XXIV
PHẨM
CA DIẾP BỒ TÁT
THỨ
HAI MƯƠI BỐN
_ Bạch
Thế Tôn ! Sắc ấm do phiền não sanh ra như thế nào ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Phiền não có ba thứ : Dục lậu, hữu lậu
và vô minh lậu. Người trí phải quán sát tội lỗi của ba
thứ lậu nầy. Vì có biết tội thời có thể xa lìa. Như
y sư coi mạch biết bịnh rồi mới cho thuốc.
Như
dắt người mù đến trong rừng gai rồi bỏ đó mà về, người
mù nầy rất khó ra khỏi rừng dầu được ra khỏi nhưng thân
thể phải bị trầy trụa.
Phàm
phu trong đời cũng như vậy, vì không biết được tội lỗi
của ba món lậu nên đi theo nó. Nếu người nào thấy được
tội lỗi của ba món lậu thời có thể xa lìa. Người đã
biết tội lỗi dầu có thọ quả báo nhưng quả báo cũng nhẹ
nhàng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có bốn hạng người : Một là lúc tạo nghiệp
thời nặng, lúc thọ báo thời nhẹ, hai là lúc tạo nghiệp
thời nhẹ, lúc thọ báo thời nặng, ba là lúc tạo nghiệp
thời nặng, lúc thọ báo cũng nặng, bốn là lúc tạo nghiệp
thời nhẹ, lúc thọ báo cũng nhẹ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu người có thể quán sát tội lỗi của
phiền não thời tạo nghiệp cùng thọ báo đều nhẹ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người có trí nghĩ rằng : Ta nên xa lìa ba
thứ lậu như vậy, chẳng nên gây tạo những nghiệp xấu
xa như vậy, vì ngày nay ta chưa được giải thoát lục đạo.
Nếu ta tu hành phải nương sức nầy để phá hoại các sự
khổ. Suy nghĩ như vậy rồi thời tham sân si của người nầy
kém yếu. Người nầy thấy phiền não của mình nhẹ nên lòng
họ vui mừng, lại nghĩ rằng ta được như vầy đều do công
đức tu hành, làm cho ta lìa đặng pháp ác, gần gũi pháp lành,
nên hiện tại ta được thấy thánh đạo, vậy ta phải nên
siêng năng tu tập thêm. Do công đức siêng năng tu hành, người
nầy xa lìa vô lượng phiền não và thoát khỏi lục đạo
luân hồi.
Do
đây nên trong khế kinh Phật nói phải quán sát tất cả phiền
não hữu lậu và nhơn của hữu lậu. Vì người trí nếu chỉ
quán hữu lậu mà chẳng quán nhơn của hữu lậu thời không
thể dứt các phiền não. Vì người trí quán sát hữu lậu
do nhơn nầy mà sanh, nay ta dứt nhơn nầy thời lậu chẳng
còn sanh. Như y sư trước từ nhơn của bịnh thời bịnh chẳng
còn. Do đây nên người trí phải trước quán sát nhơn, kế
đó quán sát quả báo, biết rằng từ nhơn lành sanh ra quả
lành, từ nhơn ác sanh quả ác. Khi rõ biết quả báo rồi
thời xa lìa nhơn ác. Lại phải quán phiền não nhẹ hay nặng,
trước lìa phiền não nặng thời phiền não nhẹ tự mất.
Nầy
Thiện Nam tử ! Người trí nếu biết phiền não, biết
nhơn của phiền não, biết quả báo của phiền não, biết
phiền não nhẹ hay nặng, bấy giờ người nầy siêng năng
tu hành chẳng ngừng nghỉ, chẳng hối tiếc, thường gần
gũi bạn lành chí tâm nghe pháp để dứt trừ những phiền
não như vậy.
Như
người bịnh tự biết bịnh nhẹ có thể trị lành, nên dầu
uống thuốc đắng vẫn không ăn năn. Người trí siêng tu thánh
đạo thường vui mừng chẳng sầu, chẳng nghĩ, chẳng ăn năn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu người biết được phiền não, nhơn của
phiền não, quả báo của phiền não, biết phiền não nhẹ
nặng, vì trừ phiền não mà tu thánh đạo, người nầy chẳng
do phiền não sanh sắc thân, cũng chẳng do phiền não sanh thọ,
tưởng, hành, thức. Nếu chẳng biết được phiền não v.v…
chẳng siêng tu tập, người nầy từ phiền não sanh thân ngũ
ấm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người rõ biết phiền não v.v…vì dứt trừ
phiền não mà tu hành thánh đạo, đây chính là đức Như Lai
do nhơn duyên nầy nên sắc thân của Như Lai cùng thọ, tưởng,
hành, thức, đều là thường trụ.
Kế
chẳng biết phiền não v.v…, chẳng tu hành thánh đạo, đây
là phàm phu. Do nhơn duyên nầy nên sắc, thọ, tưởng, hành,
thức của phàm phu đều là vô thường.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí trong đời : Tất cả Thánh
nhơn, Bồ Tát, chư Phật đều nói hai nghĩa trên đây, ta cũng
nói hai nghĩa như vậy, do đây nên ta nói rằng chẳng tranh
cãi với người trí trong đời, chẳng bị thế pháp làm nhiễm
ô.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào gọi là dục lậu, hữu lậu và vô minh
lậu ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Do trong tâm có giác quán chẳng lành, nhơn nơi
duyên ngoài mà sanh ra dục lậu.
Ngày
trước lúc ở thành Vương Xá, ta bảo A Nan rằng : Nay ông
thọ lấy bài kệ tụng của cô gái nầy nói. Bài kệ đây
là lời của chư Phật quá khứ. Do đây nên tất cả giác
quán chẳng lành trong tâm cùng những nhơn duyên ngoài gọi
đó là dục, đây là dục lậu.
Trừ
dục lậu ở cõi dục, những á pháp nơi trong cùng các nhơn
duyên nơi ngoài của cõi sắc và vô sắc gọi là hữu lậu.
Chẳng
thể rõ biết ngã cùng ngã sở, chẳng biện biệt được trong
cùng ngoài, đây gọi là vô minh lậu.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vô minh là cội gốc của tất cả các lậu,
vì tất cả chúng sanh do vô minh nên ức tưởng chấp trước
nơi ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới, đây gọi là
chúng sanh, cũng gọi là tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo.
Do nhơn duyên nầy sanh ra tất cả các lậu. Vì thế nên trong
mười hai bộ kinh, ta nói vô minh là nhơn của tham sân si.
_ Bạch
Thế Tôn ! Trước kia đức Như Lai nói rằng do chẳng khéo
tư duy mà có tham, sân, si. Nay duyên cớ gì mà nói do vô minh
?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Hai pháp đây làm nhơn quả lẫn nhau, tăng trưởng
lẫn nhau : Chẳng khéo tư duy sanh vô minh, do vô minh nên chẳng
khéo tư duy.
Nầy
Thiện nam Tử ! Những gì có thể sanh trưởng các phiền não
thời đều gọi là nhơn duyên của phiền não. Gần gũi những
nhơn duyên của phiền não như vậy thời gọi là vô minh. Chẳng
khéo tư duy dụ như hột giống lên mọng : Hột giống là cận
nhơn, nước đất là viễn nhơn. Phiền não cũng như vậy.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như lời Phật nói vô minh tức là lậu, sao lại
nói rằng nhơn nơi vô minh mà sanh các lậu ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Vô minh lậu là nội vô minh. Nhơn nơi vô minh
sanh ra các lậu là nội ngoại nhơn. Nếu nói vô minh lậu thời
gọi là nội đảo : Chẳng biết vô thường, khổ, không và
vô ngã. Nếu nói nhơn duyên của tất cả phiền não, đây
gọi là chẳng rõ biết ngoài ngã và ngã sở. Nếu nói vô
minh lậu, đây gọi là vô thỉ vô chung : Từ nơi vô minh sanh
ra ấm nhập giới v.v…
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào gọi là biết nhơn của các lậu ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí nên quán sát rằng : Nhơn duyên
gì sanh ra phiền não nầy ? Làm hạnh nghiệp gì sanh ra phiền
não nầy ? _ Lúc ở chung với ai sanh ra phiền não nầy ? _ Ở
chỗ nào sanh ra phiền não nầy ? Quán sát việc gì sanh ra phiền
não nầy ? _ Thọ lãnh đồ ăn đồ dùng của ai sanh ra phiền
não nầy ? Duyên cớ gì chuyển hạ làm trung, chuyển trung làm
thượng ? _ Hạ nghiệp làm trung, trung nghiệp làm thượng ?
Bồ
Tát lúc quán sát như vậy thời xa lìa được nhơn duyên sanh
ra các lậu. Lúc quán sát như vậy những phiền não chưa sanh
ngăn ngừa làm cho chẳng sanh, nhữngphiền não đã sanh thời
trừ diệt được. Do đây nên trong khế kinh ta nói rằng người
trí phải quán sát nhơn duyên sanh ra phiền não.
_ Bạch
Thế Tôn ! Chúng sanh có một thân làm sao có thể khởi ra các
thứ phiền não ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Như trong một cái chậu đựng nhiều thứ hột
giống, lúc có nước mưa thời mỗi hột giống đều tự mọc
lên. Chúng sanh cũng như vậy, thân dầu chỉ có một, do nhơn
duyên tham ái mà có thể sanh trưởng các thứ phiền não.
