ thiền lại có hai hạng : Một là vào cõi
vô sắc, hai là vào trời Ngũ Tịnh Cư. Hai bực nầy, bực
thích Tam Muội thời vào cõi vô sắc. Bực thích trí huệ thời
vào trời Ngũ Tịnh Cư.
Hai
bực trên đây, một hạng tu đệ tứ thiền có năm từng cấp,
một hạng chẳng tu.
Thế
nào là năm từng cấp ? Là hạ, trung, thượng, thượng trung,
thượng thượng. Bực tu thượng thượng thời ở trời Sắc
Cứu cánh, bực tu trung thượng thời ở trời Thiện Hiện,
bực tu thượng phẩm thời ở trời Thiện Kiến, bực tu trung
phẩm thời ở trời Vô Nhiệt, bực tu hạ phẩm thời ở trời
Vô Phiền.
Hai
bực nầy, một thời ưa luận nghị ở trời Ngũ Tịnh Cư,
một thời ưa tịch tịnh vào cõi Vô Sắc.
Lại
có hai hạng : Một thời tu huân thiền vào trời Ngũ Tịnh
Cư, một thời chẳng tu huân thiền sanh cõi Vô Sắc mãn thọ
mạng mà nhập Niết Bàn, do đây gọi là thượng lưu bát Niết
Bàn. Nếu muốn vào cõi Vô Sắc thời không thể tu năm từng
cấp tứ thiền. Nếu tu năm từng cấp nầy thời có thể quở
trách định Vô sắc.
_ Bạch
Thế Tôn ! Bực trung bát Niết Bàn là lợi căn. Nếu là lợi
căn cớ sao chẳng hiện tại nhập Niết Bàn ? Cớ sao dục
giới có hạng trung bát Niết Bàn mà sắc giới thời không
.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Người nầy thân tứ đại hiện tại yếu
kém không thể hành đạo. Dầu có Tỳ Kheo thân thể tráng
kiện nhưng những duyên nhà cửa y phục uống ăn thuốc men
v.v… chẳng đủ, nên chẳng được hiện tại bát Niết
Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ngày trước có một lúc ta ở nước Xá Vệ
tại tịnh xá A Na Phân Chỉ, có một Tỳ Kheo đến bạch với
ta rằng ông luôn tu hành mà chẳng thể được quả Tu
Đà Hoàn đến quả A La Hán. Lúc đó ta liền bảo A Nan rằng
: Nay ông nên lo đủ đồ cần dùng cho Tỳ Kheo nầy.
A Nan
liền dắt Tỳ Kheo đó đến rừng Kỳ Đà cho ở phòng nhà
tốt. Tỳ Kheo đó nói với A Nan rằng : Trông mong Đại
Đức vì tôi mà trần thiết phòng nhà, dọn dẹp thật sạch
sẽ, dùng thất bảo trang nghiêm, treo phan lọng bằng lụa.
A Nan
nói : Người nghèo trong thế gian mới gọi là Sa Môn, tôi làm
sao sắm được những đồ như vậy?
Tỳ
Kheo nói : Nếu Đại Đức có thể sắm sửa được cho tôi
thời tốt lắm, bằng không thời tôi sẽ trở về ra mắt
Phật.
A Nam
liền trở về đem việc ấy bạch với Phật. Đức Phật liền
bảo A Nan sắm sửa tất cả đồ dùng theo ý của Tỳ Kheo
đó.
Tỳ
Kheo đó được những đồ cần dùng theo ý mình muốn, liền
nhiếp niệm tu hành, không bao lâu chứng được quả Tu Đà
Hoàn lần đến quả A La Hán.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vô lượng chúng sanh đáng được nhập Niết
Bàn, nhưng vì thiếu thốn chướng ngại loạn động tâm niệm
của họ, nên chẳng chứng được.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lại có chúng sanh thích giáo quá nhiều, tâm
họ bực bội nhiều việc chẳng thể được chánh định nên
hiện tại không được bát Niết Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như lời ông nói, duyên cớ gì bỏ thân dục
giới có hạng trung bát Niết Bàn, còn sắc giới thời không
?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người nầy quán phiền não cõi dục có hai
nhơn duyên : Nội và ngoại, mà trong cõi sắc thời không ngại
nhơn duyên. Cõi dục lại có hai thứ ái tâm : Dục ái và sắc
ái, quán hai ái tâm nầy rồi hết lòng quở trách, do quở
trách nầy mà được nhập Niết Bàn. Trong cõi dục có thể
quở trách được những phiền não thô : Xan tham, sân hận,
tật đố, vô tàm, vô quí, do đây nên được nhập Niết Bàn.
