XXIV
PHẨM
CA DIẾP BỒ TÁT
THỨ
HAI MƯƠI BỐN
Ca
Diếp Bồ Tát bạch rằng : “ Thế Tôn ! Đức Như Lai thương
xót tất cả chúng sanh. Có thể điều phục kẻ chẳng điều
phục, có thể thanh tịnh kẻ chẳng thanh tịnh, có thể quy
y kẻ chẳng quy y, có thể giải thoát kẻ chưa giải thoát,
được tám môn tự tại là bực đại Y Sư, đại Dược Vương.
Bạch
Thế Tôn ! Thiện Tinh Tỳ Kheo là con trai của đức Phật lúc
chưa xuất gia, sau khi làm Tỳ Kheo, Thiện Tinh thọ trì đọc
tụng giải thuyết mười hai bộ kinh, phá kiết sử cõi dục
chứng được tứ thiền. Tại sao đức Như Lai nói Thiện Tinh
là hạng Nhứt Xiển Đề, là người hạ tiện người
không thể trị được phải ở nơi địa ngục cả kiếp.
Cớ gì đức Như Lai chẳng trước diễn nói chánh pháp cho
Thiện Tinh, để được làm Bồ Tát. Nếu đức Thế Tôn chẳng
cứu được Thiện Tinh Tỳ Kheo, thời đâu được gọi là
có đại từ bi, có đại phương tiện ?
Phật
nói : “ Nầy Thiện Nam Tử ! Ví như cha mẹ chỉ có ba người
con trai : Người trai thứ nhứt cung kính cha mẹ có lòng tin
thuận, thông minh trí huệ có thể làm xong được sự nghiệp
trong đời ; người trai thứ hai không cung kính tin thuận cha
mẹ, thông minh trí huệ có thể làm xong sự nghiệp trong đời
; người trai thứ ba không cung kính tin thuận cha mẹ, ngu si
vô trí.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu lúc cha mẹ muốn dạy bảo điều gì,
thời nên dạy đứa con nào trước, thân ái đứa con nào trước,
nên bảo đứa nào làm sự nghiệp trước ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Cha mẹ đó nên trước dạy bảo đứa con có lòng
cung kính tin thuận thông minh trí huệ hiểu biết sự nghiệp
trong đời, kế đến dạy bảo đứa thứ hai, rồi sau mới
đến đứa con thứ ba. Hai đứa sau dầu không lòng cung kính
tin tbhuận nhưng vì xót thương nên cũng lần lượt dạy bảo.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai cũng như vậy. Đứa con thứ nhứt
dụ cho Bồ Tát, đứa giữa dụ cho hàng Thanh Văn, đứa thứ
ba dụ cho hạng Nhứt Xiển Đề.
Như
trong khế kinh, những nghĩa lý vi tế ta đã trước giảng nói
cho các vị Bồ Tát. Những nghĩa cạn cợt thời giảng nói
cho hàng Thanh Văn. Những nghĩa thế gian thời giảng nói cho
hạng Nhứt Xiển Đề phạm tội ngũ nghịch, dầu trong đời
hiện tại họ không được lợi ích, nhưng cũng làm chủng
tử lành cho đời sau.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như ba hạng ruộng : Hạng thứ nhứt nước
chảy lưu thông, không có ngói đá gai gốc, trồng một thâu
được trăm. Hạng thứ hai dầu không ngói đá gai gốc, nhưng
đường nước không được lưu thông nên hoa mầu kém ruộng
trên phân nửa. Hạng thứ ba đường nước khó khăn lại nhiều
ngói đá gai gốc cỏ mọc lan tràn trồng một chỉ thâu được
một.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đến mùa gieo trồng thời nông phu nên gieo
trồng ruộng nào trước ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Nông phu kia nên gieo trồng ruộng thứ nhứt trước,
kế đến ruộng thứ hai, sau rốt đến ruộng thứ ba.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ruộng thứ nhứt dụ cho Bồ Tát, ruộng thứ
hai dụ cho Thanh Văn, ruộng thứ ba dụ cho hạng Nhứt Xiển
Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như ba cái chậu : Cái thứ nhứt nguyên
vẹn, cái thứ hai rịn chảy, cái thứ ba bể. Nếu muốn đựng
sữa, lạc, nước, tô thời trước nên dùng chậu nào ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Nên trước dùng chậu lành, kế đến dùng chậu
nứt, sau rốt mới đến chậu bể.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Chậu lành dụ cho Bồ Tát, chậu nứt dụ hàng
Thanh Văn, chậu bể dụ hạng Nhứt Xiển Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như có ba người bịnh đồng đến y sĩ : Người
thứ nhứt dễ trị, người thứ hai khó trị, người thứ
ba không thể trị. Y Sĩ nên trước trị cho người nào ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Nên trị cho người dễ trước, kế đến người
thứ hai, sau rốt đến người thứ ba, vì là hàng thân thuộc.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Người bịnh dễ trị dụ cho Bồ Tát, người
bịnh khó trị dụ cho Thanh Văn, người bịnh không thể trị
dụ cho hạng Nhứt Xiển Đề. Dầu hạng sau rốt nầy đối
với chánh pháp không được quả lành trong đời hiện tại,
nhưng vì xót thương nên đức Như Lai cũng gieo trồng chủng
tử lành cho họ đời sau.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như nhà vua có ba hạng ngựa : Hạng thứ
nhứt điều thuận mạnh mẽ, hạng thứ hai không điều thuận
nhưng mạnh mẽ, hạng thứ ba không điều thuận là già yếu.
Lúc muốn cỡi, nhà vua nên cỡi hạng ngựa nào trước ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Nhà vua nên trước cỡi hạng ngựa điều thuận
mạnh mẽ, kế đến hạng thứ hai, sau cùng đến hạng thứ
ba.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Hạng điều thuận mạnh mẽ dụ cho Bồ
Tát, hạng thứ hai dụ cho Thanh Văn, hạng thứ ba dụ cho Nhứt
Xiển Đề. Dầu hạng sau rốt nầykhông được lợi ích trong
đời hiện tại, nhưng vì xót thương nên đức Như Lai vun
trồng chủng tử lành đời sau cho họ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như lúc bố thí lớn có ba hạng người đến
xin : Hạng thứ nhứt dòng sang thông minh giữ giới hiền lành,
hạng thứ hai dòng trung lưu ngu tối nhưng cũng giữ giới hiền
lành, hạng thứ ba, dòng hạ tiện ngu tối phá giới hung ác.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thí chủ kia nên bố thí cho hạng nào trước
?
_ Bạch
Thế Tôn ! Nên trước bố thí cho hạng thứ nhứt, kế đến
hạng thứ hai, sau rốt đến hạng thứ ba.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Hạng thứ nhứt dụ cho Bồ Tát, hạng thứ
hai dụ cho Thanh Văn, hạng thứ ba dụ cho Nhứt Xiển Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như đại sư tử lúc giết hương tượng thời
dùng hết sức lực, lúc giết thỏ cũng dùnh hết sức lực
chẳng khinh thường. Chư Phật cũng như vậy, lúc thuyết pháp
cho chư vị Bồ Tát dụng công cũng như lúc thuyết pháp cho
hạng Nhứt Xiển Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trước kia lúc ta ở thành Vương Xá, Thiện
Tinh Tỳ Kheo làm thị giả. Đầu hôm nói pháp cho Thiên Đế
Thích. Theo phép của thị giả, phải đi nằm sau Thầy.
Lúc
đó vì ta ngồi lâu nên Thiện Tinh sanh niệm ác bạch với
ta rằng mau đi vào thiền thất quỉ Bạc Câu La đến kia kìa.
Ta bảo Thiện Tinh, ngươi là kẻ ngu si, ngươi chẳng biết
rằng đức Như Lai là bực vô sở úy ư !
Đế
Thích hỏi ta rằng : Bạch Thế Tôn ! Hạng người như vậymà
cũng được vào trong Phật pháp ư ?
