XXV
PHẨM
KIỀU TRẦN NHƯ THỨ HAI MƯƠI LĂM
Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn bảo Kiều Trần Như : “ Sắc là
vô thường, do dứt sắc nầy được sắc thân thường trụ
giải thoát. Thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường,
do dứt thức ấm nầy mà được thức uẩn giải thoát thường
trụ.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc là khổ, dứt sắc ấm nầy mà được
sắc thân an lạc giải thoát. Thọ, tưởng, hành và thức cũng
như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc là không, do dứt sắc không nầy mà
được sắc uẩn giải thoát phi không. Thọ, tưởng, hành và
thức cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc là vô ngã, do dứt sắc ấm nầy mà
được sắc uẩn giải thoát chơn ngã. Thọ, tưởng, hành và
thức cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc ấm là bất tịnh, do dứt sắc ấm nầy
mà được sắc uẩn giải thoáthanh tịnh. Thọ, tưởng, hành
và thức cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc là tướng của sanh, lão , bịnh, tử,
do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chẳng
phải tướng sanh, lão, bịnh, tử. Thọ, tưởng, hành và thức
cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc là nhơn của vô minh do dứt sắc ấm
nầy mà được sắc uẩn giải thoát chẳng phải nhơn của
vô minh. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Nhẫn đến sắc ấm là nhơn của sanh, do
dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chẳng phải
nhơn của sanh. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc ấm là nhơn của bốn tưởng điên đảo,
do dứt sắc ấm điên đảo nầy mà được sắc uẩn giải
thoát chẳng phải nhơn của bốn tưởng điên đảo. Thọ,
tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc ấm là nhơn của vô lượng ác pháp
: Nào là thân nam , thân nữ v.v…, nào là thực ái, dục ái,
tham sân, tật đố, ác tâm, xan tâm, đoàn thực, xúc thực,
tư thực, thức thực, noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh,
ngũ dục, ngũ cái v.v… : Tất cả ác pháp nầy đều nhơn
nơi sắc cả. Do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải
thoát không có vô lượng ác pháp như vậy. Thọ, tưởng, hành
và thức cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc là trói buộc, do dứt sắc nầy mà được
sắc giải thoát không trói buộc. Thọ, tưởng, hành và thức
cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc là lưu chuyển, do dứt sắc nầy mà
được sắc giải thoát không lưu chuyển. Thọ, tưởng,
hành, thức cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc chẳng phải chỗ quy y, do dứt sắc nầy
mà được sắc giải thoát quy y. Thọ, tưởng, hành, thức
cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc là ghẻ lở, do dứt sắc nầy mà được
sắc giải thoát không tội lỗi. Thọ, tưởng, hành, thức
cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Sắc chẳng tịch tịnh, do dứt sắc nầy
được sắc Niết Bàn tịch tịnh. Thọ, tưởng, hành và thức
cũng như vậy.
Nầy
Kiều Trần Như ! Người nào rõ biết được như trên đây
thời gọi là Sa Môn là Bà La Môn có đủ những pháp
Sa Môn, pháp Bà La Môn.
Nếu
ngoài Phật pháp thời không có Sa Môn, Bà La Môn, cũng không
có pháp Sa Môn, pháp Bà La Môn. Tất cả ngoại đạo dối
trá tự xưng, toàn hư giả không có thiệt hạh. Dầu họ tưởng
rằng họ có hai bực nầy, nhưng thật ra thời không có. Vì
nếu đã không có pháp Sa Môn và Bà La Môn, làm sao có được
hai bực Sa Môn và Bà La Môn.
Ta
thường ở giữa đại chúng xướng to những lời nầy. Các
ông cũng nên xướng to như vậy.
Bấy
giờ có số đông ngoại đạo sanh lòng bất bình rằng : Cù
Đàm nói trong giáo phái của chúng ta không có Sa Môn và Bà
La Môn, cũng không có pháp Sa Môn, pháp Bà La Môn. Chúng ta làm
thế nào tỏ cho Cù Đàm biết rằng trong giáo phái của chúng
ta có hai bực và hai pháp như vậy.
Có
một Phạm Chí lên tiếng nói : “ Nầy các ngài ! Lời nói
của Cù Đàm như điên như cuồng, cần gì kiểm giảo ! Người
điên cuồng trong đời hoặc ca, hoặc múa, hoặc khóc, hoặc
cười, hoặc mắng , hoặc khen, không phân biệt kẻ thân người
thù. Sa Môn Cù Đàm cũng như vậy : Có lúc nói ta sanh trong
cung vua Tịnh Phạn, có lúc nói là chẳng sanh. Hoặc nói sau
khi sanh tự đi bảy bước, lại nói là chẳng đi. Hoặc nói
ta từ thuở nhỏ học tập văn vỏ, nghề nghiệp thế
gian, rồi lại tự nói là bực nhứt thiết trí. Có lúc ở
cung hưởng lạc thú sanh con trai, rồi lại nhàm chê là ác
tiện. Có lúc đích thân tu khổ hạnh sáu năm, lại quở trách
sự khổ hạnh của ngoại đạo. Hoặc nói theo học với ông
Uất Đầu Lam Phất, ông A La Lã v.v…, có lúc nói các ông
ấy không chỗ hiểu biết. Hoặc nói nơi cội Bồ Đề ta chứng
được đạo vô thượng giác, có lúc lại nói ta không có
đến cây Bồ Đề, không có chứng đắc. Hoặc nói thân ta
đây chính là Niết Bàn, lại nói thân diệt mới là Niết
Bàn.
Lời
nói của Cù Đàm như điên cuồng, các ngài lo rầu làm gì
?
Có
các Bà La Môn nói : “ Trước kia Sa Môn Cù Đàm nói vô thường,
khổ, không, vô ngã, bất tịnh. Hàng đệ tử trong giáo phái
ta nghe lời nầy mà kinh sợ. Nay Cù Đàm đến rừng Ta La nầy
tuyên bố có thường, lạc, ngã, tịnh. Hàng đệ tử ta nghe
lời nầy đều bỏ phái ta, hoặc thọ lấy lời của Cù Đàm.
Như thế bảo ta không sầu khổ sao được !
Lại
có một Bà La Môn bảo rằng các ngài lóng nghe tôi nói đây
: Sa Môn Cù Đàm gọi rằng tu từ bi, xét ra thời lời nói
nầy là hư vọng, chẳng phải chơn thật. Vì nếu có từ bi
sao ông ấy lại giáo hóa hàng đệ tử của chúng ta thọ lấy
pháp của ông ấy. Lòng từ bi là tùy thuận theo ý của người,
nay ông ấy làm trái bổn nguyện của chúng ta thời đâu phải
là từ bi.
Nếu
nói rằng Sa Môn Cù Đàm chẳng bị tám pháp thế gian làm ô
nhiễm, lời nầy cũng là hư vọng : Vì nếu Cù Đàm là thiểu
dục tri túc, hôm nay sao lại cướp lấy lợi dưỡng của chúng
ta.
Nếu
nói Cù Đàm thuộc về dòng họ cao thượng, lời nầy cũng
hư vọng. Vì từ xưa đến nay chưa từng nghe thấy Sư Tử
Vương tàn hại con chuột bé nhỏ. Nếu Cù Đàm là dòng cao
thượng ngày nay sao lại não loạn chúng ta.
Nếu
cho rằng Cù Đàm có thế lực lớn, lời nầy cũng là hư vọng.
Vì từ xưa đến nay cũng chẳng từng thấy nghe Kim Súy Điểu
Vương đua tranh cùng các chim. Nếu Cù Đàm thật có thế lực
lớn, việc gì lại tranh đấu với chúng ta.
Nếu
cho rằng Cù Đàm có tha tâm trí, xét ra cũng là hư vọng. Vì
nếu có tha tâm trí cớ sao Cù Đàm chẳng rõ biết tâm niệm
của chúng ta.
Nầy
các ngài ! Xưa kia tôi từng nghe bực tôn túc nói rằng sau
đây một trăm năm thế gian sẽ có một yêu huyễn ra đời.
Yêu huyễn nầy chính là ông Cù Đàm. Ông ấy sắp sẽ diệt
mất tại trong rừng Ta La nầy, các ngài chẳng nên sầu não.
Có
một Ni Kiền Tử nói rằng : “ Nay tôi sầu khổ chẳng phải
vì đệ tử và sự cúng dường của riêng mình, chỉ vì người
đời ngu tối không có con mắt, chẳng thấy biết phước điền
cùng chẳng phải phước điền, bỏ bực Bà La Môn niên
cao nhiều trí mà cúng dường người tuổi trẻ, do đây nên
tôi lo rầu mà thôi.
