THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
I. Pháp Hội Tam Tụ Luật Nghi
II. Pháp Hội Vô Biên Trang Nghiêm
III. Pháp Hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ
IV. Pháp Hội Tịnh Cư Thiên Tử
V. Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai
c
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
KINH ÐẠI BẢO TÍCH
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh 
Xuất bản: Ban Văn Hóa Thành Hội TP. Hồ Chí Minh PL 2543 - DL 1999
Mục Lục
Tập 1
Tập 2
Tập 3
Tập 4
Tập 5
Tập 6
Tập 7
Tập 8
Tập 9

III
PHÁP HỘI
MẬT TÍCH KIM CANG LỰC SĨ
THỨ BA
(Hán bộ từ quyển thứ tám đến hết quyển thứ mười bốn)
Hán dịch: Tây Tấn, Nguyệt Thị, Pháp Sư Trúc Pháp Hộ
Việt dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

Tiếp Theo Trang 2

Do oai thần của đức Như Lai làm cho chư vị đại Thiên Vương đều chẳng thấy nhau, đều tự nghĩ rằng đức Phật nhận lấy bát của mình sẽ dùng đựng thức ăn. Do đó đại Thiên Vương trong tâm vui mừng đều phát tâm Vô thượng Bồ đề, đến chẳng thối chuyển.
Trưởng Giả Đề Vị Ba Lợi cùng năm trăm thương gia ngồi xe đi ngang qua đạo tràng.
Đức Phật muốn độ họ nên thị hiện oai thần, ngựa xe của đoàn thương gia ấy tự nhiên đứng dừng lại không tiến lên được.
Trưởng Giả cùng các thương gia đều lấy làm lạ chẳng rõ cớ.
Chư Thiên ở hư không bảo họ rằng : Đức Phật đã xuất hiện thế gian, các ngươi nên đến cúng dường.
Nghe tiếng chỉ bảo trên hư không, Trưởng Giả và đoàn thương gia mừng rỡ, đều mang mật búng đề hồ đến dâng lên đức Phật.
Đồng thời tám mươi bốn ngàn chư Thiên cũng dâng thức ăn lên đức Phật
Đức Phật đều nhận lãnh.
Những người và chư Thiên ấy, đời trước đã từng phát nguyện, lúc đức Như Lai thành đạo, tôi sẽ là người dâng cúng thức ăn đầu tiên.
Muốn cho họ toại bổn nguyện, nên oai thần của đức Phật làm cho họ chẳng thấy nhau, chẳng biết nhau, mỗi người đều tự thấy chỉ có riêng mình cúng dường, do đó họ đều rất vui mừng được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề”.
Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ nói với Ngài Tịch Ý Bồ Tát : “Bồ Tát đến dưới cội Bồ đề để thành Phật đạo. Đức Như Lai chí chơn chưa chuyển pháp luân khai đạo chúng sanh, mà đã hóa độ vô lượng chúng sanh nhiều hơn số chúng sanh được tế độ từ lúc sơ phát đạo tâm khi ngồi dưới cội Bồ đề.
Đức Như Lai chí chơn vừa thành Phật đạo, bấy giờ Diệu Thức Phạm Thiên Vương cùng sáu mươi tám vạn ức triệu trăm ngàn chư Phạm Thiên quyến thuộc đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chưn, đi quanh bên hữu bảy vòng, trụ ở trước đức Phật cung kính bạch rằng :
Xin đấng đại bi chuyển pháp luân tuyên bố đạo hóa. Có nhiều chúng sanh đáng được độ nghe đức Phật thuyết pháp có thể hiểu biết vâng làm.
Thưa Ngài Tịch Ý ! Như Diệu Thức Phạm Thiên Vương ân cần khuyến thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân, mười ức Phạm Thiên, mười ức Thiên Đế và mười ức trăm ngàn triệu chư Bồ Tát cũng khuyến thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân.
