Đức
Phật bảo Đại Ca Diếp: “Sau khi Như Lai diệt độ, các Tỳ
Kheo ở nơi Phật trồng căn lành sâu cũng đã nhập Niết Bàn,
những chúng sanh đủ thắng ý lạc cũng qua đời cả. Lúc
thời kỳ chánh pháp dứt, năm trăm năm sau, sẽ có hàng Tỳ
Kheo lòng đầy tham dục mê chấp, thích lời ly gián não hại
người khác, nói năng cộc cằn hung ác, thường ở trong ba
điều: nghề nghiệp thuốc men, buôn bán và gần phụ nữ.
Do ở trong ba điều trên nên thối thất bốn điều: mất giới
hạnh, mất thiện đạo, mất quả chứng và mất như thật
thấy Phật.
Vì thối
thất bốn điều trên nên sanh ra bốn điều hừng thạnh: tật
đố hiềm ghét hừng thạnh, giận dữ ác tâm hừng thạnh,
tham đắm giòng họ hừng thạnh, và tham đắm uống ăn chứa
cất các thực phẩm, ưa thích y phục cất để đầy rương.
Vì bốn điều hừng thạnh trên đây nên họ không được
pháp Sa Môn, cũng chẳng phát sanh quả chứng của Sa Môn. Họ
nghe kinh này sẽ sa vào bốn điều: một là hủy báng chánh
pháp, hai là những điều Phật không cho phép họ lại đem
giảng nói, ba là riêng vì hàng phụ nữ mà nói pháp yếu,
bốn là hủy báng giới biệt giải thoát của Như Lai. Hàng
Tỳ Kheo này nghe kinh điển đây càng thêm sanh lòng phá hoại
chánh pháp, thêm lớn nghiệp ác.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như lấy mật đắng nhỏ vào mũi chó dữ, con chó
đó sẽ thế nào, nó có hung dữ thêm chăng?
- Bạch Thế
Tôn! Chó dữ nó càng thêm hung dữ.
-
- Nầy Đại
Ca Diếp! Những người ác đã nói trên kia cũng như chó dữ
cùng quỉ Tỳ Xá Xà. Họ thấy có Tỳ Kheo chơn tu giới hạnh
thanh tịnh, thọ trì kinh pháp nầy, giảng thuyết kinh pháp
nầy, thiểu dục tri túc và ca ngợi thiểu dục tri túc, họ
liền ganh ghét hờn giận cho là bị khinh hủy. Do đây nên
khi nghe nói kinh pháp nầy, họ liền hủy báng cho là không
phải của Phật nói.
-
Nầy Đại
Ca Diếp! Phật dùng nhiều từ ngữ đề tán thán người thiểu
dục tri túc, là người dễ nuôi, người dễ đầy, người
sạch sẽ, người có hạnh đầu đà, người rất đoan nghiêm.
Phật cũng tán thán người ở a lan nhã, người phát tâm tinh
tấn, người sanh hoạt thanh tịnh.
Các ông chớ
nên chứa để nhiều rương nhiều tủ, mà phải tu tập hạnh
thiểu dục.
Các ông chớ
nên như chụp chã đồng, chỉ luống có tiếng kêu, mà phải
tùy thuận tu tập pháp của Như Lai dạy đây, cũng chẳng nên
thêm lớn lòng sân hận cùng tham chấp sự vật, phải trụ
nơi vô sự vô vật.
Các ông chớ
trụ trước nơi chỗ ở, mà phải vô sở trụ.
Các ông chớ
tự khoe, chớ nuôi loài bò, lừa v.v...
Các ông chớ
sanh lòng biếng nhác trễ lười, mà phải phát tâm tinh tấn
xa lìa pháp ác, tu tập pháp lành.
Nầy Đại
Ca Diếp! Phật thường khen ngợi sự tịch tịnh ở a lan nhã
xa lìa ồn ào. Nay Phật nói rõ hạnh dứt trừ rất thanh tịnh.
Những kẻ
không thật hành hạnh dứt trừ rất thanh tịnh, kẻ nhiều
tham dục, kẻ tạo tội ác, tất sẽ hủy báng người có hạnh
dứt trừ rất thanh tịnh.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như kẻ ngu kia, giữa tháng tư uống chất tô sanh
khát bèn đến người xin nước uống. Người bảo: Anh vừa
uống chất tô chớ uống nước, vì sẽ có thể nguy đến
tánh mạng. Kẻ ngu giận dữ mắng nhiếc, không nghe lời khuyên
của người, nó uống nước rồi chết.
Nầy Đại
Ca Diếp! Cũng thế, đời vị lai, các Tỳ Kheo ưa chấp có,
thích việc ác. Nếu có người thọ trì chánh pháp bảo họ:
Đây là việc nên làm, đây là việc chẳng nên làm. Họ sẽ
giận dữ trách mắng, và hủy báng kinh điển nầy.
Hiện tại
đây còn có nhiều người cạnh tranh với Như Lai, huống là
đời vị lai! Như Hiền Hộ Tỳ Kheo chẳng hạn. Phật chế
giới khiến các Tỳ Kheo thọ pháp một lần ngồi ăn, Hiền
Hộ giận hờn trọn ba tháng hạ không chịu đến chỗ Phật.
Nầy Đại
Ca Diếp! Hiện nay ở trước Phật còn có người khinh hủy
phạm hạnh, huống là sau khi Phật diệt độ, những kẻ tham
ăn, tham mặc, thuốc men ngủ nghỉ, thêm nhiều giận hờn!
Những kẻ này nghe kinh pháp đây còn chẳng kính trọng đức
Như Lai Đại Sư, huống là đối với Tỳ Kheo trì giới!
Nầy Đại
Ca Diếp! Những người ấy gọi là bất thiện, cũng gọi là
rất ác. Pháp bảo này sẽ ẩn mất.
Trong đời
ác trược sau này, thời kỳ mà người lành rất khó có, nếu
thiện nam hay thiện nữ nào muốn được sự lợi ích lớn,
tin giáo pháp của Phật, nghe kinh pháp rất sâu nầy rồi, nên
vì người đúng lý, người có lòng tin mà giảng nói, chớ
chẳng nói với người không đúng lý, không tin. Hiện nay,
Phật cũng chỉ giảng nói với những người đúng lý, với
những người có lòng tin mà thôi.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như ngựa ác dở chẳng chịu mặc giáp, nếu bắt
nó mặc giáp như ngựa hay, thời tất nó sẽ kinh sợ, huống
là nghe tiếng loa, tiếng trống mà có thể chịu được.
Nầy Đại
Ca Diếp! Tỳ Kheo phá giới không có lúc nào ưa thích pháp
lành. Nhẫn đến họ nghe nói các pháp không ngã chấp không
ngã tưởng, họ liền sợ hãi bài bác, huống là nghe đến
pháp lành! Nếu thật hành pháp lành thời có thể hàng phục
trăm ức quân ma và trọn không có sự đấu tránh.
Các thiện
Tỳ Kheo nên mặc giáp tinh tấn, chẳng hư công đức đầu
đà, dứt sạch căn bản tham sân si, không tật đố, ly dục,
thích nhàn tịnh, thường thức tỉnh, nơi vật dụng không
mong cầu, phát tâm Bồ đề Vô thượng, không chấp pháp, không
chấp ngã, chúng sanh, thọ giả, hữu tình, không kiến chấp
nam, nữ, địa, thủy, hỏa, phong, dục giới, sắc giới, vô
sắc giới, trì giới, phá giới, tánh không v.v... Tóm lại,
không nên có tất cả chấp tất cả tưởng. Vì tất cả tưởng
đều vô sở đắc.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu có tham, Tỳ Kheo phải biết rõ và liền dứt
trừ tâm tham ái, chẳng phải cứ trụ một chỗ mà được
vô trụ! Chỉ trừ kẻ vọng ngữ.