_ Bạch
Thế Tôn ! Người trí quán sát quả báo như thế nào ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí nên quán sát nhơn duyên của các
lậu có thể sanh thân tam đồ, nhơn duyên của các lậu được
thân nhơn thiên, đều là vô thường, khổ, không, vô ngã.
Trong thân nầy có ba thứ khổ, ba thứ vô thường. Nhơn duyên
của các lậu nầy có thể làm cho chúng sanh tạo tội ngũ
nghịch thọ lấy ác báo, có thể dứt mất căn lành,
phạm bốn tội trọng, hủy báng Tam Bảo.
Người
trí lại nên quán sát ngày nay ta đã có thân như vầy, chẳng
nên sanh khởi những phiền não như vậy để khỏi mang lấy
những ác quả.
_ Bạch
Thế Tôn ! Có quả vô lậu. Lúc người trí dứt những quả
báo, quả báo vô lậu nầy có ở trong số bị dứt đây chăng
?
Những
người đắc đạo có quả vô lậu. Người trí kia cầu quả
vô lậu. Tại sao đức Phật nói rằng tất cả người trí
nên dứt quả báo. Nếu dứt quả báo thời ngày nay làm sao
có các bực thánh nhơn ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Có lúc đức Như Lai trong nhơn mà nói
quả, có lúc trong quả mà nói nhơn.
Như
người đời nói đất sét, chính là cái bình, những sợi
chỉ chính là cái áo, đây gọi là trong nhơn mà nói quả.
Như
người đời nói con bò chính là nước và cỏ, người chính
là đồ ăn, đây là trong quả mà nói nhơn. Ta cũng ở trong
nhơn mà nói quả như vậy. Như trong khế kinh trước kia ta
từng nói rằng : Ta từ nơi tâm mà thân đến cõi Phạm Thiên,
đây gọi là trong nhơn mà nói quả. Lục nhập nầy là nghiệp
quá khứ, đây gọi là trong quả mà nói nhơn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thật ra tất cả thánh nhơn không có quả báo
vô lậu. Tất cả thánh nhơn tu hành thánh đạo được quả
báo chẳng còn sanh các lậu do đây nên gọi là quả báo vô
lậu.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí lúc quán sát như vậy liền dứt
hẳn được quả báo của phiền não. Vì dứt quả báo phiền
não nầy mà tu tập thánh đạo : Không vô tướng và vô nguyện.
Tu tập thánh đạo nầy có thể dứt tất cả quả báo của
phiền não.
_ Bạch
Thế Tôn ! Tất cả chúng sanh đều do phiền não mà có quả
báo. Phiền não chính là ác. Từ phiền não ác sanh ra phiền
não cũng gọi là ác. Phiền não như vậy có hai thứ : Nhơn
và quả. Vì nhơn ác nên quả ác, vì quả ác nên nhơn ác.
Như
trái nhâm bà vì hột nó đắng, nên bông trái cây lá tất
cả đều đắng. Như cây độc vì hột nó độc nên trái cũng
độc.
Nhơn
là chúng sanh quả cũng chúng sanh. Nhơn là phiền não quả cũng
phiền não. Nhơn quả phiền não chính là chúng sanh. Chúng
sanh chính là nhơn quả phiền não.
Nếu
cứ theo nghĩa nầy, cớ sao đức Như Lai trước kia nói dụ
núi Tuyết cũng có cỏ độc, cũng có cây thuốc hay ?
Nếu
nói phiền não là chúng sanh, chúng sanh là phiền não, sao Phật
lại nói trong thân chúng sanh có thuốc hay ?
Lành
thay ! Lành thay ! Nầy Thiện Nam Tử ! Vô lượng chúng sanh đều
đồng nghi như vậy. Nay ông vì chúng sanh mà thưa hỏi. Ta cũng
có thể giải thích để trừ nghi.
Ông
nên lóng nghe khéo suy nghĩ và ghi nhớ đó.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Núi Tuyết kia dụ cho chúng sanh, cỏ độc là
nói phiền não, cây thuốc hay là chỉ cho phạm hạnh thanh tịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có chúng sanh tu tập phạm hạnh thanh tịnh
như vậy, thời gọi là trong thân có thuốc hay.
_
Bạch Thế Tôn ! Thế nào chúng sanh có phạm hạnh thanh tịnh.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Như trong đời, từ hột sanh ra trái. Trái nầy
có thứ sanh ra hột, có thứ chẳng sanh. Thứ có thể sanh hột
thời gọi là quả tử. Thứ không thể sanh chỉ được gọi
là quả chẳng đượcgọi là tử.
Tất
cả chúng sanh cũng như vậy, có hai hạng : Một là có quả
phiền não là nhơn phiền não, hai là có quả phiền não chẳng
phải nhơn phiền não. Hạng sau đây gọi là phạm hạnh thanh
tịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Chúng sanh quán sát thọ ấm, biết nó là cận
nhơn của tất cả lậu. Vì thọ ấm làm nhơn duyên nên không
thể dứt tuyệt tất cả các lậu, cũng không thể ra khỏi
ngục tam giới. Nhơn nơi thọ mà chúng sanh chấp ngã và ngã
sở, sanh ra tâm đảo, tưởng đảo và kiến đảo. Do đây
nên chúng sanh trước phải quán sát thọ ấm, thọ nầy là
cận nhơn của tất cả ái. Do đây nên người trí muốn dứt
tham ái, trước phải quán sát thọ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả chúng sanh, mười hai nhơn duyên chỗ
gây tạo nghiệp thiện ác đều nhơn nơi thọ. Do đây nên
ta từng bảo A Nan rằng : Tất cả chúng sanh tạo nghiệp thiện
ác đều do nơi thọ. Nên người trí trước phải quán sát
thọ.
Đã
quán sát thọ rồi lại phải quán sát thọ nầy do nhơn duyên
gì mà sanh ? Nếu do nhơn duyên sanh, thời nhơn duyên đó lại
từ đâu mà sanh ? Nếu không nhơn duyên mà sanh, thời không
nhơn kia cớ sao chẳng sanh không thọ ?
Lại
quán sát thọ nầy chẳng phải do Tư Tại Thiên sanh, chẳng
do sĩ phu sanh, chẳng do vi trần sanh, chẳng phải thời tiết
sanh, chẳng do tưởng sanh, chẳng do tánh sanh, chẳng phải tự
sanh, chẳng phải tha sanh, chẳng phải vô nhơn sanh. Thọ nầy
từ các duyên hòa hiệp mà sanh, duyên đây chính là ái. Trong
sự hòa hiệp nầy chẳng phải có thọ chẳng phải không thọ.
Do đây nên ta phải dứt sự hòa hiệp nầy. Vì dứt hòa hiệp
nên chẳng sanh ra thọ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát nhơn rồi kế quán sát
quả báo : Chúng sanh do nơi thọ mà thọ báo địa ngục, ngạ
quỉ, súc sanh, nhẫn đến thọ vô lượng sự khổ não trong
tam giới. Do nơi thọ mà thọ lấy sự vui hư huyễn vô thường.
Do nơi thọ mà dứt căn lành. Do nơi thọ mà được giải thoát.
Lúc quán sát như vậy thời chẳng làm nhơn cho thọ.
Thế
nào gọi là chẳng làm nhơn cho thọ ? Chính là phân biệt thọ
: Những thọ gì có thể làm nhơn cho ái ? Những ái gì có
thể làm nhơn cho thọ ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu chúng sanh có thể quán sát rành rẽ ái
nhơn và thọ nhơn như vậy, thời có thể dứt ngã và ngã
sở.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu người nào có thể quán sát những điều
như vậy, thời nên biện biệt ái cùng thọ dứt tại chỗ
nào ?ø Bèn thấy ái và thọ có chỗ diệt phần ít, do đây
nên biết rằng cũng phải có diệt hoàn toàn. Bấy giờ ở
nơi giải thoát người nầy sanh tín tâm, quán sát chỗ giải
thoát nầy do đâu mà được. Quán sát rồi biết rõ từ bát
chánh đạo nên liền tu tập.
Thế
nào gọi là bát chánh đạo ? Đạo nầy quán sát thọ có ba
tướng : Một là khổ, hai là lạc, ba là bất khổ bất lạc.
Ba tướng nầy đều có thể làm cho thân tâm tăng trưởng.
Nhơn
duyên gì mà có thể tăng trưởng ? Vì xúc làm nhơn duyên.
Xúc nầy có ba : Một là vô minh xúc, hai là minh xúc, ba là
phi minh phi vô minh xúc. Minh xúc đây chính là bát chánh đạo.
Hai xúc kia thời tăng trưởng thân tâm và ba món thọ. Do đây
nên phải dứt hai món xúc nầy. Xúc đã dứt nên chẳng sanh
ba món thọ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thọ nầy cũng gọi là nhơn cũng gọi là quả.
Người trí phải quán sát cũng nhơn cũng quả nầy : Nhơn thọ
sanh ra ái gọi đó là nhơn. Thọ nhơn nơi xúc mà sanh đây
gọi là quả.
Người
trí quán sát thọ như vậy rồi, kế lại quán sát ái. Quả
báo của thọ gọi là ái. Quán sát ái có hai thứ Một
là tạp thực, hai là vô thực.
Tạp
thực ái làm nhơn sanh ra già bịnh chết tất cả những cõi
hữu lậu. Vô thực ái thời dứt sanh gìa bịnh chết tất
cả các cõi mà tham ưa đạo vô lậu.
