MỤC LỤC
Mục
Lục.
Lời
Dẫn.
Lược
Khảo Văn Bản.
Phần
Mở Ðầu: Ly Dục Tịch Tĩnh
Chương
I: Thức Tâm Ðạt Bổn
Chương
II: Ngộ Vô Vi Pháp.
Chương
III: Hiện Hạnh Sa Môn
Chương
IV: Con Ðường Thiện Ác
Chương
V: Làm Mới Thân Tâm
Chương
VI - Chương VII - Chương VIII: Tu Hạnh Nhẫn Nhục
Chương
IX: Bác Học Ða Văn
Chương
X - Chương XI: Tùy Hỷ Và Cúng Dường
Chương
XII: Vượt Qua Khó Khăn
Chương
XIII: Tịnh Tâm Thủ Chí
Chương
XIV – Chương XV: Hành Ðạo Thủ Chân
Chương
XVI: Xả Ly Ái Dục
Chương
XVII: Thắp Sáng Trí Tuệ
Chương
XVIII: Siêu Việt Nhị Biên
Chương
XIX - Chương XX: Tam Pháp Aán
Chương
XXI - Chương XXII: Tham Ðắm Các Dục
Chương
XXIII - Chương XXIV - Chương XXV: Họa Hại Của Ái Dục
Chương
XXVI: Quán Chiếu Sự Thọ Dụng
Chương
XXVII: Trôi Vào Biển Giải Thoát
Chương
XXVIII: Thận Trọng Với Yù Thức
Chương
XXIX: Phong Cách Sa Môn
Chương
XXX: Ðoạn Các Duyên Sinh Khởi Ái Dục
Chương
XXXI - Chương XXXII: Ðoạn Gốc Rễ Sinh Khởi Ái Dục
Chương
XXXIII: Mặc Giáp Tinh Tấn
Chương
XXXIV: Con Ðường Trung Ðạo
Chương
XXXV: Thanh Lọc Thân Tâm
Chương
XXXVI: Hạnh Phúc Con Ðường Tâm Linh
Chương
XXXVII: Thân Cận Bên Phật
Chương
XXXVIII: Người Hiểu Ðạo
Chương
XXXIX: Nhất Vị Pháp
Chương
XL: Thân Tâm Nhất Như
Chương
XLI: Nỗi Sợ Tử Sinh
Chương
XLII: Nhìn Bằng Ðôi Mắt Phật
Tổng
Kết
Phụ
Lục Hán Văn
LỜI
DẪN
Quyển
“Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành
qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ
biến những lời Phật dạy.
Đầu
tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc
Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên. Từ lòng
hiếu học, ham tu của các vị ấy mà những trang Kinh được
giảng giải có mặt như hiện tại.
Vốn
từ văn ngôn chuyển thành văn viết hẳn không tránh được
sự trùng lập, luộm thuộm và vụng về. Mặc dù chúng tôi
cố gắng góp phần nhuận văn cẩn trọng của mình mong cho
bản văn mạch lạc, sáng nghĩa và dễ đọc nhưng mỗi lần
đọc lại vẫn thấy còn rất nhiều sai sót.
Kính
mong các bậc Thầy, các bậc thức giả, người đọc, học
lượng thứ và chỉ bảo cho.
Chúng
con thành kính đảnh lễ Thập phương Tam Bảo. Xin sám hối
về tội sai lầm khi giảng giải Phật ngôn.
Chúng
con cúi đầu đảnh lễ tri ân các bậc Thầy đã tác thành
giới thân huệ mạng và mở mắt chánh pháp cho chúng con.
Xin
tri ân cha mẹ đã cho con mảnh hình hài hữu dụng.
Xin
tri ân pháp hữu gần xa, những người còn sống và những
người đã mất.
Cuối
cùng xin nguyện cho mọi người khi tiếp xúc Kinh văn mắt Đạo
sáng bừng, thể nghiệm được tâm Phật bất sinh, thành tựu
Giải thoát.
Tu
viện Lộc Uyển
Nam
Cali, Hoa Kỳ cuối Đông 2007
Phước
Tịnh
LƯỢC KHẢO
VĂN BẢN
Đại
chánh Tạng ghi một dòng sau chữ “Tứ Thập Nhị Chương Kinh:
Hậu Hán Tây vức Sa môn Ca-Diếp-Ma-Đằng cọng Pháp Lan dịch”.
Nếu đọc cho đủ phần phụ chú thì phải đọc: “Hậu
Hán Tây vức Sa môn Ca-Diếp-Ma-Đằng cọng Trúc-Pháp-Lan phụng
chiếu dịch.” Tức là: “Vào thời Hậu Hán Sa môn
ở Tây vức tên Ca-Diếp-Ma-Đằng cùng Sa môn Trúc-Pháp-Lan
vâng chiếu mệnh nhà vua dịch Kinh Bốn Mươi Hai Chương.”
Do
lời ghi ấy Kinh được đánh giá là văn bản Phạn Hán đầu
tiên trên đất nước Trung Hoa. Dĩ nhiên, văn bản dịch trong
Đại chánh tạng nằm ở quyển mười bảy Kinh tập bộ, ký
hiệu No. 784 không giống các văn bản phổ biến sau nầy và
bản hiện tại chúng tôi đang xử dụng giảng giải.
Văn
bản dịch trong Đại chánh tạng phần vào Kinh ghi một đoạn
dẫn khởi rằng: “Vua Hán Minh Đế mộng thấy vị thần,
sắc vàng nơi thân chói sáng, hào quang rực rỡ bay vào cung
điện”... Sau đó vua sai sứ thỉnh Kinh, mở đầu cho công
trình xây dựng chùa tháp, phiên dịch Kinh điển và phổ biến
Phật pháp. Nội dung Kinh cũng có nhiều khác biệt với văn
bản chúng ta đang đọc.
Các
nhà học giả Việt và Hoa đã làm công tác đối chiếu, thẩm
định và đưa ra nhiều luận cứ bất nhất về thời điểm
dịch thuật. Tuy nhiên các ông cùng công nhận đây không phải
là Kinh văn đầu tiên được dịch Phạn Hán đầu tiên trên
đất nước Trung Hoa vào thời Hán Hiếu Minh Đế niên hiệu
Vĩnh Bình thứ mười (67 tây lịch), mà có thể đã được
biên soạn vào thời Đông tấn (317-416 TL). Ngay như các dị
bản Tống tạng, Nguyên tạng, Cao Ly tạng cũng đã có những
dị biệt biểu đạt quá trình hoàn thiện mỗi lần khắc
bản in. Huống hồ chi khi đối chiếu với văn bản Thiền
môn lưu hành dưới tên “Phật Tổ Tam Kinh” thì luận
cứ trên có thể tin được.