Lại người trong cõi dục tánh chất dũng kiện, vì được
hưởng quả, nên trong cõi dục có trung bát Niết bàn, trong
cõi sắc thời không.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trung bát Niết Bàn có ba hạng : Thượng, trung
và hạ. Hạng thượng lúc bỏ thân chưa rời cõi dục bèn
được Niết Bàn. Hạng trung mới rời cõi dục chưa đến
cõi sắc bèn được Niết Bàn. Hạng hạ rời khỏi cõi dục
đến ranh cõi sắc bèn được Niết Bàn.
Như
cá Tích khi đi kiếm được đồ ăn thời dừng lại, hạng
nầy cũng vậy, ở nơi cỏi sắc và cõi vô sắc mà được
thọ thân nên gọi là dừng lại. Và cũng do chẳng còn thọ
thân nhơn, thiên , địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ trong cõi
dục nên gọi là dừng lại. Vì đã dứt vô lượng phiền
não kiết sử còn thừa lại chút ít nên gọi là dừng lại.
Lại vì vĩnh viễn chẳng gây tạo nghiệp phàm phu nên gọi
là dừng lại. Lại vì tự mình chẳng còn sợ sệt , cũng
chẳng làm cho người khác sợ sệt nên gọi là dừng lại.
Vì xa lìa hai ác tâm : Xan tham, sân hận nên gọi là dừng lại.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Bực đến bờ kia là A La Hán, Bích Chi Phật,
Bồ Tát, Chư Phật Thế Tôn, dụ như thần qui trên bờ dưới
nước đều đi tự tại.
Duyên
cớ gì dùng thần qui để ví dụ ? Vì thần qui khéo giấu
năm chi.
Bực
A La Hán nhẫn đến chư Phật cũng khéo giấu che năm căn. Dưới
nước là dụ thế gian, trên bờ là dụ xuất thế. Các bực
thánh nầy có thể quán sát tất cả ái phiền não lên đến
bờ kia, nên dụ như thần qui dưới nước trên bờ đều đi
tự tại.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như bảy hạng chúng sanh trong sông Hằng, dầu
có tên cá rùa nhưng chẳng rời khỏi nước, kinh Đại Niết
Bàn nầy từ Nhứt Xiển Đề lên đến chư Phật, dầu có
tên khác nhau nhưng cũng chẳng rời khỏi Phật tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Bảy hạng chúng sanh đây, hoặc pháp lành hoặc
pháp ác, hoặc đạo phương tiện, hoặc đạo giải thoát,
hoặc đạo thứ đệ, hoặc nhơn, hoặc quả, tất cả đều
là Phật tánh. Đây gọi là từ ngữ tùy tự ý của Như Lai.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu có nhơn thời có quả, không nhơn thời không
quả. Niết Bàn gọi là quả, là thường trụ nên không nhơn.
Nếu đã không nhơn tại sao gọi là quả ? Niết Bàn đây cũng
gọi là Sa Môn, cũng gọi là Sa Môn quả. Thế nào là Sa Môn
? Thế nào là Sa Môn quả ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong thế gian có bảy thứ quả : Một là phương
tiện quả, hai là báo ân quả, ba là thân cận quả, bốn là
dư tàn quả, năm là bình đẳng quả, sáu là quả báo quả,
bảy là viễn ly quả.
Như
người đời, mùa thu thâu gặt được nhiều lúa, bảo nhau
rằng được phương tiện quả. Phương tiện quả gọi là
nghiệp hành quả. Quả nầy có hai nhơn : Cận nhơn và viễn
nhơn. Cận nhơn là hột giống, viễn nhơn là nước phân
nhơn công. Đây gọi là phương tiện quả.