Lại
nên nghĩ rằng : Nếu ta sanh tạp thực ái nầy thời không
thể dứt được sanh lão bịnh tử . nay dầu ta tham đạo vô
lậu, nếu chẳng dứt thọ nhơn, thời không thể được đạo
quả vô lậu. Do đây nên phải dứt xúc nầy trước. Xúc đã
dứt thời thọ tự diệt. Thọ đã diệt thời ái cũng mất
theo. Đây gọi là bát chánh đạo.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có chúng sanh nào quán sát như vậy, dầu
hiện tại có thân ác độc, nhưng trong đó cũng có cây thuốc
hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây
thuốc tốt.
Những
chúng sanh nầy dầu do phiền não mà có quả báo, những quả
báo nầy chẳng còn lại sanh phiền não, đây gọi là phạm
hạnh thanh tịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí phải quán sát hai thứ thọ và
ái do nhơn duyên gì sanh ra ? Biết do nơi tưởng mà sanh. Vì
chúng sanh lúc thấy sắc cũng chẳng sanh tham. Đến lúc quán
thọ cũng chẳng sanh tham. Nếu ở trong sắc mà sanh tưởng
điên đảo, cho rằng sắc là thường, lạc, ngã , tịnh. Thọ
là thường hằng không biến đổi. Do tưởng điên đảo nầy
mà sanh tham, sân, si. Do đây nên người trí phải quán sát.
Và
phải suy nghĩ rằng : Tất cả chúng sanh lúc chưa được chánh
đạo đều có tưởng điên đảo : Ở trong chẳng phải
thường, lạc, ngã, tịnh mà nhận là thường, lạc, ngã, tịnh.
Nơi pháp chẳng phải nam, nữ, lớn, nhỏ, ngày, đêm, năm,
tháng, y phục, nhà cửa v.v… mà tưởng là nam, là nữ v.v…
Tưởng
nầy có ba thứ : Tiểu, đại và vô lượng. Vì nhơn duyên
nhỏ nên sanh tưởng nhỏ. Vì nhơn duyên lớn nên sanh tưởng
lớn. Vì vô lượng duyên nên sanh tưởng vô lượng.
Lại
có tưởng nhỏ chính là chưa nhập định, tưởng lớn là
nói đã nhập định, vô lượng tưởng là nói mười nhứt
thiết nhập.
Lại
có tưởng nhỏ là tất cả tưởng ở cõi dục, tưởng lớn
là tất cả tưởng ở cõi sắc, vô lượng tưởng là tất
cả tưởng ở cõi vô sắc.
Vì
ba thứ tưởng nầy diệt nên thọ cũng tự diệt. Vì tưởng
thọ diệt nên gọi là giải thoát.
_ Bạch
Thế Tôn ! Diệt tất cả pháp gọi là giải thoát, sao đức
Như Lai nói tưởng thọ diệt gọi là giải thoát ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Như Lai có lúc nhơn chúng sanh mà thuyết pháp,
người nghe hiểu được pháp.
Như
trước kia ta bảo Đại Ca Diếp : Lúc chúng sanh diệt thời
pháp lành diệt. Hoặc có lúc ta nhơn nơi pháp mà nói chúng
sanh, người nghe cũng hiểu là nói chúng sanh. Như trước kia
ta bảo A Nan rằng : Đức Phật cũng chẳng nói gần gũi tất
cả pháp, lại cũng chẳng nói chẳng gần gũi tất cả pháp.
Nếu đã gần nơi pháp mà pháp lành kém suy, pháp ác lừng
thạnh, thời chẳng nên gần pháp đó. Nếu đã gần nơi pháp
nào mà điều ác suy diệt, điều lành thêm lớn, thời nên
gần gũi pháp đó.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Dầu đức Như Lai nói tưởng thọ diệt, nhưng
đã tổng nói dứt tất cả pháp nên dứt.
Người
trí đã quán tưởng như vậy rồi, kế lại quán nhơn của
tưởng : Vô lượng tưởng nầy nhơn đâu mà sanh ? Biết rằng
nhơn xúc mà sanh. Xúc nầy có hai : Một là do phiền não mà
có xúc, hai là do giải thoát mà có xúc. Do vô minh sanh gọi
là phiền não xúc, do minh sanh gọi là giải thoát xúc. Nhơn
nơi phiền não xúc sanh ra đảo tưởng. Nhơn nơi giải thoát
xúc sanh ra bất đảo tưởng. Quán sát nhơn của tưởng rồi
kế lại quán sát quả báo.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu vì nhơn nơi tưởng phiền não nầy mà sanh
đảo tưởng, thời tất cả thánh nhơn thiệt có đảo tưởng
mà không phiền não.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Thế nào là Thánh nhơn mà có đảo tưởng
?
_ Bạch
Thế Tôn ! Tất cả Thánh nhơn đối với con bò con ngựa tưởng
là bò là ngựa rồi cũng nói là bò là ngựa. Đối với nam
nữ lớn nhỏ nhà cửa v.v… cũng như vậy, do đây nên gọi
là đảo tưởng.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả phàm phu có hai thứ tưởng : Một
là thế lưu bố tưởng, hai là chấp trước tưởng. Tất cả
Thánh nhơn chỉ có thế lưu bố tưởng, không có chấp trước
tưởng. Tất cả phàm phu vì ác giác quán nên đối với thế
lưu bố sanh ra chấp trước tưởng. Tất cả Thánh nhơn vì
thiện gíac quán nên đối với thế lưu bố chẳng sanh tưởng
chấp trước. Do đây nên phàm phu gọi là đảo tưởng. Thánh
nhơn dầu biết các pháp mà chẳng gọi là đảo tưởng.
Người
trí quán sát nhơn của tưởng rồi kế lại quán quả báo
: Ác trưởng nầy thọ quả nơi địa ngục, ngạ quỉ, súc
sanh, nhơn và thiên. Như ta do vì dứt ác giác quán nên
vô minh xúc dứt, do đây mà tưởng dứt, vì tưởng dứt nên
quả báo cũng dứt. Người trí vì dứt nhơn của tưởng nên
tu bát chánh đạo.
Nếu
có người quán sát được như vậy, thời gọi là phạm hạnh
thanh tịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như trên đây gọi là trong thân ác độc của
chúng sanh mà có thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ
độc nhưng cũng có cây thuốc hay.
Nầy
Thiện nam Tử ! Người trí kế lại quán sát dục, tức là
sắc, thinh, hương, vị, xúc. Đây là đức Như Lai ở trong
nhơn mà nói quả, vì từ năm trần nầy mà sanh ra dục,
thiệt ra năm trần chẳng phải dục.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người ngu si vì tham cầu thọ lấy nên đối
với sắc sanh ra tưởng điên đảo, đối với thanh, hương,
vị, xúc cũng sanh ra tưởng điên đảo. Do đảo tưởng làm
nhơn duyên mà sanh ra thọ. Do đây nên trong đời nói rằng
nhơn đảo tưởng sanh ra mười món tưởng.
Do
dục làm nhơn duyên mà thọ lấy quả báo ác nơi thế gian.
Đem sự ác làm hại cha mẹ, Sa Môn, Bà La Môn v.v…, chỗ chẳng
nên làm ác mà cố làm chẳng tiếc thân mạng. Người trí
quán sát ác tưởng nầy làm nhơn duyên mà sanh ra dục tâm.
Quán
sát nhơn duyên của dục rồi kế lại quán quả báo :
Dục nầy có nhiều quả báo ác : Địa ngục, ngạ quỉ, súc
sanh, nhơn và thiên.
Nếu
những ác tưởng nầy đã trừ diệt được, thời vĩnh viễn
chẳng sanh dục tâm nầy, vì không dục tâm nên chẳng sanh
ác thọ, đã không ác thọ thời không ác quả, do đây nên
phải dứt ác tưởng trước. Ác tưởng đã dứt thời những
pháp ác khác tự nhiên đều dứt. Do cớ trên đây nên người
trí vì dứt ác tưởng mà tu bát chánh đạo, đây gọi là
phạm hạnh thanh tịnh, cũng gọi là trong thân độc của chúng
sanh có vị thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc
nhưng cũng có cây thuốc hay.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí quán dục như vậy rồi kế nên
quán nghiệp. Phải suy nghĩ rằng : Bốn thứ thọ, tưởng,
xúc và dục chính là phiền não. Phiền não nầy có thể làm
sanh nghiệp mà chẳng làm thọ nghiệp. Phiền não nầy cùng
đi với nghiệp có hai thứ : Một là làm sanh nghiệp, hai là
làm tác nghiệp.
Do
đây nên người trí phải quán sát nơi nghiệp. Nghiệp nầy
có ba : Thân, khẩu và ý. Hai nghiệp thân, khẩu tên là nghiệp
mà cũng gọi là nghiệp quả, ý chỉ gọi là nghiệp, vì là
nhơn của nghiệp nên gọi là nghiệp. Hai nghiệp thân, khẩu
là nghiệp ngoài, ý gọi là nghiệp trong. Ba thứ nghiệp nầy
đi cùng với phiền não làm thành hai thứ nghiệp : Một là
sanh nghiệp, hai là thọ nghiệp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Chánh nghiệp tức là ý, kỳ nghiệp tức là
thân khẩu. Phát sanh trước gọi là ý nghiệp, từ ý nghiệp
sanh ra gọi là thân khẩu nghiệp. Do đây nên ý nghiệp được
gọi là chánh.