Do đây nên
Như Lai hiệu là đấng thật ngữ.
Như Lai nói
bao nhiêu tham ái đều là chẳng phải ngã. Các pháp như vậy
là Sa Môn pháp. Các Sa Môn pháp đều vô sở đắc.
Nếu người
nào còn có tưởng chấp lấy pháp, thời là chấp ngã, chúng
sanh v.v.. như núi Tu Di, mà thối thất thánh giáo. Nơi người
này pháp Sa Môn không có được, cũng không thể trụ nơi Sa
Môn pháp.
Pháp quảng
đại tối thắng này chẳng nên giảng nói với những kẻ
ngu si kia, dầu chỉ một ít. Vì nếu họ chấp trước thời
tất sẽ phải chịu khổ ở địa ngục trọn một kiếp.
Nầy Đại
Ca Diếp! Ông xem các Tỳ Kheo: Câu Ca Lợi, Đề Bà Đạt Đa,
Khiên Đồ Đạt La, Ca Lô Để Luân, Mẫu Đạt Đa La, A Thấp
Phiền, Bố Na Bà Tô, Tô Khí Đát La, các Tỳ Kheo trên đây
là những người thường ở gần bên Phật, nghe Phật thuyết
pháp, thấy Phật kinh hành, thấy Phật đoan tọa, thấy Phật
hiện thần thông đi đứng trên không gian, thấy Phật hàng
phục hàng ngàn ngoại đạo, giữa đại chúng thấy Phật trừ
dẹp tà pháp, mà họ còn chẳng có lòng tin mến đối với
Phật. Vì họ luôn muốn hủy báng Phật nên càng ngày họ
thêm lớn ác nghiệp.
Nếu có người
nghe danh hiệu Phật có lòng tin chắc là thật, thời mọi người
nên đem hoa hương như núi Tu Di, phan lọng trùm cả Đại Thiên
để cúng dường, vì người nầy tin Phật vậy. Huống là
người đã tin Phật rồi bỏ dục lạc xuất gia, không kiến
chấp, tu các môn tịnh lự!
Nầy Đại
Ca Diếp! Người nào tin ưa kinh pháp nầy thời đáng gọi là
hi hữu. Người nầy có thể khéo hộ trì giới cấm của Phật
chế, có thể rõ biết pháp cam lồ nầy.
Ví như trong
đại chúng dùng da thúi cùng những vật hôi nhơ cùng nhau chế
làm hình người, hoặc làm các thứ mặt nạ, rồi sơn vẽ
trau tria rất mực xinh đẹp. Có người lấy những thứ ấy
mang lên mặt, hoặc gói lại xách đi. Như thế há lại vì
tướng mạo mà gọi là tốt ư! Biết rõ là vật hôi nhơ thời
sẽ nhàm bỏ.
Cũng vậy,
với các ác Tỳ Kheo, phải dùng oai đức dung nghi của Như
Lai để thẩm xét mới biết họ là cực ác. Do họ chấp ngã
nhơn mà sanh lòng tham ái.
Nếu người
rõ biết ngã chấp không thật, thời khi nghe kinh nầy tất
ưa thích vui mừng.
Nếu kẻ
nào chấp trước thời là tà kiến. Đã có tà kiến thời
không tin ưa lời dạy chơn chánh nơi kinh này. Vì người chấp
ngã thời có giận hờn.
Nếu hàng
tứ chúng nghe kinh pháp này mà giận ghét hủy báng thời không
phải là Sa Môn. Dầu họ có danh hiệu Sa Môn, nhưng không phải
đệ tử Phật. Ta cũng không phải thầy của họ. Vì đệ
tử Phật thời không vọng ngữ. Phật không phải thầy của
kẻ vọng ngữ.
Nên biết
rằng Phật là đấng thật ngữ, có thể nói đúng thật tất
cả pháp không.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu kẻ nào tranh cãi Như Lai thời gọi là ác ma.
Như Lai không cho ma chúng xuất gia thọ giới cụ túc.
Ý ông nghĩ
thế nào? Như có người nói chim thanh tước đẻ rồng lớn.
Lời này có đáng tin và có đồng loại chăng?
- Bạch Thế
Tôn! Lời đó không đáng tin, cũng không phải đồng loại.
- Như có
người nói kim xí điểu đẻ loài phi điểu. Ông nghĩ thế
nào?
- Bạch Thế
Tôn! Lời đó không đáng tin, cũng không phải đồng loại.
- Như có
người nói con đom đóm mang núi Tu Di bay lên không gian. Ông
nghĩ thế nào?
- Bạch Thế
Tôn! Lời đó không đáng tin, cũng không phải đồng loại.
- Nầy Đại
Ca Diếp! Những kẻ ác trên kia chấp ngã nhẫn đến chấp
Niết Bàn kêu Phật bằng thầy lại càng chẳng phải đồng
loại.
-
Nầy Đại
Ca Diếp! Như có Đế Vương ở nước mình lãnh đạo nhơn
dân an lạc vô cực. Cạnh vua có các thị thần tuân hành chánh
hóa của vua.
Lúc đó có
người không ai quen biết, người này vì danh lợi mà học
cách làm quan, không lãnh lịnh vua, tự ý ở giữa bá quan dối
tuyên lịnh vua, bảo mọi người rằng các Ngài phải ở nơi
đây, làm như vầy.
Cũng vậy,
đức Như Lai Pháp Vương quản trị cả Đại Thiên thế giới,
nhiếp hóa tất cả tam thừa chúng sanh, đầy đủ mười trí
lực, viên mãn tất cả công đức, thật hành Phật sự vô
biên an lạc.
Có một hạng
người đại chúng chưa từng quen biết, vì sanh sống mà nói
tướng ngã, chúng sanh v.v... nhẫn đến Niết Bàn, chẳng tuân
theo thánh giáo vô ngã của Như Lai, vọng nói rằng Phật bảo
việc này nên làm, việc này chẳng nên làm.
Trong đại
chúng có những người tin thuận Phật pháp, nghe lời nói trên
đây nhận là bực phước điền thanh tịnh, bèn đem của cải
cung kính dâng cúng mãi trong thời gian chưa rõ họ là sái quấy!
Kẻ ác này
đồng với kẻ dối lịnh vua trong ví dụ kia. Sau khi ăn uống
xong, họ ở chỗ đông người thường luận bàn việc vua,
việc giặc, việc ăn mặc, việc dâm dật, việc phụ nữ,
việc thuốc men, việc rượu trà, việc nhựt thực nguyệt
thực, việc nhà vua đi về, việc dòng họ, việc ngày tốt
xấu v.v... Ngày đêm họ luôn suy tính luận bàn những việc
như vậy, không có chánh niệm chánh huệ, hư mất oai nghi,
ngủ mê lăn lộn miệng chảy nhớt dãi. Lúc thức tưởng nghĩ
gì, lúc ngủ họ mơ thấy việc ấy. Đến lúc thức dậy,
họ tụ nhau luận bàn chiêm bao tốt xấu. Họ đi đứng hành
động không khác người thế tục. Họ nói không nhằm lúc,
tâm niệm buông lung, thích đến xóm đông, đến nhà giàu sang.
Họ không giữ được giới cấm của Phật. Họ riêng nói
pháp cho phụ nữ. Lúc nói pháp họ sanh nhiễm tâm, được
cúng dường nhiều, tham trước luyến ái, chẳng biết hối
hận.