Như
người đời phụng dưỡng cha mẹ. Cha mẹ nói rằng nay chúng
tôi đã được quả báo ơn phụng dưỡng. Người con có thể
báo ơn gọi đó là quả. Quả nầy có hai nhơn : Cận nhơn
và viễn nhơn, cận nhơn là nghiệp thuần thiện đời quá
khứ của cha mẹ, viễn nhơn là sanh ra người con có hiếu.
Đây gọi là báo ân quả.
Như
có người gần gũi bạn lành, hoặc được quả Tu Đà Hoàn
đến quả A La Hán. Người nầy nói rằng nay tôi được quả
báo thân cận. Quả nầy có hai nhơn : Cận nhơn và viễn nhơn.
Cận là tín tâm, viễn là bạn lành. Đây gọi là thân cận
quả.
Như
do chẳng sát sanh mà được thân thứ ba sống lâu, đây gọi
là dư tàn quả. Quả nầy cũng có hai nhơn : Cận nhơn và viễn
nhơn. Cận là thân khẩu ý thanh tịnh, viễn là sống lâu.
Đây gọi là dư tàn quả.
Bình
đẳng quả là nói khí thế giới, quả nầy cũng có hai nhơn
: Một là cận nhơn, hai là viễn nhơn. Cận nhơn là chúng sanh
tu mười nghiệp lành. Viễn nhơn là đại tam tai.
Quả
báo quả là như người chứng đặng thân thanh tịnh rồi tu
ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, người nầy bèn nói tôi
được quả báo. Quả nầy có hai nhơn : Cận nhơn và viễn
nhơn Cận nhơn là hiện tại thân, khẩu, ý thanh tịnh.
Viễn nhơn là quá khứ thân , khẩu, ý thanh tịnh.
Viễn
ly quả tức là Niết Bàn lìa các phiền não, tất cả các
nghiệp lành là nhơn Niết Bàn. Nhơn Niết Bàn nầy có hai :
Cận nhơn và viễn nhơn. Cận nhơn là ba môn giải thoát, viễn
nhơn tức là pháp lành đã tu từ vô lượng đời.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như pháp thế gian hoặc nói sanh nhơn, hoặc
nói liễu nhơn. Pháp xuất thế cũng như vậy, cũng nói sanh
nhơn cũng nói liễu nhơn. Ba môn giải thoát, ba mươi bảy phẩm
trợ đạo có thể làm cho sanh nhơn củatất cả phiền não
chẳng sanh được, mà cũng làm liễu nhơn cho Niết Bàn. Xa
lìa phiền não thời đặng thấy rõ Niết Bàn, nên Niết Bàn
chỉ có liễu nhơn mà không có sanh nhơn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như lời ông hỏi : Thế nào là Sa Môn ? Thế
nào là Sa Môn quả ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Sa Môn Na tức là bát chánh đạo, Sa Môn Quả
là từ nơi đạo rốt ráo xa lìa tất cả tham , sân v.v… đây
gọi là Sa Môn Na và Sa Môn Quả.
_ Bạch
Thế Tôn ! Duyên cớ gì bát chánh đạo gọi là Sa Môn Na ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong đời nói Sa Môn gọi đó là thiếu thốn,
Na gọi là đạo. Đạo nầy dứt tất cả thiếu thốn, và
dứt tất cả đạo, do nghĩa nầy gọi bát chánh đạo là Sa
Môn Na . Từ trong đạo nầy chứng được thánh quả nên
gọi là Sa Môn Quả.
Lại
Sa Môn Na, như người đời có ai thích tịch tịnh cũng gọi
là Sa Môn, đạo nầy cũng như vậy, có thể làm cho người
tu hành xa lìa những sự ác tà mạng v.v… của thân, khẩu,
ý đặng vui tịch tịnh nên gọi đó là Sa Môn Na.
