XXV
PHẨM
KIỀU TRẦN NHƯ THỨ HAI MƯƠI LĂM
Lại
có Phạm Chí tên Thanh Tịnh lên tiếng rằng : “ Thưa Cù Đàm
! Do chẳng biết pháp gì mà tất cả chúng sanh thấy thế gian
là thường, là vô thường, cũng thường, cũng vô thường,
chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, nhẫn đến chẳng
phải như mà đi, chẳng phải chẳng như mà đi ?”
_ Nầy
Thiện Nam Tử !Vì chẳng biết sắc, nhẫn đến chẳng
biết thức nên thấy thế gian là thường, nhẫn đến thấy
chẳng phải chẳng như mà đi.
_ Thưa
Cù Đàm ! Do chúng sanh biết pháp gì mà chẳng thấy thế gian
là thường nhẫn đến chẳng thấy chẳng phải, chẳng như
mà đi ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức nên
chẳng thấy thế gian là thường nhẫn đến chẳng thấy chẳng
phải chẳng như mà đi.
_ Bạch
Thế Tôn ! Xin vì tôi mà giải thuyết thế gian là thường
cùng vô thường.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu người bỏ nghiệp cũ chẳng gây tạo
nghiệp mới, người nầy có thể biết thường cùng vô thường.
_ Bạch
Thế Tôn ! Tôi đã hiểu biết.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông thấy biết thế nào ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Cũ là nói vô minh cùng ái, mới là nói thủ và
hữu. Nếu người xa lìa vô minh ái nầy mà chẳng gây tạo
thủ và hữu, người nầy thật biết thường và vô thường.
Nay
tôi đã được pháp nhẫn thanh tịnh quy y Tam Bảo. Xin đức
Như Lai cho tôi xuất gia.
Phật
bảo Kiều Trần Như cho Phạm Chí Thanh Tịnh nầy xuất gia.
Ngài
Kiều Trần Như tuân lời Phật, dắùt Thanh Tịnh đến trong
Tăng làm pháp Yết Ma cho xuất gia. Sau đó mười lăm ngày,
Tỳ Kheo Thanh Tịnh dứt hết phiền não chứng quả A La Hán.
Phạm
Chí Độc Tử thưa rằng : “ Thưa Cù Đàm ! Nay tôi muốn hỏi
ngài có cho phép chăng ?”
Đức
Như Lai nín lặng.
Thưa
lần thứ hai lần thứ ba, Đức Như Lai vẫn nín lặng.
Độc
Tử thưa rằng : “ Từ lâu tôi cùng ngài vẫn là thân hữu,
ngài cùng tôi nghĩa không có khác, nay tôi muốn hỏi han, cớ
sao ngài lại nín lặng ?”
Lúc
đó Đức Thế Tôn nghĩ rằng : “ Phạm Chí nầy tánh tình
nho nhã thuần thiện ngay thẳng. Thường vì muốn hiểu biết
mà đến thưa hỏi, chẳng phải vì não loạn. Nếu ông ấy
có hỏi ta nên tùy ý đáp”.
Suy
nghĩ xong Phật nói rằng : Lành thay ! Lành thay ! Ông cứ theo
chỗ nghi mà hỏi ta sẽ giải đáp cho.
Độc
Tử thưa rằng : “ Thế gian có pháp lành chăng ?”
_ Nầy
Phạm Chí ! Thế gian có pháp lành.
_ Thưa
Cù Đàm ! Thế gian có pháp chẳng lành chăng ?
_ Nầy
Phạm Chí ! Thế gian có pháp chẳng lành.
_ Xin
Cù Đàm vì tôi mà giảng nói, cho tôi biết pháp lành và pháp
chẳng lành.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta có thể phân biệt giảng rộng nghĩa đó.
Nay sẽ vì ông mà nói lược.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Dục gọi là pháp chẳng lành, giải thoát dục
gọi là pháp lành. Sân cùng si cũng như vậy. Sát sanh là pháp
chẳng lành, chẳng sát sanh là pháp lành, nhẫn đến tà kiến
cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta đã vì ông mà nói ba thứ pháp lành cùng
chẳng lành và nói mười thứ pháp lành cùng chẳng lành.
Nếu hàng đệ tử của ta có thể hiểu biết ba thứ nhẫn
đến mười thứ pháp lành cùng chẳng lành như vậy, phải
biết rằng người nầy có thể dứt hết tham sân, si tất
cả phiền não, dứt tất cả quả báo sanh tử.
_ Thưa
Cù Đàm ! Trong Phật pháp có một Tỳ Kheo nào được như vậy
chăng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong Phật pháp chẳng phải chỉ có một hai
người nhẫn đến trăm ngàn người, mà có vô lượng Tỳ
Kheo dứt được tham, sân, si tất cả phiền não, tất cả
quả báo sanh tử như vậy.
_ Thưa
Cù Đàm ! Trong Phật pháp có một Tỳ Kheo Ni nào được như
vậy chăng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong Phật pháp đây cũng có vô lượng Tỳ
Kheo Ni dứt được tham, sân, si tất cả phiền não, tất cả
quả báo sanh tử.
_ Thưa
Cù Đàm ! Trong Phật pháp có Ưu Bà Tắc nào siêng năng giữ
giới dứt được lưới nghi chăng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong Phật pháp của ta có vô lượng Ưu Bà
tắc tinh tấn giữ giới thanh tịnh, dứt được năm phẩm
kiết sử bực hạ, được quả A Na Hàm, dứt được lưới
nghi.
_ Thưa
Cù Đàm ! Trong Phật pháp có Ưu Bà Di nào tinh cần trì giới
thanh tịnh dứt được lưới nghi chăng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong Phật pháp ta có vô lượng Ưu Bà Di tinh
cần trì giới thanh tịnh dứt năm phẩm kiết sử bực hạ,
dứt được lưới nghi, chứng quả A Na Hàm.
_ Thưa
Cù Đàm ! Ngoài những vị trên, trong Phật pháp có Ưu Bà Tắc,
Ưu Bà Di nào hưởng lạc thú ngũ dục mà tâm dứt được
lưới nghi chăng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong Phật pháp ta vô lượng Ưu Bà Tắc cũng
như Ưu Bà Di dứt ba phẩm kiết sử được quả Tu Đà Hoàn.
Người tham, sân, si mỏng thời được quả Tư Đà Hàm.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nay tôi thích nói thí dụ, xin ngài cho phép.
_ Lành
thay ! Ông thích nói thời cứ nói.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như Long Vương Nan Đà và Bạt Nan Đà bình đẳng
mưa to. Pháp dụ của Như Lai cũng như vậy, bình đẳng mưa
xuống hàng Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di.
Bạch
Thế Tôn ! Nếu hàng ngoại đạo muốn đến Phật pháp để
xuất gia, chẳng rõ đức Như Lai thử họ trong mấy tháng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Thử họ trong bốn tháng, nhưng bất tất hết
thảy đều một hạng.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nếu chẳng đều một hạng, xin đức Đại
Từ cho tôi xuất gia.
Đức
Thế Tôn bảo Kiều Trần Như cho Độc Tử xuất gia thọ giới.
Sau
đó mười lăm ngày, Độc Tử được quả Tu Đà Hoàn.
Độc
Tử nghĩ rằng nếu người có trí huệ do nơi học mà được,
nay tôi đã được có thể đến ra mắt Phật.
Liền
đến lễ Phật bạch rằng : “Thế Tôn ! Những người có
trí huệ từ nơi học mà được, nay tôi đã được. Xin đức
Thế Tôn vì tôi mà giảng thuyết cho tôi được trí huệ vô
học.
_ Nầy
Thiện nam Tử ! Ông nên tinh tấn tu tập hai pháp : Chỉ và
quán. Nếu có Tỳ Kheo muốn được quả Tu Đà Hoàn cũng phải
siêng tu tập hai pháp như vậy. Nếu muốn được Tư Đà Hàm,
A Na hàm, A La Hán cũng phải tu tập hai pháp như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Tỳ Kheo muốn được tứ thiền, tứ
vô lượng tâm, lục thần thông, bát bội xả, bát thắng xứ,
vô tránh trí, đảnh trí, tất cánh trí, tứ vô ngại trí,
kim cang tam muội, tận trí, vô sanh trí, cũng phải tu tập hai
pháp như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu muốn được bực Thập Trụ, vô sanh pháp
nhẫn, vô tướng pháp nhẫn, bất khả tư nghì pháp nhẫn,
thánh hạnh, phạm hạnh, thiên hạnh, Bồ Tát hạnh, hư không
tam muội, trí ấn tam muội, không vô tướng vô tác tam muội,
địa tam muội, bất thối tam muội, Thủ Lăng Nghiêm tam muội,
Kim Cang tam muội, vô thượng Bồ Đề Phật hạnh, cũng phải
tu tập hai pháp như vậy.
