Lúc
bấy giờ, Vô Biên Trang Nghiêm bạch rằng : ‘‘Thếù Tôn
! Thế nào gọi là pháp môn xuất ly đà la ni ?’’.
Phật
nói : ‘‘ NầyVô Biên Trang Nghiêm ! Đây là pháp ấn xuất
ly tất cả văn tự. Tất cả pháp đều nhiếp vào trong đây.
Thế
nào gọi là nhiếp vào ?
Vì là
bình đẳng. Tất cả đều vào nơi bình đẳng, cũng chẳng
thấy pháp nào vào nơi bình đẳng, chẳng thể rõ biết, vì
là bất khả đắc.
Nơi
tự tánh như thật của tất cả pháp, lúc chẳng phân biệt,
thời tất cả pháp đều nhiếâp vào trong đó, vì rời hữu
tác và vô tác.
Do các
văn tự và ngữ nghiệp nên diễn thuyết các pháp. Hai thứ
trên đây vì chẳng như thật, vì tánh bình đẳêng nên tất
cả văn tự và ngữ nghiệp thảy đều bình đẳng.
Ở trong
các pháp, bao nhiêu ngôn thuyết đều chẳng phải như thật.
Đây là cú nghĩa như thật của các pháp : bao nhiêu văn từ
và ngữ nghiệp đều là không có. Vì không có, nên không
có chơn thật khai thị diễn thuyết.
Văn tự và
ngữ nghiệp không chơn thật đã nói đó, chính là câu vô
sai biệt của các pháp, câu vô tăng thắng, câu vô kiến lập
của các pháp.
Nơi pháp
thậm thâm này, không thể tuyên thuyết. Tất cả pháp đều
chẳng phải chơn thật, chẳng phải không chơn thật. Vì bổn
tánh của tất cả pháp, chẳng phải dùng văn tự ngữ
nghiệp tuyên thuyết mà có thể thấy, có thể được.
Tất cả
pháp đều không bổn tánh. Các pháp như vậy, chẳng phải
tạo tác, chẳng phải không tạo tác, chẳng phải đồng, chẳng
phải không đồng, chẳng phải tịch tịnh, chẳng phải không
tịch tịnh. Dầu vậy, nhưng các pháp cũng trụ nơi tịch tịnh
và không tịch tịnh. Trong đây nói là trụ, cũng vẫn không
chỗ trụ, cũng chẳng biến dị. Lại cũng chẳng trụ nơi
pháp chẳng biến dị.
Vì sao vậy
? Vì pháp vốn vô trụ chẳng vào nơi toán số. Chẳng
phải do toán số kiến lập ngôn giáo mà có thể làm cho các
pháp vào nơi toán số.
Tất
cả văn tự ngữ nghiệp diễn thuyết đều bất khả
đắc, chẳng trụ nơi chỗ nào và tất cả chỗ nào. Văn tự
và ngữ nghiệp như vậy, không từ đâu lại, đi không chỗ
đến, chẳng trụ ở giữa, chẳng trụ một bên. Vì tất cả
văn tự và ngữ nghiệp là nghiệp mà chẳng phải nghiệp,
vì chẳng phải công dụng. Vì nơi tất cả văn tự
ngữ nghiệp, tự tánh là không, nên văn tự ngữ nghiệp
cũng đều là không. Tự tánh đã không, nên tha tánh cùng tự
tha tánh cũng đều không. Vì tự tha không nên nó tịch tịnh.
Vì tịch tịnh nên nó tịch diệt. Nếu là tịch diệt, thời
tất cả pháp chính là môn tịch diệt. Do đây nên được
nói danh từ các pháp, hoặc nói văn tự, hoặc nói ngữ nghiệp.
Tất cả môn đó cũng bất khả đắc, vì môn thanh tịnh, vì
vô sở hữu.
Do các môn
đó mà diễn thuyết các pháp, mà trong môn nầy rốt ráo thanh
tịnh, có thể bình đẳng vào tất cả pháp. Đây là yểm
ly.
Thế nào
là yểm ly ? Chính là tham bổn tánh. Tham bổn tánh thì
là thanh tịnh. Đã thanh tịnh thời là cứu cánh. Đã cứu
cánh thời đâu được có tham, đâu được có ngôn thuyết
!
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Trên đây là lược nói môn thanh tịnh đà
la ni, là pháp môn vô phân biệt, không hí luận.
Vào môn nầy
rồi, có thể phá chướng nặng vô minh hắc ám, có thể tùy
thuận giác minh. Nơi tất cả pháp, được vào môn quang minh
thanh tịnh pháp nhãn đà la ni. Và có thể chứng được pháp
môn văn tự sai biệt diễn thuyết. Do môn nầy bèn được
vào nhứt thiết chủng trí và được gần chư Phật.