Họ được
cúng thí tốt thời ca ngợi, trái lại thời chê trách.
Lúc họ gặp
nhau bèn xem đồ được cúng của nhau. Họ hỏi nhau hôm nay
thí chủ cúng món chi? Cho ai? Tiền bạc đồ dùng nhiều hay
ít?
Đây gọi
là hạng chẳng tu hành, cũng gồm cả lỗi hủy báng chánh
pháp.
Nầy Đại
Ca Diếp! Với hạng người ngu ác trên đây, các ông phải
có lòng xót thương họ. Vì họ sẽ phải bị quả báo rất
khổ não”.
-Tôn giả
Đại Ca Diếp bạch rằng: “Thế Tôn! Rất lạ thay, những
người ấy được nghe kinh pháp nầy, mà họ không có lòng
yểm ly!”
- Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu là kẻ có bốn điều sau đây, thời dầu được
nghe kinh pháp nầy, nhưng họ vẫn không yểm ly. Đây là bốn
điều: nhiều phóng dật, không tin chắc nghiệp quả, không
tin chắc đại địa ngục, không tin chắc mình sẽ chết.
Lại có
kẻ vì có bốn điều dưới đây nên không yểm ly: lúc tráng
niên khỏe mạnh tự cậy sức mạnh, mê say dục lạc, ham uống
rượu, không suy gẫm quan sát để hiểu biết.
Nếu Tỳ
Kheo có bốn điều dưới đây thời hủy báng Vô thượng Bồ
đề: ác nghiệp thành thục chẳng biết phát lồ chẳng rành
nghiệp quả ác, làm uế dục với Tỳ Kheo Ni, cậy có Hòa
Thượng A Xà Lê được nhiều người kính mến, theo thầy
học tập vì tật đố mà khinh chê thầy là ít học.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nếu có người được một pháp sau đây thời trọn
nên bực Sa Môn, Bà La Môn: đối với tất cả pháp, tâm vô
sở trụ.
Nầy Đại
Ca Diếp! Ví như có người rơi trên chót núi, bèn cho rằng
không có mặt đất cây cối rừng rậm, chỉ tưởng trống
không mà dứt hơi thở.
Những kẻ
chấp pháp cũng như vậy. Nếu chấp có nhãn, nhĩ v.v... cùng
chấp có tướng nhãn, nhĩ v.v... hoặc chấp sắc, thọ v.v...
hoặc chấp trì giới, đa văn, tàm quý, tu hành, được Bồ
đề v.v... Đây đều là không phải pháp của Sa Môn, Bà La
Môn. Nếu có tưởng chấp thời bị làm hại. Những gì làm
hại? Chính là tham, sân, si vậy.
Nếu chấp
tướng nhãn, nhĩ v.v... thời thấy có sắc, thanh v.v... khả
ái hay không khả ái, tất bị nhãn, nhĩ v.v... làm hại. Đã
bị hại thời rất bị hại nơi trong vòng địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, nhơn và thiên.
Do đâu mà
bị hại? Do tưởng chấp.
Sao gọi là
tưởng chấp? Chính là chấp ngã và ngã sở, chấp nam, nữ,
địa, thủy, hỏa, phong, chấp thây chết xanh bầm, tan rã,
xương trắng, chấp thắng giải thoát, chấp kia có phần ít
giải thoát, đây không phần ít giải thoát, chấp hiện chứng,
ta tùy niệm khác với quá khứ, khác với hiện tại, ta là
quá khứ, ta là hiện tại, nhẫn đến chấp Niết Bàn, thấy
ta được Niết Bàn, với các pháp sanh tưởng chấp.
Nầy Đại
Ca Diếp! Tóm lại, kẻ chấp trước thời với chỗ nào cũng
sanh niệm tưởng, nhẫn đến trong tánh không, họ vẫn có
tất cả tưởng niệm. Đây đều chẳng phải pháp Sa Môn,
Bà La Môn, đều chẳng phải hạnh Sa Môn, hạnh Bà La Môn.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như Lai nói pháp Sa Môn, Bà La Môn như hư không cùng
với mặt đất. Vì hư không trọn không nghĩ rằng ta là hư
không. Cũng vậy, bực Sa Môn, Bà La Môn trọn không tự nói
ta là Sa môn, Bà La Môn. Các pháp cũng chẳng tự nói là pháp
Sa Môn, Bà La Môn. Chẳng tạo tác chẳng trừ bỏ, đây gọi
là Sa Môn, là Bà La Môn.
Nầy Đại
Ca Diếp! Như có kẻ giữa đêm tối múa tay chơn, động đầu
mặt, rồi nói rằng ta đùa cợt thế gian! Ta đùa cợt thế
gian!
Ý ông thế
nào, họ đùa cợt ai?
- Bạch Thế
Tôn! Kẻ đó tự đùa cợt lấy họ, vì giữa đêm tối không
có ai để họ đùa cợt cả.
- Nầy Đại
Ca Diếp! Cũng vậy, nếu có Tỳ Kheo đến a lan nhã, hoặc đến
dưới tàng cây, nhà vắng, đất trống, quán tưởng rằng
nhãn, nhĩ v.v... đều là vô thường, sắc, thinh v.v... cũng
đều vô thường. Ta thẳng đến Niết Bàn.
Các Tỳ
Kheo ấy tự luống khổ nhọc không phải thật hạnh của Sa
Môn. Vì họ có rất nhiều tà chấp.
Họ biết
tướng nhãn, nhĩ v.v... rồi vì muốn diệt nhãn, nhĩ v.v...
mà tu tập nhọc nhằn. Nếu ở nơi căn, trần, thức, ba chỗ
đó mà biết rành thời sanh niệm phân biệt đối với ba chỗ
ấy. Nếu đã ở nơi chỗ thấy biết mà sanh niệm phân biệt
thời làm thế nào được tâm nhứt tánh cảnh.
Nầy Đại
Ca Diếp! Thậm thâm Bồ đề rất khó đến khó vào, khó có
đủ tư lương.
Thế nào
gọi là tâm nhứt tánh cảnh? Suy tìm cùng khắp nhẫn đến
một pháp cũng là bất khả đắc. Nghĩa là nhãn, nhĩ v.v...
đều chẳng thể có thật. Tất cả pháp đều chẳng có thật.
Vì bổn tánh như vậy. Tâm tánh vốn bất sanh, tất cả các
pháp đều không có thật nên tâm đó bất khả đắc.
Vì nếu quá
khứ, hiện, tại, vị lai là vô sở đắc thời là vô sở
tác.
Thế nào
gọi là vô sở tác? Hoặc cũ hoặc mới đều chẳng thể tạo
tác nên gọi là vô sở tác.
Trong đây,
quá khứ tâm không giải thoát, hiện tại tâm không giải thoát,
vị lai tâm không giải thoát, tùy chỗ có tâm đều vô sở
đắc, đây là tâm nhứt tánh cảnh, chính đây gọi là nhập
vào số của tâm vậy.
Nầy Đại
Ca Diếp! Sẽ có hàng tứ chúng chấp cho rằng nhãn, nhĩ v.v...
là diệt hoại. Đối với các uẩn chấp là vật có thật.
Như Lai nói
các uẩn dường như cảnh chiêm bao. Nhưng họ lại bảo chiêm
bao là thật có, vì thế gian nói có chiêm bao; nếu không chiêm
bao, lẽ ra mọi người không có sự mộng tưởng để biểu
thị. Do đây chúng ta trong lúc ngủ mơ sanh mộng tưởng. Thật
vậy, vì các uẩn có sở nhơn nên gọi là như chiêm bao. Nếu
uẩn đã không, thời chẳng nên nói các uẩn dường như cảnh
chiêm bao!