Độc
Tử nghe xong lễ Phật lui ra, ở trong rừng Ta La tu tập hai
pháp chỉ quán, chẳng bao lâu được quả A La Hán.
Lúc
đó lại có vô lượng Tỳ Kheo muốn đến chỗ Phật. Độc
Tử hỏi rằng : Chư Đại Đức muốn đến đâu ?
Các
Tỳ Kheo nói : Chúng tôi muốn đến Phật.
Độc
Tử lại nói : Nếu chư Đại Đức đến chỗ Phật xin vì
tôi bạch cùng Phật rằng Độc Tử Tỳ Kheo đã tu tập hai
pháp chỉ quán được trí vô học, nay báo ơn Phật mà nhập
Niết Bàn.
Các
Tỳ Kheo đem lời nầy đến bạch cùng Phật.
Phật
bảo các Tỳ Kheo : Nầy các Thiện Nam Tử ! Độc Tử đã được
quả A La Hán, các ông nên đến cúng dường thân thể
của Độc Tử.
Các
Tỳ Kheo tuân lời Phật trở về cúng dường thi hài của Độc
Tử.
Nạp
Y Phạm Chí lại lên tiếng hỏi Phật : Thưa Cù Đàm ! Như
lời Cù Đàm nói trong vô lượng đời làm điều lành điều
chẳng lành, đời vị lai trở lại được thân lành thân chẳng
lành. Theo ý tôi, lời trên đây không đúng.
Vì
như Cù Đàm từng nói nhơn phiền não mà cảm lấy thân nầy.
Đã nhơn nơi phiền não mà có thận, thời thân có trước
hay phiền não có trước ? Nếu phiền não có trước thời
ai làm và ở chỗ nào ? Nếu thân có trước thời sao lại
nói nhơn phiền não mà có thân ? Do đây nên nếu nói phiền
não ở trước hay thân ở trước đều không được.
Nếu nói đồng một thời cũng chẳng được. Thế là hoặc
trước, hoặcsau, hoặc đồng một thời, đều chẳng được.
Do đây nên tôi nói tất cả pháp đều có tự tánh chẳng
phải từ nơi nhơn duyên.
Thưa
Cù Đàm ! Lại cứng là tánh của địa đại, ướt là tánh
của thủy đại, nóng là tánh của hoả đại, động là tánh
của phong đại, không chướng ngại là tánh của hư không,
tánh của năm đại nầy chẳng phải từ nhơn duyên mà có.
Nếu trong thế gian có tánh của một pháp chẳng phải từ
nhơn duyên mà có, thời tánh của tất cả pháp cũng phải
như vậy. Nếu có một pháp từ nơi nhơn duyên, cớ gì tánh
của ngũ đại lại chẳng từ nơi nhơn duyên ?
Thưa
Cù Đàm ! Chúng sanh mà có thân lành, thân chẳng lành, hoặc
được giải thoát đều là tự tánh cả, chẳng phải từ
nơi nhơn duyên. Nên tôi nói rằng tất cả các pháp do tự
tánh mà có, chẳng phải là nhơn duyên sanh.
Thưa
Cù Đàm ! Pháp thế gian có chỗ dùng nhứt định, như người
thợ nói cây nầy có thể làm xe cộ, cây nầy có thể làm
cửa, làm ván, làm giừơng, làm ghế. Lại như thợ kim hoàn
làm ra những đồ trang sức : Đội trên trán thờigọi
là tràng, đeo dưới cổ thời gọi là chuỗi, đeo trên tay
thời gọi là xuyến, đeo nơi ngón tay thời gọi là nhẫn.
Vì chỗ dùng nhứt định nên gọi là định tánh. Do đây biết
rằng tất cả chúng sanh cũng như vậy : Vì có tánh ngũ đạo
nên có địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, nhơn, thiên. Nếu đã
như vậy sao lại nói rằng từ nơi nhơn duyên.
Thưa
Cù Đàm ! Lại tất cả chúng sanh tánh của họ đều khác,
nên gọi là tất cả tự tánh. Như con rùa sanh trên đất cao
mà nó tự có thể lặn xuống nước, bò con lúc sanh ra nó
tự có thể uống sữa, cá thấy mồi tự nhiên nuốt ăn, rắn
độc lúc sanh ra tự nhiên ăn đất, những việc như vậy có
ai dạy bảo ? Như gai sanh ra tự nhiên đầu nhọn, lông cánh
của loài chim bay tự nhiên có màu sắc riêng khác. Chúng sanh
trong thế gian cũng như vậy : Có khôn lanh, có đần độn,
có giàu, có nghèo, có đẹp, có xấu, có người đượcgiải
thoát, có kẻ chẳng được. Do đây nên biết trong tất cả
pháp đều riêng có tự tánh.
Thưa
Cù Đàm ! Lại như ngài từng nói tham, sân, si từ nơi nhơn
duyên mà sanh, ba món độc nầy do nơi năm trần làm duyên.
Theo ý tôi lời trên đây không đúng.
Vì
chúng sanh lúc ngủ xa lìa năm trần mà cũng vẫn sanh tham, sân,
si. Lúc ở trong thai cũng vậy. Lúc mới ra khỏi thai chưa
phân biệt được năm trần là tốt hay xấu mà cũng sanh lòng
tham, sân, si. Các vị Tiên Nhơn ở nơi chỗ vắng vẻ. Không
có ngũ trần mà cũng sanh tham, sân, si. Lại cũng
có người nhơn nơi năm trần mà sanh vô tham, vô sân, vô si.
Do đây nên bất tất từ nơi nhơn duyên sanh ra tất cả pháp,
vì tự tánh nó sẵn như vậy.
Thưa
Cù Đàm ! Tôi lại thấy trong đời có người căn thân chẳng
đầy đủ mà giàu có thế lực lớn, có người thân thể
hoàn bị mà nghèo cùng hèn hạ làm tôi làm tớ. Nếu có nhơn
duyên cớ sao lại như vậy ? Do đây nên các pháp đều riêng
có tự tánh chẳng phải do nhơn duyên.
Thưa
Cù Đàm ! Trong đời những trẻ nhỏ chưa phân biệt được
năm trần, chúng nó hoặc cười hoặc khóc. Lúc cười biết
nó mừng, lúc khóc biết nó buồn. Do đây nên biết tất cả
pháp đều riêng có tự tánh.
_ Thưa
Cù Đàm ! Thế pháp có hai : Có và không. Có là hư không, không
là sừng thỏ. Hư không vì là có nên chẳng từ nơi nhơn duyên,
sừng thỏ vì là không nên cũng chẳng từ nơi nhơn duyên.
Do đây nên biết các pháp cótự tánh chẳng từ nơi nhơn duyên.
Phật
nói : “ Nầy Thiện Nam Tử ! Như lời ông nói tất cả pháp
cũng như tánh của năm đại. Nghĩa nầy không đúng.
Vì
như trong pháp của ông cho năm đại là thường, duyên cớ
gì mà tất cả pháp đều chẳng phải là thường ? Nếu sự
vật trong đời là vô thường, tánh của năm đại nầy duyên
cớ gì chẳng phải vô thường. Nếu năm đại là thường
thời lẽ ra sự vật trong đời cũng là thường. Do đây nên
ông nói tánh của năm đại vì có tự tánh chẳng từ nơi
nhơn duyên, khiến tất cả pháp đồng như năm đại, thời
không đúng nghĩa.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói vì chỗ dùng nhứt định nên có tự
tánh, nghĩa nầy không đúng. Vì tất cả đồ dùng đều từ
nơi nhơn duyên mà được có danh tự, nếu đã từ nhơn duyên
có danh tự thời cũng từ nhơn duyên mà có nghĩa.