Sa
Môn Cù Đàm biết chú thuật, do sức chú thuật mà ông ấy
có thể biến một thân thành vô lượng thân, biến vô lượng
thân huờn lại một thân, hoặc biến thân làm hình nam, nữ,
bò, dê, voi, ngựa. Sức của tôi có thể trừ việc chú thuật
như vậy. Chú thuật của Cù Đàm đã mất, các ngài sẽ được
an vui thọ hưởng nhiều sự cúng dường”.
Lại
có một Bà La Môn nói rằng : Nầy các ngài, Sa Môn Cù Đàm
thành tựu đầy đủ vô lượng công đức, các ngài chẳng
nên tranh đua.
Chúng
ngoại đạo phản đối lại : Người ngu si kia ! Sao ông lại
nói Sa Môn Cù Đàm có công đức lớn ? Lúc Cù Đàm sanh ra
bảy ngày thời mẹ của ông ấy chết, như thế có thể được
gọi là tướng phước đức chăng ?
Bà
La Môn đáp rằng : Bị mắng chẳng giận, bị đánh chẳng
đánh lại, đây là tướng đại phước đức. Thân của Cù
Đàm có đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp,
lại có vô lượng thần thông, đây là tướng đại phước
đức. Không kiêu mạn thưa hỏi trước, lời nói dịu dàng
không cộc cằn, lúc trai tráng chí ý hưng hạnh mà tâm chẳng
nóng nảy, nước lớn của nhiều mà không tham luyến, bỏ
cung điện đi xuất gia như nhổ bỏ nước miếng. Do những
điều trên đây nên tôi nói rằng Sa Môn Cù Đàm thành tựu
đầy đủ vô lượng công đức.
Chúng
ngoại đạo nói : “ Sa Môn Cù Đàm thiệt có vô lượng thần
thông biến hoá như lời ông nói, chúng tôi chẳng thử thách
thần thông với Cù Đàm.
Cù
Đàm bản tánh nhu nhuyến, chẳng kham khổ hạnh, sanh trưởng
chốn thâm cung chẳng rõ thấu được việc ngoài. Chỉ được
lời nói dịu dàng mà chẳng biết nghề nghiệp văn hóa luận
nghị. Chúng tôi xin tranh biện pháp yếu với Cù Đàm. Nếu
ông Cù Đàm hơn, chúng tôi sẽ theo hầu Cù Đàm. Nếu chúng
tôi hơn Cù Đàm thời Cù Đàm phải phụng sự chúng tôi.”
Lúc
đó một số đông ngoại đạo họp nhau đến ra mắt vua A
Xà Thế.
Vua
hỏi các ngài mỗi phái riêng tu tập theo đạo của mình, đều
là người xuất gia rời bỏ danh lợi, nhơn dân trong nước
của ta đều kính trọng cúng dường, nay duyên cớ gì họp
nhau đến đây ?
Các
ngài đều có pháp tu tập khác nhau, giới cấm khác nhau, mỗi
người tự theo giáo phái của mình mà xuất gia tu hành, nay
duyên cớ gì lại họp nhau một lòng như những lá rụng bị
gió trốt thổi gom lại một chỗ.
Ta
thường ủng hộ người xuất gia nhẫn đến chẳng tiếc thân
mạng. Nay duyên cớ gì mà các ngài họp nhau đến đây ?
Chúng
ngoại đạo đồng thưa : Tâu Đại Vương ! Nay Đại Vương
là cây cầu đại pháp, có tiếng tăm lớn, có công đức lớn,
là căn bổn của các nước, là tấm gương sáng của tất
cả nước, là hình tượng của chư thiên, là cha mẹ của
nhơn dân. Nhà vua coi việc nước chẳng riêng rẻ người thân
kẻ thù, lòng vua bình đẳntg như đất nước lửa gió, do
đây nhà vua đáng gọi là công đức tạng.
Tâu
Đại Vương ! Dầu chúng sanh hiện tại tuổi đời ngắn ngủi,
nhưng công đức của nhà vua như các vua thời kỳ trường
thọ an lạc thuở xưa : Như các vua Đảnh Sanh, Thiện Kiến,
Nhẫn Nhục, Na Hầu Sa, Da Da Đế, Thi Tỳ, Nhứt Xoa Câu v.v…
Nhờ nhà vua mà trong nước an vui, nhơn dân giàu mạnh. Do đây
nên tất cả người xuất gia đều mến nước Ma Dà Đà nầy.
Tâu
Đại Vương ! Trong kinh của chúng tôi có nói : Nếu người
xuất gia ở nơi nước nào mà tinh tấn trì giới tu hành, thời
vua nước ấy cũng có phần tu công đức lành.
Tâu
Đại Vương ! Tất cả trộm cướp nhà vua đã dẹp xong, nên
người xuất gia không còn sợ sệt. Hiện nay chỉ còn có một
người đại ác là Sa Môn Cù Đàm nhà vua chưa xét đến, chúng
tôi rất lo sợ. Cù Đàm tự thị dòng họ cao quý, thân hìng
đẹp mạnh, lại do phước bố thí đời trươc mà được
cúng dường nhiều. Cù Đàm cậy những việc nầy mà quá kiêu
mạn, hoặc cậy chú thuật giỏi mà ngạo nghễ. Cù Đàm không
thể tu khổ hạnh lãnh và chứa những y phục nệm chăn mịn
nhuyễn, nên những người ác trong đời vì tham lợi dưỡng
mà theo làm quyến thuộc. Do sức chú thuật, Cù Đàm điều
phục Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên v.v…
Nay
đến chỗ ở của chúng tôi, nơi rừng Ta La, tuyên bố rằng
thân nầy là thường, lạc, ngã, tịnh để khuyến dụ hàng
đệ tử của chúng tôi.
Tâu
Đại Vương ! Ngày trước Cù Đàm nói thân người là không
thường, lạc, ngã, tịnh chúng tôi còn có thể nhẫn được.
Nay Cù Đàm tuyên bố thân nầy là thường, lạc, ngã, tịnh
chúng tôi thiệt chẳng chịu đựơc.
Xin
Đại Vương cho phép chúng tôi luận nghị với Cù Đàm.
Vua
A Xà Thế nói : Hôm nay các ngài do ai bày vẽ mà tâm trí cuồng
loạn chẳng định như vậy ? Khác nào nước nổi sóng,
vòng lửa xoay, khỉ vượn leo cây , thật đáng hổ thẹn.
Người
trí nghe được việc nầy tất sẽ xót thương cho các ngài.
Kẻ ngu nghe biết thời tất chê cười các ngài. Lời nói của
các ngài chẳng phải là lời của người xuất gia. Các ngài
nếu mang phải bịnh tật, ta đều có thuốc trị lành được.
Nếu như mắc bịng ma quỉ, thời anh ta là Kỳ Bà có thể
trị được.
Nay
các ngài muốn lấy móng tay mà chẻ núi Tu Di, muốn dùng răng
để cắn nghiền chất Kim Cang, khác nào người ngu thấy Sư
Tử Vương lúc đói nằm ngủ mà muốn chọc cho thức dậy,
như người lấy ngón tay muốn để trong miệng rắn độc,
như muốn lấy tay đậy ngọn lửa, như con chồn rừng muốn
kêu rống như sư tử, như con muỗi muốn bay đua với
Kim Súy Điểu, như con thỏ lội qua biển muốn chưn đụng
đến đáy. Nay các ngài cũng như vậy. Các ngài như chiêm bao
thấy hơn Sa Môn Cù Đàm, đây là mơ mộng điên cuồng, chẳng
nên tin tưởng.
Nay
các ngài có quan niệm muốn tranh biện với Sa Môn Cù Đàm,
khác nào con phi nga tự đáp vào đống lửa lớn. Các ngài
phải theo lời của ta chẳng cần nói nữa.
Các
ngài dầu tán thán ta là bình đẳng như cán cân, nhưng chớ
để cho người ngoài nghe được lời nầy.
Các
ngoại đạo lại thưa : Tâu Đại Vương ! Sa Môn Cù Đàm có
lẽ dùng chú thuật đến bên nhà vua, nên làm cho lòng vua nghi
mà chẳng tin các vị thánh nhơn nầy. Nhà vua chẳng nên khinh
miệt chúng tôi.
Tâu
Đại Vương ! Mặt trăng tròn khuyết, nước biển mặn v.v…,
những việc như thế ai làm ra ? Há chẳng phải hàng Bà La
Môn chúng tôi ư !