Người
trí đã quán nghiệp rồi kế lại quán nghiệp nhơn. Nghiệp
nhơn đây là vô minh xúc. Do nơi vô minh xúc mà chúng sanh cầu
lấy có. Nhơn duyên cầu lấy có tức là ái. Nhơn nơi ái mà
gây tạo ba thứ nghiệp, thân, khẩu, ý.
Người
trí quán nghiệp nhơn rồi kế lại quán quả báo. Quả báo
đây có bốn : Một là hắc hắc quả báo, hai là bạch bạch
quả báo, ba là tạp tạp quả báo, bốn là bất hắc bất
bạch quả báo.
Hắc
hắc quả báo là lúc tạo nghiệp nhơ đục quả báo cũng nhơ
đục. Bạch bạch quả báo là lúc tạo nghiệp thanh tịnh quả
báo cũng thanh tịnh.
Tạp
tạp quả báo là lúc tạo nghiệp tạp quả báo cũng tạp.
Bất bạch bất hắc quả báo là nói vô lậu nghiệp.
_ Bạch
Thế Tôn Trước kia đức Như Lai nói vô lậu không có
quả báo, cớ sao nay lại nói vô lậu là bất bạch bất hắc
quả báo.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nghĩa nầy có hai : Một là cũng quả cũng báo,
hai là chỉ quả chẳng phải báo. Hắc hắc quả báo là quả
cũng là báo : Do nghiệp nhơn hắc mà sanh ra nên gọi là
quả, nó lại có thể làm nhơn nên lại gọi là báo. Bạch
bạch và tạp tạp cũng như vậy. Quả vô lậu nhơn nơi hữu
lậu mà sanh nên gọi là quả, nó chẳng làm nhơn cho pháp khác
nên chẳng gọi là báo. Do đây nên vô lậu gọi là quả mà
chẳng gọi là báo.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nghiệp vô lậu nầy chẳng phải là hắc pháp, duyên
cớ gì chẳng gọi nó là bạch ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì vô lậu không có báo nên chẳng gọi là
bạch. Vì đối trị hắc nên gọi là bạch. Nay ta nói thọ
quả báo gọi là hắc bạch. Vì nghiệp vô lậu nầy chẳng
thọ báo nên chẳng gọi là bạch mà gọi là tịch tịnh.
Nghiệp
như vậy có chỗ định thọ báo, như mười pháp ác quyết
định ở địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, mười nghiệp lành
quyết định ở nhơn, thiên.
Mười
pháp ác có thượng, trung và hạ : Nghiệp thượng thọ thân
địa ngục, nghiệp trung thọ thân súc sanh, nghiệp hạ thọ
thân ngạ quỉ.
Mười
nghiệp lành về nhơn đạo có bốn hạng : Nghiệp hạ
sanh Bắc Câu Lô Châu, nghiệp trung sanh Tây Ngưu Hóa Châu,
nghiệp thượng sanh Đông Thắng Thần Châu, nghiệp thượng
thượng sanh Diêm Phù Đề.
Người
trí quán sát như vậy rồi liền nghĩ rằng : Ta phải làm thế
nào dứt những quả báo ấy ? Lại nghĩ rằng nhơn duyên của
những nghiệp nầy do vô minh xúc sanh ra, nếu ta dứt trừ vô
minh cùng xúc, thời nghiệp quả nầy dứt mất chẳng còn sanh.
Vì dứt trừ vô minh và xúc nên người trí tu bát chánh đạo,
đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh. Cũng gọi là trong thân
độc của chúng sanh có vị thuốc hay, như trong núi Tuyết
dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát nghiệp và quán sát phiền
não rồi, kế lại quán sát quả báo của hai thứ nầy : Tức
là khổ. Đã biết là khổ thời có thể xa lìa tất cả sự
thọ sanh.
Người
trí lại quán sát phiền não làm nhơn duyên sanh ra phiền não,
nghiệp cũng làm nhơn duyên sanh ra phiền não. Phiền não lại
làm nhơn duyên sanh ra nghiệp, nghiệp làm nhơn duyên sanh ra
khổ, khổ làm nhơn duyên sanh ra phiền não, phiền não làm
nhơn duyên sanh ra hữu, hữu làm nhơn duyên sanh ra khổ, khổ
làm nhơn duyên sanh ra hữu, hữu làm nhơn duyên sanh ra nghiệp,
nghiệp làm nhơn duyên sanh ra phiền não, phiền não làm nhơn
duyên sanh ra khổ, khổ làm nhơn duyên sanh ra nghiệp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ai có thể quán sát như vậy, nên biết
rằng người nầy có thể quán sát nghiệp khổ, vì những
điều quán sát như vậy chính là mười hai nhơn duyên sanh
tử, người nầy chẳng gây tạo nghiệp mới, có thể phá
hoại nghiệp cũ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát sự khổ nơi địa ngục.
Quán sát nơi địa ngục nhẫn đến ba trăm ba mươi sáu sở.
Mỗi địa ngục đều có các sự khổ, đều do phiền não
và nghiệp sanh ra. Quán sát địa ngục rồi kế lại quán sát
những sự khổ của ngạ quỉ và súc sanh. Kế lại quán sát
những sự khổ của nhơn gian và của chư thiên. Những sự
khổ như vậy đều do nơi phiền não và nghiệp sanh ra.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trên các cõi Trời dầu không những sự khổ
não lớn, nhưng thân thể của chư thiên mềm dịu mịn trơn,
lúc năm tướng suy hiện ra họ cũng thọ lấy sự khổ lớn,
như sự khổ của địa ngục.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát những sự khổ của tam
giới đều do nơi phiền não và nghiệp mà sanh. Như đồ bằng
đất chưa hầm thời dể bể hư. Thân thể của chúng sanh
cũng như vậy, là những đồ đầy sự khổ. Như cây to bông
trái sum sê bầy chim có thể làm hư hại. Như nhiều cỏ khô
chút lửa cũng có thể cháy hết. Thân thể của chúng sanh
bị những sự khổ làm hư hoại cũng như vậy. Người trí
nếu có thể quán sát tám thứ khổ, người nầy có thể dứt
được những sự khổ.
Nầy
Thiện NamTử ! Đã quán sát tám sự khổ rồi kế lại quán
sát khổ nhơn.
Khổ
nhơn đây là ái cùng vô minh. Có hai thứ : Một là cầu thân
thể, hai là cầu của cải, hai thứ nầy đều là khổ, do
đây nên biết ái cùng vô minh là khổ nhơn. Lại có hai thứ
: Một là nội, hai là ngoại. Nội có thể gây nghiệp, ngoại
có thể làm tăng trưởng. Nội lại có thể gây nghiệp, ngoại
làm thành nghiệp quả.
Đã
dứt nội ái thời nghiệp cũng dứt, dứt được ngoại ái
thời qủa cũng dứt. Nội ái có thể sanh khổ đời vị lai,
ngoại ái có thể sanh khổ đời hiện tại. Do đây nên ái
là khổ nhơn.
Đã
quán khổ nhơn rồi kế lại quán sát quả báo. Quả báo của
khổ chính là thủ, ái quả gọi là thủ. Nhơn duyên của thủ
nầy tức là nội ái và ngoại ái do đây có ái khổ.
Nguời
trí phải quán sát ái làm nhơn duyên cho thủ, thủ nhơn duyên
nơi ái, nếu có thể dứt ái và thủ thời chẳng tạo nghiệp
thọ khổ. Do đây nên người trí vì dứt trừ ái khổ mà
tu bát chánh đạo. Đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh, cũng
gọi là trong thân độc của chúng sanh có vị thuốc hay. Như
trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào gọi là phạm hạnh thanh tịnh ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Chính là tất cả pháp.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nghĩa của tất cả pháp chẳng nhứt định. Vì
đức Như Lai có lúc nói là thiện, bất thiện. Có lúc nói
là tứ niệm xứ quán. Hoặc nói là thập nhị nhập. Hoặc
nói là thiện tri thức. Hoặc nói là thập nhị nhơn duyên.
Hoặc nói là chúng sanh. Hoặc nói là chánh kiến, tà kiến.
Hoặc nói là mười hai bộ kinh. Hoặc nói là nhị đế.
Hôm
nay đức Như Lai lại nói tất cả pháp là phạm hạnh thanh
tịnh, đó là những tất cả pháp gì ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Kinh Đại Niết Bàn vi diệu nầy là bảo tạng
trong tất cả pháp.
Như
biển cả là kho chứa những châu báu, kinh Đại Niết bàn
nầy cũng như vậy, là bí tạng của tất cả chữ nghĩa.
Như
núi Tu Di là cội gốc của các vị thuốc, kinh nầy cũng là
cội gốc của giới Bồ Tát.
Như
hư không là chỗ ở củatất cả vật, kinh nầycũng là chỗ
ở của tất cả pháp lành.
Như
luồng gió mạnh không gì trói buộc được. Tất cả Bồ Tát
thật hành kinh nầy cũng chẳng bị tất cả phiền não trói
buộc.
Như
chất kim cương không gì phá hoại được, kinh nầy dầu có
ngoại đạo ác tà cũng chẳng phá hoại được.
Như
cát sông Hằng không ai đếm được, ý nghĩa của kinh nầy
cũng không ai đếm được.
Kinh
nầy là pháp tràng của Bồ Tát, như bảo tràng của Thiên
Đế Thích.
Kinh
nầy là vị thương chủ thẳng đến thành Niết Bàn, như bực
đạo sư dẫn các thương nhơn thẳng đến biển cả.