Những kẻ
ngu si kia cho chiêm bao là thật có. Họ nghe kinh pháp này bèn
hủy báng. Trong hạng này lại có Tỳ Kheo Ni đối với các
nhà thí chủ, vọng xưng rằng ta là bậc A La Hán. Hoặc vì
y cứ nơi trí thô cạn, họ nói hiện chứng được. Hoặc
có Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di nghe kệ tụng trong kinh luật rồi
nói tôi hiện chứng.
Nầy Đại
Ca Diếp! Lúc đó, hoặc có Tỳ Kheo đã thường ở a lan nhã
trải qua hai ba mươi năm tinh tấn tu tập, vì Phật pháp mà
họ đến nơi Ưu Bà Tắc mới có lòng tin vừa được một
ngày, rồi chỉ dùng lời không mà xướng thuyết lẫn nhau.
Họ bảo rằng vì không không nên ta biết khắp tất cả, ta
biết khắp tất cả!
Hoặc có
Tỳ Kheo nghe kinh pháp này rồi luận nói với nhau. Có người
nghe sanh lòng hãi sợ, lại nói những người tại gia cùng
xuất gia chẳng nên gần gũi các vị ấy, phải xa lìa, vì
chẳng phải giáo sư.
Hoặc có
người giảng nói pháp lý thậm thâm lại bị hàng tại gia
xuất gia khinh tiện bỏ rơi.
Hiện nay
đây Phật nói phạm hạnh thắng diệu còn ít người biết,
huống là đời vị lai đến cả người biết chút ít cũng
đã qua đời. Lúc đó, một ngàn, hai ngàn vị Tỳ Kheo thuyết
pháp khó có được một người hiểu biết đúng thật tin
nhập diệu pháp. Trong hàng đó, hoặc có Tỳ Kheo hoặc đến
đỗi không nói được suông câu huống là hiểu rõ.
Nầy Đại
Ca Diếp! Lúc đó, hàng tại gia, xuất gia chung nhau khinh hủy
giáo pháp nầy.
Nếu có Tỳ
Kheo tinh tấn vì thêm lành dứt ác, nên bớt ngủ nghỉ, đầu
hôm cuối đêm tinh tấn tu học. Các vị này tất bị kẻ khác
ganh ghét chê bai hoặc giết chết. Những kinh pháp như đây
sẽ diệt mất. Hàng Tỳ Kheo đúng pháp cũng đều tiêu diệt.
Trong lúc đó, người có trí thanh tịnh vô nhiễm hiểu rõ
diệu pháp, phải tôn trọng kinh pháp này, tin sâu cung kính,
cùng nhau họp ở nơi a lan nhã.”
Bấy giờ
đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Pháp lành
của Phật dạy
Hiệp với
đệ nhất nghĩa
Rằng uẩn
không chắc thật.
Nên xem nó
như mộng.
Đời sau,
các Tỳ Kheo
Lòng ganh
đua lăng xăng
Không phân
biệt tôn ti
Chỉ luống
có danh tự.
Lời Tỳ
Kheo nói ra
Tại gia
cũng nói vậy
Giáo pháp
lúc bây giờ
Đạo tục
đồng cùng nói.
Tỳ Kheo
bảo kẻ tục
Ông hiểu
pháp hi hữu
Chính là
Phật Bồ đề
Đã phát
quả Sơ địa!
Lòng tự
cho thấy pháp
Gần gũi
người tại gia
Đây dâng
cúng Tỳ Kheo
Đồ cúng
dường tối thượng.
Các Tỳ
Kheo này nói
Tất cả
lời đều thật
Cùng tại
gia thân nhau
Rằng ta
đã thấy pháp.
Người ở
đời vị lai
Vì lợi
dưỡng xuất gia
Chẳng tuân
theo chánh pháp
Hủy hoại
Bồ đề đạo.
Ta đem đạo
dạy cho
Gần ta chớ
theo ai
Ít lâu ngươi
sẽ được.
Như chỗ
ta đã được.
Đây là
ngôi tịch tịnh
Ta nói rõ
cho ngươi
Trong đại
chúng đông người
Làm hư giáo
pháp Phật.
Ví như bọn
giặc cướp
Lòng hung
dữ hiểm độc
Đánh phá
thành xóm làng
Cũng cướp
tụ lạc lớn.
Tỳ Kheo
nầy cũng vậy
Vô trí,
nhiều ngu si
Huệ ít
hay phạm lỗi
Chấp ngã
chấp thọ mạng.
Rời xa giáo
pháp Phật
An trụ trong
kiến chấp
Tự xưng
A La Hán
Đầy lòng
tăng thượng mạn.
Họ ở giữa
đại hội
Đối trước
chúng Tỳ Kheo
Khoe mình
nhiều trí huệ
Danh tiếng
ít người có.
Lúc đó
có Tỳ Kheo
Hoặc thật
hành đúng pháp
Bị họ
ghét chê bai
Bác không
phải Phật tử.
Chư Phật
đại Bồ đề
Lúc đó
bị hủy báng
Chư Thiên
lòng buồn lo
Thường
hướng nhau than thở.
Chư Thiên
tin chánh pháp
Thấy mất
chánh pháp luân
Của Thích
Ca Văn Phật
Đau lòng
lăn trên đất.
Chư Thiên
ca ngợi Phật
Cùng tán
thán pháp môn
Khen ngợi
phước điền Tăng
Con yêu của
chư Phật.
Chúng ta
chẳng còn nghe
Pháp nhiệm
mầu của Phật
Thích Ca
đã diệt độ
Không hiểu
ôm lòng mê.
Tứ Thiên,
Đao Lợi Thiên
Vang lên
tiếng tăm lớn
Phổ cáo
cùng chư Thiên
Đuốc pháp
nay sắp tắt.
Các Ngài
được nghe Phật
Nếu chẳng
gần Như Lai
Hàng Thiên,
Long sau này
Sẽ ôm lòng
hối hận.
Trải qua
vô số kiếp
Vì mình
cũng vì người
Chịu đủ
điều khốn khổ
Rồi sau
mới thành Phật.
Đây là
lời chư Phật
Vì giáo
hóa chúng sanh
Giảng nói
thiện pháp môn
Nay đây
sẽ ẩn mất.
Kẻ giả
dối ra đời
Gây nhiều
tội đáng sợ
Là ma sứ,
ác ma
Tha hồ nói
lời ác.
Dua dối
nhiều ngu si
Phỉnh gạt
người khờ dại
Hoặc giận
hoặc chẳng hờn
Chê Thầy,
chê chánh pháp.
Nghe tiếng
Trời truyền xướng
Các cõi
trên đều buồn
Tứ Vương
Thiên, loài người
Cũng đều
cưu sầu khổ.
Thần Dạ
Xoa nhóm họp
A Tra Phiệt
Để thành
Kêu lên
tiếng hãi hùng
Đôi mắt
đồng rơi lệ.
Đền đài
châu báu đẹp
Nghiêm lệ
của chư Thiên
Thảy đều
mất quang huy
Đen tối
như đống đất.
Cung điện
xưa xinh đẹp
Rất đáng
mến đáng ưa
Nay mất
cả oai quang
Nhìn xem
không còn thích
Chư Thiên
cùng nhau đến
Xưa kia chỗ
Phật sanh
Lăn trên
đất kêu gào
Càng thêm
sầu thêm khổ.
Ta từ trời
xuống đất
Đi qua các
quốc thành
Phật pháp
đều trầm luân
Nhìn khắp
chẳng còn thấy.