Nhà
vua chẳng nghe nước sông Hằng dừng ở trong lỗ tai của A
Kiệt Đa Tiên trọn mười hai năm ư ? Nhà vua chẳng nghe Cù
Đàm Tiên nhơn cả hiện thần thông mười hai năm biến làm
Đế Thích, rồi biến thân Đế Thích làm thân dê đực, biến
ngàn nữ căn ở thân Đế Thích ? Nhà vua chẳng nghe Kỳ Nâu
Tiên trong một ngày uống hết nước bốn biển làm cho quả
đất khô ?
Nhà
vua chẳng nghe bà Tẩu Tiên làm ba con mắt cho Tự Tại Thiên
ư ? Nhà vua chẳng nghe La Lã Tiên biến thành Ca La Phú làm nước
mọi ư ?
Tâu
Đại Vương ! Trong phái Bà La Môn có những Tiên nhơn thần
thông như vậy, sao nhà Vua lại khinh miệt ư ?
Vua
nói : “ Các ngài nếu chẳng tin theo lời của ta, đức
Như Lai chánh giác hiện ở trong rừng Ta La, các ngài có thể
qua đó tùy ý vấn nạn, Đức Như Lai cũng sẽ giải thích
vừa ý các ngài.”
Liền
đó vua A Xà Thế cùng chúng ngoại đạo đến chỗ Phật. Vua
đầu mặt làm lễ đi nhiễu ba vòng ngồi qua một bên bạch
Phật rằng : “ Thế Tôn ! Các nhà ngoại đạo nầy muốn
được tùy ý vấn nạn, xin đức Như Lai tùy ý đáp đó.”
Phật
nói : “ Nầy Đại Vương ! Như Lai tự biết phải lúc.”
Trong
chúng ngoại đạo có Bà La Môn Xà Đề Thủ Na lên tiếng
hỏi :” Nầy Cù Đàm ngài nói Niết Bàn là pháp thường trụ
phải chăng ?”
_ Nầy
Đại Bà La Môn ! Đúng như vậy.
_ Nếu
Cù Đàm nói Niết Bàn là thường trụ thời không đúng nghĩa.
Vì như những sự vật trong đời, từ hột sanh ra trái nối
luôn chẳng dứt, như từ đất sét làm ra cái bình, từ những
sợi chỉ mà có cái áo. Cù Đàm thường nói rằng tu quán
tưởng vô thường chứng được Niết Bàn. Nhơn là vô thường
sao quả lại thường trụ ?
Cù
Đàm lại nói giải thoát dục tham chính là Niết Bàn, giải
thoát sắc tham và vô sắc tham chính là Niết Bàn. Dứt vô
minh v.v… tất cả phiền não thời là Niết Bàn. Từ dục,
sắc, nhẫn đến vô minh phiền não đều là vô thường. Nhơn
đã vô thường thời quả Niết Bàn cũng phải vô thường.
Cù
Đàm lại nói từ nghiệp nhơn nên sanh cõi Trời, do nghiệp
nhơn nên sanh địa ngục, do nghiệp nhơn mà được giải thoát,
nên các pháp đều do nơi nhơn mà sanh. Nếu đã từ nơi nhơn
sanh mà được giải thoát, sao lại nói Niết Bàn là thường
?
Cù
Đàm cũng nói rằng sắc theo duyên mà sanh nên gọi là vô thường,
thọ tưởng hành thức cũng như vậy. Giải thoát như vậy,
nếu là sắc thời là vô thường, nếu là thọ tưởng hành
thức cũng là vô thường. Nếu ngoài năm ấm mà có giải
thoát, thời giải thoát nầy chính là hư không. Nếu đã là
hư không thời chẳng được nói rằng do nhơn duyên sanh, vì
hư không là thường là duy nhứt, là khắp tất cả.
Cù
Đàm cũng nói rằng : Phàm do nhơn duyên sanh ra thời là khổ,
nếu đã là khổ sao lại nói giải thoát là lạc.
Cù
Đàm lại nói : Vô thường là khổ, khổ là vô ngã. Nếu đã
là vô thường, là khổ, là vô ngã thời là bất tịnh. Tất
cả những pháp do nhơn duyên sanh ra, đều là vô thường, khổ,
vô ngã, bất tịnh, sao lại nói Niết Bàn là thường , lạc,
ngã tịnh ?
Nếu
Cù Đàm nói rằng cũng là thường cũng vô thườntg, cũng khổ
cũng vui, cũng là ngã cũng là vô ngã, cũng tịnh cũng bất
tịnh, như thế há chẳng phải là hai lời ư ?
Tôi
cũng từng nghe bực tôn túc nói nếu Phật ra đời thời lời
nói không hai. Nay Cù Đàm nói hai lời, lại xưng rằng Phật
chính là thân ta đây. Xin giải thích những điều tôi đã
hỏi .
Phật
nói : Nầy bà La Môn ! Cứ theo lời của ông, nay tôi hỏi ông
tùy ý ông đáp.
Nầy
Bà La Môn ! Tánh của ông là thường hay là vô thường ?
_ Tánh
của tôi là thường.
Nầy
Bà La Môn ! Tánh ấy có thể làm nhơn cho tất cả pháp trong
và ngoài chăng ?
_
Chính thế, thưa Cù Đàm.
_ Nầy
Bà La Môn ! Tánh ấy làm nhơn như thế nào ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Từ tánh sanh ra đại, từ đại sanh mạn, từ mạn
sanh mười sáu pháp : Năm đại là địa, thủy, hỏa, phong,
không, năm tri căn là nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, năm nghiệp
căn là tay , chơn, miệng tiếng, nam căn, nữ căn, cùng tâm
bình đẳng căn. Mười sáu pháp nầy do năm pháp : Sắc,
thinh, hương, vị, xúc sanh ra. Hai mươi mốt pháp nầy có ba
pháp căn bổn : Nhiễm, thô và đen. Nhiễm là ái, thô là sân,
đen là vô minh. Hai mươi ba pháp nầy, đều nhơn nơi tánh mà
sanh.
_ Nầy
Bà La Môn ! Những pháp đại, mạn v.v… là thường hay vô
thường ?
_ Thưa
Cù Đàm theo giáo pháp của tôi thời tánh là thường, những
pháp đại v.v… đều là vô thường.
_ Nầy
Bà La Môn ! Như trong pháp của ông nhơn là thường còn quả
là vô thường. Trong pháp của ta dầu nhơn là vô thường
nhưng quả là thường, thời có lỗi gì ?
Nầy
Bà La Môn ! Trong pháp của các ông có hai nhơn chăng ?
_ Thưa
Cù Đàm, có.
_ Thế
nào là hai ?
_ _
Thưa Cù Đàm ! Một là sanh nhơn, hai là liễu nhơn .
_ Thế
nào là sanh nhơn ? Thế nào là liễu nhơn ?
_ Sanh
nhơn như đất sét làm ra cái bình. Liễu nhơn như đèn soi
đồ vật.
_ Hai
nhơn nầy là một tánh. Đã là một tánh có thể khiến sanh
nhơn làm liễu nhơn chăng ? Có thể khiến liễu nhơn làm sanh
nhơn chăng ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Không.
_ Nếu
như sanh nhơn chẳng làm liễu nhơn, liễu nhơn chẳng làm sanh
nhơn, có thể nói là nhơn tướng chăng ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Dầu hai nhơn chẳng làm thành lẫn nhau, nhưng vẫn
có nhơn tướng.
_ Nầy
Bà La Môn ! Vật của liễu nhơn chiếu rõ có đồng với liễu
nhơn chăng ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Không .
Phật
nói : Trong pháp của ta, dầu do từ vô thường chứng đặng
Niết Bàn, nhưng Niết Bàn nầy chẳng phải là vô thường.
Do từ liễu nhơn mà được nên là thường, lạc, ngã, tịnh.
Do từ sanh nhơn mà được nên là vô thường, vô lạc,
vô ngã, vô tịnh. Do đây nên đức Như Lai nói có hai thuyết
thường và vô thường. Hai thuyết nầy không có hai lời, nên
Phật gọi là không nói hai lời.
Như
lời ông nói từng nghe bực tôn túc bảo rằng Phật ra đời
không có hai lời. Lời nói trên đây rất đúng. Tất cả chư
Phật mười phương ba đời không bao giờ có lời nói sai,
vì có thời đồng nói có, không thời đồng nói không, nên
gọi là đồng một nghĩa, do đây nên gọi Phật không nói
hai lời.