Kinh
nầy có thể làm ánh sáng pháp cho Bồ tát, như mặt trời
mặt trăng có thể phá tối tăm ở thế gian.
Kinh
nầy có thể làm vị thuốc hay cho chúng sanh mang bịnh khổ,
như trong núi Tuyết có cây thuốc hay trị được các thứ
bịnh. Kinh nầy có thể làm gậy cho Nhứt Xiển Đề, như người
quá yếu nhờ gậy mà đứng dậy được.
Kinh
nầy có thể làm cầu đò cho tất cả người ác, như cây
cầu là chỗ tất cả người đi qua.
Kinh
nầy làm bóng mát cho những ai bị nóng phiền não trong
hai mươi lăm cõi, như cây lọng che nắng nóng.
Kinh
nầy là vua đại vô úy có thể phá hoại tất cả ác ma phiền
não, như Sư Tử Vương hàng phục bầy thú.
Kinh
nầy là đại thần chú có thể phá hoại tất cả ác quỉ
phiền não, như chú sư trong đời có thể đuổi trừ quỉ
vọng lượng.
Kinh
nầy là mưa đá vô thượng có thể phá hoại tất cả quả
báo sanh tử.
Kinh
nầy có thể làm vị thuốc hay cho người hư con mắt giới,
như thuốc An Xà Na trị lành con mắt đau.
Kinh
nầy có thể làm chổ ở cho tất cả pháp lành, như mặt đất
làm chỗ ỡ cho muôn vật.
Kinh
nầy là gương sáng của chúng sanh phá giới,như gương sáng
soi các hình tượng.
Kinh
nầy có thể làm y phục cho người không tàm quí, như áo xiêm
che đậy thân thể của người đời.
Kinh
nầy làm của báu lớn cho người nghèo pháp lành, như Công
Đức Thiên lợi ích ban sự lợi ích cho người nghèo.
Kinh
nầy làm nước cam lộ cho chúng sanh khát ngưỡng chánh pháp,
như nước bát công đức làm no đủ cho người khát nước.
Kinh
nầy làm giường pháp cho người phiền não, như người đời
gặp được giừơng nằm an ổn.
Kinh
nầy là cổ xe trân bảo, chuổi ngọc hoa hương trang nghiêm
thanh tịnh của bực sơ địa Bồ Tát nhẫn đến bực Thập
Địa Bồ Tát, hơn tất cả chỗ vui vi diệu của sáu môn Ba
La Mật, như cây Ba Lợi Chất Đa La trên cung Trời Đao Lợi.
Kinh
nầy là cây buá trí huệ cứng bén có thể chặt tất cả
cây to phiền não, là dao bén có thể cắt đứt tập khí, là
lực sị dũng kiện có thể trừ dẹp ma tà oán địch, là
ngọn lửa trí huệ đốt củi phiền não, là tạng nhơn duyên
xuất sanh Bích Chi Phật, là tạng Thanh Văn sanh ra bực Thanh
Văn, là con mắt của tất cả chư Thiên, là con đường
chánh của mỗi người là chỗ nương của tất cả loài súc
sanh, là chỗ giải thoát của ngạ quỉ, là đấng vô thượng
tôn của địa ngục, là chỗ vô thượng của tất cả
chúng sanh trong mười phương, là phụ mẫu của chư Phật.
Do
đây nên kinh nầy nhiếp tất cả pháp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trước kia ta nói kinh nầy dầu nhiếp tất
cả pháp, nhưng ta nói phạm hạnh là ba mươi bảy phẩm trợ
đạo. Nếu rời ba mươi bảy phẩm nầy thời trọn chẳng
được quả Thanh Văn nhẫn đến quả vô thượng Bồ Đề,
cũng chẳng thấy Phật tánh cùng quả Phật tánh. Do đây nên
phạm hạnh là ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Vì
ba mươi bảy phẩm nầy tánh của nó chẳng phải điên đảo,
nó có thể phá hoại điên đảo ; tánh của nó chẳng phải
ác kiến, nó có thể phá hoại ác kiến ; tánh của nó chẳng
phải bố úy, nó có thể phá hoại bố úy ; tánh của
nó là phạm hạnh, nó có thể làm cho chúng sanh rốt ráo thật
hành phạm hạnh thanh tịnh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Pháp hữu lậu cũng có thể làm nhơn cho pháp vô
lậu, cớ sao đức Như Lai chẳng nói pháp hữu lậu là phạm
hạnh thanh tịnh ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử !Tất cả pháp hữu lậu là điên đảo, nên
tất cả pháp hữu lậu chẳng được gọi là phạm hạnh thanh
tịnh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Pháp thế đệ nhứt là hữu lậu hay là vô lậu.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Là hữu lậu.
_ Bạch
Thế Tôn ! Pháp thế đệ nhứt dầu là hữu lậu nhưng tánh
nó chẳng phải điên đảo, cớ sao chẳng gọi nó là phạm
hạnh thanh tịnh ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Pháp thế đệ nhứt là nhơn của pháp vô lậu,
vì giống với vô lậu và hướng về vô lậu nên chẳng gọi
là điên đảo. Phạm hạnh thanh tịnh phát tâm tương tục
mãi đến rốt ráo. Còn pháp thế đệ nhứt chỉ là một niệm,
nên chẳng được gọi là phạm hạnh thanh tịnh.
_ Bạch
Thế Tôn !Năm thức của chúng sanh cũng là hữu lậu nhưng
chẳng phải là điên đảo, lại chẳng phải là một niệm,
cớ sao chẳng gọi là phạm hạnh thanh tịnh ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Năm thức của chúng sanh dầu chẳng phải một
niệm nhưng là hữu lậu lại là điên đảo. Vì thêm các lậu
nên gọi là hữu lậu, thể của nó chẳng phải chơn thật
vì là tưởng chấp trước nên là điên đảo.
Thế
nào gọi là thể của nó chẳng phải chơn thật vì tưởng
chấp trước nên điên đảo ? Vì trong vật chẳng phải nam
nữ nó sanh tưởng nam nữ, nhẫn đến nhà cửa xe cộ v.v…
cũng như vậy, nên gọi là điên đảo.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ba mươi bảy phẩm trợ đạo tánh của nó
không điên đảo nên được gọi là phạm hạnh thanh tịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Bồ Tát đối với ba mươi bảy phẩm
nầy mà biết căn, biết nhơn, biết nhiếp, biết tăng, biết
chủ, biết đạo, biết thắng, biết thật và biết rốt ráo,
Bồ Tát nầy được gọi là phạm hạnh thanh tịnh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào gọi là biết căn, nhẫn đến biết rốt
ráo ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Bồ Tát thưa hỏi thường vì hai điều : Một
là vì mình, hai là vì người. Nay ông đã biết mà vì
vô lượng chúng sanh nên thưa hỏi những việc như vậy. Lành
thay ! Lành thay !
Nầy
Thiện Nam tử ! Căn bổn của ba mươi bảy phẩm trợ đạo
là dục, nhơn là minh xúc, nhiếp thủ là thọ, tăng trưởng
là thiện tư duy, chủ là niệm, đạo dẫn là định, thắng
là trí huệ, thật là giải thoát, rốt ráo là Đại Bát Niết
Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thiện dục là căn bổn của sơ phát tâm nhẫn
đến vô thượng Bồ Đề, do đây nên ta nói dục là căn bổn.
Như
người đời nói tất cả khổ não do ái làm căn bổn,. Tất
cả bịnh tật do ăn cách đêm làm căn bổn. Tất cả sự phán
đoán do đấu tranh làm căn bổn. Tất cả việc ác do hư vọng
làm căn bổn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Trong kinh nầy trước kia đức Như Lai nói rằng
tất cả pháp lành do bất phóng dật làm căn bổn. Sao nay đức
Phật lại nói rằng dục là căn bổn ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu luận về sanh nhơn thời là thiện dục,
còn liễu nhơn thời là bất phóng dật. Như người đời nói
rằng tất cả trái cây do hột làm nhơn, hoặc có người nói
hột là sanh nhơn, đất là liễu nhơn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Trong những kinh khác đức Phật từng nói rằng
Phật là cội gốc của ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Nghĩa
nầy như thế nào ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai ngày trước nói rằng chúng sanh
mới biết ba mươi bảy phẩm trợ đạo thời Phật là căn
bổn. Nếu tự chứng đặng thời dục là căn bổn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Sao minh xúc gọi là nhơn ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Có lúc đức Như Lai nói minh là huệ, hoặc
nói minh là tín. Do tín tâm mà gần gũi bạn lành đây gọi
là xúc. Do gần gũi bạn lành được nghe chánh pháp, đây gọi
là xúc. Do nghe chánh pháp mà thân, khẩu, ý thanh tịnh, đây
gọi là xúc. Do ba nghiệp thanh tịnh mà được chánh mạng,
đây gọi là xúc. Do chánh mạng được giới căn thanh tịnh,
do giới căn thanh tịnh mà thích nơi tịch tịnh, do thích tịch
tịnh nên có thể tư duy hiểu biết do thiện tư duy mà được
an trụ đúng pháp, do an trụ đúng pháp mà được ba mươi
bảy phẩm trợ đạo, do đây có thể phá hoại vô lượng
phiền não ác, đây gọi là xúc.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thọ gọi là nhiếp thủ, vì lúc chúng sanh
cảm thọ có thể làm việc lành việc ác. Do nơi thọ mà sanh
các phiền não. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo có thể phá hoại
những phiền não nầy, nên dùng thọ làm nhiếp thủ.