Như
trong đời người dưới có thể làm người trên, đây gọi
là Sa Môn. Đạo nầy cũng như vậy, có thể làm cho người
dưới thành người trên nên được gọi là Sa Môn Na.
Bực
A La Hán tu đạo nầy được quả Sa Môn. Được gọi là đến
nơi bờ kia. Quả A La Hán chính là năm phần pháp thân vô học
: Giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Do năm
phần nầy được đến bờ kia, nên gọi là đến bờ kia.
Do đến bờ kia nên tự nói rằng tôi đã hết sanh tử, phạm
hạnh đã trọn, chỗ làm đã xong, chẳng thọ thân đời sau.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Bực A La Hán dứt hẳn nhơn duyên sanh tử ba
đời, nên tự nói tôi đã hết sanh tử. Bực nầy cũng dứt
thân ngũ ấm trong ba cõi nên lại nói rằng tôi đã hết sanh
tử. Chỗ tu phạm hạnh đã rốt ráo, nên xướng rằng phạm
hạnh đã trọn, lại vì xả học đạo nên cũng gọi là đã
trọn. Như chỗ mong cầu, lúc trước ngày nay đã được, nên
lại xướng rằng chỗ làm đã xong. Hành đạo được quả
cũng nói rằng đã xong. Vì được tận trí và vô sanh trí
nên nói rằng tôi đã hết sanh tử, dứt hết kiết sử hữu
lậu. Do nghĩa nầy nên gọi bực A La Hán đặng đến bờ kia.
Như
A La Hán, bực Bích Chi Phật cũng lại như vậy.
Bồ
Tát và Phật thành tựu đầy đủ sáu môn Ba La Mật gọi là
đến bờ kia. Phật và Bồ Tát được vô thượng chánhn giác
rồi gọi là đầy đủ sáu môn Ba La Mật, vì được quả
của sáu môn Ba La Mật như vậy. Do được quả nên gọi là
đầy đủ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Bảy chúng sanh đây vì chẳng thể tu tập bốn
điều : Thân, giới tâm và huệ, nên hay gây tạo tội ngũ
nghịch, dứt căn lành, phạm bốn tội trọng, hủy báng Phật,
Pháp, Tăng, do đây nên gọi là thường chìm đắm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong bảy hạng chúng sanh nầy ai có thể gần
gũi thiện tri thức chí tâm nghe và nhận lấy chánh pháp của
Như Lai, trong tâm khéo tư duy ở đúng pháp, siêng năng tu tập
thân, giới, tâm và huệ, do đây nên được gọi là qua khỏi
sông sanh tử đến nơi bờ kia.
Nếu
có người nói rằng : Nhứt Xiển Đề được vô thượng chánh
giác, lời nầy gọi là nhiễm trước. Nếu nói rằng chẳng
được, thời gọi là lời hư vọng.
Nầy
Thiện Nam Tử !Bảy hạng nầy, hoặc có một người đủ cả
bảy, hoặc mỗi người mỗi hạng.
Nếu
có người nào tâm tưởng khác, miệng nói khác, cho rằng Nhứt
Xiển Đề đặng vô thượng chánh giác, phải biết người
nầy hủy báng Phật, Pháp, Tăng. Nếu nói không được thời
cũng gọi là hủy báng Phật, Pháp, Tăng.
Nếu
nói rằng bát thánh đạo là của phàm phu được, hoặc nói
chẳng phải phàm phu được, đều gọi là hủy báng Phật,
Pháp, Tăng.
Nếu
nói rằng tất cả chúng sanh quyết định có Phật tánh, hoặc
nói quyết định không Phật tánh, đều gọi là hủy báng
Phật, Pháp, Tăng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Do đây nên trong khế kinh ta nói rằntg có hai
hạng người hủy báng Phật, Pháp, Tăng : Một là người chẳng
tin, vì họ giận hờn ; hai là người dầu tin nhưng vì
chẳng hiểu nghĩa.
Nếu
người tin mà không có trí huệ thời hay thêm lớn vô minh.
Nếu người có trí huệ mà không có tín tâm thời hay tăng
trưởng tà kiến.