Ở trong các pháp, là bực dũng kiện có thể phá dẹp ngoại
đạo, hàng phục quân ma, có thể làm cho chúng sanh thêm lớn
căn lành vào nơi pháp tạng bí mật của Như Lai, liền
được các pháp môn, đà la ni môn. Do pháp môn nầy, ở trong
mười trí lực, được pháp quang lớn, mau thành tựu trí lực
của Như Lai.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Chư Phật dùng mười trí lực làm sức mạnh,
làm sức vô thượng siêu quá tất cả sức thế gian, có thể
làm sư tử rống giữa đại chúng.
Những gì
gọi là mười trí lực ?
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Như Lai dùng trí vô thượng nhứt thiết
chủng nơi thị xứ phi xứ, rõ biết như thật thị xứ phi
xứ . Đây là trí lực thứ nhứt của Như Lai.
Do trí vô
thượng nầy, Như Lai ở bực đại tiên vì chúng sanh diễn
thuyết chánh pháp, và vì họ chuyển pháp luân vô thượng.
Như Lai lại dùng trí vô phân biẹât rõ biết như thật các
nghiệp và thủ nhơn của các nghiệp quá khứ, hiện tại,
vị lai, là thiện, bất thiện, vô lượng hành tướng, không
trụ trước, không chướng ngại. Đây là trí lực thứ hai
của Như Lai.
Đức Như
Lai dùng trí vô phân biẹât nhứt thiết chủng vô trước vô
ngại, có thể khéo rõ biết vô lượng hành nghiệp của các
loài hữu tình. Đây là trí lực thứ ba của Như Lai.
Đức Như
Lai dùng trí vô thượng nhứt thiết chủng biết rõ như thật
tất cả vô lượng thắng giải phân biẹât và vọng phân
biẹât. Đây là trí lực thứ tư của Như Lai.
Đức Như
Lai rõ biết như thật tất cả vô lượng nhơn, tất cả vô
lượng duyên chỗ y trụ của thế gian. Đây là trí lực thứ
năm của Như Lai.
Đức Như
Lai rõ biết như thật, hoặc nhơn, hoặc duyên, tri kiến thẳng
đến đạo. Đây là trí lực thứ sáu của Như Lai.
Đức Như
Lai dùng thiên nhãn vô ngại rõ biết như thật sự sanh tử
của hữu tình . Đây là trí lực thứ bảy của Như Lai.
Đức Như
Lai rõ biết như thật tất cả tịnh lự, giải thoát, đẳng
trì, đẳng chí, ly nhiễm thanh tịnh, hoặc xuất hoặc nhập.
Đây là trí lực thứ tám của Như Lai.
Đức Như
Lai rõ biết như thật tất cả đời trước. Đây là trí lực
thứ chín của Như Lai.
Đức Như
Lai rõ biết như thật lậu tận. Đây là trí lực thứ mười
của Như Lai.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Trí lực nhứt thiết chủng vô lượng
vô thượng như vậy, Như Lai đều thành tựu. Vì muốn cho
chư Bồ Tát và tất cả chúng sanh được nhiếp thọ nơi Phật
trí và chứng pháp trí thanh tịnh, nên Như Lai tuyên thị vô
biên pháp tạng.
Nầy thiện
nam tử ! Nay ông nên quan sát Như Lai nói trí lực thậm thâm
thanh tịnh khó hiểu như vậy. Tất cả các pháp gọi là Như
Lai và trí lực của Như Lai. Nhưng nơi các pháp đó cũng là
bất khả kiến và bất khả thuyết.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Trí lực đã nói trên đây là pháp môn vô
thượng cứu cánh kiên cố của Như Lai. An trụ nơi đó mà
Như Lai tuyên thị lý thú của pháp nầy. Do lý thú đây mà
kiến lập trí lực, có thể diễn thuyết tánh không kiến
lập của tất cả pháp đây, dùng đó làm trí lực.
Những trí
lực như vậy không tánh sanh khởi, không tự tánh, lìa tự
tánh. Mười trí lực của Như Lai viên mãn như vâïy, có thể
khai thị vô lượng vô biên nghĩa lý rất sâu.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Đây là pháp môn vô thượng của chư Phật.
Trụ pháp môn nầy thì có thể diễn thuyết mười trí lực
của Như Lai, va øcó thể diễn thuyết môn thanh tịnh, môn
khắp thanh tịnh của trí lực nầy.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Nay Phật lại vì chư Bồ Tát nói đà la
ni, cho họ được thanh tịnh nơi pháp môn nầy. Ông nên lắng
nghe và lãnh thọ”.