Khắp cả
Diêm Phù Đề
Chánh pháp
đã suy tàn
Bức não
người xuất gia
Nên chư
Thiên than khóc.
Cung trời
bảy ngày trọn
Nơi nơi
mất oai quang
Chư Thiên
cũng bảy ngày
Thường
buồn rầu than khóc:
Than ôi đấng
Đại Hùng!
Xưa tôi
từng gặp Ngài
Nào ngờ
nay chẳng thấy
Lời Ngài
cũng thành không.
Phật thường
ở Xá Vệ
Chúng tôi
đến kính lễ
Nay thấy
chỗ nhớ Người
Càng thêm
buồn than khóc.
Và đây
là rừng Lộc
Phật xưa
ở nơi đây
Chuyển Tứ
đế pháp luân
Chúng tôi
thân nghe thấy!
Nay thế
gian tăm tối
Chẳng kính
mến lẫn nhau
Đã gây
tạo tội nhơn
Tất sanh
ba ác đạo.
Trên trời
nhiều cung điện
Nay đều
trống vắng người
Chúng sanh
Diêm Phù Đề
Không chủ,
không ai cứu.
Chỗ kinh
hành của Phật
Nay hủy
hoại hoang vu
Pháp Vương
đã Niết Bàn
Thế gian
mất an lạc
Giữa chúng
trời Đao Lợi
Thiên Chúa
Thích Đề Hoàn
Lòng khổ
não ưu sầu
To tiếng
than thở khóc.
Như vậy
hàng Thiên chúng
Thường
tán thán Như Lai
Tự hận
xa Thế Tôn
Từng là
Thầy thuyết pháp.
Không ăn
cam lồ được
Cũng tuyệt
tiếng đờn ca
Hàng chư
Thiên như đây
Lòng sầu
cả sáu tháng.
A Tu La nghe
nói
Chánh pháp
đã trống hư
Bèn kêu
gọi lẫn nhau
Đem binh
đánh Đao Lợi.
Diêm Phù
các vua chúa
Hủy hoại
Phật luật nghi
Chính trong
thời kỳ nầy
Trời cùng
Tu La chiến.
Sanh vào
trong ác đạo
Có rất
đông Tỳ Kheo
Cũng nhiều
Tỳ Kheo Ni
Chịu đủ
mọi sự khổ.
Tại gia
phạm các tội
Cư sĩ phá
thi la
Tranh bài
bác lẫn nhau
Do đây đọa
ác đạo.
Phụ nữ
làm việc ác
Đều cũng
vào tam đồ
Lúc hưng
thạnh việc này
Thế gian
chẳng an tịnh.
Có lúc qua
tụ lạc
Hoặc trốn
vào núi rừng
Vì lo sợ
nhọc nhằn
Mọi người
thọ ngắn yểu.
Khắp nơi
nhiều trộm cướp
Sự đói
khát lan tràn
Lúa má lại
mất mùa
Thêm sâu
keo phá hại.
Đời nhiều
nghèo đói khổ
Loài người
lúc chết rồi
Ngạ quỉ
nhiều sanh vào
Chịu biết
bao khổ sở.
Những đồ
cúng chùa tháp
Vật dâng
tứ phương Tăng
Lúc đó
các Tỳ Kheo
Cùng nhau
chia lấy hết.
Sau khi Phật
diệt độ
Khổ như
thế dẫy đầy
Phải sớm
cố siêng năng
Chớ nhìn
lui trở lại.
Bao nhiêu
kẻ ngu dại
Người không
huệ không căn
Do nghiệp
ngu đã thành
Sớm đọa
vào ác đạo.
Phải thích
giảng đọc tụng
Trí huệ
do đây sanh
Người tu
huệ tu tâm
Mau sanh cõi
lành tốt.
Thường
dùng trí quán sát
Học đúng
theo lời Phật
Lìa hẳn
những buộc ràng
Sớm được
Niết Bàn đạo.
Chánh pháp
chẳng còn lâu
Phải gắng
tinh tấn tu
Phật nói
đã cạn lời
Gấp gẫm
suy chơn chánh.
Khi kiếp
này đã qua
Cả sáu
mươi đại kiếp
Hiệu Phật
chẳng được nghe
Làm sao có
ưa thích.
Đến thời
kỳ cơ cẩn
Sự đói
khổ không cùng
Dầu cho
đến mẹ con
Cũng giết
nhau ăn thịt.
Lúc đó
đến con đẻ
Kinh hãi
đi chẳng yên
Dầu ở
trong nhà mình
Vẫn lòng
lo sợ sệt.
Thấy nghe
những việc này
Rõ kia sanh
tử khổ
Ai là người
có trí
Mà lại
thích lại ưa.
Vô minh là
gốc sanh
Phụ nữ
là gốc dục
Thân là
cội gốc khổ
Do đây phải
xa lìa.
Trong đời
chúng sanh ngu
Say đắm
nơi nữ dục
Người lìa
được ngu si
Sẽ được
Niết Bàn đạo.
Lúc giảng
nói pháp nầy
Chẳng bị
quả báo ác
Vì bác không
nhơn quả
Nên phải
sa ác đạo.
Pháp công
đức vô lậu
Không không
vô sở đắc
Tịch tịnh
vốn không bền
Nên phải
mau hiểu rõ”.
Phật bảo
Đại Ca Diếp: “Nếu có Tỳ Kheo hoặc người nào có thể
trọn nên pháp đệ nhứt nầy mà cầu pháp vô lậu, thời
nên bảo rằng: đối với tất cả pháp, tâm không chỗ trụ.
Nầy Đại
Ca Diếp! Bồ Tát phải kiên cố tu tập.
Thế nào
là kiên cố? Thế nào là tu tập?
Kiên cố
là tâm kiên cố và tinh tấn kiên cố.
Thế nào
gọi là tâm kiên cố? Bồ Tát nghĩ rằng: cúng dường một
đức Phật nhẫn đến cúng dường cả hằng hà sa số chư
Phật rồi sau mới phát một niệm cầu Phật đạo, sau đó
lại trải qua hằng hà sa số kiếp có một đức Phật hiện
ra đời, vì phát hằng hà sa số tâm nguyện nên một lần
được thọ thân người, nhẫn đến thọ hằng hà sa số thân
người nghe pháp một câu phát trí huệ sáng suốt, được
lợi ích lớn nơi đạo Vô thượng Bồ đề.
Bồ Tát nên
phát tâm kiên cố như vậy.
Bồ Tát lại
dùng nhiều phương tiện để nhiếp lấy trí huệ của Phật,
dùng nhiều khổ hạnh để trông cầu, nhiều khổ hạnh để
nhiếp thọ Phật trí. Bồ Tát phải có tâm kiên cố như vậy.
Nầy Đại
Ca Diếp! Nay Phật vì ông mà nói ví dụ. Những người trí
do ví dụ mà được hiểu nghĩa trên đây nói về sự nhờ
nhiều khổ hạnh mà có thể được Vô thượng Bồ đề, trải
qua hằng hà sa số kiếp không nên thôi nghỉ. Nếu hằng hà
sa số kiếp học tập mãi không thôi nghỉ, thời có thể hiện
chứng Vô thượng Bồ đề. Bồ Tát nên phát tâm kiên cố
như vậy để thêm thế lực sách tấn, vĩnh viễn không rời
bỏ đạo Vô thượng Bồ đề.
Bồ Tát đã
phát tâm như vậy, đối với phải chỗ không phải chỗ chẳng
nên chấp lấy. Vì chấp lấy thời trở ngại đạo Vô thượng.