Người
chẳng tin vì tâm họ giận hờn nên nói rằng không có Phật,
Pháp, Tăng. Người tin mà không trí huệ giải nghĩa điên
đảo làm cho người nghe pháp hủy báng Phật, Pháp, Tăng. Do
đây nên ta nói người chẳng tin vì lòng hờn giận, người
tin lại không trí huệ, những người nầy hay hủy báng Phật,
Pháp, Tăng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nói rằng Nhứt Xiển Đề chưa sanh pháp
lành bèn được vô thượng chánh giác, người nầy cũng gọi
là hủy báng Phật, Pháp, Tăng. Nếu nói Nhứt Xiển Đề rời
bỏ Nhứt Xiển Đề ở trong thân khác được vô thượng chánh
giác, người nầy cũng gọi là hủy báng Phật, Pháp, Tăng.
Nếu
nói rằng Nhứt Xiển Đề có thể sanh căn lành, sanh căn lành
rồi nối luôn chẳng dứt chứng được vô thượng chánh gíac,
nên gọi rằng Nhứt Xiển Đề được vô thượng Bồ Đề,
phải biết rằng người nầy chẳng hủy báng Tam Bảo.
Nếu
có người nói rằng tất cả chúng sanh quyết định có Phật
tánh thường, lạc, ngã, tịnh, bất tác, bất sanh, do vì phiền
não nên chẳng thấy được, người nầy là hủy báng Phật,
Pháp, Tăng.
Nếu
nói rằng tất cả chúng sanh đều không có Phật tánh cũng
như sừng thỏ, do từ phương tiện mà sanh, trước kia không
nay mới có, có rồi trở lại không, người nầy là hủy báng
Phật, Pháp, Tăng.
Nếu
nói rằng Phật tánh của chúng sanh chẳng phải có như hư
không, chẳng phải không như sừng thỏ. Vì hư không là thường,
sừng thỏ là không, nên được nói là cũng có cũng không.
Vì có nên phá sừng thỏ, vì không nên phá hư không. Thuyết
trên đây chẳng hủy báng Tam Bảo.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Luận về Phật tánh chẳng gọi là một pháp,
chẳng gọi là mười pháp, chẳng gọi là trăm pháp, chẳng
gọi là ngàn pháp, chẳng gọi là muôn pháp.
Lúc
chưa được vô thượng chánh giác, tất cả thiện , bất thiện,
vô ký đều gọi là Phật tánh. Có lúc đức Như Lai trong nhơn
nói quả, trong quả nói nhơn, đây gọi là từ ngữ tùy tự
ý của Như Lai. Vì tùy tự ý mà nói nên gọi là
Như Lai, ứng cúng, chánh đẳng chánh giác.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như lời của Phật nói : Phật tánh của chúng sanh
dường như hư không. Thế nào gọi là như hư không ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! tánh hư không chẳng phải quá khứ, vị
lai, hiện tại.
Phật
tánh cũng như vậy.
Hư
không chẳng phải quá khứ, vì không phải hiện tại. Nếu
pháp là hiện tại mới có thể nói là quá khứ, vì không
hiện tại nên không quá khứ. Hiện tại cũng không, vì không
vị lai. Nếu pháp là vị lai mới có thể nói là hiện tại.
Vì không vị lai nên không hiện tại. Vị lai cũng không vì
không hiện tại và quá khứ. Nếu pháp có hiện tại và quá
khứ thời có vị lai, vì không quá khứ hiện tại nên không
vị lai.
Do
nghĩa trên đây nên tánh của hư không chẳng phải nhiếp trong
ba đời.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì hư không là không nên không có ba đời,
chẳng phải vì có mà không có ba đời. Như hoa đốm hư không
vì chẳng phải là có nên không có ba đời. Hư không cũng
như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Không có vật chính đó là hư không, Phật
tánh cũng như vậy. Vì hư không là không nên chẳng nhiếp
trong ba đời. Vì Phật tánh là thường nên chẳng nhiếp trong
ba đời.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai đã được vô thượng Bồ Đề,
đức Như Lai chỗ được Phật tánh và tất cả Phật
pháp là thường trụ không biến đổi. Do nghĩa nầy nên không
có ba đời dường như hư không.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì hư không là không nên chẳng phải trong
chẳng phải ngoài. Vì Phật tánh là thường trụ nên chẳng
phải trong chẳng phải ngoài, do đây nên nói rằng Phật tánh
dường như hư không .