Nầy
Bà La Môn ! Đức Như Lai dầu gọi là hai lời, nhưng vì để
hiểu rõ một lời. Thế nào là hai lời để hiểu rõ một
lời ? Như nhãn căn cùng sắc trần đây là hai lời, sanh
ra thức đây là một lời. Nhẫn đến ý căn cùng pháp trần
sanh ra thức cũng như vậy.
_ Cù
Đàm khéo phân biệt được ngữ nghĩa như vậy. Nay tôi chưa
hiểu dùng hai lời để hiểu rõ một lời.
Đức
Thế Tôn liền vì Bà La Môn mà tuyên nói pháp tứ đế : Nầy
Bà La Môn ! Khổ Đế cũng hai cũng một, nhẫn đến đạo đế
cũng hai cũng một.
Bà
La Môn thưa : “ Bạch Thế Tôn ! Tôi đã hiểu biết rồi”.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông hiểu biết như thế nào ?
_
Bạch Thế Tôn ! Khổ đế , tất cả phàm phu thời hai, còn
thánh nhơn thời một. Nhẫn đến đạo đế cũng như vậy.
_ Lành
thay ! Đã hiểu.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nay tôi nghe pháp đã được chánh kiến, tôi quy
y Phật Pháp Tăng Tam Bảo. Cúi xin Đức Đại Từ cho tôi xuất
gia.
Đức
Phật bảo Kiều Trần Như : ‘ Ông nên cạo bỏ râu tóc cho
Xà Đề Thủ Na, cho ông xuất gia”.
Ngài
Kiều Trần Như vâng lời Phật cạo tóc cho Xà Đề Thủ Na.
Đương lúc cạo có hai thứ rơi xuống : Một là râu tóc, hai
là phiền não. Xà Đề Thủ Na liền ở nơi chỗ ngồi chứng
đặng quả A La Hán.
Lại
có Phạm Chí Bà Trư Tra hỏi Phật : “ Cù Đàm nói Niết Bàn
là thường trụ phải chăng ?”
_ Nầy
Phạm Chí ! Đúng như vậy.
_ Cù
Đàm toan chẳng nói rằng không phiền não là Niết Bàn ư ?
_ Nầy
Phạm Chí ! Đúng như vậy.
_ Thưa
Cù Đàm ! Ở thế gian có bốn thứ gọi là không : Một là
những pháp chưa có ra thời gọi là không, như cái bình lúc
chưa ra khỏi viên đất thời gọi là không có cái bình. Hai
là những pháp đã diệt mất gọi là không, như cái bình đã
hư bể thời gọi là không. Ba là lẫn không có tướng loại
khác mà gọi là không, như trong bò không có ngựa, trong ngựa
không có bò. Bốn là rốt ráo không nên gọi là không, như
lông rùa sừng thỏ.
Thưa
Cù Đàm ! Nếu vì đã dứt trừ phiền não mà gọi là Niết
Bàn, thời Niết Bàn là không có. Nếu đã là không Niết Bàn,
sao lại nói có thường, lạc, ngã, tịnh ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Niết Bàn đây chẳng phải là trước không
có như cái bình lúc còn là viên đất, cũng chẳng phải dứt
mất thành không như cái bình lúc hư bể, cũng chẳng
phải rốt ráo không như lông rùa sừng thỏ. Niết Bàn nầy
đồng với khác loại mà không.
Như
lời ông nói, dầu trong bò không có ngựa, nhưng chẳng được
nói rằng bò cũng là không. Dầu trong ngựa không có bò nhưng
cũng chẳng được nói rằng ngựa cũng là không. Niết Bàn
cũng như vậy : Trong phiền não không Niết Bàn, trong Niết
Bàn không phiền não, do đây nên gọi là lẫn không có tướng
khác nhau.
Thưa
Cù Đàm ! Nếu cho Niết Bàn là lẫn không tướng khác nhau,
sự không nầy không có thường, lạc, ngã, tịnh, sao Cù Đàm
lại nói Niết Bàn là thường, lạc, ngã, tịnh ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Như không tướng khác nhau của ông nói có
ba thứ không : Bò, ngựa đều là trước không sau có, đây
gọi là trước không ; đã có trở thành không đây gọi là
hư hoại mà không ; không có tướng khác nhau thời như ông
đã nói. Niết bàn không có ba tướng nầy, nên Niết Bàn là
thường, lạc, ngã, tịnh.
Như
ba thứ bịnh của người đời ; Bịnh nhiệt, bịnh phong, bịnh
hàn. Ba thứ thuốc có thể trị được : Tô trị được bịnh
nhiệt, dầu trị được bịnh phong, mật trị được bịnh
hàn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong bịnh phong không có dầu, trong dầu không
có bịnh phong, nên dầu có thể trị được bịnh phong. Hai
thứ kia cũng như vậy.
Tất
cả chúng sanh có ba thứ bịnh : Tham, sân và si. Có ba thứ
pháp dược trị được ba bịnh nầy : Bất tịnh quán là thuốc
trị được bịnh tham, từ tâm quán là thuốc trị được
bịnh sân, nhân duyên quán là thuốc trị được bịnh si.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì trừ tham nên quán pháp chẳng phải tham,
vì trừ sân nên quán pháp chẳng phải sân, vì trừ si nên
quán pháp chẳng phải si. Trong ba thứ bịnh không ba thứ thuốc
pháp, trong ba thứ thuốc pháp không ba thứ bịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì trong ba thứ bịnh không có ba thứ thuốc
pháp, nên là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Trong ba
thứ thuốc pháp không có ba thứ bịnh nên được gọi là
thường, lạc, ngã, tịnh.
_ Bạch
Thế Tôn ! Đức Như Lai vì tôi nói thường là vô thường.
Xin giải thích thế nào là thường, thế nào là vô thường
?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Sắc ấm là vô thường, giải thoát sắc ấm
là thường.Nhẫn đến thức ấm là vô thường, giải thoát
thức ấm là thường.
Nếu
có người nào quán sắc nhẫn đến thức là vô thường, nên
biết rằng người nầy chứng được pháp thường trụ.
_ Bạch
Thế Tôn ! Nay tôi đã biết pháp thường và pháp vô thường.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông rõ biết pháp thường và vô thường
như thế nào ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Nay tôi biết sắc ấm của tôi là vô thường, được
giải thoát là thường, nhẫn đến thức cũng như vậy.
_ Lành
thay ! Nầy Thiện Nam Tử ! Nay ông đã đền xong thân nầy.
Đức
Phật bảo Kiều Trần Như : Bà Trư Tra đã chứng quả A La
Hán, ông nên ban cho Bà Trư Tra ba y và bát.
Ngài
Kiều Trần Như tuân lời Phật trao y bát cho Bà Trư Tra.
Lãnh
y bát xong , Bà Trư Tra thưa rằng : Bạch Đại Đức Kiều Trần
Như ! Nay tôi do thân tệ ác nầy mà được quả lành. Xin Đại
Đức vì tôi đến bạch với đức Thế Tôn : Tôi là người
ác xúc phạm đến họ Cù Đàm của đức Như Lai. Mong Đại
Đức vì tôi mà sám hối tội nầy. Tôi cũng không thể ở
lâu nơi thân ác độc nầy. Nay xin nhập Niết Bàn.
Ngài
Kiều Trần Như liền đến bạch Phật : Thế Tôn ! Tỳ Kheo
Bà Trư Tra sanh lòng hổ thẹn, tự nói là hung dữ xúc phạm
họ Cù Đàm của đức Như Lai. Nay ông ấy muốn diệt thân,
nhờ tôi sám hối.
Phật
nói ; Nầy Kiều Trần Như ! Tỳ Kheo Bà Trư Tra đã thành tựu
căn lành nơi vô lượng Phật quá khứ, nay thọ giáo với ta
mà trụ đúng pháp, vì trụ đúng pháp nên chứng được chánh
quả. Các ông phải cúng dường thân của ông ấy.
Ngài
Kiều Trần Như nghe Phật dạy xong, đến nơi thân của Bà
Trư Tra mà trần thuyết cúng dường.
Lúc
thiêu thân, Bà Trư Tra hiện các thứ thần thông.
Chúng
ngoại đạo thấy việc nầy đồng to tiếng xướng rằng :
Bà Trư Tra đã được chú thuật của Sa Môn Cù Đàm, chẳng
bao lâu ông sẽ hơn Sa Môn Cù Đàm.
Lại
có Phạm Chí Tiên Ni hỏi Phật : Thưa Cù Đàm ! Cù Đàm có
ngã không ?