Thế
nào gọi là từ nhơn duyên mà có danh tự ? Như đồ trang sức
ở trên trán thời tên là tràng, ở dưới cổ thời tên
là chuổi,ở nơi tay thời gọi là xuyến, và như ở nơi xe
thời tên là bánh xe, lửa ở nơi cỏ cây thời tên là lửa
cỏ lửa cây.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Cây gỗ lúc mới sanh không có tánh mũi tên
và cây lao. Vì từ nơi nhơn duyên thợ đẽo làm mũi tên, vì
từ nơi nhơn duyên thợ đẽo làm cây lao. Do đây chẳng nên
nói rằng tất cả pháp là có tự tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói như con rùa sanh trên đất mà tánh
tự nó có thể lặn xuống nuớc, bò con mới sanh ra tánh nó
có thể uống sửa, lời nầy không đúng. Vì nó chẳng phải
nhơn duyên mà rùa tự xuống nước, sao rùa lại chẳng vào
lửa ? Đây là vì điều chẳng phải nhơn duyên. Bò con lúc
sanh ra chẳng từ nơi nhơn duyên mà tánh nó tự có thể mút
vú, sao bò con chẳng tự mút sừng ? Đây là đều chẳng phải
nhơn duyên cả.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nói các pháp đều có tự tánh, chẳng
cần dạy bảo tập làm, không có thêm lên, lời nầy không
đúng nghĩa. Vì hiện nay thấy có sự dạy bảo, nhơn nơi dạy
bảo mà được thêm lên. Do đây nên biết rằng không có tự
tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu tất cả pháp có tự tánh riêng, thời
hàng Bà La Môn chẳng nên vì được thân thanh tịnh mà giết
dê để cúng tế, nếu đã vì thân mà cúng tế thời nên biết
rằng không có tự tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ngữ pháp của thế gian đại phàm có ba thứ
: Muốn làm, lúc làm, làm rồi.Nếu tất cả pháp đều có
tự tánh cớ sao thế gian lại có ba ngữ pháp nầy ? Đã có
ba ngữ pháp nầy nên biết tất cả pháp đều không có tự
tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nói các pháp đều có tự tánh, nên biết
các pháp đều có định tánh. Nếu có định tánh thời một
thứ mía duyên cớ gì làm ra mật mía, đường, rượu, rượu
đắng. Nếu chỉ có một tự tánh duyên cớ gì lại sanh ra
nhiều vị như vậy ?
Nếu
trong một thứ mà sanh ra nhiều thứ thời nên biết rằng các
pháp chẳng phải là nhứt định riêng có một tự tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu tất cả pháp có tánh nhứt định, cớ
gì thánh nhơn uống nước mía, ăn đường, lúc thành rượu
thời chẳng uống, lúc thành rượu đắng lại uống ? Do đây
nên biết không có tánh nhứt định. Nếu đã không tánh nhứt
định tại sao lại chẳng phải từ nhơn duyên mà có ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói tất cả pháp đều có tự tánh,
tại sao ông lại nói thí dụ ? Nếu đã có thí dụ thời nên
biết rằng các pháp không có tự tánh. Người trí trong đời
đều nói thí dụ, nên biết rằng các pháp không có tự tánh
không có tánh nhứt định.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông gạn hỏi thân có trước hay phiền não
có trước, lời hỏi nầy không đúng. Vì nếu ta nói thân
có trước, ông mới nên vấn nạn. Ông cũng đồng như ta cho
thân chẳng có trước cớ gì lại vấn nạn như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả chúng sanh, thân cùng phiền não đều
không có trươc sau, là đồng một thời mà có. Dầu đồng
một thời nhưng phải nhơn nơi phiền não mà được có thân,
trọn chẳng nhơn nơi thân mà có phiền não.
Nếu
trong ý ông cho rằng như đôi mắt của người đồng thời
mà có, mắt tả chẳng nhơn hữu, mắt hữu chẳng nhơn
mắt tả, phiền não và thân cũng như vậy. Ý ngĩ nầy chẳng
đúng. Vì trong đời con mắt ngó thấy ngọn đèn cùng ánh
sáng dầu là đồng một thời, nhưng anh sáng cần phải nhơn
nơi ngọn đèn, chẳng phải nhơn nơi ánh sáng mà có ngọn
đèn.
Nầy
Thiện nam Tử ! Nếu ý ông cho rằng vì thân chẳng có trước
nên biết là không nhơn duyên ý nầy chẳng đúng. Vì nếu
cho rằng trước thân không có nhơn duyên nên gọi là không,
thời ông chẳng nên nói tất cả các pháp không có nhơn duyên.
Nếu nói vì chẳng thấy nên chẳng nói, nay thấy cái bình
v.v… từ nơi nhơn duyên mà có, cớ sao chẳng nói như cái
bình, nhơn duyên ở trước thân cũng như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Thấy cùng chẳng thấy, tất cả các pháp có
ra đều từ nơi nhơn duyên, không có tự tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nói tất cả pháp đều có tự tánh không
do nhơn duyên, cớ gì ông lại nói năm đại ? Tánh của năm
đại nầy chính là nhơn duyên. Dầu năm đại là nhơn
duyên như vậy, cũng chẳng nên nói rằng các pháp đều đồng
năm đại làm nhơn duyên. Như người đời nói tất cả người
xuất gia tinh tấn trì giới, bọn Chiên Đà La cũng phải tinh
tấn trì giới như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói năm đại có tánh chắc nhứt định.
Theo ta thấy thời tánh nầy chuyển biến chẳng nhứt định.
Tô, bạch lạp, hồ giao, những thứ nầy trong pháp của ông
gọi là địa, địa nầy chẳng nhứt định, hoặc đồng với
nước, hoặc đồng với đất, nên chẳng được nói rằng
tự tánh cứng chắc.
Nầy
Thiện nam Tử ! Nhôm, chì, kẽm, đồng, sắt, vàng , bạc, những
thứ nầy trong pháp của ông gọi là hỏa. Hỏa nầy có bốn
tánh : Lúc chảy là tánh nước, lúc động là tánh gió, lúc
nóng là tánh lửa, lúc cứng là tánh đất, sao lại nói rằng
nhứt định gọi là hỏa tánh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Tánh của nước gọi là chảy, nếu lúc nước
đông cứng chẳng gọi là địa mà gọi là hỏa tánh, cớ
gì lúc sóng động chẳng gọi là phong ? Nếu nổi sóng chẳng
gọi là phong , thời lúc đông đặc cũng chẳng nên gọi là
hỏa. Nếu bốn tánh nầy từ nơi nhơn duyên, cớ sao nói rằng
tất cả pháp chẳng từ nơi nhơn duyên ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nói rằng năm căn, vì tánh nó hay thấy,
nghe, giác, xúc, nên đều là có tự tánh chẳng từ nơi nhơn
duyên. Lời nầy không đúng nghĩa. Vì tánh của tự tánh là
không thể chuyển đổi. Nếu nói tánh của nhãn căn là thấy,
lẽ ra phải thường thấy, chẳng nên có lúc thấy có lúc
chẳng thấy. Do đây nên biết rằng nhãn căn thấy là có nhơn
duyên, chẳng phải không nhơn duyên.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói chẳng phải nhơn nơi trần mà có tham
cùng giải thoát, lời nầy không đúng nghĩa. Vì dầu chẳng
phải do nơi năm trần mà có tham cùng giải thoát, nhưng vì
ác giác quán thời sanh tham dục, vì thiện giác quán thời
được giải thoát. Do nội nhơn duyên mà có tham cùng giải
thoát, do ngoại nhơn duyên mà hai món nầy được tăng trưởng.
Do đây nên lời ông nói tất cả pháp đều riêng có tự tánh,
chẳng nhơn nơi năm trần sanh tham và giải thoát, là không
đúng nghĩa.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói người thân thể đầy đủ lại nghèo
thiếu chẳng tự do, người tàn tật thời giàu có tự do,
nhơn đây chứng minh là có tự tánh, chẳng từ nơi nhơn duyên.
Lời nầy chẳng đúng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Chúng sanh do nơi nghiệp mà có quả báo. Quả
báo nầy có ba : Hiện báo, sanh báo và hậu báo. Những
người nghèo cùng giàu có, lành lặn hay tàn tật, đều do
nghiệp riêng khác. Nếu là có tự tánh, người lành lặn lẽ
ra phải giàu có, người giàu có lẽ ra phải lành lặn. Nay
chẳng như vậy, nên biêt rằng không có tự tánh, mà đều
từ nơi nhơn duyên.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói trẻ nhỏ chưa phân biệt được năm
trần mà cũng khóc cũng cười, để chứng minh tất cả đều
có tự tánh. Lời nầy chẳng đúng. Vì nếu có tự tánh lẽ
ra cười phải thường cười, khóc phải thường khóc, chẳng
nên một cười một khóc. Nếu đã một cười một khóc, thời
biết rằng tất cả đều từ nhơn duyên. Do đây chẳng nên
nói rằng tất cả pháp đều có tự tánh chẳng từ nơi nhơn
duyên.