Do
thiện tư duy có thể phá phiền não, nên gọi là tăng trưởng.
Vì siêng năng tu tập nên được ba mươi phẩm trợ đạo như
vậy.
Nếu
quán lực có thể phá những phiền não ác cần phải nhờ
chuyên niệm, do đây nên dùng niệm làm chủ. Như trong đời
tất cả binh chủng đều theo ý của chủ tướng. Ba mươi
phẩm trợ đạo cũng đều theo nơi niệm chủ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đã nhập chánh định rồi thời ba mươi bảy
phẩm trợ đạo có thể khéo phân biệt tất cả pháp tướng,
nên dùng làm dẫn đạo.
Phân
biệt pháp tướng nầy do trí huệ là tối thắng, nên dùng
huệ làm thắng.
Trí
huệ nầy rõ biết phiền não, vì năng lực của trí huệ và
phiền não tiêu diệt. Như trong đời bốn binh cbhủng phá hoại
óan địch, hoặc một hoặc hai người dũng kiện có công năng
phá địch. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng như vậy, do
năng lực của trí huệ có thể phá hoại phiền não, nên lấy
trí huệ làm thắng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Dầu do tu tập ba mươi phẩm trợ đạo mà
chứng được tứ thiền thần thông an lạc nhưng cũng chẳng
gọi là thật. Nếu phá hoại phiền não lúc chứng được
giải thoát mới gọi là thật.
Ba
mươi phẩm trợ đạo nầy từ khi phát tâm tu hành, dầu được
thế lạc và xuất thế lạc, chứng bốn quả Sa Môn được
giải thoát, cũng chẳng gọi là rốt ráo. Nếu có thể dứt
trừ được những công hạnh do ba mươi bảy phẩm trợ đạo
nầy thật hành, đây gọi là Niết Bàn, nên ta nói rốt ráo
là Đại Niết Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lại tâm thiện ái niệm chính là dục. Do thiện
ái niệm mà gần gũi bạn lành nên gọi là xúc, đây là nhơn.
Do gần gũi bạn lành nên gọi là thọ, đây là nhiếp thủ.
Do gần bạn lành mà có thể thiện tư duy nên gọi là tăng
trưởng. Do bốn pháp nầy có thể sanh trưởng chánh đạo,
dục, niệm, định và trí, đây gọi là chủ, là dẫn đạo,
là tối thắng vậy.
Do
ba pháp nầy mà được hai thứ giải thoát, do dứt trừ ái
nên tâm được giải thoát, do dứt trừ vô minh nên huệ được
giải thoát, đây gọi là thật.
Tâm
pháp như vậy rốt ráo được quả gọi là Niết Bàn, nên
Đại Niết Bàn gọi là rốt ráo.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lại dục chính là phát tâm xuất gia, xúc là
bạch tứ yết ma, đây gọi là nhơn. Nhiếp thủ chính là thọ
hai thứ giới : Một là Ba La Đề Mộc Xoa giới, hai là tịnh
căn giới, đây gọi là thọ, đây gọi là nhiếp thủ.
Tăng
trưởng là tu tập tứ thiền. Chủ là quả Tu Đà Hoàn và
quả Tư Đà Hàm. Dẵn đạo là quả A Na Hàm. Tối thắng
là quả A La Hán, thật là quả Bích Chi Phật. Rốt ráo là
quả vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lại dục gọi là thức, xúc gọi là lục nhập,
nhiếp gọi là thọ, tăng trưởng gọi là vô minh, chủ gọi
là danh sắc, dẫn đạo gọi là ái, thắng gọi là thủ, thật
gọi là hữu, rốt ráo gọi là sanh, lão, bịnh, tử.
_ Bạch
Thế Tôn ! Căn bổn cùng nhơn với Tăng, ba pháp nầy khác nhau
thế nào ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Căn bổn tức là sơ phát tâm. Nhơn là tương
tợ chẳng dứt. Tăng trưởng là tương tợ dứt rồi có thể
sanh tương tợ.
Lại
căn là tạo tác. Nhơn chính là quả. Tăng trưởng là có thể
dùng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đời vị lai dầu có quả báo, nhưng vì chưa
thọ nên gọi là nhơn. Đến khi thọ thời gọi là tăng trưởng.
Lại
căn là mong cầu. Được tức là nhơn. Dùng được tức là
tăng trưởng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong kinh nầy, căn là kiến đạo, nhơn là
tu đạo, tăng là vô học đạo. Lại căn là chánh nhơn, phương
tiện gọi là nhơn, từ chánh nhơn nầy chứng được quả
báo gọi là tăng trưởng.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như đức Phật nói rốt ráo là Đại Niết Bàn,
Đại Niết Bàn nầy làm thế nào chứng được ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Hoặc Bồ Tát hoặc Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, hoặc
Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di có thể tu tập mười quán tưởng, thời
người nầy có thể được Niết bàn : Một là vô thường
tưởng, hai là khổ tưởng, ba là vô ngã tưởng, bốn là yểm
ly thuật tưởng, năm là nhứt thiết thế gian bất khả lạc
tưởng, sáu là tư tưởng, bảy là đa tội quá tưởng, tám
là lý tưởng, chín là diệt tưởng, mười là vô ái tưởng.
Người nào tu tập mười thứ quán tưởng như vậy thời rốt
ráo quyết định được Niết Bàn. Chẳng do nơi người, tự
mình có thể phân biệt thiện bất thiện v.v…, đây gọi
là thật xứng nghĩa Tỳ Kheo, nhẫn đến xứng nghĩa Ưu Bà
Di.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào gọi là Bồ Tát nhẫn đến Ưu Bà
Di tu tập vô thường tưởng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Có hai hạng Bồ Tát : Một là sơ phát tâm,
hai là đã hành đạo.
Vô
thường tưởng cũng có hai thứ : Thô và tế. Bồ Tát sơ phát
tâm lúc quán vô thường tưởng, suy nghĩ rằng : Vạn vật
trong đời phàm có hai loại : Nội và ngoại. Những loại thuộc
về nội vật đều vô thường biến đổi. Tôi thấy lúc sanh,
lúc nhỏ, lúc lớn, lúc mạnh, lúc già, lúc chết đều khác
nhau, do đây nên biết những loại thuộc về nội vật đều
vô thường. Lại suy nghĩ rằng tôi thấy chúng sanh hoặc có
kẻ mập mạnh tươi tốt, hoặc có kẻ bịnh hoạn héo gầy,
hoặc có người giàu có dư giả, hoặc thấy người nghèo
cùng thiếu thốn, hoặc thấy người có vô lượng công đức,
hoặc thấy người tạo vô lượng tội lỗi, do đây nên quyết
định biết rằng những loại thuộc về nội vật là vô thường.
Lại
suy nghĩ rằng, những vật ngoài thời kỳ hột, thời kỳ mọc
mộng, lên cây ra lá trổ bông, kết trái đều chẳng đồng,
lại có thứ đầy đủ, có thứ chẳng đầy đủ, do đây
nên biết rằng tất cả vật ngoài quyết định là vô thường.
Đã
quán sát những vật bị thấy là vô thường, kế lại là
quán sát những pháp bị nghe : Tôi từng nghe chư thiên
có thần thông tự tại hưởng sự vui rất vi diệu nhưng cũng
có năm tướng suy, do đây nên biết rằng là vô thường. Tôi
lại từng nghe thuở kiếp sơ có các chúng sanh đầy đủ công
đức, thân thể sáng chói chẳng cầu mặt trời mặt trăng,
vì vô thường biến đổi mà công đức hao tổn, ánh sáng
tắt mất. Tôi lại nghe thuở xưa có Chuyển Luân Thánh Vương
thống lãnh bốn châu thiên hạ, có đủ thất bảo thế lực
tự tại dầu vậy nhưng cũng không thể tránh khỏi vô thường.
Lại quán quả địa cầu, ngày xưa người ở đông đảo,
có đủ cây thuốc hay, rừng cây bông trái sum sê. Ngày nay
vì chúng sanh phước bạc, nên những sanh vật trên mặt đất
thành hư hao. Do đây nên biết rằng tất cả vật trong thân
ngoài cảnh đều vô thường. Đây gọi là tướng vô thường
thô.
Đã
quán tưởng tướng thô rồi, kế lại quán sát tướng vô
thường tế.
Bồ
Tát quán sát tất cả vật trong ngoài, nhẫn đến vi trần,
tại thời kỳ vị lai đã là vô thường, vì tất cả đều
có đủ tướng phá hoại vậy. Nếu sắc uẩn vị lai chẳng
phải là vô thường, thời chẳng nên nói sắc uẩn có mười
thời kỳ sai biệt : Thời kỳ đông lại, thời kỳ nổi bóng,
thời kỳ ung nhọt, thời kỳ khối thịt, thời kỳ mọc đầu
và tứ chi, thời kỳ bé thơ, thời kỳ trẻ, thời kỳ thiếu
niên thời kỳ tráng niên, thời kỳ già suy. Nếu không phải
là vô thường thời đông váng không thành bóng, nhọt nhẫn
đến không có già suy. Nếu những thời kỳ chẳng phải niệm
niệm hoại diệt, thời trọn chẳng có lần lần lớn lên,
đáng lẽ phải đồng thời trưởng thành tất cả. Do
đây biết rằng quyết định có niệm niệm vi tế vô thường.