Tuy
nhiên, mãi đến hiện tại chùa Bạch Mã ở phía tây thành
Lạc Dương - Hà Nam - do Hán Minh Đế xây dựng cho hai vị Thánh
tăng Thiên Trúc dịch Kinh vẫn còn uy nghi sừng sững dù qua
bao triều đại binh lửa hủy diệt. Cổ mộ của Ngài Ca-Diếp-Ma-Đằng
và Trúc-Pháp-Lan chở Kinh trên lưng ngựa trắng đến hán triều
truyền đạo vẫn được bảo tồn hai u nhã hai bên phía trước
chùa Bạch Mã. Sử liệu của các Ngài càng đậm thêm theo
với thời gian chồng chất. Và Kinh Tứ Thập Nhị Chương cũng
theo bề dày tháng năm hoàn thiện hơn. Văn tư đã được tu
sức mỹ lệ, hình thức cú pháp thi ca, nhạc điệu. Nội hàm
sâu sắc tư tưởng Đại thừa. Khác biệt rất nhiều so với
văn bản nguyên thỉ. Sưu khảo ra thì biết rằng: Quá khứ
các bậc danh tăng Trung Quốc thời Minh, Thanh như: Ngẩu Ích,
Liễu Đồng, Đạo Thái, Tục Pháp... chú sớ giảng giải cẩn
trọng. Cận đại như Ngài Thái Hư, Tuyên Hóa cũng dùng văn
bản nầy dạy chúng.
Trên
quê hương Việt Nam, Kinh văn theo phong trào chấn hưng Phật
giáo giữa thập kỷ năm mươi - bảy mươi đã trở thành sách
giáo khoa cho các trương Phật học. Do vậy đủ thấy sự quan
trọng nền tảng và cần thiết như thế nào đối với người
học Phật như chúng ta.
Tóm
lại, lịch sử phiên dịch Kinh văn và quá trình hoàn thiện
văn bản để chúng ta học như hiện tại là cả một công
trình bảo quản, tu chỉnh của người xưa.
Mong
rằng dòng chảy tuệ giác của Đức Thế Tôn mãi được tôn
kính, giữ gìn và phổ biến như văn bản Kinh Tứ Thập Nhị
Chương đã chảy qua dòng lịch sử hai nghìn năm mà vẫn mênh
mông tỏa sáng giữa nhân gian.
PHẦN
MỞ ĐẦU
LY DỤC TỊCH
TĨNH
Thưa
đại chúng,
Hôm
nay chúng ta thực sự bước những bước đầu tiên vào Kinh
Bốn Mươi Hai Chương, phần mở đầu với chủ đề là: “Ly
Dục Tịch Tĩnh.”
“Ly
dục tịch tĩnh thị tối vi thắng.” được xem như
tuyên ngôn đầu rất quan trọng của Đức Thế Tôn.
A.
CHÁNH VĂN.
Thế
Tôn thành đạo dĩ, tác thị tư duy: “Ly dục tịch tĩnh thị
tối vi thắng.” Trụ đại thiền định, hàng chư ma đạo.
Ư Lộc Dã Uyển trung, chuyển Tứ Đế pháp luân, độ Kiều
Trần Như đẳng ngũ nhân, nhi chứng đạo quả. Phục hữu
tì kheo sở thuyết chư nghi, cầu Phật tấn chỉ. Thế Tôn
giáo sắc, nhất nhất khai ngộ, hợp chưởng kính nặc, nhi
thuận tôn sắc.
Sau
khi thành đạo Đức Thế Tôn khởi tư duy “Ly Dục Tịch Tĩnh
là pháp môn tối thắng.” Ngài trụ trong Đại thiền định
và hàng phục ma quân. Sau đó đến Lộc Dã Uyển chuyển pháp
luân Tứ Đế, độ năm anh em Kiều Trần Như chứng đạo quả.
Liền khi ấy có một vị Tỳ Kheo nói những điều nghi ngờ
của mình, cầu Phật chỉ bảo và Thế Tôn giảng giải làm
cho mọi người được khai ngộ. Các vị đều chấp tay vâng
lời Phật dạy.
B.
ĐẠI Ý.
Đại
ý đoạn nầy giới thiệu cho chúng ta biết Đức Thế tôn
sau khi thành đạo, thuyết pháp và dựng tăng.
C.
NỘI DUNG.
Chúng
ta sẽ lần lượt đi vào nội dung của đoạn Kinh trên tuy
ngắn nhưng có thể giải thích bằng năm phần:
1.
Khái quát tính lịch sử.
2.
Tuyên ngôn đầu.
3.
Phẩm chất thực của người tu.
4.
Thuyết pháp và dựng tăng.
5.
Quả vị tu chứng.
1.
Khái quát tính lịch sử.
Đây
là một bản văn được tuyển dịch từ văn học A Hàm. Người
xưa rất thông minh khi dịch bản văn nầy đã không nói: “Như
thị ngã văn, nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc”... tuy nhiên
vào đầu bản văn các vị đã dùng ngay chủ thể thuyết pháp
và sơ lược vài dòng lịch sử cho chúng ta biết như câu:
“Sau khi Thế Tôn thành đạo thì Ngài khởi tuệ quán như
thế nầy: “Tác thị tư duy.”
Thông
thường “Tác thị tư duy” được dịch là khởi suy nghĩ,
nhưng đối với các bậc giác ngộ thì không phải khởi suy
nghĩ như chúng ta. Từ tư duy hiện tại chúng ta rất hay hiểu
lầm. Tư duy có nghĩa là độc thoại, nói lầm thầm bằng
tư tưởng của mình. Nhưng các bậc chứng ngộ không hề khởi
tư duy mà dùng tuệ giác quán chiếu trực tiếp thâm sâu hơn,
sáng hơn và mênh mông hơn. Không phải như chúng ta khởi tư
duy là suy nghĩ từng câu, từng lời và vận dụng ý thức
để làm việc.