Phạm
Chí nói : Bạch Thế Tôn ! Nếu tất cả pháp từ nhơn duyên
mà có, thân thể nầy từ nhơn duyên nào ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Phiền não cùng nghiệp là nhơn duyên của thân
nầy.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như thân nầy từ nơi phiền não và nghiệp mà có,
vậy phiền não và nghiệp nầy có thể dứt được chăng ?
_ Có
thể dứt được.
_ Bạch
Thế Tôn ! Xin vì tôi giải nói, cho tôi được nghe liền đây
đều dứt đượcphiền não và nghiệp.
_ Nầy
Thiện nam Tử ! Nếu rõ biết hai bên và chặn giữa không chướng
ngại, thời người nầy có thể dứt phiền não và nghiệp.
_ Bạch
Thế Tôn ! Tôi đã hiểu biết, đã được chánh pháp nhãn.
Ông
biết thế nào ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Hai bên là sắc và sắc giải thoát, trung
gian chính là bát chánh đạo. Thọ, tưởng, hành, thức cũng
như vậy.
_ Lành
thay ! Lành thay ! Nầy Thiện Nam Tử ! Ông biết rõ hai bên phiền
não và nghiệp.
_ Bạch
Thế Tôn ! Xin cho tôi xuất gia.
_ Thiện
Lai Tỳ Kheo !
Liền
đó Nạp Y Phạm Chí dứt trừ phiền não trong ba cõi được
quả A La Hán.
Lại
có Bà La Môn Hoằng Quảng nói rằng : Cù Đàm biết tâm
niệm hiện tại của tôi chăng ?
Phật
nói : Nầy Thiện Nam Tử ! Niết Bàn là thường, hữu vi là
vô thường, cong là tà kiến, ngay là thánh đạo.
_ Cớ
gì Cù Đàm nói như vậy ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ý của ông thường cho rằng khất thực là
thường, biệt thỉnh là vô thường, cong là cửa khóa, ngay
là tràng của Thiên Đế. Do đây nên ta nói những lời vừa
rồi, chẳng phải như chỗ suy nghĩ của ông.
_ Cù
Đàm thiệt biết được tâm niệm của tôi. Bát chánh đạo
đó có thể làm cho chúng sanh, tất cả đều được tận diệt
chăng ?
Đức
Thế Tôn nín lặng.
_ Cù
Đàm đã biết tâm niệm của tôi, nay tôi hỏi sao lại nín
lặng mà chẳng đáp ?
Lúc
đó Kiều Trần Như liền nói : Nầy Đại Bà La Môn ! Nếu
có người hỏi thế gian là hữu biên hay vô biên, thời Đức
Như Lai thường nín lặng.
_ Nầy
Đại Bà La Môn ! Bát thánh đạo là ngay , Niết Bàn là thường,
nếu tu bát thánh dạo thời được diệt tận, nếu chẳng
tu tập thời chẳng được.
Như
thành lớn kia bốn vách chỉ có một cửa, người giữ cửa
rất thông minh kẻ đáng cho đi thời cho, kẻ đáng ngăn thời
ngăn lại, người nầy dầu chẳng biết được số người
ra vào nhiều ít nhưng chắc chắn biết rằng tất cả người
ra vào đều phải do người nầy.
Nầy
Đại Bà La Môn ! Đức Như Lai cũng như vậy. Thành lớn dụ
cho Niết Bàn, cửa dụ bát chánh đạo, người giữ cửa dụ
Đức Như Lai.
Nay
Đức Như Lai dầu chẳng trả lời là diệt tận cùng chẳng
diệt tận, nhưng người được diệt tận, cần phải tu tập
bát chánh đạo nầy.
Lành
thay ! Lành thay ! Đại Đức Kiều Trần Như ! Đức Như
Lai khéo nói pháp vi diệu. Nay tôi thiệt muốn biết thành lớn,
biết đạo, tự mình làm người giữ cửa.
Kiều
Trần Như nói : Lành thay ! Lành thay ! Ông có thể phát tâm
vô thượng rộng lơn.
Phật
nói : Nầy Kiều Trần Như ! Ông Bà La Môn Hoằng Quảng nầy
chẳng phải mới phát tâm vô thượng. Thuở quá khứ cách
đây vô lượng kiếp có Phật ra đời hiệu là Phổ Quang Minh
đầy đủ mười hiệu, ông Hoằng Quảng nầy ở chỗ Đức
Phật đó đã phát tâm vô thượng Bồ Đề. Trong Hiền Kiếp
nầy Hoằng Quảng sẽ được thành Phật. Ông ấy từ đâu
đã thông đạt pháp tướng, vì chúng sanh mà hiện ở ngoại
đạo. Do đây nên Kiều Trần Như chẳng nên khen ông ấy là
hiện nay có thể phát tâm vô thượng.
Lúc
đó đức Thế Tôn đã biết mà hỏi Kiều Trần Như rằng
: “ A Nan Tỳ Kheo nay ở đâu ?”
Kiều
Trần Như thưa : “ Bạch Thế Tôn ! A Nan Tỳ Kheo ở ngoài
rừng Ta La, cách đại hội nầy mười hai do tuần, đương
bị sáu muôn bốn ngàn ức thiên ma nhiễu loạn. Chúng thiên
ma nầy đều tự biến thân làm hình Như Lai mà tuyên
nói những pháp khác nhau, hoặc lại thị hiện thần thông
biến hóa.
Bạch
Thế Tôn ! A Nan Tỳ Kheo nghe và thấy những việc nầy nghĩ
rằng những thần thông biến hóa từ trước chưa từng thấy.
Ai làm ra ? Hoặc giả Đức Thích Ca Thế Tôn hiện ra chăng
? A Nan muốn đứng dậy muốn nói, mà thân thể không theo ý
muốn. A Nan lọt vào trong rọ của ma, tự nghĩ rằng : Chư
Phật nói pháp riêng khác chẳng đồng, nay tôi nên lãnh thọ
lời của Đức Phật nào ?
Bạch
Thế Tôn ! Hiện nay A Nan rất khổ sở, dầu nghĩ nhớ Đức
Như Lai mà không ai cứu thoát, do đó nên chẳng đến trong
đại chúng nầy.
Lúc
đó Văn Thù Sư Lợi Đại Bồ Tát bạch Phật rằng : “ Thế
Tôn ! Trong đại chúng nầy có hàng Bồ Tát đã từ một đời
đến vô lượng đời phát tâm Bồ Đề, đã cúng dường vô
lượng chư Phật, tâm chí bền chắc tu hành đầy đủ sáu
môn Ba La Mật, trọn nên công đức lớn, từ lâu đã gần
gũi vô lượng chư Phật, phạm hạnh thanh tịnh, tâm Bồ
Đề chẳng thối chuyển, đặng nhẫn bất thối, trì bất
thối, được như pháp nhẫn, Thủ Lăng Nghiêm v.v… vô lượng
Tam Muội. Hàng Bồ Tát nầy nghe kinh Đại Thừa trọn chẳng
sanh nghi mà có thể khéo phân biệt, tuyên nói Tam Bảo đồng
một tánh tướng thường trụ bất biến. Nghe pháp bất tư
nghì chẳng kinh sợ, nghe các pháp không lòng chẳng rúng động,
thông đạt rành rẽ tất cả pháp tánh, thọ trì được tất
cả mười hai bộ kinh và hiểu rõ ý nghĩa, cũng có thể thọ
trì mười hai bộ kinh của vô lượng chư Phật.
Hàng
Bồ Tát nầy lo gì chẳng thọ trì được kinh Đại Niết
Bàn nầy, cớ gì Đức Như Lai lại hỏi Kiều Trần Như A Nan
ở đâu ?
Đức
Thế Tôn bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : Lóng nghe ! Lóng nghe
! Nầy Thiện Nam Tử ! Ngày trước ta thành Phật đã trải
qua ba mươi năm, lúc ở thành Vương Xá, ta có bảo các Tỳ
Kheo rằng nay trong đại chúng nầy ai có thể vì ta mà thọ
trì mười hai bộ kinh, và cung cấp hầu hạ cho ta, cũng khiến
nơi mình chẳng mất lợi lành. Lúc đó Kiều Trần Như
đến bạch với ta để lãnh. Ta bảo Kiều Trần Như đã già
yếu cần phải có người hầu hạ, sao lại muốn hầu
hạ ta. Lúc đó Xá Lợi Phất cũng đến lãnh, ta cũng bảo
Xá Lợi Phật như đã bảo Kiều Trần Như. Lần lượt đến
năm trăm vị A La Hán, ta đều chẳng nhận làm thị giả.