Lại
thấy có người thân thể toàn vẹn, nhan sắc tươi đẹp,
lúc sau lại thấy người ấy gầy gò tiều tụy. Do đây biết
rằng người nầy quyết địnyh có niệm niệm vô thường.
Lại
quán sát tứ đại và bốn oai nghi, trong ngoài đều có hai
khổ nhơn : Đói khát và lạnh nóng. Nếu không có niệm niệm
vi tế vô thường, thời cũng lẽ ra không có bốn điều khổ
ấy.
Suy
xét như trên đây gọi là quán tưởng vô thường tế.
Như
trong thân và ngoại cảnh tâm pháp cũng như vậy, vì tâm duyên
theo sáu trần hoặc sanh lòng mừng, lòng giận, lòng yêu, v.v…
lần lượt thay đổi khác, không trụ một niệm. Do đây nên
biết rằng tất cả sắc pháp và tâm pháp đều vô thường
cả.
Nếu
Bồ Tát có thể ở trong một niệm thấy rõ tất cả pháp
đều sanh diệt vô thường, đây gọi là Bồ Tát có đủ vô
thường tưởng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí tu tập vô thường tưởng rồi
thời xa lìa quan niệm điên đảo chấp thường.
Kế
lại tu tập khổ tưởng. Duyên cớ gì có sự khổ như vậy
? Biết rõ rằng sự khổ nầy do nơi vô thường. Do vô thường
mà có sanh, già , bịnh, chết. Vì có sanh già bịnh chết nên
gọi là vô thường. Vì vô thường mà chịu lấy những sự
khổ : Đói, khát, lạnh, nóng v.v…
Lại
quán sát thân thể nầy chính là khí cụ vô thường, là khổ.
Vì là khí cụ khổ nên bao nhiêu sự nhận lấy của thân đều
là khổ cả.
Lại
quán sát sanh là khổ, diệt là khổ. Sanh diệt chính là vô
thường, chẳng phải ngã, chẳng phải ngã sở, nên tu vô ngã
tưởng.
Lại
quán sát khổ là vô thường, vô thường tức là khổ. Nếu
đã là khổ vô thường, người trí đâu nên cho rằng có ngã
! Khổ không phải là ngã, vô thường cũng vậy.Cả năm ấm
đều là khổ là vô thường, sao chúng sanh lại cho là có ngã
!
Lại
quán sát tất cả pháp có nhiều thứ hòa hiệp sai khác.Chẳng
phải từ một hòa hiệp sanh tất cả pháp. Lại một pháp
chẳng phải là quả của tất cả hòa hiệp. Tất cả hòa
hiệp đều không tự tánh, cũng không một tánh, cũng không
tánh sai khác, cũng không vật tánh, cũng không tự tại. Các
pháp đã có những tướng như vậy, người trí đâu nên nói
là có ngã.
Lại
suy nghĩ rằng : Trong tất cả pháp không có một pháp nào là
tác giả. Một pháp đã không phải tác giả. Tánh của các
pháp hòa hiệp cũng không thể là tác giả. Tánh của các pháp
không thể tự sanh tự diệt, do hòa hiệp mà diệt, do hòa
hiệp mà sanh. Khi pháp đã sanh, chúng sanh điên đảo tưởng
rằng là hòa hiệp, từ hòa hiệp sanh. Chúng sanh điên đảo
tưởng niệm không có chơn thật. Như thế thời đâu có thật
ngã ! Do đây nên người trí quán sát vô ngã.
Lại
quán sát duyên cớ gì mà chúng sanh nói là ngã ? Ngã nầy nếu
là có, thời là một hay nhiều. Nếu ngã chỉ có một, thời
sao lại có Sát Đế Lợi, Bà La Môn v.v…nhẫn đến nhơn,
thiên, quỉ, súc?â Nếu ngã là nhiều, sao lại nói rằng ngã
của chúng sanh là duy nhứt, là khắp, là không biến tế. Cho
là một hay là nhiều, cả hai đều không có ngã cả.
Người
trí đã quán vô ngã rồi, kế lại quán tưởng yểm ly thực.
Nên
suy nghĩ rằng : Nếu tất cả pháp là vô thường, khổ, vô
ngã, sao lại vì sự ăn mà thân, khẩu, ý gây tạo ác nghiệp
! Nếu có chúng sanh nào vì tham ăn mà thân, khẩu, ý gây tạo
nghiệp ác, bao nhiêu của cải có ra, mọi người đều cùng
hưởng dụng, về sau lúc mất quả khổ, không một ai cùng
chia.
Lại
quán sát tất cả chúng sanh vì ăn uống mà thân tâm chịu
khổ. Nếu từ các sự khổ mà được ăn uống, sao ta
lại đối với sự ăn uống mà sanh lòng tham đắm.
Kế
lại nên quán sát thân nhơn. Do nơi uống ăn mà thân thể tăng
trưởng. Nay ta xuất gia vì muốn xả thân nên thọ giới tu
hành, nếu tham đắm ăn uống thời sao gọi là xả thân ! Quán
sát như vậy rồi, dầu có ăn uống, nhưng coi như quỉ Khóang
Dã ăn thịt con của nó, trong lòng nhàm ghét không biết ngon
ngọt.
Quán
sát rõ món ăn uống có lỗi như vậy rồi, kế lại quán xúc
thực : Như con bò bị lột da, có vô số kiến ruồi bu cắn.
Kế quán tư thực như đống lửa lớn. Quán thức thực như
ba trăm mâu nhọn.
Người
trí quán sát bốn thứ thực nầy rồi thời không còn có quan
niệm tham ưa. Nếu còn tham ưa thời nên quán bất tịnh để
lìa hẳn sự ái nhiễm đối với tứ thực. Phải khéo phân
biệt sự bất tịnh của tất cả thứ uống ăn. Lúc thọ
ăn món ngon món dở, xem như thuốc thoa ghẻ, trọn không sanh
lòng tham ái. Nếu có thể quán sát như trên đây thời gọi
là người trí trọn nên quán tưởng yểm ly thực.
_ Bạch
Thế Tôn ! Người trí quán sát món ăn là bất tịnh , đó
là thật quán hay hư quán ? Nếu là thật quán thời thức ăn
đương quán thật chẳng phải bất tịnh. Nếu là hư quán,
thời sao lại gọi là thiện tưởng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Quán tưởng như vậy, cũng là thật cũng là
hư : Vì có thể trừ quan niệm tham ăn nên gọi là thật ;
vì không phải trùng dòi mà thấy là trùng dòi nên gọi là
hư.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả pháp hữu lậu đều gọi là hư, mà
cũng có thể được thật.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo lúc muốn đi khất thực, tự
nghĩ rằng :Tôi sẽ đi khất thực, mong được món ăn ngon,
nhiều và mau được, đừng được món ăn dở, ít và chậm
lâu. Tỳ Kheo nầy chẳng được gọi là có yểm ly tưởng
đối với sự ăn uống, pháp lành sẽ suy hao lần, pháp chẳng
lành sẽ càng ngày càng tăng trưởng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo lúc muốn đi khất thực, phải
nguyện trước rằng : Cầu mong cho những người khất thực
đều được no đủ, người bố thí vô lượng phước. Nếu
tôi được món ăn, cũng chỉ là dùng để chữa bịnh cho thân
thể ác độc nầy, để tu tập pháp lành, cho thí chủ được
lợi ích. Tỳ Kheo lúc phát nguyện thời pháp lành lần tăng
trưởng, pháp chẳng lành tiêu diệt lần. Tỳ Kheo nầy chẳng
luống ăn của tín thí.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí có đủ bốn pháp quán tưởng như
vậy thời có thể tu pháp quán tưởng “ Thế gian không đáng
ưa thích”. Suy nghĩ rằng : Tất cả thế gian không chỗ nào
chẳng có sự sanh, già, bịnh, chết, mà thân của tôi không
chỗ nào chẳng sanh. Thế gian đã không có một chỗ nào lìa
được sự sanh, già, bịnh, chết, như vậy tại sao tôi lại
ưa thích thế gian ! Tất cả thế gian không có gì tiến đắc
mà chẳng phải thối thất, nên thế gian quyết định là vô
thường. Đã là vô thường, người trí đâu nên ưa thích
thế gian.
Mỗi
chúng sanh trải qua khắp tất cả thế gian, hưởng thọ đủ
cả sự khổ vui, đều được thân Phạm Thiên cho đến Trời
Phi Phi Tưởng, lúc mạng chung cũng lại phải sa vào ba ác đạo.
Dầu được thân Trời Tứ Thiên Vương cho đến Trời Tha Hóa
Tự Tại, lúc mạng chung hoặc phải sanh trong loài súc sanh
làm thân sư tử, cọp, sói, voi, ngựa, bò, lừa v.v…
Kế
lại suy nghĩ : Chuyển Luân Thánh Vương thống lãnh bốn châu
thiên hạ, sang giàu tự tại, lúc hết phước phải nghèo khốn
ăn mặc không đủ.
Người
trí quán tưởng như trên đây rồi, thời có quan niệm thế
gian không đáng ưa thích.