Ta
nói với Thiên Đế : Hạng người ấy cũng đặng vào trong
Phật pháp, họ cũng có Phật tánh sẽ chứng được vô thượng
Bồ Đề.
Dầu
ta vì Thiện Tinh mà thuyết pháp, nhưng Thiện Tinh vẫn không
có lòng tin.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lại có một lúc ta ở nước Ca Thi, thành Thi
Bà Phú La, ta muốn vào thành khất thực. Vô lượng chúng sanh
khao khát muốn thấy dấu chưn của ta. Thiện Tinh Tỳ Kheo theo
hầu phía sau chà bỏ dấu chưn của ta, nhưng không chà mất
được, lại làm cho chúng sanh có quan niệm chẳng lành.
Khi
vào thành rồi, thấy trong nhà cất rượu có một Ni Kiền
Tử ngồi xổm khum lưng ăn bã rượu.
Thiện
Tinh bạch với ta rằng : Nếu trong đời có bực A La Hán thời
người đó là hơn tất cả, vì người đó tuyên bố rằng
không nhơn không quả. Ta bảo Thiện Tinh : Ngươi là người
ngu si. Ngươi chẳng nghe rằng bực A La Hán chẳng uống rượu,
chẳng hại người, chẳng khi dối, chẳng trộm cướp, chẳng
dâm dật ư ! Ni Kiền Tử đó giết hại cha mẹ, ăn bã rượu
sao ngươi nói là bực A La Hán. Người đó sau khi chết quyết
định đọa địa ngục A Tỳ. Bực A La Hán dứt hẳn ba đường
ác, sao ngươi gọi người đó là A La Hán.
Thiện
Tinh liền nói : Tánh của tứ đại còn có thể chuyển đổi,
quyết không có lẽ người đó đọa địa ngục A Tỳ.
Ta
nói : Ngươi là người ngu si. Ngưoi chẳng thường nghe rằng
chư Phật luôn luôn nói lời thành thật ư ?
Dầu
ta khuyên dạy Thiện Tinh, nhưng Thiện Tinh tuyệt không có lòng
tin.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có một lúc kia ta cùng Thiện Tinh ở thành
Vương Xá, trong thành có một Ni Kiền Tử tên là Khổ Đắc.
Người nầy thường tuyên bố rằng : Chúng sanh phiền não
không nhơn, không duyên, chúng sanh giải thoát cũng không nhơn
không duyên.
Thiện
Tinh bạch với ta rằng : Nếu trong đời có bực A La Hán thời
ông Khổ Đắc là trên hết.
Ta
nói ngươi là kẻ ngu si. Ni Kiền Tử Khổ Đắc thiệt chẳng
phải A La Hán chẳng hiểu được đạo A La Hán.
Thiện
Tinh nói rằng : Tại sao bực A La Hán lại tật đố với A
La Hán.
Ta
nói ngươi là người ngu si. Ta chẳng sanh tật đố với A La
Hán, chính là người tự sanh quan niệm ác tà. Nếu người
nói Khổ Đắc là A La Hán, thời ông nên nghe đây, bảy ngày
sau Khổ Đắc sẽ bị trúng thực đau bụng mà chết, chết
rồi sẽ sanh trong loài quỉ ăn đồ ói mửa khạc nhổ của
người. Bạn đồng học sẽ mang thây của Khổ Đắc bỏ trong
rừng Tha Ma.
Thiện
Tinh liền đem lời nầy thuật lại với Khổ Đắc rồi bảo
Khổ Đắc rằng : Trưởng lão nên khéo tư duy, tu tập phương
tiện, làm cho lời ông Cù Đàm thành vọng ngữ.
Sau
khi nghe Thiện Tinh nói, Khổ Đắc liền đoạn thực, từ một
ngày đến ngày thứ sáu, nhịn đói đủ bảy ngày, Khổ Đắc
bèn ăn đường đen, rồi uống nước lã, đau bụng mà chết.
Bạn của Khổ Đắc liền mang thi hài bỏ trong rừng Tha Ma,
Khổ Đắc sanh làm quỉ đói ăn đồ ói mửa, quanh quẩn ở
bên tử thi.
Thiện
Tinh hay được việc nầy liền đến trong rừng Tha Ma, thấy
Khổ Đắc thọ thân quỉ đói, ở bên tử thi ngồi xổm khum
lưng. Thiện Tinh hỏi quỉ đói : Đại Đức đã chết rồi
ư ?
Khổ
Đắc đáp : Tôi đã chết.
_ Tại
sao mà chết ?
_ Vì
đau bụng mà chết.
_ Ai
mang thây Đại Đức ra đây ?
_ Bạn
học của tôi.
_ Mang
thây bỏ chỗ nào ?
_ Ông
là người ngu ! Ông há chẳng biết rằng đây là rừng Tha
Ma ư ?
_ Đại
Đức thọ thân gì ?
_ Tôi
mang lấy thân quỉ ăn đồ ói mửa. Ông nên nghe kỹ ! Lời
nói của đức Như Lai, là lời lành, lời chơn thật, lời
phải thời, lời đúng nghĩa, lời đúng pháp. Sao ông lại
chẳng tin lời chơn thật của Như Lai. Nếu có kẻ nào chẳng
tin lời nói chơn thật của Như Lai thời kẻ đó cũng phải
thọ lấy thân như tôi.
Thiện
Tinh trở về bạch với ta rằng : Thế Tôn ! Ni Kiền Tử Khổ
Đắc sau khi chết được sanh lên cõi trời Đao Lợi.
Ta
nói : Nầy người ngu ! Bực A La Hán là bực vô sanh, sao ngươi
lại nói Khổ Đắc được sanh lên cõi trời Đao Lợi ?
Thiện
Tinh bạch rằng : Thế Tôn ! Ni Kiền Tử Khổ Đắc thiệt chẳng
sanh lên cõi trời, hiện nay đương thọ thân quỉ đói.
Ta
nói : Nầy người ngu ! Lời của chư Phật là lời thành thật,
không bao giờ nói sai.
Thiện
Tinh liền bạch rằng : Dầu lúc đó đức Như Lai nói như vậy,
nhưng tôi trọn không có lòng tin.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta cũng thường thuyết pháp cho Thiện Tinh Tỳ
Kheo, mà Thiện Tinh tuyệtkhông có lòng tin thuận.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Dầu Thiện Tinh đọc tụng mười hai bộ kinh,
chứng được tứ thiền, nhưng chẳng hiểu nghĩa một kệ
một câu nhẫn đến một chữ. Vì gần gũi bạn ác nên mất
tứ thiền, sanh kiến chấp tà ác mà nói rằng không Phật,
không Pháp, không có Niết Bàn. Sa Môn Cù Đàm giỏi tướng
số nên có thể biết được tâm niệm của người.
Ta
bảo Thiện Tinh : “ Những pháp của ta giảng nói : Ban đầu,
chặn giữa, rốt sau, điều lành, lời khéo, nghĩa chánh, không
xen tạp, thành tựu đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh.
Thiện
Tinh lại nói rằng : Dầu đức Như Lai vì tôi mà thuyết pháp,
nhưng tôi vẫn nói quyết rằng không nhơn không quả.
Phật
bảo Ca Diếp Bồ Tát : “ Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ông chẳng
tin những việc như vậy, nay Thiện Tinh ở gần sông Ni Liên
Thiền, ta cùng ông có thể đến đó để hỏi.
Liền
đó đức Như Lai cùng ca Diếp Bồ Tát đến chỗ Thiện Tinh
tỳ Kheo.
Thiện
Tinh thấy Phật từ xa đi đến liền sanh tâm tà ác. Do tâm
ác nầy, hiện thân đọa vào địa ngục A Tỳ.
Phật
bảo Ca Diếp Bồ Tát : “ Nầy Thiện Nam Tử ! Thiện Tinh dầu
vào trong Phật pháp vô lượng công đức, nhưng trọn không
đặng mảy mún lợi ích, đó là vì phóng dật, gần bạn ác.
Ví
như có người dù vào biển lớn thấy nhiều châu báu, nhưng
vì phóng dật nên không được của báu.