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nhưng trong đời chỗ không chướng ngại thời
gọi là hư không.
Đức
Như Lai được vô thượng Bồ Đề rồi, nói tất cả Phật
pháp đều không có chướng ngại, nên nói rằng Phật tánh
dường như hư không.
_ Bạch
Thế Tôn ! Phật tánh và Niết bàn của Như Lai chẳng nhiếp
trong ba đời mà gọi là có, hư không cũng chẳng nhiếp trong
ba đời, cớ sao chẳng được gọi là có ư ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì chẳng phải Niết Bàn gọi là Niết Bàn,
vì chẳng phải Như Lai gọi là Như Lai, vì chẳng phải Phật
tánh gọi là Phật tánh.
Thế
nào gọi là chẳng phải Niết Bàn ? Nghĩa là tất cả
phiền não những pháp hữu vi. Vì phá những phiền não hữu
vi nầy mà gọi là Niết Bàn.
Thế
nào là chẳng phải Như Lai ? Chính là Nhứt Xiển Đề nhẫn
đến bực Bích Chi Phật. Vì phá Nhứt Xiển Đề nhẫn đến
Bích Chi Phật nầy mà gọi là Như Lai.
Thế
nào là chẳng phải Phật tánh ? Chính là tất cả vật vô
tình như tường, vách, ngói, đá v.v…lìa những vật vô tình
nầy gọi là Phật tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả thế gian không gì chẳng phải hư
không đối với hư không.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế gian cũng không gì chẳng phải là đối với
tứ đại, mà còn được gọi tứ đại là có, hư không
chẳng có đối cớ sao chẳng được gọi đó là có.
_ Nầy
Thiện nam Tử ! Nếu cho rằng Niết Bàn chẳng nhiếp trong ba
đời, hư không cũng như vậy. Lời nói nầy chẳng đúng nghĩa.
Vì Niết Bàn là có thấy được chứng được, là dấu vết
của sắc của sắc pháp, là có chương cú, là tướng, là
duyên, là chỗ quy y, là bờ kia, tịch tịnh sáng suốt an ổn,
do đây nên được gọi là nhiếp trong ba đời. Tánh hư không
chẳng có những pháp như vậy, nên gọi là không. Nếu có
cái gì lìa những pháp như vậy mà lại là có thời nhiếp
trong ba đời. Hư không nếu đồng là pháp có thời chẳng
được chẳng nhiếp trong ba đời.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như người đời cho rằntg hư không là không
sắc, không đối không thể thấy thời chính là tâm sở pháp.
Hư không nếu đồng tâm sở pháp, thời chẳng được
chẳng nhiếp trong đời. Nếu nhiếp trong ba đời tức là bốn
ấm. Do đây nên rời bốn ấm thời không có hư không.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Những nhà ngoại đạo nói rằng : Hư không
chính là quang minh. Nếu là quang minh thời là sắc pháp hư
không, nếu là sắc pháp như vậy bèn là vô thường. Vì là
vô thường nên nhiếp trong ba đời. Sao ngoại đạo lại nói
là chẳng phải ba đời. Nếu đã nhiếp trong ba đời thời
chẳng phải là hư không. Sao lại nói rằng hư không là thường.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lại có người cho rằng : Hư không là chỗ
an trụ. Nếu có chỗ an trụ thời là sắc pháp. Tất cả chỗ
đều là vô thường nhiếp trong ba đời, hư không cũng là
thường chẳng phải nhiếp trong ba đời. Nếu nói là chỗ
thời biết rằng không phải hư không.
Lại
có người nói rằng hư không là thứ đệ. Nếu là thứ đệ
thời là pháp số. Nếu đã là có thể tính đếm được thời
nhiếp trong ba đời, nếu nhiếp trong ba đời sao lại gọi
rằng thường?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lại có người nói rằng luận về hư không
thời lìa ba pháp, một là không, hai là thật, ba là không thật.