Nếu Bồ Tát không chấp lấy phải chỗ không phải chỗ thời
sớm được Vô thượng Bồ đề.
Nầy Đại
Ca Diếp! Ví như có người đem của báu đầy cả Đại Thiên
thế giới dùng bố thí. Nếu có người tin và thọ trì kinh
điển thuận Bồ đề của Phật nói, thời phước của người
này hơn người bố thí kia.
Nầy Đại
Ca Diếp! Bồ Tát lại có tâm kiên cố, nhẫn đến tâm kiên
cố này cũng bất khả đắc. Do đây sự tu hành của Bồ Tát
chẳng nên thôi nghỉ.
Bồ Tát phải
tu tập nhiều đến bao nhiêu? Tùy có bao nhiêu pháp tu tập.
Nếu còn có một niệm không thể thấu rõ thời đều phải
tu tập. Vì những pháp tu tập đó không biểu thị được,
dầu vậy nhưng là pháp tu tập tối thắng, nghĩa là tâm tánh
kiên cố vậy”.
Bấy giờ
đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Vô tâm,
khởi tâm tưởng
Sẽ có bố
úy lớn,
Ta sẽ thành,
chẳng thành?
Việc này
sẽ thế nào?
Do thường
suy thường nghĩ
Kẹt ở
nơi một bên
Hủy báng
đạo chánh pháp
Nên chẳng
được Bồ đề.
Đây là
tâm giải đãi
Chẳng phải
tướng Bồ đề
Người nầy
nghi tất cả
Nghi Phật
đến Thanh Văn.
Chẳng tu
mà mong cầu
Thánh Hiền
các Phật pháp,
Chẳng phải
do ngôn thuyết
Thành được
quả an lạc.
Cần phải
có tin ưa
Mới thành
được đại pháp,
Chẳng phải
chỉ tâm lường
Mà được
pháp thắng diệu.
Do một pháp
thành được
Tất cả
hạnh đã tu,
Biết thắng
pháp kia rồi
Vì Phật
nên siêng tu.
Nầy Đại
Ca Diếp! Do có thể thành tựu pháp này, Bồ Tát không gần
gũi cúng dường chư Phật, tự biết chắc rằng tôi sẽ thành
Vô thượng Chánh giác.
Nầy Đại
Ca Diếp! Bồ Tát tại gia có ba pháp tu tập có thể lợi ích
đạo Bồ đề: vì nhứt thiết trí nên tin sâu phát nguyện,
chẳng đắm trước nghiệp tại gia và giữ chắc năm giới.
Bồ Tát tại
gia có đủ ba điều trên thời có thể thành sáu pháp: được
báo hiền thánh, chẳng câm, chẳng ngọng, chẳng điếc, nghe
pháp mau hiểu, đi đứng đoan nghiêm, lòng tin sâu chắc, nơi
pháp thậm thâm chẳng kinh sợ, khi nghe pháp dễ hiểu dễ ngộ
và mau được bực bất thối.
Đối với
sáu pháp trên đây, phải khéo biết có năm điều chướng:
lời ly gián, vọng ngữ, không có chí nguyện, tật đố và
đắm trước ngũ dục.
Bồ Tát tại
gia lại có ba pháp cần tu hành: thường có lòng muốn xuất
gia, nên phải cung kính tôn trọng các bực Sa Môn, Bà La Môn,
nếu người thuyết pháp chẳng phải đồng loại thời nên
lánh xa, vì chẳng nên học tập theo những pháp tà ngoại chẳng
phải Phật đạo.
Nầy Đại
Ca Diếp! Bồ Tát lại phải tu học ba pháp: thường tùy thuận
chư Phật, vì giảng dạy người khác nên tự mình siêng tu
hành, tập rèn lòng từ đối với chúng sanh.
Bồ Tát lại
phải gần gũi ba pháp: lìa hẳn sự đánh đập, chẳng mắng
nhiếc người và ban sự vô úy cho người đương kinh sợ”.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Chẳng
gần người hạ liệt
Thấy người
chẳng chánh trực
Liền phải
gấp lánh xa
Như lánh
xa rắn độc.
Chẳng theo
học đạo khác
Phi lễ phải
xa lìa
Dường như
thấy chó điên
Vì phải
đọa ác đạo.
Nếu chấp
trước theo người
Đồng họ
đi đường ác
Nghe pháp
“không” thắng diệu
Phải có
lòng thích ưa.
Với Tỳ
Kheo không tịch
Nên cung
kính tôn thờ
Thêm lớn
sự đa văn
Mà được
sanh trí huệ.
Bực gần
gũi Bồ đề
Mọi người
phải kính lễ
Gặp qua
để học hỏi
Sớm sanh
những căn lành.
Muốn trí
huệ thêm lên
Như hoa sen
trong nước
Phải nghe
nhiều chánh pháp
Căn lành
lớn càng thêm.
Do trí huệ
thêm nhiều
Có thể
dứt hữu lậu
Thành oai
đức vô úy
Đại trí
rất tinh cần
Vì lợi
ích mọi người
Tự mình
thành lợi ích,
Người tại
gia phải bỏ
Đừøng
đánh đập chúng sanh.
Phát tâm
cầu Bồ đề
Nơi pháp
không thối chuyển,
Thân không
bịnh, xinh đẹp
Mọi người
điều kính ưa.
Nếu tu tập
lòng từ
Thoát khỏi
ba ác đạo,
Cõi trời
Đao Lợi kia
Hưởng quả
vui sung sướng.
Thân trời
nếu đã chết
Chẳng sa
đọa tam đồ
Sẽ sanh
trong loài người
Nơi nhà
sang tôn quí,
Thân đoan
nghiêm xinh đẹp
Chẳng bị
người khinh chê,
Thiên, Long
theo hộ trì
Tu hành đúng
chánh pháp,
Thọ hưởng
nơi thắng diệu
Người kính
trọng mến thương,
Giấc ngủ
được an lành
Lúc thức
lòng an ổn,
Vì chư Thiên
ủng hộ
Nên chẳng
sợ chẳng kinh,
Pháp rộng
lớn trên đây
Nhiều lợi
ích như vậy.
Hàng tại
gia xuất gia
Lại có
lợi ích lớn
Làm nẩy
nở trí huệ
Căn lành
cho mọi người,
Người sợ
làm cho an
Đưa đến
Vô thượng quả.
Chỉ cầu
nhứt thiết trí
Chẳng mong
mỏi cõi trời,
Người này
được tương ưng
Chánh đạo
cùng chánh huệ,
Vì có căn
lành này
Chẳng còn
sa ác đạo.
Được trí
được tam minh
Khéo học
ba vô lậu
Trọn nên
những công đức
Như chư
Phật đã thành.
Đấng tôn
quí trong đời
Mọi người
cung kính lễ
Người lễ
kính Như Lai
Là bực
nhứt trong chúng.
Nếu người
còn tại gia
Phát được
tâm Vô thượng
Vì họ nói
pháp yếu
Ông nên
lắng nghe đây.
Nầy Đại
Ca Diếp! Bồ Tát tại gia phải có ba điều: xa lìa những sự
buông lung chơi bời theo thế gian, cho tặng lẫn nhau cùng lựa
chọn ngày lành giờ tốt, nên thanh khiết tránh nhận lãnh
nhiều và phải nên tinh tấn siêng học chánh pháp.
Hàng tại
gia lại phải ba điều: chẳng trở ngại người thuyết pháp,
phải khuyến thỉnh người thuyết pháp và thường thắp đèn
đuốc.