Đức Phật
liền nói đà la ni rằng:
‘‘Đát
điệt tha bát ra mâu chiết ninh - nễ mâu chiết ninh - mâu chiết
ninh - tùy bát ra muộn chiết nễ - a chiết lê - a tỳ gia trạch
nễ - bát ra bà nộ yết đế - đế thệ - ma ha đế thệ -
a bát ra để gia - mạt ra ni - a na mạt ra ni - a mạt ra
noa tỳ thú đạt nễ - nễ đà na bát ra phệ thiết nễ - đột
ra a nễ khất túng bát nễ - mạt ngu - mạt ngu tát phược
lê - tát phược ra vĩ thú đàn nễ - mẫu đạt ra - mẫu đạt
ra vĩ thú đàn nễ - tát bát rị phược lê - tam mạn đa bát
lê phược lê - a yết ra nỗ ma để - yết tha ta đàn nễ -
tăng yết ra ni ma chế đàn nễ - thú lê - thú ra mị rị duệ
- a cát ra ni - ô ba na mạt để - nễ na lê thiết nễ - tam
mạn đa ba lê phổ lý dã yết đế - đà la nỗ yết đế -
a nễ mê thiết nễ - a tán nễ mê thiết nễ - đà la ni yết
đế - nễ đà na bát rị thú đàn nễ - a nỗ đạt ra tỳ
bà tỉ nễ - bạt trí lệ - bạt đạt ra phiệt đế - mạc
di - mạc xí phiệt để - san đà ra ni - ô phiệt đà rị ni
- a nan đa bát ra bá phệ - bát ra bộ da bát rị phược lê
- thiết nễ - bát rị ta thiết nễ - ma ha phược ca thế -
a ca xả ta mâu tát ra ni - nhĩ để di ra ca ra ni - tát bà nhã
bát thả tỳ thâu đạt nễ - niết bàn na bát thả san na rị
thiết nễ - ta bà ha.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Đây là pháp ấn đà la ni, tất cả pháp
đều vào trong đó. Chư Bồ Tát tu hành đúng theo đây thì
được trí huệ biện tài vô ngại, có thể khéo biết rõ
câu xuất ly đà la ni tối thắng.
Thế nào
gọi là câu xuất ly đà la ni tối thắng ?”
Đức Phật
liền nói đà la ni rằng:
“Tá yết
ra á bát diễn đa - tô mế rô ra đát na ta yết ra san nễ chiết
gia - a tỳ đát nễ - a tam tỳ đát nễ - a tỳ mạt lê - bạt
chiết ra san nễ - niết bệ thiết nễ - a khất sô tỳ nễ
- a tăng khất sô tỳ nễ - a khất sa gia - a tị dạ dĩ - khất
sa gia a bát diễn đế - a khất sử na khất sa diễn đa tát
điệt lý thế - a bát rị khất sa duệ - a tỳ khất sớ tị
nễ - a tỳ yết lê - a tỳ yết la nhã na yết ra ni - ta bà
ha.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Đây là câu xuất ly đà la ni tối thắng.
Chư Bồ Tát tinh tấn tu tập pháp nầy, thì có thể thêm lớn
trí huệ như biển, có thể dùng tâm đại từ an ủi chúng
sanh rằng : Ta truyền thọ pháp được rộng lớn cho các người,
phá trừ vô minh hắc ám của các người, dứt trừ phiền
não sanh tử vô thỉ vô chung của các người, cũng làm cho
các người thoát khỏi tham ái, qua khỏi tất cả dòng sanh
tử. Bồ Tát làm pháp quang rộng lớn, làm cho căn lành của
chúng sanh được sanh trưởng có thể rốt ráo giải thoát.
Bồ Tát nầy làm bực đạo thủ lành có thể vào nơi nhứt
thiết chủng trí, cũng chẳng để có một chúng sanh nào thối
thất nơi trí vô thượng nầy.
Bồ Tát đây
có thể dùng tâm đại từ làm cho tất cả chúng sanh được
tương ưng với pháp nghĩa mà từ trước chưa từng nghe và
lãnh thọ, làm cho họ được trí vô sanh tịch diệt, được
biện tài vô ngại.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Nếu chư Bồ Tát lúc muốn thuyết pháp,
thì nên nhiếp niệm nơi câu đà la ni nầy làm cho pháp nghĩa
chẳng gián đoạn. Nghĩa là chư Bồ Tát ngồi tòa sư tử,
dùng biện tài vô ngại suy gẫm vô lượng công đức của
Như Lai, do đây trí huệ được rộng lớn thanh tịnh.