2.
Tuyên ngôn đầu.
“Ly
dục tịch tĩnh thị tối vi thắng.” Hai chữ Tịch
và Tĩnh nầy hàm nghĩa Niết Bàn, tức “Ly dục và thành
đạt Niết Bàn là pháp tối thượng.” Ta có thể xem
đây là tuyên ngôn đầu rất quan trọng đối với người
tu chúng ta.
–
Ly dục:
Thưa
đại chúng, từ “dục” nầy dễ gây dị ứng với người
tu. Thông thường khi nói đến điều nầy, chúng ta hay có quan
niệm về quan hệ tình dục giữa nam và nữ. Tất nhiên quan
hệ tình dục là một loại dục rất thô, rất cạn, nó không
có nghĩa gì so với tầng thâm sâu mà Phật muốn nói trong
từ “ly dục” cả. Như mình khước từ đời sống gia đình
thế nhân bước vào con đường tu, sống đời sống độc
thân đã là ly dục rồi, nhưng chưa đủ, nó vẫn còn ở tầng
mức cạn mà thôi. Tại sao? Bản chất của dục tiềm phục
rất sâu trong tự thân chúng ta. Ai cũng biết một điều là
thân người sinh ra từ dục, và dục là nền tảng căn bản
để làm thành thọ mạng, làm thành sự sống của mỗi con
người. Không có dục tức là không có ý muốn sống. Em bé
kia sẽ không thể đòi ăn khi em đói, em không có khả năng
đề kháng với những lạnh, nóng bất thường của thời tiết,
của hoàn cảnh để em tồn tại. Bản chất của dục làm
nên đời sống là như vậy. Mức độ cạn, hình hài nầy,
thọ mạng nầy được làm bằng dục. Ngay từ hạt mầm đầu
tiên ta có được hình hài nầy đã là dục rồi.
Theo
cách lý giải của những nhà Phật học, khi rời hình hài
tứ đại, thần thức của ta khi còn lửng lơ ở thân trung
ấm, ở cõi mênh mông hư không và bấy giờ lúc mà nghiệp
duyên sẽ thọ sanh vào một gia đình nào, tức khắc thần
thức của thân trung ấm nhìn thấy bố mẹ ở trên mặt hành
tinh nầy đang giao hợp. Nếu thần thức kia sẽ thọ sanh làm
nam, nó chỉ nhìn thấy hình hài của người nữ; nếu thần
thức kia thọ sanh làm nữ, nó sẽ chỉ nhìn thấy duy nhất
người nam. Khi nhìn thấy hình ảnh đó, ý niệm dục đầu
tiên khởi lên trong thần thức nọ, và khi niệm dục đã khởi
lên tức khắc thần thức rơi ngay vào thai mẹ, kết tinh thành
hình hài đầu tiên. Cho nên dục là bản chất của đời sống,
không phải ở hình hài nầy không mà ở tận sâu trong tâm
thức chúng ta. Do vậy, không một em bé trai nào mà không thương
mẹ, không một em bé gái nào mà không thương cha. Tính chất
tự nhiên là như vậy, sức hút tự nhiên là như vậy. Cũng
như không có một nữ đệ tử nào mà không thương thầy nam,
không có một sư cô nào làm thầy mà không thương đệ tử
nam. Đó là điều tự nhiên trong thế giới, trong trần gian
nầy. Và có như thế mới thành hình được dòng chảy tử
sinh nối dài qua nhiều kiếp.
Tóm
lại, bản thân con người mang hạt mầm dục mà có mặt trong
cuộc đời nên chất dục nầy rất ư là thâm sâu. Nó không
phải chỉ cạn trên bình diện quan hệ tình dục giữa nam
và nữ. Mức độ thâm sâu của nó chìm lặng ở bên trong
ta khó nhận biết. Ví dụ như đối với người già, sinh lực
của cơ thể không còn cho nên ham muốn về tình dục không
có mặt, nhưng không phải không có ham muốn tình dục mà tâm
dục họ lặng yên, bị loại trừ. Chưa thành đạt quả vị,
chưa chứng thánh quả A La Hán, chưa đoạn sạch lậu hoặc
thì mầm dục vẫn còn.
Với
những người già có quá trình tu tập chuyển biến, cái dục
thô phù có thể hết nhưng dục tinh tế nó lặn sâu vô cùng,
nó trở thành ái kiến đại bi: tức lòng thương tuy có rộng,
nhưng trong bản chất của lòng thương đó có cái mầm của
ái kiến; chưa mênh mông, bình đẳng và không điều kiện
nên gọi là ái kiến đại bi.
Với
người già không có tu, dục của thân họ tuy không còn nhưng
khẩu họ dục. Họ ưa nói về chuyện dục, hay ưa nhìn về
dục, hay suy tư về vấn đề dục và chúng ta hay bắt gặp
nơi họ thân dục không có nhưng ý dục vẫn còn tồn tại.
Nhìn vào bản thân họ ta thấy đôi mắt ganh tị của họ
thật là sâu nặng. Khi họ nhìn thấy ai mà rạng rỡ, ai mà
tươi vui, ai mà dễ thương, hay có quan hệ giao tế bình thường
trong cuộc sống rất hạnh phúc, thì tự thân họ nhìn bằng
đôi mắt cay cú, ganh ghét. Đó là dạng biểu lộ tâm dục
vẫn còn tiềm phục.
Trong
thế giới người tu chúng ta và trong toàn bộ những sinh hoạt
của các truyền thống tôn giáo đều mang màu sắc nầy. Những
vị nữ tu lớn tuổi, ở trong những trung tâm tu học đóng
kín không tiếp cận với ai, các vị ấy càng về già tâm
thức họ càng khó chịu, cay nghiệt vô cùng khi thấy những
người trẻ mà tươi vui, hồn hậu và sống động. Bản thân
của đặc tính dục bị che lấp, bị trấn ngự cho nên biến
dạng thành một loại tâm thức khác, nó cũng là một dạng
ái dục ở tầng rất thâm sâu, cho nên chúng ta cần lưu ý.
–
Đoạn dục tịch tĩnh.