Đức
Như Lai nín lặng.
Tiên
Ni lại hỏi : Thưa Cù Đàm ! Cù Đàm không có ngã ư ?
Đức
Như Lai cũng nín lặng.
Tiên
Ni hỏi luôn mấy lần như vậy, đức Phật đều nín lặng.
Tiên
Ni nói : Thưa Cù Đàm ! Nếu tất cả chúng sanh có ngã khắp
tất cả chỗ là một tác giả, cớsao Cù Đàm nín lặng chẳng
trả lời ?
Phật
nói : Nầy Tiên Ni ! Ông nói ngã đó là khắp tất cả
chỗ phải chăng ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Chẳng những là tôi nói, mà tất cả người trí
cũng nói như vậy.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ngã đó cùng khắp tất cả chỗ lẽ ra
phải đồng thời thọ báo trong ngũ đạo. Nếu đồng thời
thọ báo nơi ngũ đạo, hàng Phạm Chí các ông duyên cớ gì
chẳng gây tạo những điều ác để khỏi địa ngục, mà
lại tu những pháp lành để được thân Trời ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Ngã trong giáo pháp của chúng tôi có hai thứ : Một
là ngã tác thân, hai là ngã thường thân. Vì ngã tác thân
mà phải lìa nghiệp ác để khỏi địa ngục, phải tu những
pháp lành để được sanh lên Trời.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Như ông đã nói ngã khắp tất cả chỗ. Ngã
đó nếu ở trong tác thân thời là vô thường. Nếu trong tác
thân không có ngã sao lại nói là khắp ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Ngã của chúng tôi lập cũng ở trong tác thân, mà
cũng là thường trụ. Như người lúc để lửa cháy nhà, chủ
nhà chạy ra ngoài, chẳng thể nói rằng nhà cửa bị cháy
chủ nhà cũng bị cháy. Ngã nầy cũng như vậy, đương lúc
tác thân vô thường, ngã nầy xuất ra đi, nên ngã nầy cũng
là khắp, cũng là thường.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Như lời ông nói ngã đó cũng khắp cũng thường,
nghĩa nầy không đúng. Vì khắp có hai thứ : Thường và vô
thườntg. Lại có hai thứ ; Sắc và vô sắc. Do đây nên nếu
nói rằng khắp tất cả thời cũng là thườntg cũng là vô
thường, cũng là sắc cũng là vô sắc.
Nếu
nói chủ nhà chạy ra khỏi nên chẳng gọi là vô thường,
nghĩa nầy chẳng đúng. Vì nhà chẳng gọi là chủ, chủ chẳng
gọi là nhà. Cái bị cháy khác, người chạy ra khác, nên được
như vậy. Ngã nầy thời chẳng như vậy, vì ngã là sắc, sắc
là ngã, ngã là vô sắc, vô sắc là ngã, sao lại nói rằng
đương lúc sắc thân vô thường ngã xuất ra khỏi.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ý ông nếu cho rằng : Tất cả chúng sanyh
đồng một ngã, thời trái với pháp thế gian và xuất thế
gian. Vì pháp thế gian có cha mẹ, con trai, con gái. Nếu ngã
là một, thời cha là con trai, con trai là cha, mẹ là con gái,
con gái là mẹ, thù là thân , thân là thù, đây là kia, kia
là đây. Nên nếu nói rằng tất cả chúng sanh đồng một
ngã thời là trái với pháp thế gian và xuất thế gian.
Tiên
Ni nói : “ Tôi chẳng nói tất cả chúng sanh đồng một ngã.
Mà tôi nói mỗi người đều riêng có một ngã”.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ông nói một người đều riêng có một
ngã, đây là nhiều ngã, thời không đúng nghĩa. Vì như trước
kia ông nói, ngã khắp tất cả chỗ. Nếu đã khắp tất cả
thời tất cả chúng sanh lẽ ra phải đồng một nghiệp căn
: Lúc được Trời mà thấy thời lúc được Phật cũng thấy,
lúc được thân Trời làm, thời lúc được Phật cũng làm,
nghe biết và nhẫn đến tất cả pháp cũng như vậy.
Nếu
được thân Trời mà thấy chẳng phải là được Phật mà
thấy thời chẳng nên nói rằng ngã khắp tất cả chỗ. Nếu
ngã chẳng khắp thời là vô thường.
_ Thưa
Cù Đàm ! Ngã của tất cả chúng sanh khắp tất cả. Còn pháp
cùng phi pháp chẳng khắp tất cả. Do nghĩa nầy nên tác dụng
của Phật khác, tác dụng của Trời khác. Chẳng nên nói rằng
lúc Phật thấy lẽ ra Trời cũng thấy, lúc Phật nghe Trời
cũng nên nghe.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Pháp và phi pháp chẳng phải là nghiệp làm
ra ư ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Là nghiệp làm ra.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu pháp cùng phi pháp là nghiệp làm ra thời
là đồng pháp, sao nói rằng khác. Vì chỗ nghiệp của Phật
có ngã của Trời, chỗ ngã của Trời có ngã của Phật, do
đây nên lúc Phật tác dụng, Trời cũng tác dụng, pháp và
phi pháp cũng phải như vậy.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu tất cả chúng sanh pháp cùng phi pháp là
như vậy, thời quả báo lẽ ra chẳng khác.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Từ nơi nhơn sanh ra quả, nhơn nầy trọn chẳng
suy nghĩ phân biệt ta chỉ nên là quả Bà La Môn, chẳng làm
quả cho Sát Lợi, Tỳ Xá, Thủ Đà. Vì từ nhơn sanh ra quả
trọn chẳng trở ngại đối với bốn giòng như vậy.
Pháp cùng phi pháp cũng như vậy, không thể phân biệt ta chỉ
nên làm quả Phật, chẳng làm quả Trời, hoặc ta chỉ làm
quả Trời chẳng làm quả Phật. Vì nghiệp bình đẳng vậy.
_ Thưa
Cù Đàm ! Như trong một nhà có trăm ngàn ngọn đèn, ngọn
đèn có khác nhưng ánh sáng thời không khác. Ngọn đèn khác
nhau dụ cho pháp cùng phi pháp, ánh sáng không sai khác dụ cho
ngã của chúng sanh.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông đem đèn sáng để dụ cho ngã đó,
không được đúng nghĩa. Vì đèn khác nhà khác. Ánh sáng
của đèn cũng ở bên ngọn đèn mà cùng khắp trong nhà. Ngã
của ông nói nếu đồng như vậy thời bên pháp và phi pháp
đều phải có ngã, trong ngã cũng phải có pháp và phi pháp
đều phải có ngã, trong ngã cũng phải có pháp và phi pháp.
Nếu pháp cùng phi pháp không có ngã, thời chẳng được nói
rằng ngã khắp tất cả chỗ. Nếu đều chung có cả, đâu
đặng dùng đèn và ánh sáng để làm ví dụ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ý của ông cho rằng ngọn đèn cùng ánh
sáng thiệt khác nhau, duyên cớ gì ngọn đèn thêm thời ánh
sáng nhiều, ngọn đèn lụn thời ánh ssáng mất. Do đây chẳng
nên đem pháp cùng phi pháp dụ như ngọn đèn, ánh sáng không
khác dụ cho ngã. Vì pháp và phi pháp cùng với ngã ba thứ
là một.
_ Thưa
Cù Đàm ! Ngài dẫn ví dụ ngọn đèn, việc đó chẳng tốt.
Vì ví dụ ngọn đèn nếu là tốt thời tôi đã dẫn trước
rồi. Như ví dụ đó chẳng tốt cớ sao ngài lại nói ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví dụ ta dẫn ra đó đều chẳng làm tốt
cùng chẳng tốt, đó là theo ý của ông để nói. Trong
ví dụ đó cũng trình bày hai nghĩa rời ngoài ngọn đèn có
ánh sáng và chính nơi ngọn đèn có ánh sáng, ý ông chẳng
bình đẳng nên ông nói ngọn đèn dụ cho pháp cùng phi pháp,
ánh sáng thời dụ cho ngã. Do đây nên ta trách ông : Ngọn
đèn chính là ánh sáng, rời ngọn đèn có ánh sáng. Trong pháp
có ngã, trong ngã có pháp, trong phi pháp có ngã, trong ngã có
phi pháp. Nay cớ gì ông chỉ nhận lấy một bên bỏ một bên.