Lúc
đó Đại Mục Kiền Liên liền nhập chánh định quán sát
biết ý của Phật muốn A Nan làm thị giả liền xuất định
nói với Kiều Trần Như.
Lúc
đó Kiều Trần Như cùng năm trăm A La Hán đến nói với A
Nan rằng : “ Nầy A Nan ! Nay ông nên làm thị giả cho Đức
Như Lai, nên đến thưa với Đức Như Lai để nhận lấy việc
ấy.
A Nan
nói : “ Thưa chư Đại Đức ! Thiệt tôichẳng kham hầu hạ
Như Lai. Vì Đức Như Lai tôn trọng như Sư Tử Vương,
như rồng, như lửa, tôi thời yếu đuối nhơ nhớp đâu có
thể kham được.
Các
A La Hán khuyên bảo A Nan đến lần thứ ba, A Nan vẫn từ chối.
Đại
Mục Kiền Liên nói rằng : Nầy A Nan, nay ông chưa rõ
biết duyên cớ.
An
Nan thưa : Bạch Đại Đức xin nói cho.
Đại
Mục Kiền Liên nói : Vừa rồi, đức Như Lai cầu thị giả,
năm trăm A La Hán đều xin lãnh mà Đức Như Lai chẳng bằng
lòng. Tôi nhập định thấy ý của Như Lai muốn cho ông làm.
Sao ông trở lại chẳng chịu.
A Nan
nghe xong liền quỳ chắp tay thưa rằng : Bạch Chư Đại Đức
! Nếu có việc như vậy, Đức Thế Tôn cho tôi ba điều nguyện,
tôi sẽ tuân mạng lịnh chư Tăng mà làm thị giả :]
Một
là giả sử Đức Như Lai đem y cũ ban cho tôi, xin cho phép tôi
chẳng nhận. Hai là giả sử Đức Như Lai thọ biệt thỉnh
của đàn việt, xin cho phép tôi chẳngđi theo. Ba là xin cho
phép tôi ra vào không luận là giờ khắc nào.
Nếu
Đức Thế Tôn bằng lòng ba điều nguyện nầy, thời tôi xin
tuân mạng lịnh chư Tăng mà làm thị giả cho Như Lai.
Kiều
Trần Như cùng năm trăm A La Hán đem việc trên mà bạch lại
với Phật.
Đức
Phật Thế Tôn khen ngợi A Nan rằng : “ Lành thay ! Lành thay
! A Nan Tỳ Kheo có đủ trí huệ dự thấy mà tránh trước
sự cơ hiềm. Vì sẽ có người cho rằng vì y thực mà A Nan
hầu hạ Đức Như Lai, nên A Nan xin phép chẳng lãnh y cũ và
chẳng theo Phật thọ biệt thỉnh. Lại A Nan có đủ trí huệ,
biết rằng nếu ra vào có giờ thời không thể làm lợi ích
rộng cho bốn bộ chúng, nên A Nan xin phép ra vào không luận
giờ nào.
Ta
bằng lòng cho phép A Nan ba điều như A Nan đã xin.
Đại
Mục Kiền Liên trở lại bảo A Nan rằng : “ Chúng tôi đã
đem lời ông yêu cầu bạch lên Đức Như Lai. Đấng Đại
Từ đã bằng lòng.
A Nan
thưa : “ Bạch Đại Đức ! Nếu Như Lai đã bằng lòng , tôi
xin qua làm thị giả.
Phật
bảo Văn Thù Sư Lợi : “ Hơn hai mươi năm nay, A Nan hầu hạ
ta có đủ tám điều chẳng thể nghĩ bàn :
Một
là hơn hai mươi năm, A Nan không bao giờ theo ta thọ biệt thỉnh.
Hai là không bao giờ lãnh lấy y cũ của ta. Ba là không
bao giờ đến ta mà phi thời. Bốn là dầu còn đủ phiền
não nhưng khi theo ta vào cung vua, đến nhà sang giàu, thấy các
người nữ, thiên nữ, long nữ, A Nan không bao giờ có dục
tâm. Năm là mười hai bộ kinh của ta nói ra, nghe qua một lần
A Nan đều nhớ rõ chẳng cần hỏi lại, như nước trong bình
nầy rót qua bình kia, chỉ trừ một lần hỏi : Thuở Lưu Ly
Thái Tử giết hại họ Thích Ca, phá thành Ca Tỳ La, A Nan buồn
khổ khóc lóc đến bạch với ta rằng tôi cùng Như Lai đồng
sanh trưởng trong thành nầy, đồng một họ Thích, tại
sao dung nhan của Như Lai như thường, mà tôi thời tiều tụy.
Ta đáp A Nan rằng vì ta tu không định nên chẳng đồng như
ông.
Ba
năm sau, A Nan trở lại hỏi ta rằng : Bạch Thế Tôn ! Tôi
qua thành Ca Tỳ La kia từng nghe Đức Như Lai tu không Tam Muội,
việc đó là hư hay thật ? Ta bảo A Nan đúng như vậy. Sáu
là từ khi hầu hạ ta đến nay, dầu chưa được tha tâm trí,
mà A Nan thường biết những chánh định của Như Lai nhập.
Bảy là từ khi hầu ta đến nay, dầu chưa được nguyện trí,
mà A nan có thể biết rõ người nầy đến chỗ Như Lai hiện
tại có thể được bốn quả Sa Môn, người nầy ngày sau
sẽ được, người nầy sẽ được thân Trời hay thân người.
Tám là từ khi hầu ta đến nay, những lời bí mật của Như
Lai, A Nan đều biết được cả.
Nầy
Văn Thù Sư Lợi ! A Nan Tỳ Kheo có đủ tám điều bất tư
nghì như vậy nên ta gọi A Nan là đa văn tạng.
Nầy
Văn Thù Sư Lợi ! A Nan lại có đủ tám pháp nên có thể thọ
trì hoàn toàn mười hai bộ kinh : Một là tín căn kiên cố,
hai là tâm ý chất trực, ba là thân không bịnh, bốn là thường
tinh tấn, năm là có đủ niệm tâm, sáu là không kiêu mạn,
bảy là thành tựu định ý, tám là có đủ trí huệ do nghe
pháp mà sanh.
Nầy
Văn Thù Sư Lợi ! Thị giả của Phật Tỳ Bà Thi tên là A
Thúc Ca cũng có đủ tám pháp như vậy. Thị giả của Phật
Thi Khí tên là Sai Ma Ca La, thị giả của Phật Tỳ Xá Phù
tên là Ưu Ba Phiến Đà, thị giả của Phật Câu Lưu Tôn tên
là Bạt Đề, thị giả của Phật Câu Na Hàm Mâu Ni tên là
Tô Đàn. Thị giả của Phật Ca Diếp tên là Diệp Đà
Mật Đa, đều cũng có đủ tám pháp như vậy. Nay A Nan thị
giả của ta cũng có đủ tám pháp ấy, nên ta gọi A Nan là
đa văn tạng.
Nầy
Văn Thù Sư Lợi ! Trong đại chúng nầy dầu có vô lượng
vô biên Bồ Tát, nhưng các Bồ Tát nầy đều có trọng nhiệm
là đại từ đại bi, đều có công vụ gấp rút : Điều phục
quyến thuộc và trang nghiêm tự thân. Do đây nên sau khi ta
nhập Niết Bàn, những vị nầy không thể tuyên thông mười
hai bộ kinh. Nếu có Bồ Tát hoặc có lúc tuyên thuyết
mà người chẳng tin thọ.
Nầy
Văn Thù Sư Lợi ! A Nan Tỳ Kheo là em của ta, hầu hạ ta hơn
hai mươi năm, những pháp được nghe đều thọ trì đầy đủ
như nước rót vào một cái bình. Nên nay ta cố hỏi A Nan ở
đâu, muốn khiến A Nan thọ trì kinh Đại Niết Bàn nầy.
Nầy
Văn Thù Sư Lợi ! Sau khi ta nhập Niết Bàn, những pháp mà
A Nan được nghe, ông ấy tự có thể tuyên thông, những pháp
A nan chưa được nghe thời Hoằng Quảng Bồ Tát có thể lưu
bố.