Lại
như người vào biển thấy châu báu, hoặc tự giết mình chết,
hoặc bị ác quỉ giết chết. Cũng vậy, Thiện Tinh dầu vào
trong Phật pháp nhưng bị bạn ác giết hại.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Do đây nên đức Như Lai xót thương thường
bảo rằng : Thiện Tinh phóng dật quá nhiều.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu là người trước kia nghèo cùng, với
người nầy dầu có xót thương nhưng lòng thương không nhiều
lắm. Nếu là người trước kia giàu lớn, về sau suy sụp
nghèo cùng với người nầy, lòng xót thương sâu đậm hơn.
Thiện
Tinh Tỳ Kheo cũng như vậy, đã thọ trì đọc tụng mười
hai bộ kinh, chứng đặng tứ thiền, tồi để thối thất
tất đáng xót thương. Do đây nên ta nói Thiện Tinh phóng dật
quá nhiều nên dứt mất những căn lành. Hàng đệ tử của
ta người nào nghe thấy việc nầy đều sanh lòng xót thương
sâu đậm đối với Thiện Tinh Tỳ Kheo.
Từ
nhiều năm ta thường cùng Thiện Tinh Tỳ Kheo gần gũi nhau,
mà Thiện Tinh tự sanh lòng tà ác, chẳng bỏ ác kiến.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Từ xưa ta thấy Thiện Tinh có chút ít căn
lành như lông tóc, trọn chẳng huyền kỳ Thiện Tinh là dứt
tuyệt căn lành, là hạng hạ tiện Nhứt Xiển Đề phải đọa
địa ngục. Bởi Thiện Tinh tuyên bố rằng không nhơn không
quả, không có tạo nghiệp, do đây nên ta huyền ký Thiện
Tinh là hạng Nhứt Xiển Đề hạ tiện dứt hẳn căn lành
phải đọa địa ngục cả kiếp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như có người té chìm trong hầm phẩn, có
bạn lành đưa tay mò đó, nếu nắm đặng đầu tóc,
bèn muốn kéo lên, mò lâu chẳng được mới có tâm niệm
thôi vớt. Cũng vậy ta tìm chút ít căn lành nơi Thiện
Tinh để cứu vớt, nhưng trọn ngày tìm cầu mà chẳng được
mảy lông tóc căn lành , do đây nên chẳng cứu được tội
đọa địa ngục của Thiện Tinh.
Ca
Diếp Bồ Tát bạch rằng : “ Thế Tôn ! Đức Như Lai cớ
gì huyền ký Thiện Tinh sẽ đọa địa ngục A Tỳ”.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Thiện tinh Tỳ Kheo có quyến thuộc đông, đều
cho rằng Thiện Tinh đã chứng được quả A La Hán. Vì ta muốn
phá tâm niệm tà ác của họ nên huyền ký Thiện Tinh do phóng
dật phải đọa địa ngục.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nên biết rằng lời nói của Như Lai là
lời chơn thật không sai . Nếu Phật huyền ký sẽ đọa địa
ngục, thời chẳng bao giờ không đọa.
Hàng
Thanh Văn Duyên Giác huyền ký thời có hai thứ hoặc đúng,
hoặc chẳng đúng. Như Mục Kiền Liên bảo người nước Ma
Già Đà sau bảy ngày trời sẽ mưa, đến kỳ trời trọn chẳng
mưa. Có lúc ông dự ký bò cái sẽ đẻ bò con trắng, đến
lúc sanh sản lại đẻ bò con vá. Ông ấy dự ký sanh
trai, về sau lại sanh con gái.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thiện Tinh thường tuyên bố với vô lượng
chúng sanh rằng tất cả không có quả lành quả dữ, do đó
dứt hẳn tất cả căn lành không còn mảy mún như lông
tóc.
Từ
lâu ta biết rõ Thiện Tinh sẽ dứt mất căn lành, ta vẫn cố
ý cùng Thuiện Tinh ở chung cả hai mươi năm. Vì nếu ta không
ở gần Thiện Tinh, thời Thiện Tinh sẽ khuyên bảo vô lượng
chúng sanh tạo những nghiệp ác. Đây gọi là trí lực thứ
năm của đức Như Lai.
Bạch
Thế Tôn ! Hạng Nhứt Xiển Đề do nhơn duyên gì mà không
có pháp lành ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì hạng Nhứt Xiển Đề dứt căn lành. Chúng
sanh đều có năm căn : tín, tấn, niệm, định và huệ, mà
hạng Nhứt Xiển Đề dứt hẳn căn lành nầy. Do nghĩa đây
nên giết hại con kiến còn mắc phải tội sát sanh, nhưng
giết hại hạng Nhứt Xiển Đề không mắc tội sát sanh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Vì Nhứt Xiển Đề trọn không pháp lành nên gọi
là Nhứt Xiển Đề
ư
?
_ Đúng
như vậy !
_ Bạch
Thế Tôn ! Tất cả chúng sanh có ba thứ pháp lành : Quá khứ
, vị lai và hiện tại. Hạng Nhứt Xiển Đề không thể dứt
được pháp lành đời vị lai, sao lại nói rằng dứt hết
pháp lành gọi là Nhứt Xiển Đề.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Luận về sự dứt có hai thứ : Một là hiện
tại dứt, hai là hiện tại chướng ngại vị lai. Hạng Nhứt
Xiển Đề đủ cả hai thứ nầy nên ta nói rằng Nhứt Xiển
Đề dứt hết căn lành.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví như có người té chìm trong hầm phẩn,
dầu còn một sợi tóc chưa chìm, nhưng một sợi tóc không
thể kéo nổi toàn thân. Hạng Nhứt Xiển Đề cũng như vậy
dầu đời vị lai sẽ có căn lành nhưng không thể cứu được
khổ địa ngục. Đời vị lai dầu có thể cứu khỏi, nhưng
đời hiện tại không thể làm sao được. Do đây nên gọi
là kẻ không thể cứu vớt.
Do
Phật tánh làm nhơn duyên thời cứu vớt được, vì Phật
tánh chẳng phải quá khứ chẳng phải vị lai chẳng phải
hiện tại, nên Phật tánh không bị dứt mất. Như hột mục
hư thời không thể mọc mọng, hạng Nhứt Xiển Đề cũng
như vậy.
_ Bạch
Thế Tôn ! Hạng Nhứt Xiển Đề chẳng dứt Phật tánh, Phật
tánh là pháp lành, tại sao nói rằng dứt tất cả pháp lành
?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu chúng sanh nào trong đời hiện tại có
Phật tánh thời chẳng được gọi là Nhứt Xiển Đề. Như
ngã tánh trong thế gian. Phật tánh là thường chẳng thuộc
về ba đời. Nếu thuộc về ba đời thời gọi là vô thường.
Vì đời vị lai sẽ thấy Phật tánh, nên nói rằng chúng sanh
đều có Phật tánh. Do nghĩa nầy nên bực Thập Trụ Bồ Tát
trang nghiêm đầy đủ công hạnh mới thấy được phần ít.
_
Bạch Thế Tôn ! Phật tánh là thường dường như hư không,
tại sao đức Như Lai nói rằng vị lai ? Nếu đức Như Lai
nói rằng hạng Nhứt Xiển Đề không có pháp lành, lẽ đâu
hạng nầy không có lòng thương tưởng đối với bạn bè,
cha mẹ, vợ con thân quyến. Nếu họ có lòng thương tưởng
thời lòng thương nầy chẳng phải là lành ư ?