Người
trí lại quán sát tất cả tài vật, châu báu, nhà cửa , hương
hoa v.v… ở thế gian dầu dùng để đỡ khổ, nhưng những
vật ấy chính nó là khổ, sao lại dùng khổ để lìa khổ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát như vậy rồi thời chẳng
còn ưa thích tài vật ở thế gian. Như có người thân mang
bịnh nặng, dầu có những thứ âm nhạc ca hát hoa hương chuỗi
ngọc, nhưng trọn chẳng sanh lòng ưa thích. Người trí quán
sát những điều trên đây không tham ưa tài vật châu báu
ở thế gian cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát tất cả thế gian đều
chẳng phải chỗ quy y, chẳng phải chỗ giải thoát, chẳng
phải chỗ tịch tịnh, chẳng phải chỗ đáng ưa, chẳng phải
bờ kia, chẳng phải thường , lạc, ngã, tịnh. Nếu tôi tham
ưa nơi thế gian thời tôi làm thế nào lìa được thế gian,
như người chẳng thích ở trong tối muốn tìm ánh sáng mà
lại trở về trong tối. Trong tối là thế gian, ánh sáng là
xuất thế. Nếu tôi ưa thích thế gian thời là thêm lớn sự
đen tối mà muốn xa lìa đen tối.
Đen
tối là vô minh, ánh sáng là trí minh. Chính quan niệm chẳng
ưa thích thế gian là nhơn của trí minh. Tất cả kiết sử
tham ưa dầu hay trói buộc, nhưng nay tôi tham ưa trí minh mà
chẳng tham ưa thế gian.
Người
trí quán sát rõ những sự trên đây rồi thời có đủ quan
niệm rằng thế gian là chẳng đáng ưa thích.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí kế lại tu tập tư tưởng : Quán
sát thọ mạng nầy thường bị vô lượng oán thù vây quanh,
niệm niệm tổn diệt không có tăng trưởng, như nước
dốc trên núi không thể đứng dừng, cũng như sương móc ban
mai thế chẳng còn lâu, như người tù bị dắt ra chợ mỗi
bước gần đến chỗ chết, như dắt bò dê đến chỗ hàng
thịt.
_ Bạch
Thế Tôn ! Người trí quán sát niệm niệm diệt như thế nào
?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như bốn người đều có tài bắn giỏi họp
nhau ở một chỗ, mỗi người riêng bắn qua một hướng đồng
nghĩ rằng bốn mũi tên của chúng tôi đồng thời bắn ra
đồng thời rơi xuống. Lại có một người nghĩ rằng lúc
bốn mũi tên nầy chưa rơi xuống, trong một lúc tôi có thể
dùng tay bắt lấy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đáng gọi người nầy là mau lẹ chăng ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Người nầy thật mau lẹ.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Địa Hành quỉ còn lẹ hơn người nầy. Phi
Hành quỉ lại mau hơn Địa Hành quỉ. Tứ Thiên Vương mau
hơn Phi Hành quỉ. Nhựt Nguyệt Thần Thiên mau hơn Tứ
Thiên Vương. Hành Kiên Tật Thiên mau hơn Nhựt Nguyệt Thiên.
Thọ mạng của chúng sanh lại mau hơn Kiên Tật Thiên.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Một hơi thở một nháy mắt, thọ mạng của
chúng sanh có bốn trăm lần sanh diệt. Nếu có thể quán sát
thọ mạng như vậy thời gọi là có thể quán niệm niệm
diệt.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát thọ mạng thuộc nơi vua
chết, nếu tôi lìa được vua chết nầy thời dứt hẳn được
thọ mạntg vô thường. Lại nên quán sát thọ mạng nầy như
cây to bên bờ sông lở, như người phạm tội lúc bị xử
tử không ai xót thương, như lúc Sư Tử Vương quá đói, như
lúc rắn độc hớp gió to, như lúc ngựa khát nươc nó giữ
gìn nước, như lúc đại ác quỉ phát sân, vua chết của chúng
sanh cũng dữ độc như vậy.
Người
trí nếu có thể quán sát như vậy thời gọi là tu tập tư
tưởng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người trí lại nên quán sát rằng nay
tôi xuất gia dầu thọ mạng chỉ có bảy ngày bảy đêm, trong
thời gian ấy tôi sẽ tinh tấn tu hành giữ gìn cấm giới,
thuyết pháp giáo hóa lợi ích chúng sanh, đây là người trí
tu tập tư tưởng.
Lại
vì bảy ngày bảy đêm còn là nhiều, nếu được sáu ngày,
hoặc năm ngày, bốn ngày, ba ngày, hai ngày, một ngày, một
giờ, nhẫn đến trong khoảng một hơi thở ra vào, trong thời
gian nầy tôi sẽ tinh tấn tu hành, giữ gìn cấm giới, thuyết
pháp giáo hóa lợi ích chúng sanh. Đây gọi là người trí
khéo tu tập tư tưởng.
Người
trí có đủ sáu pháp quán tưởng trên đây có thể làm nhơn
cho bảy pháp quán tưởng. Đây là bảy pháp quán tưởng :
Một là quán tưởng thường tu tập, hai là quán tưởng thích
tu tập, ba là quán tưởng không sân hận, bốn là quán tưởng
không tật đố, năm là quán tưởng phát nguyện lành, sáu
là quán tưởng không kiêu mạn, bảy là quán tưởng tam muội
tự tại.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo nào có đủ bảy pháp quán
tưởng nầy, thời gọi là Sa Môn, là Bà La Môn, là tịch tịnh,
là tịnh khiết, là giải thoát, là người trí, là chánh kiến,
là đáo bĩ ngạn, là đại Y Vương, là đại thương chủ,
là hiểu rõ pháp bí mật của Như Lai, là biết bảy thứ lời
nói của chư Phật , là tri kiến chơn chánh, dứt được những
lưới nghi trong bảy thứ lời nói của chư Phật.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu người nào có đủ sáu pháp quán tưởng
như trên, nên biết rằng người đó có thể quở trách ba
cõi, xa lìa ba cõi, dứt trừ ba cõi, chẳng ưa đắm ba cõi.
Đây gọi là người trí có đủ mười pháp quán tưởng.
Nếu
Tỳ Kheo nào có đủ mười pháp quán tưởng nầy thời đáng
được gọi là tướng Sa Môn.
Lúc
đó Ca Diếp Bồ Tát liền ở trước Phật nói kệ tán thán
:
Đấng
Đại Y Vương thương thế gian, Thân và trí huệ đều tịch
tịnh, Trong pháp vô ngã có chơn ngã, Nên tôi kỉnh lễ Vô
Thượng Tôn. Phát tâm và rốt ráo không sai khác, Hai tâm
nầy tâm trước khó hơn, Mình chưa được độ, độ người
trước, Nên tôi kỉnh lễ sơ phát tâm. Sơ tâm đã là Thầy
Trời, người, Hơn bực Thanh Văn và Duyên Giác,
Phát
tâm như vậy hơn ba cõi, Nên được gọi là Tối Vô Thượng.
Trong đời phải cầu rồi mới được, Phật không chờ thỉnh
mà làm Thầy, Phật theo thế gian như nghé con, Nên được gọi
là đấng đại bi. Công đức của Phật khắp mười phương,
Phàm phu vô trí chẳng thể khen, Nay tôi tán thán tâm từ bi,
Để báo đáp hai nghiệp thân khẩu. Thế gian thường ưa tự
lợi ích, Đức Phật trọn chẳng có như vậy, Dứt báo thế
gian cho chúng sanh, Nên tôi kỉnh lễ Tự Tha Lợi, Người đời
làm lợi cho thân nhơn, Đức Phật lợi ích không thân
thù, Phật không riêng biệt như người đời, Do đây
tâm Phật thường bình đẳng . Người đời nói khác việc
làm khác, Nói làm của Phật đều không sai, Phàm chỗ
tu hành xả các hạnh, Do đây được gọi là Như Lai. Trước
đã rõ biết lỗi phiền não, Thị hiện ở đó vì chúng sanh,
Từ lâu đã giải thoát thế gian, Vì từ bi mà ở sanh tử.
Dầu
hiện thân trời cùng thân người, Từ bi theo dõi như nghé
con, Đức Phật là mẹ của chúng sanh, Từ tâm chính là nghé
con nhỏ. Tự chịu khổ não vì chúng sanyh. Do xót thương nên
lòng chẳng hối. Quá xót thương mà chẳng biết khổ, nên
tôi cúi lạy đấng cứu khổ. Đức Phật dầu làm vô lượng
phước, Nhưng thân khẩu ý thường thanh tịnh, Thường vì
chúng sanh chẳng vì mình, Nên tôi kỉnh lễ nghiệp thanh tịnh.
Đức Phật chịu khổ chẳng biết khổ, Thấy người chịu
khổ như mình khổ, Dầu vì chúng sanh ở địa ngục, Chẳng
có niệm khổ và ăn năn. Chúng sanh chịu khổ đều khác nhau,
Mà Như Lai một mình chịu khổ, Biết rồi tâm Phật càng kiên
cố, Do đây siêng tu đạo vô thượng. Phật đủ tâm đại
từ duy nhứt, Thương xót chúng sanh xem như con, Chúng sanh chẳng
biết Phật cứu mình, Nên hủy báng Phật cùng Pháp, Tăng.
Thế gian có đủ những phiền não, Cũng có vô lượng những
lỗi ác, Phiền não và tội lỗi như vậy, Lúc sơ phát tâm
đã dứt trừ. Chư Phật mới tán thán được Phật, Ngoài
Phật không ai tán thán được, Nay tôi chỉ tán thán một điều,
Là tâm đại từ thương thế gian. Từ tâm của Phật là pháp
lớn, Từ tâm nầy độ được chúng sanh, Chính đây là vô
thượng giải thoát, Giải thoát nầy là Đ