Nầy
Văn Thù Sư Lợi ! Nay A Nan ở cách ngoài đại hội nầy mười
hai do tuần, đương bị sáu muôn bốn ngàn ức thiên ma não
loạn, ông nên qua đó nói lớn rằng : Tất cả loài ma nên
lóng nghe ! Nay Đức Như Lai nói Đại Đà La Ni, tất cả thiên
long bát bộ cùng chư vị thần kỳ đều cung kính thọ trì
Đà La Ni nầy. Mười hằng hà sa chư Phật cũng đồng tuyên
nói Đà La Ni nầy. Đà La Ni nầy có thể chuyển thân
nữ, tự biết túc mạng. Nếu thọ trì năm điều : Phạm hạnh,
đoạn nhục, đoạn tửu, đoạn tâm, thích ở vắng lặng,
rồi chí tâm, tín thọ, đọc tụng, biên chép Đà La Ni nầy,
người nầy sẽ được vượt khỏi bảy mươi bảy ức thân
tệ ác.
Liền
đó đức Thế Tôn nói thần chú :
_ A
Ma Lệ, Tỳ Ma Lệ, Niết Ma Lệ, Mông Già Lệ, Hê Ma La Nhã
Kiệt Bệ, Tam Mạn Na Bạt Đề Lệ, Ta Bà La Đà Ta Đàn Ni,
Ba La Ma Tha Ta Đàn Ni, Ma Na Tư, A Chuyết Đề, Tỳ La Kỳ, Am
Ma Lại, Đàn Bà Táp Ma, Tá Lệ Phú La Nê, Phú La Na, Ma Nô Lại
Đệ.
Lúc
đó Văn Thù Sư Lợi lãnh Đà La Ni nầy đến chỗ A Nan y theo
lời Phật to tiếng bảo chúng ma.
Ma
Vương nghe Đà La Ni nầy rồi liền phát tâm vô thượng Bồ
Đề, bỏ nghiệp ma và thả A Nan.
Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát cùng A Nan đồng đến chỗ Phật, A Nan
thấy Phật chí tâm kỉnh lễ.
Phật
bảo A Nan, ngoài rừng Ta La nầy có một Phạm Chí tên Tu Bạt
Đà La đã một trăm hai mươi tuổi, ông ấy dầu được ngũ
thông mà chưa bỏ kiêu mạn, được phi phi tưởng định cho
là nhứt thiết trí đã được Niết Bàn. Ông nên đến nói
với Tu Bạt Đà La rằng : Đức Như Lai ra đời như hoa Ưu
Đàm. Giưã đêm nay đức Như Lai sẽ nhập Niết Bàn. Nếu
có chỗ phải làm nên làm kịp thời, chớ để ngày sau sanh
lòng hối hận.
Ông
nói, Tu Bạt Đà La chắc sẽ tin thọ. Vì ông thuở quá khứ
đã từng năm trăm đời làm con trai của Tu Bạt Đà La. Lòng
yêu thương của ông ấy vẫn còn, nên có thể tin thọ lời
của ông.
A Nan
tuân lời Phật đến nói với Tu Bạt Đà La.
Tu
Bạt Đà La bảo rằng: Lành thay ! Thưa ngài A Nan ! Nay tôi sẽ
đến chỗ Như Lai.
A Nan
cùng Tu Bạt Đà La trở về ra mắt Phật.
Thăm
hỏi xong , Tu Bạt Đà La nói : Thưa Cù Đàm ! Nay tôi muốn
hỏi xin ngài đáp cho.
Phật
liền hứa khả.
Tu
Bạt Đà La nói : Thưa Cù Đàm ! Có các nhà Sa Môn, Bà La Môn
nói rằng tất cả chúng sanh thọ báo khổ vui đều theo nơi
nghiệp đã tạo ra ngày trước. Do đây nếu có người trì
giới tinh tấn, thân tâm chịu khổ thời phá hoại được
nghiệp đời trước. Nghiệp cũ đã hết thời quả khổ cũng
dứt hết, khổ đã dứt thời chứng được Niết Bàn. Nghĩa
trên đây là thế nào ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có Sa Môn hay Bà La Môn nói như vậy, ta
sẽ vì xót thương mà thường đến chỗ người ấy
để hỏi rằng : Quả thiệt ngài có nói như vậy chăng ? Nếu
họ đáp là có và họ bảo rằng vì họ thấy cbúng sanh làm
điều ác mà giàu sang tự tại, lại thấy người làm lành
mà nghèo hèn mất tự do, lại thấy có người ra công ra sức
nhiều mà không có của, thấy kẻ ở không tự nhiên có của,
có người từ tâm chẳng sát sanh mà chết yểu, có kẻ ưa
sát sanh lại sống lâu, có người tinh tấn trì giới phạm
hạnh thanh tịnh hoặc được giải thoát hoặc chẳng được,
do đây nên nói rằng tất cả chúng sanh thọ báo khổ vui đều
do nghiệp nhơn ngày trước.
Nầy
Tu Bạt Đà La ! Tasẽ hỏi họ các ngài có thiệt thấy nghiệp
quá khứ chăng ? nếu có, nghiệp ấy nhiều hay ít ? Khổ hạnh
hiện tại phá được nhiều ít ? Các ngài biết được nghiệp
nầy đã hết hay chẳng hết chăng? Nghiệp nầy đã hết là
hết tất cả chăng ? _ Nếu họ đáp là họ thiệt chẳng biết,
thời ta sẽ vì họ mà dẫn ví dụ : Như có người thân bị
tên độc, gia quyến rước y sĩ đến để nhổ mũi tên
độc, lấy độc xong người đó được lành mạnh. Sau đó
mười năm, người nầy còn nhớ rõ rằng : Y sĩ đó nhổ tên
độc cho tôi rồi dùng thuốc thoa đắp khiến tôi được lành
mạnh an vui.
Các
ngài đã chẳng biết nghiệp nhơn quá khứ làm sao biết được
khổ hạnh hiện tại quyết định phá được nghiệp quá khứ
?
Nếu
họ nói rằng : Nay Cù Đàm cũng có nghiệp quá khứ, cớ sao
lại riêng trách nghiệp quá khứ của chúng tôi ? Trong kinh
của Cù Đàm cũng nói rằng : Nếu thấy người giàu sang tự
tại, thời nên biết người nầy đời trước ưa bố thí.
Như vậy chẳng phải gọi là nghiệp quá khứ ư ?
Ta
bảo họ rằng : Nầy các ngài ! Biết như vậy gọi là tỉ
tri, chẳng gọi là chơn tri. Trong Phật pháp hoặc có do nhơn
mà biết quả, hoặc có do quả mà biết nhơn. Trong Phật pháp
có nghiệp quá khứ có nghiệp hiện tại. Các ngài thời chẳng
như vậy, chỉ có nghiệp quá khứ mà không biết nghiệp hiện
tại.
Phật
pháp của ta do nơi phương tiện mà dứt nghiệp, giáo pháp
của các ngài thời chẳng từ nơi phương tiện mà dứt nghiệp.
Giáo
pháp của các ngài cho rằng nghiệp đã hết thời khổ hết,
Phật pháp của ta thời phiền não đã hết nghiệp và khổ
cũng hết. Do đây nên ta trách nghiệp quá khứ của các ngài.
Nếu
họ nói rằng : Thưa Cù Đàm ! Chúng tôi thiệt chẳng biết,
đó là lời của thầy chúng tôi, không phải lỗi của chúng
tôi.
Ta
sẽ bảo họ rằng thầy của các ngài là ai ? Nếu họ đáp
là Phú Lan Na. Thời ta lại bảo họ rằng : Trước kia sao các
ngài chẳng thưa hỏi cho rõ ràng coi thầy của các ngài có
thiệt biết nghiệp quá khứ không ? Nếu Thầy của các ngài
bảo là chẳng biết, tại sao các ngài lại nhận lấy lời
ấy. Nếu thầy của các ngài bảo là biết thời nên hỏi
rằng : Hạ khổ làm nhơn duyên có thọ trung và thượng khổ
chăng ? Trung khổ làm nhơn duyên có thọ hạ và thượng khổ
chăng ? Thượng khổ làm nhơn duyên có thọ hạ và trung
khổ chăng ? Nếu đáp là không thời nên lại hỏi : Sao nhà
thầy nói báo khổ vui chỉ do nghiệp quá khứ mà chẳng phải
nghiệp hiện tại ?