“Đoạn
dục tịch tĩnh” là đoạn sạch lậu hoặc, phiền não của
tâm thức rất là vi tế. Bao giờ mà thân dục không có, miệng
cũng thanh tịnh, ý nghĩ luôn trong sạch, dục không còn biểu
hiện ở mặt vi tế là “ái kiến đại bi” tức thương
mà thương ái kiến, không biểu lộ qua niệm giận, niệm yêu,
niệm ghét... thì người đó đoạn sạch được lậu hoặc
ái dục, chứng quả A La Hán. Con đường thăm thẳm xa là như
vậy.
Thưa
đại chúng, khi nghe từ ly dục, đoạn dục, khử ái... chúng
ta rất dễ phát sinh ra hiểu lầm và muốn đào thải, loại
trừ, hủy diệt. Nếu xử dụng tâm thức như thế để điều
chỉnh, trấn ngự năng lượng dục của tự thân, chúng ta
đã đi vào con đường rất sai lầm. Tại sao? Khi chúng ta xem
dục là một năng lực cần đối đầu, nó sẽ trở thành
một bức xúc quay phá lại mình rất khó chữa trị. Chỉ có
một con đường duy nhất để chúng ta có thể chuyển biến
năng lượng dục; đó là con đường nhận biết mà không phải
hủy diệt loại trừ.
Đơn
giản ở mức độ cạn của hình hài vật lý, nếu chúng ta
ra lệnh cho mình ngày mai nhịn đói trọn ngày, thay vì vào
giờ ăn mới đói, nhưng do đã có thông tin ngày mai không được
ăn, tức thì chưa đến ngày mai ta đã thấy đói rồi. Cũng
thế, ta có cảm tình hay yêu mến một loài hoa như hoa trà
mi, nhưng vì lý do tu viện không cho phép chi tiêu món tiền
lớn cho chậu trà mi quá đắt, thế là ta tự khống chế tâm
thức mình không được nhìn và đi tới chậu hoa trà mi nữa.
Nhưng rủi ro làm sao, đi quanh quanh mình vẫn nhìn thấy nó,
qua lại, lên xuống mình cũng không thoát khỏi chậu trà mi.
Tâm
thức chúng ta có một con đường như nhau, khi cố tình muốn
loại trừ, trấn ngự một điều gì lập tức năng lượng
lại đổ dồn về phía đó, tạo thành sức hút cho ta khó
chống cự.
Tôi
xin chia xẻ cùng đại chúng một câu chuyện vui: Có một thầy
kia đi qua đò, khách qua đò ai cũng trả mỗi người hai đồng,
cô lái đò lại đòi thầy trả tới bốn đồng. Ông thầy
mới hỏi tại sao kỳ vậy? Người ta cũng đi như tôi cớ
gì cô đòi tôi đến bốn đồng? Cô lái đò trả lời, người
ta đi đò thông thường thôi, còn thầy vừa đi đò vừa ngắm
tôi suốt từ bờ bên kia qua tới bên nầy cho nên tôi lấy
gấp hai lần. Lần trở về ông thầy biết thân, chỉ cúi
mặt xuống không nhìn cô lái đò nữa, sợ người ta lấy
tiền gấp đôi. Qua tới bên kia bờ, lần nầy cô lái đò
lấy tiền gấp ba lần, ông thầy rất là kinh ngạc và nói
tại sao tôi không nhìn cô một lần nào mà cô lại lấy tiền
gấp ba lần. Cô lái đò trả lời: “Lần thầy đi nhìn tôi
bằng mắt, lần nầy về thầy không nhìn tôi bằng mắt nhưng
thầy nhìn tôi bằng tâm của thầy, hình ảnh của tôi đã
in vào trong tâm của thầy rồi nên tôi lấy gấp ba là ít
đó.”
Thưa
đại chúng, điều gì trong ta mà ta đặc biệt lưu tâm muốn
trấn ngự, muốn loại trừ tức khắc sẽ tạo thành một
xung lực rất mạnh để đánh phá ta. Đó là điều chúng ta
cần lưu ý về vấn đề ly dục. Vậy con đường ly dục là
con đường thế nào? Đó là con đường nhận biết. Từ sự
nhận biết ấy năng lượng dục sẽ được chuyển biến theo
chiều hướng tích cực, và có ba con đường chuyển biến
về năng lượng dục.
Con đường cạn nhất là con đường phát triển dục một
cách bình thường của đời sống vật lý. Trong thực vật
dục là khả năng để duy trì hạt mầm. Trong loài động vật
có chu kỳ động dục, và chu kỳ phát dục nầy để nó duy
trì chủng loại.
Trong
con người chúng ta cũng có đặc tính của dục về mặt vật
lý để hình thành thọ mạng đời sống nối tiếp và kéo
dài. Con đường thô và thấp nhất là con đường tình dục
của quan hệ nam nữ. Con đường nầy nếu để phát triển
một cách tự nhiên thì nó sẽ sản sinh ra một con người
mới, một thân xác mới. Nhưng nếu cùng một dòng chảy của
năng lượng dục nầy mà ta thông minh, ta nhận biết nó bằng
phương pháp chuyển hóa thì thay vì dòng chảy xuôi, nó sẽ
trở thành dòng chảy ngược và sẽ làm thành một sinh mạng
mới trong tự thân ta. Điều nầy có nghĩa, nếu năng lượng
dục nầy xuôi dòng theo tình dục tự nhiên của nhân gian;
đó là con đường của tử sinh. Là con đường hình thành
một bản sao của chính ta, rồi con ta, cháu ta và nhiều thế
hệ tiếp nối... mãi đi theo con đường của tử sinh kéo một
tràng dài xuôi dòng như vậy.
Trong
truyền thống Ki Tô giáo có câu: “Sinh vào Thiên Quốc của
Chúa.” Sinh vào Thiên Quốc của Chúa không có nghĩa là đợi
chết, rũ bỏ hình hài nầy ta mới sinh vào Thiên Quốc, mà
ngay trong đời sống nầy nếu ta biết chuyển hóa năng lượng
dục thì tự thân mình đã phát sinh một đời sống mới.
Điều ấy có nghĩa là ngay nơi hình hài cha mẹ sinh ra đây
chính chúng ta phải tự mình chuyển năng lượng dục nầy
và phải tự mình tạo ra một sinh mạng mới. Và lần sinh
trưởng thứ hai nầy, thực sự là sinh mạng mới của tự
thân.