Ví dụ như vậy là chẳng tốt đối với ông, nên nay ta trở
lại dẫn ví dụ đó để dạy bảo ông.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ví dụ như vậy thời chẳng thành, vì chẳng
thành ví dụ nên với ta thời tốt, mà chẳng tốt đối với
ông.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ý ông cho rằng nếu tôi chẳng tốt thời
ngài cũng chẳng tốt. Ý nghĩ nầychẳng đúng, vì thấy người
đời dùng sức mình để hại lấy mình, tự mình làm ra mà
người khác thọ dụng. Ví dụ của ông dẫn ra đó cũng như
vậy. Nơi ta thời tốt, nơi ông thời chẳng tốt.
_ Thưa
Cù Đàm ! Vừa rồi ngài trách tôi tâm chẳng bình đẳng, nay
lời nói của ngài cũng chẳng bình đẳng. Vì ngài lấy tốt
về mình, mà chẳng tốt lại để cho tôi. Cứ đây mà suy
thời thật là chẳng bình đẳng.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Sự bất bình của ta có thể phá được sự
bất bình của ông, do đây nên ông được bình, sự bất bình
của ta chính là tốt vậy. Sự bất bình của ta phá sự bất
bình của ông, làm cho ông được bình cũng chính là ta bình
đẳng, vì đồng được bình đẳng với các thánh nhơn.
_ Thưa
Cù Đàm ! Ngã thường là bình đẳng, sao ngài lại nói phá
hoại sự bất bình của tôi. Tất cả chúng sanh bình đẳng
có ngã sao ngài nói rằng ngã là bất bình ?
_ Nầy
Thiện nam Tử ! Ông cũng có nói rằng : Sẽ thọ quả địa
ngục, sẽ thọ quả ngạ quỉ, sẽ thọ quả súc sanh, sẽ
thọ quả nhơn , thiên. Nếu ngã đã khắp trong ngũ đạo, sao
ông lại nói sẽ thọ quả nơi các loài ?
Ông
cũng nói rằng cha mẹ hòa hiệp rồi sau mới sanh con. Nếu
con đã có trước, sao ông lại nói hòa hiệp rồi mới có.
Nếu một người có thân trong ngũ đạo, đã là trước có
thân trong ngũ đạo, duyên cớ gì lại vì thân mà tạo nghiệp.
Do nghĩa trên đây nên là chẳng bình đẳng.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ý của ông nếu cho rằng ngã là tác giả,
thời cũng chẳng đúng. Vì nếu ngã là tác giả, duyên cớ
gì ngã lại tự làm ra sự khổ. Nhưng hiện nay chúng sanh thiệt
có bị khổ nên biết rằng ngã chẳng phải tác giả.
Nếu
ông nói sự khổ nầy chẳng phải ngã làm ra, chẳng do nơi
nhơn sanh, thời tất cả pháp cũng phải như vậy, chẳng do
nhơn sanh, cớ gì lại nói là ngã làm ra .
Nầy
Thiện Nam Tử ! Sự khổ vui của chúng sanh thiệt do nơi nhơn
duyên. Sự khổ vui nầy có thể làm chúng sanh lo và mừng.
Lúc lo không mừng, lúc mừng không lo, hoặc mừng hoặc lo,
người trí đâu nên nói đó là thường trụ.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói ngã là thường. Nếu ngã là thường,
sao lại nói có mười thời kỳ sai khác. Đã là thường lẽ
ra chẳng có thời kỳ đậu thai nhẫn đến thời kỳ già.
Phật
pháp thường như hư không còn chẳng có một thời kỳ, huống
lại có cả mười thời kỳ !
Nếu
ngã chẳng phải là thời kỳ đậu thai nhẫn đến chẳng phải
thời kỳ già, sao lại nói có mười thời kỳ sai khác.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ngã là tác giả, ngã nầy cũng có lúc
thạnh lúc suy, chúng sanh cũng có lúc thạnh lúc suy. Nếu ngã
đã như vậy sao lại là thường.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ngã là tác giả, sao một người lại
có khôn lanh, có đần độn ? Nếu ngã là tác giả, ngã nầy
có thể làm ra thân nghiệp và khẩu nghiệp. Thân nghiệp và
khẩu nghiệp nếu là ngã làm ra, sao miệng lại nói rằng
không có ngã ư ? Sao lại tự nghi có ngã hay không có ngã ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ý ông cho rằng rời ngoài nhãn căn có
sự thấy. Lời nầy không đúng, vì nếu ngoài nhãn căn đã
riêng có sự thấy thời cần gì đến nhãn căn nầy ? Như
nhãn căn, nhĩ căn v.v… cũng như vậy. Nếu ý ông cho rằng
dầu ngã có thể thấy nhưng cần phải do nhãn căn mới thấy,
nghĩa nầy cũng chẳng đúng. Như có người nói rằng bông
Tu mạn na có thể đốt cháy cả thôn xóm lớn, tại sao có
thể cháy ? Vì lửa có thể cháy. Ông lập ngã có thể thấy
cũng như vậy.
_
Thưa Cù Đàm ! Như người cầm liềm thời có thể cắt cỏ.
Ngã nhơn nơi năm căn mà có thể thấy nghe nhẫn đến xúc
cũng như vậy.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Liềm cùng người đều khác nhau, nên người
cầm liềm thời cắt được cỏ. Rời ngoài năm căn không
có ngã riêng khác, sao lại nói rằng ngã nhơn nơi năm căn
mà có công năng ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! nếu ý ông cho rằng vì cầm liềm nên
có thể cắt cỏ, ngã cũng như vậy. Như thế thời ngã có
tay hay không tay ? Nếu có tay sao ngã chẳng tự cầm ? nếu
ngã không có tay sao lại nói rằng ngã là tác giả ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Có thể cắt cỏ đó chính là cái liềm, chẳng
phải ngã cũng chẳng phải người. Nếu ngã và người có
thể cắt cớ sao lại nhơn nơi cái liềm !
Nầy
Thiện Nam Tử ! Người có hai tác động : Một là nắm lấy
cỏ, hai là cầm cái liềm. Cái liềm nầy thời chỉ có công
năng xén cắt,
Chúng
sanh ngó thấy các pháp cũng như vậy : Nhãn căn có thể thấy
sắc, từ nhơn duyên hòa hiệp mà có ra sự thấy đó. Nếu
đã từ nhơn duyên hòa hiệp , người trí sao lại nói là có
ngã ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu ý ông cho rằng thân làm mà ngã thọ,
cũng không đúng nghĩa. Vì trong đời không bao giờ thấy Trời
tạo nghiệp mà Phật thọ quả.
Nếu
nói rằng chẳng phải là thân làm, ngã chẳng phải thọ, cớ
sao các ông lại từ nơi nhơn duyên tu hành để cầu giải
thoát ?
Thân
nầy của ông trước kia chẳng phải nhơn duyên sanh. Khi được
giải thoát rồi cũng lẽ ra không do nhơn duyên mà lại
sanh ra thân. Như thân , tất cả phiền não cũng như vậy.
_ Thưa
Cù Đàm ! Ngã có hai thứ : Một là hữu tri, hai là vô
tri. Ngã vô tri có thể thọ lấy thân, ngã hữu tri có thể
rời bỏ thân. Như cái bình đất, khi đã bị nung rồi thời
mất màu sắc đất, chẳng còn sanh trở lại, phiền não của
người trí cũng như vậy, đã dứt, mất rồi thời trọn chẳng
còn sanh.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông nói là hữu tri đó, là trí có thể biết
hay ngã có thể biết ? Nếu trí có thể biết sao lại nói
rằng ngã là hữu tri ? Nếu ngã có thể biết cớ gì phải
dùng phương tiện tu hành để cầu có trí ? Nếu ý ông cho
rằng ngã nhơn nơi trí mà có biết thời đồng với điều
dụ bông đốt cháy trước kia.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như cây gai tánh của nó tự có thể đâm,
chẳng được nói rằng cây cầm gai để đâm. Trí cũng như
vậy : Trí tự có thể hiểu biết. Sao lại nói rằng ngã cầm
lấy trí để biết ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như trong pháp của ông nói ngã được
giải thoát, là ngã vô tri được giải thoát, hay là ngã hữu
tri được ?
Nếu
là ngã vô tri được thời phải biết rằng vẫn còn đủ
phiền não. Nếu là ngã hữu tri được thời nên biết rằng
đã có ngũ căn, vì ngoài ngũ căn không còn có sự biết. Nếu
đã đủ ngũ căn thời sao lại nói là được giải thoát ?
Nếu
cho rằng tánh của ngã nầy thanh tịnh rời ngoài ngũ căn,
sao lại nói rằng ngã khắp trong ngũ đạo, duyên cớ gì tu
các pháp lành để được giải thoát ?