Lúc chúng
sanh vân tập đến pháp hội để nghe pháp, Bồ Tát đối với
họ nên có lòng đại bi, dùng trí huệ rộng lớn khai thị
nghĩa lý quyết định đúng như thật chẳng thêm chẳng bớt.
Bồ Tát biết rõ căn tánh của thính giả, dùng ngữ nghiệp
rõ ràng quyết định lành tốt và câu văn từ ngữ vì họ
mà diễn thuyết rộng rãi. Do sự diễn thuyết nầy có thể
làm cho thiện căn của Bồ Tát được tăng trưởng.
Như Lai có
thể dùng vô lượng thí dụ tuyên thị môn đà la ni như vậy.
Các ông nếu có thể tuyên thuyết chánh pháp vô thượng như
vậy, thì là an trụ nơi việc làm của Phật, các ông sẽ
mau viên mãn bốn pháp vô úy.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Chư Bồ Tát nầy dùng trí huệ phương tiện
thanh tịnh rộng lớn có thể khéo tu tập những công hạnh
phát khởi thần thông, có thể nhiếp thọ trí huệ rộng lớn.
Những gì
là công hạnh phát khởi thần thông ?
Chư Bồ Tát
an trụ trong thần thông không có tưởng niệm nương gá dường
như hư không, khéo phân tích các đại chủng, biết rõ đức
Như Lai thành tựu trí huệ vô ngại vô biên. Do sức trí
huệ nầy, nơi tất cả pháp, đức Như Lai quyết định biết
rõ không có chút pháp nào là có thể rõ biết, trụ nơi vô
sở đắc, trụ nơi vô đẳng đẳng, cũng chẳng thấy có vô
sở đắc vô đẳng đẳng, trụ a lan nhã, trụ không chấp
trước, trụ trí huệ thanh tịnh, không có chút pháp nào mà
chẳng biết rõ chẳng thấy rõ, xa lìa vô minh hắc ám, không
bị chướng ngại, khéo an trụ nơi trí huệ vô lượng vô
biên. Do đây đức Như Lai bình đẳng thấy biết tất cả
pháp như huyễn, như mộng, và có thể khai thị pháp tưởng
quán vô minh ? Vì thế nên Bồ Tát chúng ta cần phải theo học
trí huệ vô ngại của Như Lai. Trí tuệ nầy có thể khéo
rõ biết căn tánh thượng trung hạ của tất cả chúng sanh,
làm cho chư Bồ Tát an trụ công hạnh bình đẳng phát khởi
thần thông. Do đây được thành tựu thần thông. Do sức thần
thông nầy gia trì nên khéo an trụ được nơi giới, định,
huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến cùng sáu môn ba la mật.
Do được chơn thật gia trì nhiếp thọ nên có thể được
vô lượng thần biến sai khác, được tự tại nơi thế gian,
ngồi tòa sư tử đánh trống pháp lớn, làm cho đại chúng
trong các pháp hội thảy đều hoan hỷ, và làm lợi ích lớn
cho tất cả chúng sanh.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Ví như vòng núi Đại Thiết Vi do nghiệp
lực tăng thượng của chúng sanh, nên bao quanh thế giới nầy.
Nhờ vòng núi nầy che, nên chúng sanh không ngửi mùi địa
ngục, không nghe tiếng địa ngục, không thấy địa ngục.
Cũng vậy,
chư Bồ Tát khéo tu tập nơi pháp nầy rồi, vì chúng sanh mà
trừ diệt tất cả pháp chướng ngại, trao cho tất cả pháp
vô ngại. Chư Bồ Tát đây dùng trí kim cương khéo nhiếp thọ,
ngộ nhập rất sâu nơi pháp nầy, trụ nơi vô sở đắc được
cam lồ rưới nhuần.
Thế nào
gọi là cam lồ rưới nhuần ?