Mức độ thứ hai là năng lượng dục nầy cuồn cuộn chảy
trong tự thân của mỗi con người, nó làm nền cho đời sống
tinh thần, và năng lượng nầy nếu khéo xử dụng sẽ trở
thành nỗi đam mê sáng tạo.
Đối
với người nghệ sĩ sáng tác, không có niềm đam mê thì họ
sẽ không học tập thành tài, không thể đầu tư toàn bộ
năng lượng của mình vào những tác phẩm nghệ thuật. Trong
mọi loại hình nghệ thuật đều đòi hỏi năng lượng nầy
có mặt. Nó là phần tinh túy thúc đẩy sự đam mê để cho
con người có thể tạo ra những tác phẩm vượt thời gian,
không gian như thi ca, hội họa, điêu khắc...
Ở mức độ thấp, năng lượng nầy chỉ chảy vào phần vận
động cơ bắp và các sinh hoạt tình dục của con người.
Dĩ nhiên có một điều nên lưu ý ở đây, tình yêu là một
bông hoa, là một quà tặng mà tạo hóa dành cho con người
vốn dĩ được phối hợp không phải bằng tình dục mà bằng
sự tiếp xúc qua các tầng thâm sâu của tình cảm và tinh
thần của con người.
Con
người có thể làm cho đời sống lứa đôi của họ mỗi
ngày mỗi hạnh phúc hơn hoặc chìm đắm, chán nản bất hạnh
hơn bằng cách nâng cao đời sống từ thô của tiếp xúc vật
lý đến tinh tế của tình cảm, tinh thần đem lại một tình
yêu có phẩm chất thực sự. Hoặc ngược lại do chính họ
có thông minh hay không mà thôi.
3.
Phẩm chất thực của người tu.
Trong
pháp chế nhà Phật, Đức Thế Tôn qui định khi thâu nhận
người xuất gia là người phải hoàn thiện lục căn và giới
tính. Nếu là nam thì phải hoàn thiện phẩm chất của người
con trai. Nếu là người nữ thì phải đầy đủ phẩm chất
của người nữ mà không hề có sự pha trộn giữa 50% nam
hoặc 50% nữ.
Dùng
lăng kính rất bình thường, ta sẽ nghĩ người như thế tức
người không phải nam, không phải nữ thì họ không có dục;
không ái nam, không ái nữ chắc là sẽ rất dễ được nhận
vào làm người tu, và rất dễ tu.
Nhưng
mà không. Pháp qui Phật dạy: Một là trọn vẹn phẩm chất
của một người nam, hai là trọn vẹn phẩm chất của một
người nữ; tức là cơ chế vật lý, sinh lý của đời sống
cần phải bình thường. Đó là căn bản để tiến đạo.
Cơ
chế vật lý bình thường là có một hình hài trọn vẹn,
nếu ở trong nhân gian thì chúng ta có thể yêu thương, có
thể làm cha hay làm mẹ thì chúng ta mới có khả năng làm
người tu được. Tức là chúng ta phải có năng lượng dục
bình thường, để con người có thể vươn vai tự thân đứng
dậy và trưởng thành trong đời sống tâm linh. Nếu năng lượng
dục không có, ta chỉ là người lững đững, lờ đờ, cận
kề với cái chết. Và nếu không có niềm đam mê tu tập thì
không thể nào tu tập được. Cho nên chúng ta không nên nhìn
dục dưới lăng kính của một nhà đạo đức thiên kiến
Những
nghệ sĩ là những con người mà sinh lực và năng lượng dục
rất mạnh, đời sống tình cảm rất ư bén nhạy và cảm
tính của họ mạnh vô cùng, nên không có một người nghệ
sĩ nào mà tình cảm không thay đổi nhanh chóng vì năng lượng
dục của họ phát tiết trong lãnh vực nghệ thuật vẫn còn
thừa thãi. Cho nên họ luôn có những niềm đam mê lớn. Với
nguồn năng lượng dục cuồn cuộn trong tự thân nhưng vì
không biết chuyển hóa, nhận diện nên họ đã để cho nguồn
sống chảy vào con đường của thế trần tạo thành dòng
chảy tử sinh chìm nổi. Hoặc là họ trút tất cả vào nỗi
đam mê tinh thần ở tầm mức có thể cao hơn, hay hơn nhưng
vẫn không thể so được với con đường tâm linh vượt thẳng
trời cao.
Con
đường tâm linh là con đường tự làm cho dòng chảy của
dục biến chuyển, quay ngược trở lại làm ra một sinh mạng
mới; đó là sinh mạng của tuệ giác.
Ở
từng mức thâm sâu nầy, nếu biết chuyển hóa năng lượng
dục trong đời sống tu tập, thì quanh ta là một môi trường
lành mạnh, là bầu khí quyển tốt lành cho ta hít thở, trưởng
thành. Đó là mặt cạn nhất mà môi trường tu trao cho ta.
Trong
sinh hoạt tu viện như những pháp thực tập của chúng ta thì
phim ảnh, tiểu thuyết và tất cả những thức ăn có tính
cách nuôi dưỡng bạo hành, khơi động tình dục đều bị
cấm chỉ. Nó có tính cách ngăn cản lượng thông tin bên ngoài
đi vào tác hại, làm ô uế tâm thức ta. Tuy nhiên, dù đã
ngăn tất cả dòng chảy bên ngoài không được xâm phạm bản
thân chúng ta, nhưng nếu tự bên trong năng lượng dục vẫn
rạt rào, sôi sục và có khuynh hướng như dòng nước muốn
vỡ bờ thì chúng ta vẫn chưa có thể làm cho nguồn năng lượng
ấy chuyển dòng để làm thành một sinh mạng mới của tự
thân.
Điều
chúng ta phải làm là đầu tư năng lượng đam mê của chính
tự thân tâm ta; mặt cạn nhất là những thực tập bên ngoài
như học hỏi, tư duy, chiêm nghiệm, thiền quán... mới mong
tác thành pháp thân huệ mạng. Thử nhìn vào đời sống nhân
gian để thấy. Nếu con người nào mà chỉ có niềm đam mê
lớn về lợi danh, chỉ đầu tư năng lượng cho học thuật,
thì con người kia sẽ rất là nhẹ gánh với vấn đề tình
cảm. Thế nên chỉ cần phát triển duy nhất niềm đam mê
tu tập bùng cháy trong tâm thức, thì năng lượng dục không
còn hướng phát triển thuận chiều, chảy xuôi vào ngõ lục
đạo luân hồi nữa.