Và trọn
chẳng được làm ba điều này, nếu làm thời sẽ mang thân
phụ nữ: chẳng được ngăn trở mẹ đến nghe chánh pháp
và ra mắt Tỳ Kheo, chẳng được ngăn trở vợ ra mắt Tỳ
Kheo và đi nghe chánh pháp; chẳng được phạm chỗ phi đạo
của vợ”.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Nên thường
có lòng tin
5Thắp sáng
đèn với đuốc
Bèn được
đôi mắt Phật
Thanh tịnh
không cấu nhơ.
Do nơi mắt
thanh tịnh
Rõ các pháp
sở tri
Vì rõ được
sở tri
Nên biết
pháp quá khứ
Biết hiện
tại cũng vậy
Chẳng phân
biệt vị lai
Không có
ba thứ tướng.
Có ba thứ
tướng này
Bỏ lìa
tướng thứ ba.
Tướng gọi
là vô tướng
Đều đồng
là một nghĩa.
Phật dầu
nói chư căn
Nhưng pháp
không căn bản
Nơi đây
sanh phân biệt
Thời mất
đạo Bồ đề.
Tịnh tu
Phật nhãõn rồi
Hiện chứng
tất cả pháp
Câu đây
là Bồ đề
như vừa
rồi khai thị.
Pháp không
khai thị được
Cũng không
hủy hoại được
Các pháp
như hư không
Nên nói
là khai thị.
Phật tuyên
nói nghĩa này
Để dạy
chúng tại gia
Thường
thắp sáng đèn đuốc
Được Phật
nhãn rõ ràng.
Chẳng chướng
người thuyết pháp
Giáo pháp
của Thích Ca
Trọn chẳng
vào tam đồ
Chẳng mắc
sanh manh báo.
Thường
hay cầu thỉnh người
Tuyên dương
pháp tối thắng
Do sức căn
lành này
Chuyển pháp
luân Vô thượng.
Nếu có
người với mẹ
Ngăn trở
nghe pháp lành
Thọ thân
nữ xấu xa
Đui gù nhiều
tội lỗi,
Chẳng thấy
được màu sắc
Cũng chẳng
nghe tiếng tăm
Ở nơi chỗ
tối tăm
Không khác
loài dơi chuột.
Với vợ
sanh đố kî
Ngăn trở
việc tu hành
Mãn thọ
sau khi chết
Sẽ mang
thân gái xấu:
Tóc vàng,
tròng mắt xanh
Đen điu
mắt mù lòa
Chưn què,
lòng độc ác
Tai điếc,
miệng nhiều lời,
Nhiều tội
lỗi như đây
Sớm có
thân xấu ác
Do dục nhiễm
nhân duyên
Mà bị chồng
ghen ghét.
Này Đại
Ca Diếp! Tại gia Bồ Tát không nên làm ba điều này: những
đồ vật bố thí của người khác không luận nhiều ít tốt
xấu, nếu người chủ chẳng mời thỉnh thời chẳng nên đem
bố thí, người khác muốn xuất gia chẳng được làm trở
ngại, còn người chưa xuất gia nên khuyên bảo xuất gia, thấy
người xây dựng chùa tháp nên trợ giúp, chẳng được nhơn
việc xây cất mà lạm lấy tiền của hay đồ vật”.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
Của cải
người bố thí
Không phải
chỗ chẳng cho
Chỗ thí
chẳng được ngăn
Lạm dụng
thời mắc tội
Nên ở trước
thí chủ
Vòng tay
đứng thẳng ngay,
Trong đây
nếu thiếu người
Cung cấp
cho tăng chúng,
Phải theo
lời thí chủ
Đem công
giúp cho người,
Đồ uống
cùng món ăn
Nhẫn đến
thứ rẻ mọn
Đúng theo
lòng thí chủ
Chớ để
họ oán hờn.
Nếu ai muốn
xuất gia
Hoặc con
hoặc quyến thuộc
Bồ Tát
nên thuận theo
Chẳng nên
làm trở ngại.
Nguyện chúng
sanh an lạc
Nguyện đặng
chứng Niết Bàn
Bổn nguyện
tôi được tròn
Nguyện thuyết
pháp vô thượng.
Lúc biết
mình có lỗi
Chớ để
thân tâm nhơ
Chớ mãi
mãi lo rầu
Mà bị phiền
não nhiễm.
Này Đại
Ca Diếp! Bồ Tát tại gia lại chẳng nên làm ba điều này:
chẳng nên buôn bán người nam người nữ, chẳng nên đem thuốc
độc cho người, chẳng nên gần gũi những người làm
các việc trên”.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Chớ buôn
bán người nam
Chẳng buôn
bán người nữ
Thuốc độc
chớ cho người
Người làm
phải tránh xa.
Vì làm khổ
chúng sanh
Chư Thiên
thừng quở trách,
Không luận
đến xứ nào
Lòng lo sợ
bị hại.
Hằng ngày
thêm buồn lo
Nạn khổ
bức thân thể
Chết yểu
tự diệt vong
Do đây chẳng
nên phạm.
Lỗi nầy
và tội khác
Phật biết
rõ nguyên nhơn
Lược nói
một ít phần
Dạy răn
chư Bồ Tát.
Này Đại
Ca Diếp! Bồ Tát tại gia lại chẳng nên làm ba điều dưới
đây: chẳng nên đến nhà dâm nữ, chẳng nên gần gũi những
người mai mối, chẳng ở chỗ hàng thịt sát sanh”.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Chẳng
đến nhà dâm nữ
Nơi nhơ
uế buông lung
Người đời
sẽ chê bai
Vì gần
gũi tệ dục
Đế đó,
người trí biết
Ắt quở
tách rầy la
Chiêu họa
hại thân mình
Do đây thườn
chết sớm.
Lại chẳng
nên gần gũi
Kẻ mai mối
gái trai
Người cưới
vợ lấy chồng
Gần họ
bị khi dễ.
Nhà sát
sanh hàng thịt
Cũng phải
chánh chớ qua
Nơi đó
người khôn ngoan
Không bao
giờ ca ngợi.
Những tội
lỗi sâu nặng
Như Lai biết
rõ ràng
Vì những
người lỗi lầm
Nay Phật
nói như thật.
Giáo pháp
của Phật dạy
Để tử
Phật phải rành
Đúng theo
pháp thọ trì
Chỗ tu hành
kết quả.
Chúng sanh
tu thánh đạo
Mau đến
quả Niết Bàn
Phật giảng
cho hạng này
Chẳng phải
vì người ác.
Này Đại
Ca Diếp! Có ba điều Bồ Tát tại gia phải thật hành: ở
nhà nên quan sát thân mạng của mình giả tạm như khách; với
của cải đã bố thí có quan niệm như được chứa cất,
với của cải chưa bố thí xem như xa lìa ta cả trăm do tuần,
chẳng có quan niệm chứa của để cho vợ con”.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Thường
quan sát sự chết
Mạng tôi
chẳng còn lâu
Sản nghiệp
cùng của tiền
Nên thí
gieo phước đức.
Của chẳng
để vợ con
Cũng chẳng
vì thân mình
Đem bố
thí cho người
Được phước
đức bền chắc.
Ân cần
cầu Phật đạo
Chẳng sanh
lòng cống cao
Nếu rời
các pháp lành
Thường
mang lấy tổn hại.
Như trẻ
thơ đùa giỡn
Ăn chút
ít chẳng no
Pháp vị
còn mỏng manh
Dầu tin
nhưng khó vững.
Nếu tu chẳng
dõng mãnh
Cách đạo
thiệt xa vời,
Hoằng pháp
nếu chẳng thôi
Gọi là
pháp rốt ráo.