Chư Bồ Tát
nầy không bị ma phiền não, ma ngũ uẩn và Thiên ma làm tổn
hại. Dầu lúc chết có tử ma, nhưng cũng được tự tại
chẳng có quan niệm là chết? Do Bồ Tát nầy an trụ nơi không,
vô tướng, vô nguyện, vô phân biệt, chẳng sanh chẳng diệt,
chẳng đến chẳng đi, chẳng trụ chẳng khởi, chẳng nhiễm
chẳng tịnh, cũng chẳng khiếp nhược, vô ngại vô đắc,
bỏ kiêu mạn, tâm thường khiêm hạ, trong lìa mê lầm, ngoài
khéo rõ biết, không nhiếp thuộc nơi kiến văn giác tri, biết
rõ các pháp đều bình đẳng, chứng nhập như thật trong pháp
của Như Lai, an trụ nơi chơn như chẳng hư vọng không biến
dị. Chính đây gọi là chư Bồ Tát chứng nhập Bát nhã ba
la mật. Bồ Tát an trụ nơi đây thì thành tựu được vô
biên trí huệ. Do sức trí huệ nầy có thể chứng nhập trí
bất tư nghì và ngôn thuyết bí mật của Như Lai. Do đây có
thể khéo rõ biết tất cả pháp, chỗ thấy biết chẳng thể
nghĩ bàn, không phân biệt, không sở đắc, đồng như Bồ
đề chẳng thể nghĩ bàn vô phân biệt vô sở đắc. Bồ Tát
nầy cũng chẳng phân biệt, chẳng tưởng niệm đồng với
Bồ đề. Trong nghĩa Bồ đề thường trụ, chẳng thành chẳng
hoại, chẳng nhóm chẳng tan, mà có thể làm ra tất cả Phật
sự. Nơi pháp môn tịch tịnh đã nói đây, Bồ Tát chẳng
chấp trước, cũng chẳng phân biệt những nghiệp quả báo,
khéo rõ biết được nghiệp quả bình đẳng, vì bình đẳng
nên chẳng thấy nghiệp quả, cũng chẳng phân biệt chấp trước.
Vì chư Bồ Tát nầy đã được nhẹ nhàng nơi phiền não và
nghiệp chướng, đã xa lìa kiết sử, đã rõ thấu các pháp
môn và thấy biết đà la ni nầy. Vì đã an trụ pháp môn thanh
tịnh, nên chư Bồ Tát nầy có thể đi giáo hóa mười phương
thế giới, đủ hạnh thanh tịnh không trụ trước, chẳng
bị thế pháp làm nhiễm ô, đáng là phước điền cho trời,
người, các thế gian gần gũi cúng dường.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Như Lai nói cúng dường bực Bát địa Bồ Tát
được vô lượng công đức, huống là Bồ Tát tu hành chứng
nhập nơi pháp nầy.
Nếu chư
Bồ Tát đối với Bồ đề, với chúng sanh, với pháp chúng
sanh, với pháp thế gian mà không chỗ được, không phân biệt,
không hí luận, thì có thể rõ biết pháp nầy và tu hành đúng
thật, có thể tiêu được sự cúng dường rộng lớn của
thế gian. Tất cả chúng sanh nên đem sự cúng dường Phật
mà cúng dường chư Bồ Tát nầy.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Nếu chư Bồ Tát tu học pháp nầy thì được
đầy đủ tất cả sự cúng dường, lìa khỏi những sự bố
úy nhẫn đến có thể rời bỏ tất cả thân mạng. Chư Bồ
Tát nầy nơi các pháp không chỗ nhiếp thọ mà có thể nhiếp
thọ pháp rộng lớn, ngồi tòa vô úy, như sư tử rống, hàng
phục ngoại đạo và pháp của ngoại đạo, trừ dẹp ma vương
Ba tuần và đoàn quân ma, có thể diệt trừ tất cả sự che
ngăn cho chúng sanh, sẽ dùng pháp thuyền độ chúng sanh, sẽ
chỉ bày con đường nhứt thiết chủng trí cho chúng sanh, sẽ
có thể đặt tất cả chúng sanh trên con đường tùy thuận
thánh đế, sẽ khai thị tất cả pháp Bồ đề phần cho chúng
sanh, sẽ dùng pháp thí dạy bảo chúng sanh, sẽ làm cho chúng
sanh được pháp hỷ.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Nếu chư Bồ Tát có thể tín thọ môn đà la
ni nầy, thì không khác gì những bực đã được thọ ký Vô
thượng Bồ đề. Chư Bồ Tát sẽ tự thọ ký cho mình :
“Như Lai
là đấng Pháp Vương khai thị pháp tạng nầy, có thể an lành
ấn đà la ni nầy, có thể kiến lập những pháp môn nầy.
Đức Như Lai nhiếp thọ chúng tôi, là cha của chúng tôi, là
người thương xót chúng tôi”.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Nếu chư Bồ Tát có thể ở nơi Như Lai có tâm
quyết định tưởng là cha lành, thì sẽ được vào số chư
Phật, như Phật không khác.
Nầy Vô Biên
Trang Nghiêm ! Trong pháp phẩm đà la ni môn, đây là môn xuất
ly đà la ni thứ hai, diễn thuyết pháp tạng của Như Lai”.