Điều
nầy rất rõ khi chúng ta nhìn sâu hơn vào trong một xã hội
mà xã hội ấy có nền văn minh cao, trí thức được nâng
lên thì tình trạng phát triển dân số rất ít. Ngược lại
trong xã hội nghèo đói chậm tiến, trình độ trí thức thấp
kém thì xã hội ấy dân số phát triển cực kỳ nhanh chóng.
Thưa
đại chúng, khi chúng ta xuất gia sống trong đạo, tu hành ngày
nọ qua ngày kia; ngày nào cũng tụng kinh, ngồi thiền, đi kinh
hành, nghe pháp... lập đi, lập lại như một vòng tròn, nhưng
chúng ta đâu biết rằng đời sống đơn điệu, bình dị đôi
khi trở thành tẻ nhạt đó là điều ước mơ không những
cho người ở phố thị lao xao, mà đôi lúc cũng có thể là
niềm mơ ước của Chư Thiên nữa. Họ mơ ước biết bao được
đời sống như chúng ta. Một đời sống giản dị, thảnh
thơi, an bình và có trọn vẹn thì giờ để tu tập. Chúng
ta thử nghĩ, bôn ba dưới phố một tuần hai ngày nghĩ các
thiền sinh lên đây để thực tập, để được nhìn, gặp
chúng ta bởi vì niềm đam mê của họ lớn vô cùng, bởi vì
thấy đời sống quí Thầy Cô sao thích quá. Trong khi chúng
ta đang ở trong thế giới thật sự của người tu lại không
thấy điều nầy là hạnh phúc tuyệt vời. Chúng ta thấy sao
mà chán nản, ngày tháng trôi qua một ngày như mọi ngày rất
ư là vô vị và nhạt nhẽo. Có phải vì chúng ta chưa xử
dụng hết năng lượng của tự thân mình, để tự nuôi dưỡng
và làm thành một sinh mạng mới?
Chưa
ai có nhiều thì giờ như người tu để học, người tu chúng
ta có cả một đời dài để học, để thực tập, để tu.
Thời gian từ lúc vào chùa cho đến lúc bỏ hình hài, thì
giờ đó là của chính chúng ta. Suốt con đường dài chúng
ta chỉ làm hai việc mà thôi. Một là học, hai là thực tập.
Chúng ta hãy dành trọn vẹn cuộc đời để làm hai việc đó.
Dù cho người ấy xuất gia lúc 60 tuổi đi nữa, họ cũng ở
trong đạo mười năm, có nghĩa là người ấy còn có được
mười năm để học, để trau dồi, để tu không bị phí phạm
một chút thời gian nào dù ngắn.
Nếu
chúng ta thông minh biết dùng hết năng lượng của thân tâm,
thổi niềm đam mê học hỏi và thực tập cháy bùng lên mãnh
liệt, có thể chưa chứng được A La Hán quả trong hiện đời
nhưng chắc chắn quý Thầy, quý Sư cô cũng trở thành những
bậc thầy tài ba lỗi lạc, trác việt không ai sánh bằng.
Chúng
ta chưa cần làm gì nhiều, chỉ cần quay lại nhìn đời sống
tự thân của chính mình, cũng đủ thấy hạnh phúc vô ngần.
Không cần bỏ tiền muôn bạc triệu xây dựng mà tự nhiên
tôi được thưởng lãm núi rừng thênh thang bát ngát và được
ngồi trong một thiền đường trầm lắng tôn nghiêm. Có những
buổi khuya thức dậy sớm, xuống đây thắp một nén hương
cắm lên bàn Phật, thiền hành một vòng tôi cảm được niềm
hạnh phúc. Rồi những buổi chiều thả bộ trên đường vắng,
lòng thảnh thơi và mênh mông; không gian nầy, con đường nầy
và đất trời đang cùng tôi mở hội. Cả cuộc đời người
tu đến và đi trên hành tinh nầy nhẹ như mây, chúng ta có
trọn cả một đời để tu không vướng vào một điều gì
khác. Thật là tuyệt vời.
Và
khi chúng ta đầu tư năng lượng sống của mình cho sự tu
tập, đã nếm hương vị của hạnh phúc lớn như thế thì
không hề có lợi danh, buồn phiền, lo toan, ái nhiễm gì của
nhân gian có thể lôi mình được và làm sao mà lôi mình được.
Có hạnh phúc nào đổi được hạnh phúc của người tu. Chỉ
ở bình diện cạn thôi, chúng ta đã thấy hạnh phúc tràn
đầy trong tâm thức của mình rồi.
Tuy
nhiên, chúng ta có thể nhìn lại vấn đề dục để nhận
biết thêm một điều nữa là không có hiện tượng nào mà
không có hai phần: phần vật lý và phần tâm lý bên trong.
Phần vật lý thô cạn của dục là quan hệ tình dục của
phái tính. Quan hệ tình dục giữa nam và nữ nếu chỉ đơn
thuần trên mặt cạn của vật lý nó không có nghĩa gì cả,
chỉ là sự đòi hỏi thỏa mãn qua sự giao thoa giữa hai thân
xác, và đôi lúc chỉ là tình cảm lợi dụng. Nhưng đằng
sau của vật lý dục, người ta còn có cái hồn của nó gọi
là tình yêu nằm sâu bên trong. Cái hồn nầy là sự tiếp
xúc của hai tâm thức, chứ không phải chỉ là hình hài của
hai thân xác. Bản chất của dục về mặt vật lý nếu chảy
ngược lại được thì sẽ trở thành niềm đam mê, niềm
thôi thúc cho nhà nghệ sĩ sáng tác nên những tác phẩm để
đời. Riêng với người tu, năng lượng dục nếu chảy ngược
dòng, tự thân nó làm cho người tu chúng ta trong phần thể
chất tỏa sáng năng lượng chánh niệm. Người tu mà nếu
không có phẩm hạnh thì tự thân đời sống bên ngoài không
thể hiện được năng lượng cuốn hút của sự tĩnh tại,
an bình.