_ Lành
thay ! Lành thay ! Lời ông hỏi rất hay Phật tánh dường như
hư không, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng
phải hiện tại. Tất cả chúng sanh có ba thứ thân ; Thân
quá khứ, thân vị lai, thân hiện tại. Đời vị lai chúng
sanh trang nghiêm đầy đủ thân thanh tịnh thấy được Phật
tánh, nên ta nói rằng Phật tánh đời vị lai.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta vì chúng sanh có lúc hoặc nói nhơn là quả,
có lúc hoặc nói quả là nhơn, do đây nên trong kinh nói rằng
mạng căn là ăn uống, thấy sắc là chạm xúc. Vì thân đời
vị lai thanh tịnh nên nói Phật tánh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như ý nghĩa của đức Phật nói như vậy, sao lại
nói rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Dầu Phật tánh hiện tại không, nhưng chẳng
được nói rằng chúng sanh không Phật tánh. Như tánh hư không
kia, dầu không hiện tại mà chẳng được nói là không. Dầu
tất cả chúng sanh là vô thường, còn Phật tánh là thường
trụ không biến đổi, do đây nên trong kinh ta nói rằng Phật
tánh của chúng sanh chẳng phải trong chẳng phải ngoài, dường
như hư không. Nếu có trong có ngoài thời chẳng được
gọi là duy nhứt, là thường trụ, cũng chẳng được gọi
là tất cả chỗ đều có. Dầu hư không chẳng phải trong
chẳng phải ngoài nhưng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh
của chúng sanh cũng như vậy.
Ông
nói rằng hạng Nhứt Xiển Đề có pháp lành đó, lời nầy
không đúng nghĩa. Vì hạng Nhứt Xiển Đề tất cả hành động
nói năng đều là tà nghiệp, vì họ chẳng tin chẳng cầu
nhơn quả. Như gốc, cây, nhánh, lá, bông, hột, trái A Lê Lặc
đều đắng, tất cả hành nghiệp của Nhứt Xiển Đề cũng
như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai thành tựu đầy đủ tri chư căn
trí lực, do đây nên biết rõ căn tánh thượng trung hạ của
tất cả chúng sanh : Biết rõ rằng người nầy từ bực hạ
lên bực trung, biết rõ rằng người nầy từ bực trung lên
bực thượng, biết rõ rằng người nầy từ bực thượng
thành bục trung, biết rõ rằng người nầy từ bực trung thành
bực hạ. Do đây nên biết rằng căn tánh của chúng sanh không
quyết định, vì không quyết định nên hoặc đã dứt căn
lành rồi trở lại sanh căn lành. Nếu căn tánh của chúng
sanh là quyế định thời trọn không có đã dứt mà lại sanh,
cũng chẳng nên nói rằng hạng Nhứt Xiển Đề đọa địa
ngục một kiếp. Nầy Thiện Nam tử ! Do đây nên đức Như
Lai nói rằng tất cả pháp không có tướng quyết định.
_ Bạch
Thế Tôn ! Đức Như Lai đầy đủ tri chư căn trí lực, biết
chắc rằng Thiện Tinh sẽ dứt mất căn lành, tại sao lại
cho Thiện Tinh xuất gia ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Thuở ta mới xuất gia, em ta là Nan Đà, em họ
là A Nan và Đề Bà Đạt Đa, con trai ta là La Hầu La,
những người đó đều theo ta xuất gia tu hành. Nếu ta chẳng
cho Thiện Tinh xuất gia, thời Thiện Tinh sẽ nối ngôi vua có
quyền thế sẽ phá hoại Phật pháp, do đó nên ta cho Thiện
Tinh xuất gia.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu Thiện Tinh chẳng xuất gia cũng dứt mất
căn lành trong vô lượng đời đều không lợi ích. Nay đã
xuất gia dầu mất căn lành, nhưng có thể trì giới cung kính
cúng dường bực đức hạnh, tu tập sơ thiền nhẫn đến
tứ thiền những điều này gọi là nhơn lành, nhơn lành nầy
có thể sanh pháp lành, pháp lành đã sanh thời có thể tu tập
đạo hạnh, đã có thể tu tập đạo hạnh thời có thể được
vô thượng Bồ Đề, do đây nên ta cho Thiện Tinh xuất gia.
Nếu
ta chẳng cho Thiện Tinh xuất gia thọ giới thời ta chẳng được
gọi là Như Lai Thế Tôn đầy đủ mười trí lực.
Nầy
Thiện nam Tử ! Đức Phật quán sát chúng sanh đủ cả pháp
lành và pháp chẳng lành. Người nầy dầu đủ hai pháp như
vậy, nhưng chẳng bao lâu sẽ dứt mất tất cả căn lành mà
đủ cả pháp chẳng lành. Vì những chúng sanh nầy chẳng gần
gũi bạn lành, chẳng nghe chánh pháp, chẳng khéo tư duy, chẳng
thật hành đúng pháp, do đây nên sẽ dứt mất căn lành.
Đức
Như Lai lại biết người nầy hiện đời hoặc đời vị lai,
lúc trẻ hoặc lúc già, sẽ gần gũi bạn lành được nghe
chánh pháp, thời có thể sanh căn lành trở lại.
Ví
như có khe suối gần xóm làng, nước suối ngọt ngon đủ
tám công đức. Có người nóng nảy khát nước muốn đến
khe suối, người trí quyết định biết rằng người khát
nầy sẽ đến bên nước, vì không còn con đường nào khác.
Đức Như Lai quán sát chúng sanh cũng như vậy. Do đây nên
Như Lai gọi là có đũ tri chư căn trí lực.
Đức
Thế Tôn lấy chút đất để trên móng tay rồi bảo Ca Diếp
Bồ Tát rằng : Đất nầy nhiều hay đất nơi mười phương
thế giới nhiều ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Đất dính trên móng tay đâu có thể sánh với đất
trong mười phương thế giới !
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Có người đã chết trở lại được thân
người, bỏ thân trong ba đường ác mà được thân người,
căn thân đầy đủ, sanh nơi trung quốc, có đủ chánh tín,
có thể tu tập đạo hạnh, có thể tu tập chánh đạo, có
thể được giải thoát, có thể nhập Đại Niết Bàn. Được
những điều trên đây thật là hy hữu như số lượng đất
trên móng tay.
Bỏ
thân người mang thân ba đường ác, bỏ thân ba đường ác
trở lại thọ thân ba đường ác, thân căn chẳng đầy đủ,
sanh nơi biên địa, tà kiến điên đảo, thật hành đạo tà,
chẳng được giải thoát, chẳng được Niết Bàn, những hạng
nầy đông nhiều như số lượng đất trong muời phương
thế giới.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người hộ trì cấm giới tinh tấn chẳng biến
trể, chẳng phạm bốn tội trọng, chẳng gây năm tội nghịch,
chẳng lạm dụng vật của Tăng, chẳng dứt căn lành, chẳng
làm Nhứt Xiển Đề, tin thọ kinh điển Đại Niết bàn nầy,
những người đây tất hy hữu như lượng số đất trên móng
tay.
Người
lười biếng phá giới, phạm bốn tội trọng, gây năm tội
nghịch, lạm dùng của Tăng, làm Nhứt Xiển Đề dứt mất
căn lành, chẳng tin kinh Niết Bàn nầy, số lượng đông nhiều
như đất trong mười phương thế giới.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai biết rõ căn tánh thượng trung
hạ của chúng sanh như vậy nên gọi là đầy đủ tri chư
căn trí lực.