Nếu nói là không thời nên biết rằng hư không là pháp vô
thường, vì không có trong phạm vi thật. Nếu nói là thật
thời nên biết hư không cũng là vô thường, vì không có trong
phạm vi không. Nếu nói là không thật thời nên biết rằng
hư không cũng là vô thường, vì không có trong phạm vi không.
Do những nghĩa nầy nên trong phạm vi không là không có.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có người nói hư không là pháp bị làm ra,
như nói bỏ cây, bỏ nhà mà làm hư không, san bằng cho trống
không, che hư không, lên hư không, cùng tận hư không như nước
biển cả, đo đây nên hư không là pháp bị làm ra. Tất cả
pháp làm ra đều là vô thường, dường như ngói bình v.v…
Hư không nếu như vậy thời phải là vô thường.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người đời nói trong tất cả pháp chỗkhông
chướng ngại gọi đó là hư không. Chỗ không chướng ngại
nầy nơi tất cả pháp là có tất cả hay có từng phần ?
Nếu là có tất cả thời những chỗ khác không có hư không.
Nếu có từng phần thời là pháp kia và pháp đây có thể
tính đếm. Nếu đã là tính đếm được thời là vô thường.
Có
người cho rằng hư không gồm hiệp không chướng ngại
cùng có chướng ngại. Và lại nói rằng hư không ở nơi sự
vật như trái đựng trong bình chậu. Hai thuyết trên đều
chẳng đúng. Nếu nói gồm cả hai thời có ba thứ : Một là
nghiệp khác nhau mà cùng hiệp, như chim bay đậu trên cây.
Hai là cộng nghiệp cùng hiệp, như hai con dê đụng nhau. Ba
là đã hiệp rồi lại cùng hiệp như hai đôi ngón tay hiệp
ở một chỗ.
Nếu
nói nghiệp khác nhau cùng hiệp, khác nhau đây có hai : Một
là nghiệp sự vật, hai là nghiệp hư không. Nếu nghiệp hư
không hiệp với vật thời hư không là vô thường. Nếu nghiệp
sự vật hiệp với hư không, sự vật thời chẳng cùng khắp,
đã chẳng cùng khắp thời chẳng là vô thường. Nếu nói
hư không là thường, tánh của nó chẳng lay động mà cùng
với động vật hiệp, thời không đúng nghĩa. Vì nếu hư
khônglà thường thời vật lẽ ra cũng là thường. Nếu vật
là vô thường thời hư không cũng là vô thường. Không thể
nói rằng hư không cũng là thường cũng là vô thường.
Thuyết
cộng nghiệp hiệp nhau cũng không đúng nghĩa. Vì hư không
gọi là cùng khắp, nếu hiệp với nghiệp thời lẽ ra nghiệp
cũng cùng khắp, nếu là cùng khắp thời phải khắp tất cả,
nếu khắp tất cả thời lẽ ra hiệp với tất cả, chẳng
nên nói rằng có hiệp cùng chẳng hiệp.
Thuyết
đã hiệp rồi lại cùng hiệp như hai đôi ngón tay hiệp nhau
cũng không đúng nghĩa. Vì trước không có hiệp về sau mới
hiệp, trước không sau có là pháp vô thường. Nên chẳng được
nói rằng hư không đã hiệp rồi lại cùng hiệp. Như các
pháp trong đời trước không sau có là vô thường, nếu hư
không như vậy thời cũng phải là vô thường.
Thuyết
hư không ở nơi sự vật như trái đựng trong bình chậu cũng
không đúng nghĩa. Vì lúc chưa có bình chậu hư không kia ở
chỗ nào ?â Nếu có chỗ ở thời có nhiều hư không. Đã
là nhiều sao lại nói là thường, là duy nhứt, là cùng khắp.