Phần thâm sâu hơn, dòng chảy ngược của năng lượng tự
thân sẽ trở thành nỗi đam mê lớn đối với pháp thực
tập chánh niệm. Khi tâm thức ta sống trọn vẹn với sự
nhận biết liên tục, tức là sống thực sự trong chánh niệm
hai mươi bốn giờ một ngày, bản thân của năng lượng nầy
sẽ hình thành một sinh mạng mới bất sinh bất diệt.
Chúng
ta đều biết pháp thực tập căn bản của mình là phải mời
gọi năng lượng chánh niệm liên tục. Làm thế nào cho tâm
ở lại với thân trong từng hơi thở vào ra, trên từng bước
chân đi, từng bước chân trong cả chiều dài đời sống đều
có dấu ấn của tâm. Rồi mỗi động tác quay người, ngẩng
đầu, nheo mắt... mỗi một cử động đều mời gọi tâm
ta ở lại với thân 24/24. Mời gọi năng lượng chánh niệm
luôn có mặt với ta đòi hỏi gì nơi ta để làm được điều
nầy?
Thưa,
cơ thể vật lý chúng ta không phải là một cơ thể ù lì,
mỏi mệt, bệnh tật mà phải là một cơ thể thật sinh động.
Không phải một con người đi rề rà, không muốn bước mà
thực tập chánh niệm được. Đành rằng chúng ta bước những
bước rất chậm của lần thực tập ban đầu, và trong mỗi
động tác mình phải cố tình làm chậm lại để kiểm soát
thân hành, để làm cho năng lượng chánh niệm có mặt, nhưng
không có nghĩa là chúng ta cứ rề rà, chậm chạp mới có
thể thực tập chánh niệm được. Bản chất rề rề, ù lì
đó biểu lộ một tâm thức rất là ủy mị, uể oải, dật
dờ thiếu năng lượng sống.
Đừng
tưởng rằng tuyển chọn người vào tu là những người nói
không ra hơi. Người xuất gia phải là những người rất kiêu
hùng mới có thể sống được một đời tu tập, ngẩng cao
đầu không biết sợ trời đất là gì, và những người tu
đó năng lượng của họ phải tuôn trào cuồn cuộn trong thân.
Mặc dầu bên ngoài ta đi đứng, nói cười đằm thắm, nhẹ
nhàng nhưng bên trong bản chất phải rất hùng. Tự thân đời
sống người tu là như thế. Đừng quan niệm rằng, người
tu phải thực tập nói rỉ rả, nói không ra hơi, không dám
nói rồi đi đứng như người bệnh.
Nếu
chúng ta không ôm ấp niềm đam mê lớn để tu tập, chắc
chắn là chúng ta không thể mời gọi năng lượng chánh niệm
về trong từng sát na của hơi thở. Tâm thức ta rất dễ đi
hoang,và thích thả trôi trong đường dài của sinh tử. Chúng
ta phải là người có năng lượng đam mê vô bờ mới có thể
kéo tâm về trụ lại nơi thân.
Giả
sử thân đang bệnh hoặc mỏi mệt, buồn rầu, bất an thì
chúng ta sẽ thực tập rất khó. Cũng như thế, để có thể
nhận được đạo lý và đạt đến chỗ vô sinh, bất diệt
đòi hỏi khả năng tu tập để chuyển đổi hoàn toàn dòng
năng lượng được gọi là dục thành một niềm khao khát
tu tập, để chánh niệm dâng tràn mới có thể hoàn thành
sinh mạng mới, chứng được quả an lạc.
Khi
chúng ta nghe từ “dục” nầy đừng nghĩ đến mức độ
thô phù của quan hệ tình dục. “Dục”thâm sâu và tinh tế
hơn nhiều và được biểu hiệu ra nhiều mặt.
Khi
chúng ta thấy bất cứ hiện tượng hạnh phúc của một người
nào, hay thấy khuôn mặt rạng rỡ, tươi mát của một ai mà
khởi tâm ganh tị thì đó là dạng chuyển biến của năng
lượng dục đã bị trấn ngự nên đổi chiều qua hướng
khác.
Chúng
ta cũng đừng nhìn dục bằng cái nhìn đối kháng, thù hằn,
chế ngự. Tự thân mỗi người đều có năng lượng nay tuôn
chảy để hình thành sự sống. Do vậy chúng ta chỉ có thể
làm được một điều là chuyển dòng chảy, chứ không thể
tắt dòng chảy, giết dòng chảy được. Không có cách gì
để diệt trừ, đào thải năng lượng dục. Cơ thể vật
chất có thể hủy hoại được, tiêu diệt được nhưng năng
lượng vô hình thì không thể.
Vì
vậy, chúng ta chỉ có thể chuyển được năng lượng dục
nầy bằng con đường của nhận biết. Ví dụ khi tự thân
chúng ta có năng lượng giận, chúng ta không thể dùng cách
gì để loại trừ hay hủy diệt cơn giận nơi ta được. Thông
minh nhất, hãy mời gọi năng lượng nhận biết lên để nhận
biết cảm thọ giận. Khi năng lượng nhận biết có mặt tức
khắc cái giận bị cắt hết khả năng tiếp tế, hỗ trợ
tự nhiên nó biến mất. Cũng vậy, chỉ bằng con đường thông
minh nhận biết nầy, năng lượng dục tức thì được chuyển
hóa thực sự.
–
Tịch tĩnh.
“Tịch
tĩnh” là từ khác của Niết Bàn. Khi chúng ta đoạn sạch
hết lậu hoặc từ mức độ cạn đến mức độ tinh tế
là chúng ta thành đạt được pháp Niết Bàn. Đây cũng là
câu tuyên ngôn đầu của Đức Thế Tôn. Người dịch ngày
xưa trích dẫn từ trong văn học A Hàm, đã lấy bốn câu nầy
để làm phần mở đầu cho Kinh Tứ Thập Nhị Chương. Ngay
bài đầu tiên ta đã thấy bóng dáng lịch sử trong đó, chẳng
hạn như câu tuyên ngôn: “Đức Thế Tôn sau khi thành đạo.”
đến câu tiếp: “Trụ Đại thiền định, hàng phục ma đạo.”
tức nói đến cách hành xử của Đức Thế Tôn đối với
cuộc đời.