Bạch
Thế Tôn ! Đức Như Lai có đủ tri chư căn trí lực như vậy,
nên biết rõ căn tánh thượng trung hạ của tất cả chúng
sanh, biết rõ căn tánh của chúng sanh đời hiện tại, cũng
biết rõ căn tánh của chúng sanh đời vị lai, biết rõ những
chúng sanh nầy sau khi Phật nhập diệt sẽ nói rằng đức
Như Lai rốt ráo nhập Niết Bàn hoặc nói rằng đức Như Lai
không rốt ráo nhập Niết Bàn, hoặc nói có ngã, hoặc nói
không ngã, hoặc cho rằng có trung ấm, hoặc không trung ấm,
hoặc nói có thối thất, hoặc không thối thất, hoặc nói
thân Như Lai là hữu vihoặc nói là vô vi, hoặc có kẻ nói
mười hai nhơn duyên là pháp hữu vi, hoặc nói là pháp vô
vi, hoặc nói tâm là thường trụ, hoặc nói tâm là vô thường,
hoặc có người nói hưởng vui ngũ dục thời hay chướng thánh
đạo, hoặc nói chẳng chướng ngại, hoặc có kẻ nói thế
đệ nhứt chỉ thuộc về cõi dục hoặc nói thuộc về
cả ba cõi, hoặc nói bố thí chỉ thuộc nơi ý nghiệp, hoặc
nói bố thí thuộc nơi ngũ ấm, hoặc nói có ba pháp vô vi,
hoặc nói không ba pháp vô vi, hoặc nói có tạo sắc, hoặc
nói không tạo sắc, hoặc nói có vô tác sắc, hoặc nói không
vô tác sắc, hoặc nói có tâm sở, hoặc nói không tâm sở
; hoặc nói có năm đại chủng, hoặc nói có sáu đại chủng
; hoặc nói giới Ưu Bà Tắc thọ đầy đủ bát quan trai, hoặc
nói chẳng thọ được đầy đủ ; hoặc nói Tỳ Kheo đã phạm
tội tứ trọng mà giới Tỳ Kheo vẫn còn, hoặc nói chẳng
còn ; hoặc nói bực Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La
Hán, đều được thành Phật, hoặc nói chẳng được thành
: Hoặc nói chính nơi chúng sanh có Phật tánh, hoặc nói rời
chúng sanh có Phật tánh ; hoặc nói hạng Nhứt Xiển Đề phạm
bốn tội trọng năm tội nghịch đều có Phật tánh, hoặc
nói không có Phật tánh ; hoặc nói có chư Phật mười phương,
hoặc nói không có chư Phật mười phương.
Đức
Như Lai thành tựu đầy đủ tri chư căn trí lực như vậy,
tại sao hôm nay chẳng nói quyết định ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Những nghĩa như vậy chẳng phải là nhãn thức
biết được nhẫn đến chẳng phải là ý thức biết được,
đây là chỗ biết của trí huệ. Nếu với người có trí
huệ, thời ta trọn chẳng nói phân hai, người trí nầy cũng
cho rằng Phật chẳng nói phân hai. Với người vô trí thời
ta nói bất định người vô trí nầy cũng cho rằng Phật nói
bất địng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả công hạnh lành của Như Lai đều
vì điều phục chúng sanh. Như tất cả phương thuốc của
lương y đều để chữa trị những bịnh khổ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì quốc độ, vì thời tiết, vì ngôn ngữ
của người, vì độ người, vì căn tánh sai khác, nên đức
Như Lai ở trong một pháp mà nói phân hai, nơi một danh từ
nói thành vô lượng danh từ, nơi trong một nghĩa nói thành
vô lượng, nơi trong vô lượng nghĩa nói thành vô lượng.
Thế
nào là một danh từ nói thành vô lượng danh từ ? Như Niết
Bàn, cũng gọi là Niết Bàn, là vô sanh, là vô xuất, là vô
tác, là vô vi, là quy y, là nhà cửa, là giải thoát, là quang
minh, là đèn sáng, là bờ kia, là vô úy, là bất thối, là
chỗ an ổn, là tịch tịnh, là vô tưởng, là bất nhị, là
nhứt hạnh, là thanh lương, là không tối tăm, là không chướng
ngại, là vô tránh, là vô trược, là quảng đại, là cam lộ,
là cát tường.
Thế
nào là một nghĩa nói thành vô lượng ? Như Đế Thích : Cũng
gọi là Đế Thích, cũng gọi là Kiều Thi Ca, là Bà Ta Bà,
là Phú Lan Đà La, là Ma Pháp Bà, là Nhơn Đà La, là Thiên Nhãn,
là Xá Chỉ Thiên, là Kim Cang, là Bửu Đảnh, là Bửu Tràng.
Thế
nào là nơi vô lượng nghĩa nói thành vô lượng ? Như Phật
Như Lai cũng gọi là Như Lai, vì nghĩa khác nên tên cũng khác,
gọi là A La Ha, cũng gọi là Tam Miệu Tam Phật Đà, cũng gọi
là Thuyền Sư, cũng gọi là Đạo Sư, là Chánh Giác, là Minh
Hạnh Túc, là Sư Tử Vương, là Sa Môn, là Bà La Môn, là Tịch
Tịnh, là Thí Chủ, là Đáo Bĩ Ngạn, là Đại Y Vương, là
Đại Tượng Vương, là Đại Long Vương, là Thí Nhãn, là Đại
Lực Sĩ, là Đại Vô Uùy, là Bửu Tựu, là Thương Chủ,
là Đắc Thoát, là Đại Trượng Phu, là Thiên Nhơn Sư, là
Đại Vân Đà Lợi, là Vô Đẳng Lữ , là Đại Phước Điền,
là Trí Huệ Hải, là Vô Tướng, là Bát Trí.
Lại
có một nghĩa mà nói thành vô lượng danh từ, như ấm : Cũng
gọi là ấm, cũng gọi là điên đảo, là đế, là tứ niệm
xứ, là tứ thực, là chỗ ở của tứ thức, là hữu, là
đạo, là thời, là chúng sanh, là thế, là đệ nhứt nghĩa,
là ba pháp tu : Thân, giới và tâm, là nhơn quả, là phiền
não, là giải thoát, là mười hai nhơn duyên, là Thanh Văn,
là Bích Chi Phật, là Phật, là địa ngục, ngạ quỉ, súc
sanh, nhơn, thiên, là quá khứ, hiện tại, vị lai.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai vì chúng sanh nên trong rộng mà
nói lược, trong lược mà nói rộng, nơi đệ nhứt nghĩa đế
nói thành thế đế, nơi thế đế nói thành đệ nhứt nghĩa
đế.
Thế
nào trong rộng mà nói lược ? Như ta bảo các Tỳ Kheo : Hôm
nay ta giảng nói mười hai nhơn duyên. Thế nào gọi là mười
hai nhơn duyên ?
Chính
là nhơn quả.
Thế
nào gọi là trong lược mà nói rộng ? Như ta bảo các Tỳ
Kheo : Hôm nay ta giảng nói khổ tập diệt đạo. Khổ là vô
lượng sự khổ, tập là vô lượng phiền não, diệt là vô
lượng giải thoát, đạo là vô lượng phương tiện.
Thế
nào gọi là nơi đệ nhứt nghĩa đế nói là thế đế ? Như
ta bảo các Tỳ Kheo. Thân của ta đây có già bịnh chết.
Thế
nào gọi là nơi thế đế nói là đệ nhứt nghĩa đế ? Như
ta bảo Kiều Trần Như : Vì ông đắc pháp nên gọi là A Nhã
Kiều Trần Như.
Do
vì tùy theo người tùy theo ý, tùy theo thời như vậy, nên
gọi đức Như Lai có đủ tri chư căn trí lực.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đối với những nghĩa như vậy nếu ta nói
quyết định thời ta chẳng được gọi là đức Như Lai có
đủ tri chư căn trí lực. Người có trí biết rằng chỗ mang
chở của hương tượng chẳng phải lừa ngựa mang nổi. Tất
cả chúng sanh có vô lượng hành nghiệp, nên đức Như Lai
vì họ mà nói vô lượng pháp, đó là do vì chúng sanh có vô
lượng phiền não. Nếu đức Như Lai nói một hạnh một pháp
thời chẳng gọi là đức Như Lai có đủ tri chư căn trí lực.