Giả sử hư không rời hư không có chỗ ở, thời sự vật
lẽ ra cũng rời hư không có chỗ ở, do đây nên biết rằng
không có hư không.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu cho rằng chỗ ngón tay ở gọi là hư không
, theo thuyết nầy thời hư không là pháp vô thường, vì ngón
tay có bốn phương hướng, hư không cũng phải có bốn phương,
tất cả pháp thường trụ đều không có phương sở. Nếu
có phương sở thời hư không là vô thường. Nếu là vô thường
thời chẳng rời năm ấm. Nếu muốn rời năm ấm thời thành
ra không chỗ có.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có pháp nào do nhơn duyên mà tồn tại
thời pháp đó là vô thường. Như tất cả chúng sanh cùng
cây cối do nơi đất mà tồn tại. Vì đất là vô thường,
nên những vật trên đây cũng là vô thường. Như đất nhơn
nơi nước, vì nước vô thường nên đất cũng vô thường.
Như nước nhơn nơi gió vì gió vô thường nên nước cũng
vô thường. Gió nương nơi hư không, vì hư không vô thường
nên gió cũng vô thường. Sao lại nói rằng hư không là thường
khắp tất cả chỗ ?
Vì
hư không là không chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại,
cũng như sừng thỏ là vật không có nên chẳng phải quá khứ
vị lai hiện tại. Do đây nên ta nói Phật tánh thường trụ
chẳng nhiếp trong ba đời. Vì hư không là không nên chẳng
nhiếp trong ba đời.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta trọn chẳng trái cãi với thế gian. Vì người
trí nói có thời ta cũng nói có, vì người trí nóikhông thời
ta cũng nói không.
_ Bạch
Thế Tôn ! Bồ Tát có đủ mấy pháp thời chẳng trái cãi
với thế gian, chẳng bị pháp thế gian làm ô nhiễm ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Bồ Tát có đủ mười pháp thời được hai
điều trên : Một là tín tâm, hai là có giới, ba là gần gũi
bạn lành, bốn là trong tâm khéo tư duy, năm là có tinh tấn,
sáu là có chánh niệm, bảy là có trí huệ, tám là có chánh
ngữ, chín là thích chánh pháp, mười là thương xót chúng
sanh. Bồ Tát có đủ mười pháp nầy thời chẳng trái cãi
với thế gian, chẳng bị pháp thế gian làm ô nhiễm, như hoa
Ưu Bát La.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như lời Phật nói : Người trí trong đời nói có
Phật cũng nói có, người trí trong đời nói không Phật cũng
nói không. Những gì là có với không ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí trong đời nói sắc là vô thường
khổ không vô ngã, nhẫn đến thức cũng như vậy. Đây là
người trí trong đời nói có, ta cũng nói có. Người
trí nói sắc chẳng có thường, lạc, ngã, tịnh, thọ, tưởng,
hành, thức cũng như vậy Đây là người trí trong đời nói
không ta cũntg nói không.
Bạch
Thế Tôn ! Người trí trong đời chính là Phật và Bồ Tát
tất cả thánh nhơn. Nếu sắc ấm của các thánh nhơn là vô
thường khổ không vô ngã, tại sao đức Như lai nói sắc thân
của Phật là thường hằng không biến đổi. Người trí trong
đời nói chẳng có thường, lạc, ngã, tịnh, tại sao
Đưc Như Lai nói là có. Đức Thế Tôn nói những lời như
vậy sao lại nói rằntg chẳng tranh cải với thế gian, chẳng
bị pháp thế gian làm nhiễm ô. Đức Như Lai đã lìa ba thứ
điên đảo : Tưởng đảo, tâm đảo, và kiến đảo. Lẽ ra
nên nói rằng sắc thân của Phật thiệt là vô thường. Nay
lại nói là thường, thế nào đặng gọi là xa lìa điên đảo
chẳng tranh cãi với thế gian ?
_Nầy
Thiện Nam Tử ! Sắc thân của phàm phu từ phiền não mà sanh,
nên người trí nói săc thân là vô thường khổ không vô ngã.
Sắc thân của Như Lai xa lìa phiền não, nên nói là thường
hằng không biến đổi.
Xem
Tiếp: Trang 04