Lại
nên hỏi : Khổ hiện tại, quá khứ có chăng ? Nếu quá khứ
có khổ thời nghiệp quá khứ đều đã dứt hết, nếu đã
đều dứt hết sao lại còn thọ lấy thân ngày nay ? Nếu quá
khứ không khổ chỉ có nơi hiện tại, tại sao lại nói chúng
sanh khổ vui đều do nghiệp quá khứ ?
Nầy
các ngài ! Nếu cho rằng khổ hạnh hiện tại có thể phá
hoại nghiệp quá khứ, lại lấy gì để phá khổ hạnh hiện
tại ? Nếu như chẳng phá thời khổ là thường, nếu
khổ là thường sao lại nói rằng được giải thoát khổ
? Nếu lại có hạnh nhiệp phá hoại khổ hạnh, thời quá
khứ đã hết tại sao có khổ ?
Nầy
các ngài ! Khổ hạnh như vậy có thể làm cho nghiệp vui thọ
lấy quả khổ chăng ? Có thể làm cho nghiệp khổ thọ
lấy quả vui chăng ? Có thể làm cho nghiệp không khổ không
vui chẳng thọ quả chăng ? Có thể làm cho báo hiện tại thành
báo đời kế chăng ? Có thể làm cho báo đời kế thành báo
hiện tại chăng ? Có thể làm cho hai báo nầy thành không quả
báo chăng ? Có thể làm cho định báo thành không quả báo
chăng ? Có thể làm cho không quả báo thành định báo chăng
?
Nếu
họ trả lời rằng không thể được, ta sẽ bảo rằng : Nầy
các ngài ! Nếu như không thể được, duyên cớ gì các ngài
lại thọ khổ hạnh nầy ?
Các
ngài nên biết rằng quyết định có nghiệp quá khứ và nhơn
duyên hiện tại. Do đây nên tôi nói nhơn nơi phiền não mà
sanh ra nghiệp, nhơn nơi nghiệp mà thọ quả báo.
Các
ngài nên biết rằng tất cả chúng sanh có nghiệp quá khứ
và có nhơn hiện tại. Dầu chúng sanh có nghiệp sống lâu
quá khứ, nhưng phải nhờ nhơn duyên ăn uống hiện tại. Nếu
nói chúng sanh thọ khổ thọ vui quyết định chỉ do nơi nghiệp
quá khứ thời không phải. Vì như có người trừ được kẻ
thù cho nhà vua, do đây mà được vua ban cho nhiều của báu,
do có nhiều tiền của mà hiện tại được sung sương. Người
nầy hiện tại làm nhơn sung sướng nên thọ báo sung sướng
hiện tại. Lại như có người giết chết Vương Tử, do đây
mà phải bị tru lục. Người nầy hiện tại tạo nhơn khổ
nên phải thọ báo khổ hiện tại.
Nầy
các ngài ! Tất cả chúng sanh hiện tại nhơn nơi tứ đại,
thời tiết, đất đai, nhơn dân mà thọ khổ thọ vui.
Do đây nên ta nói tất cả chúng sanh bất tất đều nhơn nơi
nghiệp đời trước mà thọ khổ, thọ vui.
Nầy
các ngài ! Nếu do nhơn duyên dứt nghiệp mà được giải thoát,
thời tất cả thánh nhơn chẳng được giải thoát. Vì bổn
nghiệp quá khứ của tất cả chúng sanh là vô thỉ vô chung.
Do đây nên ta nói lúc tu thánh đạo, thánh đạo nầy có thể
ngăn nghiệp vô thỉ vô chung.
Nầy
các ngài ! Nếu thọ khổ hạnh bèn đắc đạo đó, thời tất
cả loài súc sanh lẽ ra đều đắc đạo. Do đây nên phải
trước điều phục tâm mình mà chẳng điều phục thân. Vì
thế nên trong kinh ta nói chặt đốn rừng nầy chớ chặt đốn
cây, vì do nơi rừng sanh kinh sợ chẳng phải do nơi cây. Muốn
điều phục thân phải trước điều phục tâm. Tâm dụ như
rừng, thân dụ nơi cây.
Tu
Bạt Đà La thưa : Bạch Thế Tôn ! Tôi đã trước điều phục
tâm rồi.
Phật
nói : Nầy Thiện Nam Tử !Nay ông làm thế nào có thể trước
điều phục tâm ông ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Tôi trước suy nghĩ rằng : Dục ái là vô thường,
vô lạc, vô tịnh, quán sát sắc là thường, lạc, ngã, tịnh.
Suy nghĩ như vậy rồi kiết sử cõi dục dứt mà được sắc
xứ, nên gọi là trước điều phục tâm.
Kế
đó tôi quán sát sắc là vô thường : Như mụn nhọt ghẻ,
như thuốc độc như mũi tên, thấy vô sắc là thường tịch
tịnh trong sạch. Quán sát như vậy rồi kiết sử cõi sắc
dứt mà được vô sắc xứ. Do đây nên gọi là trước điều
phục tâm.
Kế
đó tôi lại quán sát tưởng là vô thường như nhọt
như ghẻ như độc như tên. Quan sát như vậy rồi được phi
tưởng phi phi tưởng xứ. Phi phi tưởng xứ nầy là nhứt
thiết trí vắng lặng thanh tịnh thường hằng bất biến không
sa đọa. Do đây nên tôi có thể điều phục lấy tâm mình.
Phật
nói : Nầy Thiện Nam Tử ! Như thế thời ông đâu có điều
phục được tâm ! Phi tưởng phi phi tưởng xứ định của
ông được vẫn còn gọi là tưởng, Niết Bàn là vô tưởng,
sao ông nói rằng chứng được Niết Bàn ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trước ông đã có thể nhàm trách thô tưởng,
nay sao ông lại tham trước nơi tế tưởng. Chẳng biết nhàm
trách phi tưởng phi phi tưởng xứ định, định nầy vẫn
gọi là tưởng như nhọt ghẻ như độc như tên.
Nầy
Thiện Nam tử ! Thầy của ông là Uất Đầu Lam Phất
thông minh lanh lợi còn không thể dứt được phi tưởng phi
phi tưởng xứ nầy mà phải thọ lấy thân ác đạo, huống
là những kẻ khác.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào có thể dứt được tất cả các cõi ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Người quán thiệt tướng có thể dứt tất
cả các cõi.
Bạch
Thế Tôn ! Thế nào gọi là thiệt tướng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Tướng vô tướng gọi là thiệt tướng.
_ Bạch
Thế Tôn ! Thế nào gọi là tướng vô tướng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Tất cả pháp không tự tướng, không tha tướng
và không tự tha tướng, không tướng vô nhơn, không tướng
tác, không tướng thọ gỉa, không tướng pháp, tướng phi
pháp, không tướng nam nữ, không tướng sĩ phu, không tướng
vi trần, không tướng thời tiết, không tướng làm ra mình,
không tướng làm ra người, không tướng làm ra mình ra người,
không tướng có tướng không, không tướng sanh, tướng sanh
giả, không tướng nhơn, tướng nhơn nhơn, không tướng quả,
tướng quả quả, không tướng ngày đêm, không tướng sáng
tối, không tướng kiến tướng, kiến giả, không tướng văn
tướng văn giả, không tướng giác tri, tướng giác tri giả,
không tướng Bồ Đề, không tướng Đắc Bồ Đề giả
không tướng nghiệp, tướng nghiệp chủ, không tướng phiền
não, tướng phiền não chủ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Những tướng như vậy tùy theo chỗ nó diệt
thời gọi là tướng chơn thiệt. Tất cả pháp đều là hư
giả, tùy theo chỗ nó diệt thời gọi là thiệt. Đây gọi
là thiệt tướng, là pháp giới, là tất cánh trí, là đệ
nhứt nghĩa đế, là đệ nhứt nghĩa không.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nơi thiệt tướng nầy, người hạ trí quán
đó thời được Thanh Văn Bồ Đề, người trung trí quán đó
thời được Duyên Giác Bồ Đề, người thượng trí quán
đó thời được vô thượng Bồ Đề.