Nay Phật
vì đại chúng
Nói những
pháp môn này
Nếu ai hiểu
rõ ràng
Là bực
nhứt thiết trí.
Dùng trí
khéo quan sát
Lòng nhàm
lìa nơi thân
Thường
chánh niệm tư duy
Thời như
đối trước Phật.
Này Đại
Ca Diếp! Bồ Tát tại gia thành tựu được ba pháp dưới đây
thời chẳng thối chuyển đạo Vô thượng Bồ đề: Cha mẹ
chẳng tin Tam Bảo thời làm cho cha mẹ có lng tin, cha mẹ hủy
phạm giới pháp thời khuyên cha mẹ giũ giới, cha mẹ tham
lam bỏn sẻn thời khuyên cha mẹ bố thí, khen ngợi đạo Vô
thượng Bồ đề mà vì người khác thuyết pháp, đây là pháp
thứ nhứt được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề.
Bồ Tát tại
gia biết rõ đáng cúng dường cùng chẳng đáng cúng dường,
cúng dường cho người đáng cúùng, chẳng cúng dường cho
người không đáng cúng, dầu chẳng cúng nhưng vẫn có lòng
từ đối với họ, đây là pháp thứ hai được chẳng thối
chuyển Vô thượng Bồ đề.
Bồ Tát tại
gia nhọc nhằn làm ra của cải, chẳng phung phí, chẳng để
thất phát, chẳng đem cho bừa bãi, phải nên cất giữ kỹ
lưỡng. dầu vậy, nhưng đối với các bực Sa Môn, Bà La Môn
thanh tịnh cùng các chúng sanh, vẫn bình đẳng bố thí cúng
dường, và không làm chướng ngại những người đồng bố
thí. Đây là pháp thứ ba được chẳng thối chuyển Đạo
vô thượng Bồ đề”.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Hàng tại
gia Bồ Tát
Cầu Vô
thượng Bồ đề
Trọn nên
ba căn lành
Thẳng lên
Vô thượng giác.
Cha mẹ đối
Tam Bảo
Tà kiến
không lòng tin
Khuyên cho
phát tín tâm
Khiến trụ
nơi thắng pháp
Cha mẹ tham
bỏn sẻn
Khuyên bố
thí làm lành
Phạm giới
khuyên giữ gìn
Cũng khuyên
tu trí huệ.
Bốn phương
nên đi khắp
Thỉnh cầu
các pháp sư
Thuyết pháp
để độ người
Do đây thêm
trí huệ.
Phạm giới
khiến giữ giới
Chưa tin
khiến được tin
Không huệ
khiến chuyên tu
Do đây được
bất thối.
Gặp Tỳ
Kheo trí huệ
Giữ giới
học rộng nhiều
Nên cung
kính theo gần
Để thường
thường học hỏi,
Do đây hàng
cư sĩ
Được bất
thối Bồ đề.
Gặp người
đức sâu dầy
Hiểu đạo
nhiều trí huệ,
Bực này
đáng tôn trọng
Thân của
đem cúng dường.
Tiêu biểu
lònn kính tin
Trước kia
Phật từng nói:
Không tin
thời không được
Phát đại
Bồ đề tâm,
Trí huệ
thấy pháp mầu
Mau nên lợi
ích lớn,
Ở nơi các
pháp diệu
Chứng nhập
chẳng khó khăn.
Biết mình
cũng biết người
Nơi đây
được lợi lớn,
Tương ưng
pháp xuất thế
Nên trí
huệ càng thêm.
Bao nhiêu
những của tiền
Xưa nay thường
chứa nhóm
Không phải
gìn giữ mãi
Đem bố
thí người tu.
Tiền của
được sau này
Cũng mang
ra bố thí
Bố thí
thường tinh tấn
Phật quả
ắt mau thành.
Trì giới
cùng chúng sanh
Từ tâm
đồng bố thí
Bố thí
lòng trong sạch
Trọn không
chút mong cầu,
Bạc tiền
đến ngọc vàng
Đều vui
lòng thí cả
Dõng mãnh
thí tất cả
Những công
hạnh đã làm
Hồi hướng
Vô thượng thừa
Bồ đề
đại giác đạo.
Cúng dường
nếu phi pháp
Dầu bố
thí Nhơn, Thiên
Chẳng bằng
thuận pháp lành
Cho một
người hèn khó.
Tinh tấn
vì cầu pháp
Nhờ pháp
được tỏ thông
Thắng đạo
sanh trí mầu
Chứng Bồ
đề vô thượng.
Này Đại
Ca Diếp! Bồ Tát tại gia sau khi phát Bồ đề tâm nếu có
ba điều dưới đây thời sẽ qua Thanh Văn thừa mà nhập Niết
Bàn: có một hạng người sợ ba ác đạo, xem đạo Vô thượng
quá nặng quá khó, không chuyên tu tập những thiện căn đã
từng tu tập, chẳng thích cầu pháp lành, nản lòng cho là
khổ, đây là điều thứ nhứt. Nếu có điều này thời
thối thất Bồ đề tâm mà qua Thanh Văn thừa nhập Niết Bàn.
Có một hạng
người lúc làm việc bố thí lòng không hoan hỉ, đã bố thí
rồi lại hối hận, cũng chẳng hồi hướng cầu trí huệ
Phật. Nếu người có điều thứ hai đây thời thối
thất tâm Bồ đề, mau qua Thanh Văn thừa mà nhập Niết Bàn.
Lại có hạng
người chẳng chuyên cần tinh tấn thật hành hạnh Đại thừa,
chỉ thích cầu học rộng, do thiện căn hạ liệt mau nhập
Niết Bàn. Đây là hạng thứ ba thối thất Bồ đề tâm,
qua Thanh Văn mà nhập Niết Bàn”.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Đã phát
Bồ đề tâm
Chẳng tùy
thuận chánh hạnh
Thối thất
nơi Phật thừa
Vào nơi
Thanh Văn đạo.
Vẫn tin
đai Bồ đề
Cũng không
lòng giải đãi
Do vô trí
xan tham
Nên phải
bị trở ngại.
Cảm ơn
Phật trì giới
Bố thí
lòng siêng năng
Ba la mật
được thành
Chứng Bồ
đề không khó.
Do tâm tạo
những ác
Tâm củng
thích cúng dường
Tâm chúng
sanh nếu bền
Sẽ là thế
gian quả.
Nếu lìa
được ba lỗi
Hồi hướng
đại Bồ đề
Sẽ là bực
Thế Tôn
Chứng Bồ
đề vô thượng
Này Đại
Ca Diếp! Bồ Tát tại gia nếu có ba điều dưới đây, thời
thối thất đạo Bồ đề, mà bát Niết Bàn nơi Độc Giác
thừa: có hạng người dầu đã phát tâm Bồ đề nhưng bỏn
sẻn chánh pháp. Có hạng người ham coi hạn coi sao và đoán
việc cát hung thế gian. Lại co hạng người vì giải đãi
mà không thể tu học khắp các pháp trợ Bồ đề. Những hàng
tại gia đã phát tâm đại Bồ đề, nếu có ba lỗi trên thời
sẽ thoiá thất Đại thừa mà vào Độc Giác thừa bát Niết
Bàn.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Người
bỏn sẻn chánh pháp
Chẳng chịu
dạy bảo người
Sẽ qua Độc
Giác thừa.
Thối thất
đạo vô thượng.
Đã tu Đại
thừa pháp
Lại xu cát
tî hung
Chẳng phải
chánh tín tâm
Tất phải
xa Phật đạo.
Có thể
chuyên tín nhạo
Kiên cố
đạo Bồ đề
Trọn không
lễ trời thần