Cả
cuộc đời của đấng Giác Ngộ, chưa bao giờ bằng con đường
bạo hành để chuyển hóa xã hội, tiếp tăng, độ chúng,
hoằng pháp hay để đối phó với ngoại đạo mà duy nhất
chỉ bằng con đường của Thiền định. Và từ định lực
hùng hậu, bằng tâm từ và tuệ giác có mặt, Ngài đã làm
bao nhiêu việc lưu lại cho hậu thế đến ngày hôm nay đã
hai mươi sáu thế kỷ.
Trong
quá trình tu tập, vào đêm cuối cùng trước khi thành đạo,
bao nhiêu quá khứ cuồn cuộn chảy về, Ngài chỉ dùng một
phương pháp là trụ trong Đại thiền định mà hàng phục
những nỗi niềm của quá khứ. Bao nhiêu nghiệp thức nhiều
đời, nhiều kiếp tuôn trào như những cơn mưa, mà trong văn
học Đại Thừa gọi là những thế lực của ma nhiễu loạn,
đốt cháy, làm ngập lụt... Ngài vẫn an nhiên trụ trong Đại
thiền định. Rồi tất cả những thế lực đối đầu hủy
phá kia trở thành ngàn hoa rơi xuống trước mặt Ngài.
Tất
cả chỉ là ngôn ngữ biểu tượng để chúng ta nhận ra một
điều, chỉ cần an trú trong chánh niệm, trong định, trong
tuệ là tự nhiên chúng ta có một vùng khí quyển tuyệt vời
bao quanh, bảo hộ và che chở.
Đức
Thế Tôn được biểu đạt như vậy bằng những câu kinh sáng
rực trong dòng lịch sử. Chúng ta hãy có niềm tin vững chắc
và qui chiếu vào tự thân để thực tập. Khi mà vùng năng
lượng chánh niệm trở thành vùng khí quyển bao quanh, chúng
ta đều có khả năng loại trừ phiền não, nghiệp chướng,
bất an, sầu tư... và nghịch cảnh bên ngoài có bốc cháy
cũng không thể nào xâm phạm được cuộc đời của người
tu chúng ta.
4.
Thuyết pháp và dựng tăng.
Sau
khi thành đạo, hàng phục ma quân Đức Thế Tôn đến Lộc
Dã Uyển độ cho năm anh em Kiều Trần Như, và lần lượt
năm anh em đều chứng được A La Hán.
Chỉ
trong đoạn kinh rất ngắn nầy mà người xưa đã tổng kết,
đồng thời làm nổi bật được lịch sử thành đạo, tuyên
ngôn đầu, dựng tăng, hàng phục ma và thuyết pháp của Đức
Thế Tôn.
Tuyệt
vời nhất của bậc Đạo Sư là chỉ ngay trong mùa an cư đầu
tiên, ba tháng với năm ông thầy tu ốm đói, (vì họ nhịn
đói nhiều quá) vậy mà Ngài đã trui rèn cho họ đều chứng
được quả A La Hán, tức là dứt sạch lậu hoặc. Khi mà
một tăng đoàn có được năm vị Trưởng lão giỏi như vậy,
tu hành thâm sâu như vậy làm giềng mối, làm nền tảng, chắc
chắn về sau công trình dựng tăng của Ngài Cồ Đàm rất
dễ dàng.
Trong
điển lục Trung Hoa, đại Già lam không có nghĩa là quy tụ
đông tăng, năm trăm, một ngàn, hai ngàn... Nơi được gọi,
được đánh giá là đại Già lam chỉ cần năm, hay sáu vị
ngộ đạo thì được gọi là đại Già lam. Ngài Triệu Châu
chỉ có năm, sáu ông thầy nhưng rất ư tài giỏi nên vẫn
được gọi đó là hang rồng, ổ cọp.
Tại
Việt Nam cũng vậy, những tu viện có khi quy tụ rất đông
nhưng mà giá trị không lớn nên thiên hạ không nể phục.
Ngược lại có những ngôi chùa chỉ có vài ba ông thầy thôi,
nhưng họ đầy đủ phẩm chất nên nơi đó trở thành trung
tâm tu học. Trong lãnh vực văn hóa, học thuật đôi lúc chúng
ta cũng chỉ cần có năm, bảy thầy thật ưu việt thì đã
đóng góp và làm biến đổi được dòng chảy văn hóa đạo
đức cho nhiều thế hệ tương lai.
Trên
tầng cao hơn văn hóa là đời sống tâm linh. Một trung tâm
tu học nếu đào tạo được những vị thầy thật giỏi,
chứng nghiệm đời sống tâm linh thì không những chỉ làm
nên cây cao bóng mát cho tự viện mà đôi khi cho cả một quốc
gia được nhờ.
5.
Quả vị.
Thưa
đại chúng, năng lượng là quà tặng tự hữu có mặt tràn
đầy trong tự thân mỗi người. Chúng ta sinh ra trong cuộc
đời phải phấn đấu vô cùng cực nhọc để được tồn
tại cho đến ngày hôm nay, chứng tỏ trong tự thân mỗi hình
hài nầy năng lượng sống luôn tuôn chảy rạt rào, có điều
chúng ta chưa biết xử dụng nó, và chúng ta chưa làm đủ
để dòng năng lượng chảy ngược theo ý muốn.
Ở
mức độ vừa phải, chúng ta cũng chưa đẩy được năng lượng
mình lên đủ để tạo niềm đam mê cho sự tu học; chúng
ta đã tiêu phí năng lượng của mình một cách vô tội vạ
và thừa thãi vô cùng. Nếu thông minh, chúng ta biết đẩy
dòng năng lượng chảy đến hướng của sự tu học, chúng
ta đủ trở thành những người làm cây cao, bóng mát, trụ
đá cho chốn Già lam.
Nếu
chúng ta biết đẩy mạnh dòng năng lượng lên đến tầng
cao hơn nữa trong đời sống tâm linh - tức chúng ta đã làm
thành một sinh mạng mới: Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ.
Đạt đến chỗ không sinh, không diệt. Đạt đến tận nguồn
của sự sống và chấm dứt kiếp lang thang qua nhiều cõi tử
sinh của chính cuộc đời mình. Đó là thành tựu quả vị
từ thấp đến cao, và chúng ta sẽ đi vào phần nầy một
cách chi tiết trong những chương sau.
10-01-2008
12:23:34