Do đây nên trong các kinh khác ta nói rằng có năm hạng chúng
sanh chẳng nên vì họ nói năm thứ pháp : Vì người chẳng
có lòng tin thời chẳng tán thán chánh tín, vì người phá
giới cấm thời chẳng tán thán trì giới, vì người xan tham
thời chẳng tán thán bố thí, vì người giải đãi thời chẳng
tán thán đa văn vì người ngu si thời chẳng tán thán trí
huệ. Nếu người trí vì năm hạng này mà nói năm việc trên
đây, thời nên biết rằng người thuyết pháp nầy chẳng
có đủ tri chư căn trí lực, cũng chẳng được gọi là thương
xót chúng sanh. Vì năm hạng nầy nếu nghe giảng nói năm điều
trên đây thời họ sẽ sanh lòng nghi, lòng ác, lòng sân hận,
mà phải chịu quả báo khổ trong vô lượng đời. Do đây
nên trước kia trong các kinh khác ta bảo Xá Lợi Phất rằng
: Ông phải cẩn thận chớ vì người lợi căn mà rộng thuyết
pháp, chớ vì người độn căn mà lược thuyết pháp. Xá Lợi
Phất bạch rằng tôi chỉ vì thương xót mà thuyết pháp, chẳng
phải là có đủ tri chư căn trí lực mà thuyết pháp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thuyết pháp hoặc rộng hoặc lược là cảnh
giới của Phật, chẳng phải hàng Thanh Văn và Duyên Giác biết
được.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như ông nói rằng sau khi Phật nhập Niết Bàn
hàng đệ tử đều nói khác nhau, những người đó đều vì
điên đảo nên chẳng được chánh kiến, chẳng thể lợi
mình lợi người.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Chúng sanh chẳng phải chỉ có một tánh một
hạnh , một căn, một quốc độ, một thiện tri thức. Do đây
nên đức Như Lai vì chúng sanh mà tuyên nói nhiều pháp yếu.
Do nhơn duyên nầy nên chư Phật trong mười phương ba đời
vì chúng sanh mà khai thị diễn thuyết mười hai bộ kinh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai nói mười hai bộ kinh đây chẳng
phải để lợi cho mình mà chỉ vì lợi ích cho người, nên
trí lực thứ năm của Như Lai gọi là giải lực. Do hai trí
lực nầy nên đức Như Lai biết rõ người nầy hiện tại
có thể dứt căn lành người nầy đời sau có thể dứt căn
lành, người nầy hiện tại có thể được giải thoát, người
nầy đời sau có thể được giải thoát, do đây nên
đức Như Lai được là vô thượng lực sĩ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nói rằng đức Như Lai rốt ráo nhập
Niết Bàn, hoặc nói chẳng rốt ráo nhập Niết Bàn, những
người nầy chẳng hiểu ý của Như Lai nên nói những lời
như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong núi Hương Sơn có năm mươi ba ngàn vị
tiên nhơn, những vị nầy đã tu tập công đức nơi đức
Phật Ca Diếp thuở quá khứ, họ chưa được chánh đạo,
chưa được gần gũi Phật để nghe chánh pháp. Vì muốn độ
những vị tiên nhơn nầy nên đức Như Lai bảo A Nan rằng
ba tháng sau ta sẽ nhập Niết Bàn. Chư thiên truyền lời nầy
đến núi Hương Sơn. Các vị tiên nhơn nghe tin Phật sắp nhập
Niết Bàn bèn sanh lòng hối hận mà bảo nhau rằng tại
sao chúng ta được sanh trong nhơn đạo mà chẳng được
gần gũi Phật. Chư Phật ra đời rất khó gặp như hoa Ưu
Đàm. Nay chúng ta nên đến ra mắt đức Thế Tôn để được
nghe chánh pháp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lúc đó năm mươi ba ngàn tiên nhơn liền đến
ra mắt ta. Ta bèn theo cơ của họ mà thuyết pháp : Nầy các
đại sĩ ! Sắc là vô thường, vì nhơn duyên của sắc là
vô thường. Đã từ nhơn vô thường mà sanh thời sắc đâu
phải là thường trụ. Như sắc, thọ, tưởng, hành, thức
cũng như vậy.
Các
tiên nhơn sau khi nghe pháp yếu trên đây tất cả đều chứng
được quả A La Hán.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong thành Câu Thi Na Kiệt có ba mươi muôn
lực sĩ tự thị sức mạnh của mình ngạo nghễ không chịu
tùng phục ai.
Vì
muốn điều phục các lực sĩ nầy nên ta bảo Mục Liên đến
điều phục các lực sĩ ấy. Lúc đó Mục Kiền
Liên tuân lịnh ta, trọn năm năm giáo hóa nhiều cách, nhưng
chẳng thể điều phục được một lực sĩ. Do đây nên ta
bảo A Nan rằng sau ba tháng đức Phật sẽ nhập Niết Bàn.
Các lực sĩ nghe được tin nầy bèn họp nhau sửa sang đường
sá.
Đến
ngày ta từ nước Tỳ Xá Ly đến thành Câu Thi Na. Giữa đường
thấy các lực sĩ, ta liền hóa thân làm vị Sa Môn hỏi các
lực sĩ rằng : Bọn đồng tử kia làm việc gì thế ?ù Các
lực sĩ đều nổi giận nói rằng : Nầy Sa Môn ! Tại sao ông
gọi chúng ta là đồng tử ?
Ta
bảo các lực sĩ bọn ngươi đến ba mươi muôn người mà
không đủ sức dời nổi hòn đá nhỏ nhít nầy, nên ta gọi
là đồng tử đâu phải lời quá đáng.
Các
lực sĩ nói nếu ông gọi chúng ta là đồng tử, thời ông
phải là bực đại nhơn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lúc đó ta dùng hai ngón chơn hất văng hòn
đá ấy. Các lực sĩ thấy như vậy liền hết khinh ngạo mà
nói rằng : Nầy Sa Môn ! Nay ông có thể dời hòn đá nầy
ra khỏi đường chăng ? _ Ta nói nầy các đồng tử ! Do nhơn
duyên gì mà các người sửa sang con đường nầy ? _ Các lực
sĩ nói nầy Sa Môn ! Đức Thích Ca Như Lai sẽ do con đường
nầy đi đến rừng Ta La mà nhập Niết Bàn, nên chúng ta họp
nhau lại sửa sang. Ta khen rằng : Lành thay ! Các đồng tử
đã phát tâm tốt như vậy, ta sẽ dời hòn đá nầy cho các
ông.
Nói
xong ta liền lấy tay bưng hòn đá dồi lên giữa hư không.
Các lực sĩ kinh hải muốn chạy tránh. Ta liền bảo họ rằng
: Các ngươi chẳng nên kinh sợ ! Rồi ta lấy tay hứng bắt
hòn đá để trên bàn tay mặt.
Các
lực sĩ đều vui mừng khen ngợi hỏi rằng : Nầy Sa Môn !
Hòn đá ấy là thường hay vô thường ?
Ta
liền dùng miệng thổi hòn đá tan nát ra như cát bụi.
Các
lực sĩ thấy như vậy đồng cất tiếng xướng rằng hòn
đá ấy là vô thường ! Họ sanh lòng hổ thẹn không còn có
tâm niệm kiêu mạn.
Ta
liền hiện lại hình Phật mà vì họ thuyết pháp. Ba mươi
muôn lực sĩ đều phát tâm vô thượng Bồ Đề.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nơi thành Câu Thi Na có người thợ tên
Thuần Đà. Người nầy nơi thời kỳ đức Phật Ca Diếp đã
phát nguyện rằng : Lúc Thích Ca Như Lai nhập Niết Bàn ta sẽ
là người cúng dường bữa ăn cuối cùng cho Phật. Do đây
nên ta ở nước Tỳ Xá Ly bảo Tỳ Kheo Ưu Bà Ma Na rằng sau
ba tháng ta sẽ nhập Niết Bàn nơi rừng Ta La trong thành Câu
Thi Na, ông nên qua cho Thuần Đà hay !
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong thành Vương Xá có vị Ngũ Thông Tiên
Nhơn tên là Tu Bạt Đà La được một trăm hai mươi tuổi.
Tiên nhơn nầy thường tự xưng là bực nhứt thiết trí sanh
lòng kiêu mạn. Tiên nhơn nầy đã vun trồng căn lành
nơi vô lượng chư Phật thuở quá khứ.