Lúc
Phật nói pháp nầy, có mười ngàn Bồ Tát chứng được nhứt
sanh thật tướng, có mười lăm ngàn Bồ Tát chứng được
nhị sanh pháp giới, có hai mươi lăm ngàn Bồ Tát được tất
cánh trí, có ba mươi lăm ngàn Bồ Tát ngộ đệ nhứt nghĩa
đế. Đệ nhứt nghĩa đế nầy cũng gọi là đệ nhứt nghĩa
không, cũng gọi là Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội. Lại có bốn
mươi lăm ngàn Bồ Tát được hư không Tam Muội, hư không
Tam Muội nầy cũng gọi là Quảng Đại Tam Muội, cũng gọi
là Trí Ấn Tam Muội. Năm mươi lăm ngàn Bồ Tát được bất
thối nhẫn, bất thối nhẫn nầy cũng gọi là như pháp nhẫn,
cũng gọi là như pháp giới. Có sáu mươi lăm ngàn Bồ Tát
được Đà La Ni, Đà La Ni nầy cũng gọi là Đại Niệm Tâm,
cũng gọi là vô ngại trí. Có bảy mươi lăm ngàn Bồ
Tát được Sư Tử Hống Tam Muội, Tam Muội nầy cũng gọi
là Kim Cang Tam Muội, cũng gọi là Ngũ Trí Ấn Tam Muội.
Có tám mươi lăm ngàn Bồ Tát được bình đẳng Tam Muội,
Tam Muội nầy cũng gọi là Đại Từ Đại Bi. Có vô lượng
hằng hà sa chúng sanh phát tâm vô thượng Bồ Đề, vô lượng
hằng hà sa chúng sanh phát tâm Duyên Giác, vô lượng hằng
hà sa chúng sanh phát tâm Thanh Văn. Có hai muôn ức nhơn nữ
và thiên nữ hiện đời chuyển thân nữ được thân nam.
Lúc
đó Tu Bạt Đà La nghe đức Phật nói pháp thậm thâm vi diệu,
được pháp nhãn thanh tịnh bỏ tà kiến xin xuất gia.
Phật
nói : “ Lành thay ! Lành thay ! Thiện Lai Tỳ Kheo !”
Tu
Bạt Đà La vui mừng hớn hở, râu tóc tự rụng thành tướng
Sa Môn, dứt hết phiền não đặng quả A La Hán.
Được
chứng quả rồi, Tu Bạt Đà La chiêm ngưỡng tôn nhan, đầu
mặt đãnh lễ chơn Phật, quỳ chắp tay tự trách tội lỗi
ngày trước của mình mà bạch Phật rằng : “Bạch Thế Tôn
! Tôi rất hờn thân độc nầy nhiều kiếp đến nay luôn khi
dối, làm cho tôi chìm mãi trong vô minh tà kiến trôi đắm
theo giáo pháp của ngoại đạo. Rất đau đớn thay ! Thân
nầy làm hại quá nhiều. May mắn thay ! Nay nhờ ơn Như Lai
mà được vào chánh pháp.
Trí
huệ của Đức Thế Tôn như biển cả, lòng từ bi của đức
Thế Tôn vô lượng. Tôi tự suy xét dầu nhiều kiếp nát thân
cũng chưa báo được ơn đức nầy.
Tu
Bạt Đà La buồn khóc rơi lệ không thể tự ngăn được,
lại bạch Phật rằng : “ Bạch Thế Tôn ! Tôi tuổi đã già
suy, không còn sống bao lâu, bị hành khổ bức não. Xin đức
Thế Tôn nán lại để dạy dỗ chớ nhập Niết Bàn.
Đức
Thế Tôn nín lặng chẳng hứa.
Thỉnh
Phật chẳng được, Tu Bạt Đà La sầu khổ kêu to lên rằng
: “ Khổ thay ! Khổ thay !Thế gian trống rỗng ! Thế gian trống
rỗng ! Nay cớ gì sự kinh sợ lớn liền đến, khắp nơi phải
khổ não.
Than
ôi ! Chúng sanh phước đã hết ; huệ nhãn đã dứt.
Than
xong, ông càng khóc lóc nghẹn ngào, cả mình ửng máu, té xuống
trước Phật hôn mê ngất xỉu.
Giây
lâu tỉnh lại, ông nghẹn ngào rơi lệ mà bạch Phật rằng
: “ Bạch Thế Tôn ! Nay tôi không nỡ thấy đức Như Lai nhập
Niết Bàn xin Đức Thế Tôn cho phép tôi diệt thân nầy
trước, rồi sau Đức Thế Tôn sẽ nhập Niết Bàn.
Bạch
xong, Tu Bạt Đà La liền ở trước Phật mà nhập Niết Bàn.
Lúc
đó có vô số hằng hà sa Bồ Tát, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni,
Thiên, Nhơn, A Tu La v.v… đồng kêu to lên rằng : “ Khổ thay
! Khổ thay ! Cớ sao đấng chánh giác lại sớm bỏ lìa khiến
chúng tôi không có chủ, không chỗ về, không nơi nương, không
chỗ đến.
Đại
chúng buồn than khóc lóc đấm ngực té xỉu. Tiếng kêu khóc
khắp cõi Đại Thiên. Lúc đó Đức Thế Tôn bảo khắp đại
chúng : Chớ quá khóc lóc như trẻ nít. Đại chúng phải cố
dằn chớ để tâm mê loạn !
Đại
chúng ở trong biển lớn sanh tử phải siêng năng tu hành cho
tâm được thanh tịnh, chớ để mất chánh niệm chánh huệ,
phải gấp cầu chánh trí mau thoát khỏi các cõi. Nếu thọ
thân trong ba cõi thời bị khổ luân hồi không ngằn mé, vô
minh là ông chủ, ân ái là ma vương, sai khiến thân tâm như
tôi tớ, duyên theo trần cảnh tạo nghiệp sanh tử, tham sân
si niệm niệm làm hại, từ vô lượng kiếp đến nay thường
thọ lấy sự khổ não. Đâu có người trí mà chẳng đi ngược
lại nguồn sanh tử nầy !
Đại
chúng nên biết rằng từ nhiều kiếp đến nay ta đã nhập
Đại Niết Bàn, không còn có ấm giới nhập, mà đã dứt
hẳn các cõi, thường ở trong bảo tạng Kim Cang thường, lạc,
ngã, tịnh. Hôm nay ta ở nơi đây thị hiện sức phương tiện
bất tư nghì mà nhập Đại Niết Bàn đồng với pháp
thế gian. Đó là ta muốn cho chúng sanh rõ biết thân như
chớp nháng, dòng sanh tử chảy quá mau, những hành pháp luân
chuyển vô thường lẽ phải như vậy.
Như
Lai nhập Đại Niết Bàn là rất sâu rất sâu chẳng thể nghĩ
bàn, là cảnh giới của chư Phật Bồ Tát, chẳng phải hàng
Thanh Văn Duyên Giác biết được.
Đức
Phật lại bảo đại chúng : Tu Bạt Đà La đây đã từng cúng
dường hằng hà sa chư Phật, đã trồng sâu căn lành,
do sức đại nguyện, ông ấy thường xuất gia trong phái ngoại
đạo Ni Kiền Tử, dùng phương tiện huệ để dắt dẫn chúng
sanh tà kiến cho họ được vào chánh trí. Tu Bạt Đà La nương
nơi bổn nguyện lực, hôm nay được gặp ta sắp nhập Niết
Bàn, được nghe chánh pháp, được quả A La Hán. Đã được
quả rồi lại nhập Niết Bàn.
Từ
khi ta thành Phật độ A Nhã Kiều Trần Như , đến sắp nhập
Niết Bàn độ Tu Bạt Đà La, công việc của ta đã trọn vẹn,
dầu ta có mãi ở lại cũng không có gì khác với ngày nay.
Nói
xong Đức Thế Tôn lại xướng rằng : Lành thay ! Lành thay
! Tu Bạt Đà La vì báo ân Phật mà nhập Niết Bàn. Đại chúng
phải nên cúng dường thi hài của ông ấy và xây lập tháp
miếu.
Lúc
đó đại chúng buồn khổ thảm thiết, gạt lệ dằn lấy
lòng, y theo lời Phật dạy, dùng gỗ thơm trà tỳ thi hài của
Tu Bạt Đà La.
Đương
lúc thiêu, thi hài của Tu Bạt Đà La ở trong lửa phóng ánh
sáng lớn, hiện đủ mười tám sự biến hóa : Trên thân ra
nước, dưới thân ra lửa, hông mặt ra lửa, hông trái ra nước,
hiện thân lớn khắp trong hư không rồi lại hiện nhỏ v.v…
Lúc
đó trong đại chúng có vô lượng ngoại đạo tà kiến được
chánh kiến phát tâm Bồ Đề.
Sau
khi hiện thần thông, thi hài của Tu Bạt Đà La trở vào trong
lửa.
Trà
Tỳ xong , đại chúng thâu lấy xá lợi, dựng tháp cúng dường.