Nầy
Thiện nam Tử ! Như có người nhổ gai hư không. Ông cũng như
vậy : Nếu ngã đã thanh tịnh sao lại nói rằng dứt các phiền
não ?
Nếu
ý ông cho rằng chẳng do nhơn duyên mà được giải thoát,
cớ gì tất cả chúng sanh lại chẳng được ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Nếu không có ngã thời cái gì có thể ghi nhớ ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có ngã cớ gì lại quên ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu nhớ là ngã, cớ gì lại nhớ những niệm
ác, nhớ chỗ chẳng đáng nhớ, chẳng nhớ chỗ đáng nhớ
?
_ Thưa
Cù Đàm ! Nếu không có ngã thời cái gì thấy, cái gì nghe
?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Trong có sáu căn, ngoài co sáu trần, căn trần
hòa hiệp sanh ra sáu thức . Sáu thức nầy theo nhơn duyên mà
được có tên.
Như
một thứ lửa do nơi cây mà có lửa thời gọi là lửa cây,
nhơn nơi cỏ thời gọi là lửa cỏ, nhơn nơi trấu thời gọi
là lửa trấu, nhơn nơi phân bò thời gọi là lửa phân bò.
Ý
thức của chúng sanh cũng như vậy : Nhơn nơi nhãn căn, sắc
trần, ánh sáng và tác ý thời gọi đó là nhãn thức.
Nhãn thức nầy chẳng ở trong nhãn căn nhẫn đến chẳng ở
trong tác ý, do bốn thứ hòa hiệp nên sanh ra thức nầy. Nhẫn
đến ý thức cũng lại như vậy.
Nếu
đã là nhơn duyên hòa hiệp mà sanh ra, người trí chẳng nên
nói rằng sự thấy chính là ngã, sự nghe nhẫn đến chạm
xúc chính là ngã.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Do nghĩa trên đây nên ta nói rằng nhãn thức
nhẫn đến ý thức, tất cả các pháp đều là như huyễn,
Thế
nào là như huyễn ? Vì trước không nay mới có, đã có rồi
trở lại không .
Như
tỏi, bột, mật, gừng, tiêu, tất lăng, nho, hồ đào, thạch
lựu , hột quì, các thứ ấy hòa hiệp lại gọi là huờn
thuốc hoan hỷ. Rời ngoài sự hòa hiệp nầy thời không có
huờn hoan hỷ.
Do
căn nơi trong, trần nơi ngoài mà gọi là chúng sanh, là ngã,
nhơn, sĩ phu. Ngoài căn và trần nầy không riêng có chúng sanh,
ngã, nhơn, sĩ phu.
_ Thưa
Cù Đàm ! Nếu không có ngã, sao lại nói rằng ; ta thấy, ta
nghe, ta khổ, ta vui, ta lo, ta mừng ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu cho rằng ta thấy, ta nghe v.v… gọi là
có ngã đó, cớ gì người đời, lại nói rằng tội của
người làm ra chẳng thấy nghe ?
Như
bốn đoàn binh hiệp lại gọi là quân đoàn, bốn đoàn binh
chẳng gọi là một, mà cũng nói rằng quân ta mạnh mẽ quân
ta thắng địch.
Nội
căn ngoại trần hòa hiệp làm ra cũng như vậy, dầu chẳng
phải là một, nhưng cũng được nói rằng : Ta làm, ta thọ,
ta thấy, ta nghe, ta khổ, ta vui.
_ Thưa
Cù Đàm ! Cứ như lời ngài : “ Nội căn và ngoại trần hòa
hiệp”, thời ai ra tiếng nói rằng : Ta làm ta thọ ?
_ Nầy
Tiên Ni ! Từ ái vô minh nhơn duyên sanh ra nghiệp, từ nghiệp
sanh ra hữu, từ hữu xuất sanh vô lượng tâm sở, tâm sở
sanh ra giác quán, giác quán động đến hơi gió, hơi gió theo
tâm chạm xúc cổ họng lưỡi răng môi , chúng sanh điên đảo
phát ra tiếng nói rằng ta làm , ta thọ, ta thấy, ta nghe.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như cái linh đầu cột phướn, do gió động
bèn phát ra tiếng, gió lơnù thời tiếng lớn, gió nhỏ thời
tiếng nhỏ, không có tác giả.
Lại
như sắc nóng ném vào trong nước phát ra nhiều tiếng,
nơi đây thật ra cũng không có tác giả.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Phàm phu không thể tư duy phân biệt việc như
vậy, nên nói rằng có ngã và ngã sở, ngã tác, ngã thọ.
Như
Cù Đàm nói không có ngã và ngã sở, duyên cớ gì ngài lại
nói có thường, lạc, ngã, tịnh ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta chẳng nói sáu căn sáu trần và sáu thức
là thường, lạc, ngã, tịnh. Mà ta tuyên bố rằng diệt sáu
thức do nội căn ngoại trần sanh ra gọi đó là thường, do
thường đây mà gọi là ngã, vì có thường ngã nên gọi là
lạc, vì có thường lạc ngã nên gọi là tịnh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Chúng sanh nhàm sự khổ mà dứt khổ nhơn nầy,
được xa lìa tự tại đây gọi là vô ngã. Do nhơn duyên nầy
nên nay ta thiết thiệt nói rằng thường, lạc, ngã, tịnh.
Tiên
Ni thưa rằng : Bạch Thế Tôn ! Xin đức Đại Từ dạy bảo
cho tôi phải làm thế nào để được thường, lạc, ngã,
tịnh như vậy.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Từ trước đến nay tất cả thế gian
có đủ sự ngã mạn lớn, lại tăng trưởng ngã mạn, cũng
lại làm ra mạn nhơn, mạn nghiệp, nên nay thọ lấy quả báo
của mạn, không thể xa lìa tất cả phiền não để được
thường, lạc, ngã, tịnh.
Nếu
chúng sanh muốn được xa lìa tất cả phiền não, trước hết
phải xa lìa ngã mạn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Phải lắm ! Phải lắm ! Đúng như lời Phật dạy.
Từ trước tôi có ngã mạn, do ngã mạn nên gọi đức Như
Lai là Cù Đàm. Nay tôi đã lìa ngã mạn đó nên thành tâm
thỉnh cầu giáo pháp : Làm thế nào sẽ được thường,
lạc, ngã, tịnh.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Lóng nghe ! Lóng nghe ! Ta sẽ giải thuyết cho
ông.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu người có thể chẳng phải tự, chẳng
phải tha, chẳng phải chúng sanh, xa lìa pháp nầy.
_ Bạch
Thế Tôn ! Tôi đã hiểu rõ đã được chánh pháp nhãn.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Do đâu mà ông nói rằng đã biết, đã
hiểu, đã được chánh pháp nhãn.
_ Bạch
Thế Tôn ! Sắc ấm chẳng phải tự, chẳng phải tha, chẳng
phải chúng sanh, thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Tôi
quán sát như vậy mà được chánh pháp nhãn.
Bạch
Thế Tôn ! Nay tôi rất muốn xuất gia tu học, xin đức Như
Lai nhận cho.
Đức
Phật gọi : “ Thiện Lai Tỳ Kheo !”
Liền
đó Tiên Ni được đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh chứng
quả A La Hán.
Trong
chúng ngoại đạo lại có Phạm Chí họ Ca Diếp lên tiếng
rằng : Thưa Cù Đàm ! Thân tức là mạng, hay là thân khác
mạng khác ?
Đức
Như Lai nín lặng.
Phạm
Chí hỏi lần thứ hai lần thứ ba, đức Như Lai vẫn
nín lặng.
Phạm
Chí lại nói : Thưa Cù Đàm ! Như người lúc chết chưa thọ
lấy thân sau, chặn giữa đó đâu được chẳng gọi rằng
thân khác mạng khác. Nếu là khác tại sao Cù Đàm nín lặng
chẳng trả lời ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta nói thân và mạng đều từ nhơn duyên, chẳng
phải là không nhơn duyên. Như thân mạng tất cả pháp cũng
như vậy.
_ Thưa
Cù Đàm ! Tôi thấy thế gian cũng có pháp không từ nhơn duyên.
Nầy
Phạm Chí ! Ông thấy thế gian có pháp chẳng từ nhơn duyên
như thế nào ?
_ Tôi
thấy lửa lớn đốt cháy lùm cây, gió thổi bức ngọn lửa
rớt ở chỗ khác, đây há chẳng gọi là không nhơn duyên
ư ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Lửa nầy cũng từ nhơn mà sanh, chẳng
pải là không nhơn.