Vì
muốn điều phục Tiên nhơn nầy nên ta bảo A Nan rằng sau
ba tháng ta sẽ nhập Niết Bàn ! Tu Bạt Đà La nghe tin
nầy sẽ sanh lòng kính tin mà đến ra mắt ta. Ta sẽ độ ông
chứng quả A La hán.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nơi thành La Duyệt Kỳ, Thái Tử Thiện Kiến
muốn hại vua cha là Tần Bà Ta La, mà chưa có dịp hại được.
Lúc đó Đề Bà Đạt Đa cũng muốn hại ta, bèn tu tập chứng
được ngũ thông, làm bạn thân với Thái Tử Thiện Kiến.
Vì Thái Tử mà hiện thần thông. Thái Tử rất kính mến cúng
dường trọng hậu.
Một
lúc kia Thái Tử thưa với Đề Bà Đạt Đa rằng : Bạch Đại
Sư Thánh nhơn, nay tôi muốn thấy hoa Mạn Đà La.
Đề
Bà Đạt Đa liền đến cung trời Đao Lợi, xin bông Mạn Đà
La, vì phước đã hết nên không vị trời nào chịu cho. Xin
không được bông, Đề Bà Đạt Đa suy nghĩ rằng : Cây Mạn
Đà La vốn không ngã, không ngã sở, nếu ta tự lấy bông
nào có tội gì. Nghĩ xong Đề Bà Đạt Đa đến bên cây muốn
lấy bông, liền mất thần thông, trở lại thấy thân mình
ở nơi thành Vương Xá, sanh lòng hổ thẹn chẳng dám đến
gặp Thái Tử Thiện Kiến. Đề Bà Đạt Đa lại nghĩ rằng
nay ta nên đến chỗ Phật đòi đại chúng. Nếu Phật cho ta
sẽ tùy ý sai bảo Xá Lợi Phất v.v…
Đề
Bà Đạt Đa liền đến chỗ Phật mà bạch rằng : Ngưỡng
mong đức Như Lai đem đại chúng nầy giao phó cho tôi, tôi
sẽ thuyết pháp giáo hóa họ.
Phật
nói : Người ngu si ! Xá Lợi Phất v.v… là bực thông minh
đại trí mọi người tin phục, mà ta còn chẳng đem đại
chúng giao phó, huống ngươi là người ngu si ăn nước miếng
của kẻ khác ư !
Lúc
đó Đề Bà Đạt Đa càng sanh ác tâm nói rằng : Nầy Cù Đàm.
Nay dầu ông điều phục đại chúng, nhưng thế cũng chẳng
được lâu sẽ phải bị tiêu diệt ! Vừa nói xong đất liền
rúng động, Đề Bà Đạt Đa té xuống đất, bên thân
ông ấy phát ra luồng gió mạnh thổi bụi đất lấm dơ cả
mình.
Đề
Bà Đạt Đa thấy tướng xấu nầy lại nói rằng : Nếu
thân ta hiện đời phải đọa A Tỳ địa ngục, ta phải báo
sự oán thù lớn nầy.
Đề
Bà Đạt Đa liền đến chỗ Thái Tử Thiện Kiến.
Thái
Tử : Hỏi Đại sư Thánh nhơn cớ sao dung nhan tiều tụy
sắc diện lo buồn ?
Đề
Bà Đạt Đa nói : Ta luôn luôn như vậy mà Thái Tử chẳng
biết ư ?
Thái
Tử hỏi : Có nhơn duyên gì như vậy ? Xin Đại Sư dạy rõ
.
Đề
Bà Đạt Đa nói : Nay ta cùng Thái Tử thân mến nhau. Người
ngoài mắng nhiếc Thái Tử, lẽ đâu ta chẳng lo buồn.
Thái
Tử hỏi : Người ta mắng nhiếc tôi như thế nào ?
Đề
Bà Đạt Đa nói : Mọi người mắng Thái Tử là vị sanh oán.
Thái
Tử hỏi : Sao lại gọi tôi là vị sanh oán ? Ai đặt ra danh
từ nầy ?
Đề
Bà Đạt Đa nói : Lúc chưa sanh Thái Tử, tất cả tướng sư
đều bảo rằng lúc đứa trẻ nầy lớn lên sẽ giết cha
do đó người ngoài đều gọi Thái Tử là vị sanh oán. Người
trong cung vì muốn Thái Tử vui lòng nên đặt là Thiện Kiến.
Vi
Đề Hy phu nhơn nghe lời tướng sư, lúc sanh Thái Tử từ trên
lầu cao ném xuống đất, làm gãy mất một ngón tay của Thái
Tử. Do cớ nầy nên mọi người lại gọi tên Thái Tử là
Chiết Chỉ. Ta nghe những việc nầy trong lòng lo buồn, nhưng
lại chẳng dám nói với Thái Tử.
Đề
Bà Đạt Đa đem những việc ác như vậy xúi Thái Tử giết
vua cha mà bảo rằng : Nếu Thái Tử giết vua cha, thời ta cũng
có thể giết Sa Môn Cù Đàm.
Thái
Tử hỏi đại thần Võ Hành. Đại thần thuật sự tích đặt
tên đúng như lời của Đề Bà Đạt Đa.
Thái
Tử nghe xong liền cùng đại thần bắt vua cha giam ở ngoài
thành sai bốn đội binh giữ gìn nghiêm ngặt. Phu nhơn Vi Đề
Hy đến thăm vua. Người giữ cửa nhà giam chẳng cho vào. Phu
nhơn cả giận bèn quở mắng. Người giữ cửa đem việc nầy
thưa với Thái Tử. Thái Tử Thiện Kiến giận dữ vào cung
nắm tóc mẹ rút gươm muốn chém.
Kỳ
Bà liền đến can rằng : Tâu Đại Vương ! Từ khi lập quốc
đến nay, dầu tội rất nặng cũng chẳng xử đến người
nữ, huống là mẹ đẻ.
Thái
Tử vì nể Kỳ Bà nên không giết phu nhơn. Dứt hẳn sự uống
ăn thuốc men của vua cha. Quá bảy ngày vua cha chết. Thiện
Kiến Thái Tử mới sanh lòng hối hận.
Đại
Thần Võ Hành tâu rằng : Tất cả hành nghiệp đều không
có tội, sao Đại Vương lại sanh lòng hối hận buồn rầu.
Kỳ
Bà tâu rằng : Đại Vương nên biết rằng việc làm của Đại
Vương gồm hai tội nặng : một là tội giết cha, hai là tội
giết Tu Đà Hoàn. Tội nặng như vậy trừ Phật không ai có
thể làm cho tội đó được trừ diệt.
Vua
nói Đức Như Lai thanh tịnh ta là người tội nhơ uế làm
sao dám đến thấy Phật.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta biết việc nầy nên bảo A Nan rằng sau ba
tháng ta sẽ nhập Niết Bàn.
Thái
Tử Thiện Kiến nghe tin nầy liền đến ra mắt ta. Ta vì Thiện
Kiến mà thuyết pháp, do đây tội nặng được bớt nhẹ,
Thiện Kiến được vô căn tín.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Hàng đệ tử của ta nghe những lời nầy chẳng
hiểu ý của ta, nên cho rằng đức Như Lai quyết định nói
rốt ráo nhập Niết Bàn.
Phật
bảo Ca Diếp Bồ Tát : Nầy Thiện Nam Tử ! Bồ Tát có hai
hạng : Một là thật nghĩa, hai là giả danh.
Giả
danh Bồ Tát nghe tin Phật sau ba tháng sẽ nhập Niết Bàn, đều
sanh lòng thối thất mà nói rằng : Đức Như Lai còn là vô
thường, tại sao chúng ta lại vì sự vô thường mà lại cần
khổ trong vô lượng đời. Đức Như Lai thành tựu đầy đủ
vô lượng công đức mà còn không thể phá hoại được tử
ma, huống là bọn ta.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta vì hạng Bồ Tát nầy mà nói rằng Như Lai
thường trụ không có biến đổi.
Các
đệ tử của ta nghe lời trên đây chẳng hiểu ý của ta bèn
xướng rằng đức Như Lai trọn chẳng rốt ráo nhập Niết
Bàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có những chúng sanh chấp đoạn kiến bảo
rằng tất cả chúng sanh sau khi thân thể chết mất, những
nghiệp thiện, nghiệp ác không có người lãnh thọ. Ta vì
những người nầy mà nói rằng quả báo lành cũng như quả
báo ác thiệt có người lãnh thọ. Do đâu biết rằng có ?
Như
thuở quá khứ nơi thành Câu Thi Na có Thiện Kiến Vương :
Lúc làm đồng tử trải qua tám muôn bốn ngàn tuổi, thời
kỳ làm Thái tử trải qua tám muôn bốn ngàn tuổi, đến lúc
lên ngôi vua cũng trải qua tám muôn bốn ngàn tuổi. Thiện
Kiến Vương ngồi riêng một mình suy nghĩ rằng : Chúng sanh
phước mỏng tuổi thọ ngắn ngủi, thường có bốn thứ oan
gia theo dỏi mà chúng sanh chẳng hay biết, mãi phóng dật. Ta
nên xuất gia tu hành dứt tuyệt bốn thứ oan gia sanh, già,
bịnh, chết. Nhà vua sai quan xây nhà thất bảo ở ngoài thành
rồi bảo quần thần, hậu phi, các vương tử cùng tất
cả quyến thuộc :Nay ta muốn xuất gia các người có bằng
lòng không ? Các đại thần cùng quyến thuộc đều bằng lòng.
Thiện Kiến Vương đem theo một người hầu hạ qua ở nơi
nhà thất bảo tu tập từ tâm trải qua tám muôn bốn ngàn
năm. Do sự tu tập từ tâm nầy nên sau đó trải qua tám muôn
bốn ngàn đời thường làm Chuyển Luân Thánh Vương, ba mươi
đời làm Thích Đề Hoàn Nhơn, vô lượng đời làm tiểu quốc
vương.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thiện Kiến Vương thuở xưa đó chính là tiền
thân của ta. Các đệ tử của ta nghe những lời trên đây
chẳng hiểu được ý của ta bèn nói rằng : Đức Như Lai
quyết định nói có ngã và có ngã sở.
Lại
một thời kỳ kia ta vì chúng sanh mà nói rằng ngã chính là
tánh, nghĩa là những nhơn duyên trong thân ngoài cảnh, mười
hai nhơn duyên, ngũ ấm, tâm, giới, công đức, hành nghiệp,
tự tại thiên chính đây gọi là ngã. Các đệ tử của ta
nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như
Lai quyết định nói có ngã.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ngày kia có một Tỳ Kheo đến bạch rằng :
Thế Tôn ! Thế nào gọi là ngã, ai là ngã ? Duyên gì mà có
ngã ? Ta bảo Tỳ Kheo đó rằng : Nầy Tỳ Kheo không có ngã
không có ngã sở. Ngã đó chính là trước không mà nay có,
có rồi trở lại không. Lúc nó sanh không từ đâu lại, lúc
nó diệt cũng không đến đâu. Dầu có nghiệp quả mà không
có tác giả, không có ai rời bỏ ngũ ấm cũng như không có
ai thọ lấy ngũ ấm. Như lời ông hỏi thế nào là ngã ?
Ngã đó chính là thời kỳ vậy. Ai là ngã ? Chính là nghiệp
vậy. Duyên gì mà có ngã ? Chính là ái vậy. Nầy Tỳ
Kheo ! Như hai tay vổ nhau trong đó phát ra tiếng. Ngã cũng như
vậy, chúng sanh, nghiệp, ái, do ba nhơn duyên nầy mà gọi đó
là ngã. Nầy Tỳ Kheo ! Nơi tất cả chúng sanh, sắc chẳng
phải là ngã, trong ngã không có sắc, trong sắc không có ngã,thọ
tưởng hành thức cũng như vậy. Nầy Tỳ Kheo ! Các ngoại
đạo dầu nói là có ngã nhưng trọn chẳng lìa ngũ ấm. Không
bao giờ có thể nói rằng riêng có ngã rời ngoài ngũ ấm.
Tất cả chúng sanh, hành nghiệp như huyễn hóa như dương diệm.
Nầy Tỳ Kheo ! Ngũ ấm đều là vô thường, vô lạc, vô ngã,
vô tịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Lúc ta giảng dạy những lời trên đây, có
vô lượng Tỳ Kheo quán ngũ ấm là vô ngã, là không ngã sở,
mà chứng đặng quả A La Hán.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Các đệ tử của ta nghe lời nói trên đây
chẳng hiểu được ý của ta cho rằng đức Như Lai quyết
định nói vô ngã.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta lại nói rằng do ba sự hòa
hiệp mà có thân : Cha mẹ, trung ấm. Hoặc có lúc ta nói bực
A Na Hàm nơi hiện thân nhập Niết Bàn, hoặc nói nơi thân
trung ấm nhập Niết Bàn. Hoặc nói rằng thân căn của trung
ấm minh mẫn sáng suốt đều do nơi hạnh nghiệp đời trước,
như đề hồ trong sạch.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có lúc ta nói rằng chúng sanh tệ ác thọ thân
trung ấm xấu xí như vải bố thô. Chúng sanh thuần thiện
thọ thân trung ấm tốt đẹp như lụa trắng. Các đệ tử
của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức
Như Lai nói có thân trung ấm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta lại vì những chúng sanh phạm tội nghịch
mà nói rằng kẻ tạo tội ngũ nghịch sau khi chết chẳng vào
địa ngục A Tỳ.
Ta
lại nói rằng Tỳ Kheo Đàm Ma Lưu Chi, sau khi chết chẳng vào
địa ngục A Tỳ, nơi khỏang giữa không chỗ dừng ở.
Ta
lại bảo Phạm Chí Độc Tử : Nầy Phạm Chí ! Nếu có thân
trung ấm thời có sáu sự có. Ta lại nói có chúng sanh cõi
vô sắc không có thân trung ấm. Các đệ tử của ta nghe lời
trên đây chẳng hiểu được ý của ta bèn nói rằng đức
Phật quyết định nói không thân trung ấm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta lại nói có thối thất. Nhơn
nơi vô lượng sự giải đãi biếng trể, các Tỳ Kheo chẳng
tu hành đạo hạnh nên nói có năm điều thối thất : Một
là thích nhiều việc, hai là thích nói việc đời, ba là ưa
ngủ nghỉ, bốn là ưa gần người tại gia, năm là ưa thường
dạo đi, do năm nhơn duyên nầy làm cho Tỳ Kheo thối thất.
Nhơn
duyên thối thất lại có hai thứ : Một là nội nhơn, hai là
ngoại nhơn, bực A La Hán dầu rời khỏi nội nhơn chẳng lìa
ngoại nhơn. Do nhơn duyên ngoài nên sanh phiền não. Vì sanh
phiền não thời thối thất.
Có
Tỳ Kheo tên là Cù Đàm , sáu phen thối thất, sanh lòng hổ
thẹn lại tiến tu lần thứ bảy bèn được, được rồi
sợ thối thất lấy dao tự đâm mình mà chết.
Ta
lại nói có lúc giải thoát, hoặc nói sáu hạng A La Hán. Các
đệ tử của ta nghe những lời nầy chẳng hiểu được ý
của ta bèn cho rằng đức Như lai quyết định nói có thối
thất.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong kinh lại nói như đã cháy thành than thời
chẳng còn trở lại làm cây gỗ. Như bình đã bể thời không
còn công dụng của bình. Phiền não cũng như vậy, A La Hán
đã dứt thời trọn chẳng có lại nữa.
Ta
cũng nói chúng sanh nhơn duyên có phiền não do ba điều : Một
là chưa dứt phiền não, hai là chẳng dứt nhơn duyên, ba là
chẳng khéo suy nghĩ. Bực A La Hán không có hai điều : Nghĩa
là đã dứt phiền não và đã khéo suy nghĩ. Các đệ tử của
ta nghe lời nầy , chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng
đức Như Lai quyết định nói không thối thất.
Xem
Tiếp: Trang 02