Thưa
Cù Đàm ! Lúc ngọn lửa bức bay đi chẳng nhơn củi than, sao
lại nói rằng từ nơi nhơn mà sanh.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Dầu không củi than nhưng nhơn gió mà đi, do
gió nên ngọn lửa đó chẳng tắt.
_ Thưa
Cù Đàm ! Nếu người chết lúc chưa thọ thân sau, thọ mạng
ở chặn giữa cái gì làm nhơn duyên ?
_ Nầy
Phạm Chí ! Chính vô minh cùng ái làm nhơn duyên mà thọ mạng
nầy được còn.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Vì có nhơn duyên nên thân là mạng, mạng
là thân, vì có nhơn duyên nên thân khác, mạng khác. Người
trí chẳng nên một bề nói rằng thân khác mạng khác.
_ Bạch
Thế Tôn ! Xin giải thuyết cho tôi rõ biết được nhơn quả.
_ Nầy
Phạm Chí ! Nhơn là ngũ ấm, quả cũng là ngũ ấm.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Nếu có chúng sanh chẳng đốt lửa thời không
khói.
_ Bạch
Thế Tôn ! Tôi đã hiểu rồi.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Ông hiểu biết như thế nào ?
_ Bạch
Thế Tôn ! Lửa là nói phiền não có thể đốt cháy nơi địa
ngục, ngạ quỉ, súc sanh, nhơn thiên. Khói là nói quả báo
phiền não : Vô thường bất tịnh hôi nhơ đáng ghét đáng
nhàm. Nếu chúng sanh chẳng khởi phiền não thời không có
quả báo của phiền não. Do đây nên đức Như Lai nói không
đốt lửa thời không có khói.
Bạch
Thế Tôn ! Tôi đã được chánh kiến xin thương xót cho tôi
xuất gia.
Đức
Phật bảo Kiều Trần Như cho Phạm Chí nầy xuất gia thọ
giới.
Ngài
Kiều Trần Như tuân lời Phật hòa hiệp chúng Tăng cho
Phạm Chí xuất gia thọ giới Cụ Túc. Năm ngày sau , Phạm
Chí nầy chứng được A La Hán.
Trong
chúng ngoại đạo lại có Phạm Chí Phú Na lên tiếng rằng
: “ Thưa Cù Đàm ! Ngài thấy thế gian là pháp thường trụ
mà nói là thường phải chăng ?
Nghĩa
như vậy là thiệt hay hư ? Là thường hay vô thường ? Là
cũng thường, vô thường ? Là chẳng phải thường, chẳng
phải vô thường ? Là hữu biên, là vô biên ? Là cũng hữu
biên cũng vô biên ? Là chẳng phải hữu biên, chẳng phải
vô biên ? Là thân là mạng ? Thân khác mạng khác ? Như Lai
sau khi diệt độ, như mà đi hay chẳng như mà đi ? Cũng như
mà đi cũng chẳng như mà đi ? Chẳng phải như mà đi, chẳng
phải chẳng như mà đi ?
_ Nầy
Phú Na ! Ta chẳng nói thế gian là thường là hư là thiệt
là vô thường v.v… nhẫn đến cũng chẳng nói chẳng
phải như mà đi, chẳng phải chẳng như mà đi.
_ Thưa
Cù Đàm ! Nay thấy tội lỗi gì mà ngài chẳng nói như vậy
?
_ Nầy
Phú Na ! Nếu có người nói rằng thế gian là thường, chỉ
đây là chơn thật ngoài ra đều là vọng ngữ. Quan niệm nầy
gọi là kiến, chỗ bị thấy gọi là kiến hành, gọi
là kiến nghiệp, gọi là kiến trước, gọi là kiến phược,
gọi là kiến khổ, gọi là kiến thủ, gọi là kiến bố,
gọi là kiến nhiệt, gọi là kiến triền.
Nầy
Phú Na ! Phàm phu bị kiến chấp ràng buôc nên không thể xa
lìa sanh già, bịnh, chết mà lưu chuyển trong sáu đường ,
thọ vô lượng sự khổ. Nhẫn đến chẳng phải như mà đi,
chẳng phải chẳng như mà đi cũng như vậy.
Nầy
Phú Na ! Ta thấy kiến chấp nầy có lỗi như vậy, nên ta chấp
trước cũng chẳng nói với người.
_ Thưa
Cù Đàm ! Nếu thấy tội lỗi như vậy mà chẳng chấp trước
chẳng nói. Nay Cù Đàm thấy gì ? Trước gì ? Tuyên thuyết
những gì ?
Nầy
Thiện Nam Tử ! Luận về người kiến trước gọi là pháp
sanh tử . Như Lai đã rời pháp sanh tử nên chẳng kiến trước.
Như Lai gọi là năng kiến, năng thuyết , mà chẳng phãi là
chấp trước.
_ Thưa
Cù Đàm ! Thế nào là năng kiến ? Thế nào là năng thuyết
?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Ta có thể thấy rõ khổ tập diệt đạo, ta
phân biệt tuyên thuyết bốn đế lý nầy như vậy. Vì ta thấy
như vậy nên xa lìa được tất cả kiến chấp, tất cả ái,
tất cả lưu, tất cả mạn. Do đây nên ta có đủ phạm hạnh
thanh tịnh tịch tịnh vô thượng, được thân thường trụ.
Thân đây chẳng phải đông tây nam bắc.
_ Thưa
Cù Đàm ! Cớ gì thân thường trụ chẳng phải đông tây nam
bắc ?
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Nay ta hỏi ông tùy ý ông đáp.
Nầy
Thiện Nam Tử ! Như ở trước ông đốt đống lửa lớn, đương
lúc lửa cháy ông có biết là lửa cháy không ?
_ Tôi
biết là lửa cháy.
_ Lúc
lửa tắt ông có biết là lửa tắt không ?
_ Tôi
biết là lửa tắt.
_ Nầy
Phú Na ! Nếu có người hỏi ông đống lửa trước mặt ông
từ đâu mà cháy ? Tắt rồi đi về đâu ? Thời ông sẽ đáp
thế nào ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Tôi sẽ đáp rằng : Lúc lửa nầy có ra là
nhờ các duyên. Duyên cũ đã hết, duyên mới chưa đến thời
lửa nầy phải tắt.
_ Nầy
Phú Na ! Nếu họ lại hỏi lửa nầy đã tắt đi đến chỗ
nào ? Thời ông sẽ đáp ra sao ?
_ Thưa
Cù Đàm ! Tôi sẽ đáp rằng : Duyên hết nên tắt chẳng
đến chỗ nào.
_ Nầy
Thiện Nam Tử ! Như Lai cũng như vậy. Sắc vô thường nhẫn
đến thức vô thường do ái mà cháy lên, vì cháy lên mà phải
thọ lấy thân trong hai mươi lăm cỏi. Lúc cháy lên đó có
thể nói là Đông, Tây, Nam, Bắc. Hiện tại ái đã diệt,
quả báo hai mươi lăm cõi chẳng còn cháy, vì chẳng cháy nên
không thể nói là có Đông , Tây, Nam, Bắc…
Nầy
Thiện Nam Tử Như Lai đã dứt sắc ấm vô thường nhẫn
đến dứt thức ấm vô thường, nên thân của Như Lai là thường
trụ. Thân đã là thường chẳng nói rằng có Đông Tây
Nam Bắc.
Phú
Na thưa rằng xin trình bày một ví dụ, mong Thế Tôn nghe cho.
_
Lành thay ! Lành thay ! Ông cứ tùy ý mà nói.
_ Bạch
Thế Tôn ! Như ngoài thôn lớn có rừng Ta La, trong rừng có
một cây mọc trước khi thành rừng đủ một trăm năm. Lúc
đó chủ rừng lấy nước tưới cây nầy, theo thời tiết
mà săn sóc. Cây nầy già, mục, vỏ, lá, nhánh đều rơi rớt
chỉ còn lõi chắc.
Đức
Như Lai cũng như vậy : Tất cả những gì có đã cũ hư thảy
đều trừ hết, chỉ còn có tất cả pháp chơn thật.
Bạch
Thế Tôn ! Nay tôi rất thích xuất gia tu hành.
Phật
bảo : “ Thiện Lai Tỳ Kheo !”
Vừa
dứt tiến, Phú Na liền biến thành tướng Tỳ Kheo, dứt hết
phiền não, chứng được quả A La Hán.
Xem
Tiếp Trang 2