Lúc đức Thế Tôn sắp chuyển pháp luân, Diệu Thức Phạm Thiên Vương đến vườn Lộc Uyển ở Ba La Nại trần thiết tòa sư tử báu đẹp trang nghiêm cao ba ngàn hai trăm tám mươi dặm.
Mười ức Phạm Thiên, mười ức Thiên Đế, mười ức trăm ngàn triệu chư Bồ Tát cũng vì đức Thế Tôn mà trần thiết tòa sư tử cao rộng đều đồng nhau, ai cũng tự nghĩ rằng : đức Như Lai sẽ ngồi trên tòa sư tử của tôi để chuyển pháp luân.
Đức Như Lai đến vườn Lộc Uyển ở Ba La Nại ngồi trên tòa sư tử.
Chư Phạm Thích và Bồ Tát đều tự nghĩ rằng đức Như Lai riêng ngồi trên tòa sư tử của mình.
Lúc đức Như Lai vừa ngồi xong, mười phương vô hạn Phật độ chấn động sáu cách.
Đức Như Lai nhập vô cực giới tam muội.
Tức thời toàn cõi Đại Thiên đều bằng phẳng như bàn tay. Tất cả chúng sanh ở địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, trên trời, trong loài người đều được an ổn, không dâm nộ si, tiêu bịnh tam độc, lòng họ thanh tịnh thương yêu nhau như cha, như mẹ, như con cái, như anh em, chị em.
Vô số chư Bồ Tát từ vô hạn Phật độ ở mười phương đến nghe đức Phật thuyết pháp.
Trong cõi Đại Thiên, vô cực chư Thiên, Long Thần, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhơn, Phi nhơn đồng đến chỗ đức Phật muốn nghe kinh pháp.
Đại chúng đến dự hội đông đầy khắp cả cõi Đại Thiên không còn chỗ nào trống chừng sợi lông sợi tóc. Tất cả thính chúng đều nhứt tâm khát khao đạo pháp.
Đức Thế Tôn thấy đại chúng đã tập họp đông đủ liền chuyển pháp luân. Vì các hàng Sa Môn, Bà La Môn, chư Thiên, Ma Vương, Đại Phạm Thiên Vương và người thế tục mà tuyên bố chánh pháp, tùy thời nghi, theo tâm chúng sanh, đều làm cho họ đều được hiểu biết tỏ ngộ tuân hành đạo pháp :
Nhãn căn vô thường, biết rõ nhãn căn vô thường thì theo luật giáo. Nhãn căn độc khổ, không có ngô ngã, nhãn căn  như huyễn, như hóa, như dã mã, như bóng trăng, như mộng, như ảnh, như vang, theo luật giáo nầy mới chịu phụng hành không, vô tướng, vô nguyện. Nhãn căn vốn trống không vắng lặng đạm bạc theo duyên mà khởi.
Nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý căn cũng vậy. Tất cả đều vô thường. Do nghe nói vô thường thì hiểu là khổ, không có vô ngã, vắng lặng đạm bạc, không, vô tướng, vô nguyện. Vì chẳng thấu tỏ nên theo duyên mà khởi. 
Ngũ ấm vô thường, dầu nói năm thứ nhưng đều vô thường, nghe nói ngũ ấm vô thường thì hiểu là rỗng không vậy.
Lục trần và tứ đại chủng cũng vậy.
Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám đạo hạnh.  Do được nghe ba mươi bảy phẩm trợ đạo mà hiểu vô thường, rỗng không, bèn theo luật giáo.
Người thích Thanh Văn thì chẳng ưa Duyên Giác. Người thích Duyên Giác thì chẳng muốn Thanh Văn. Nếu mộ hai thừa thì chẳng nói Đại thừa. Nếu tuyên Đại thừa, được nghe nghĩa thú ấy thì chẳng ham nghe lời nói về Thanh Văn và Duyên Giác .
Thưa Ngài Tịch Ý ! Đức Như Lai tùy theo tâm sở thích của chúng sanh mà chuyển pháp luân đều làm cho họ được độ. Dầu cho trí huệ như Ngài Xá Lợi Phất trải qua trăm ngàn năm suy nghĩ chỗ sở nhập của bổn hạnh đạo nghĩa cũng chẳng lường biết được, huống là người khác.
Lúc nói về Tát Bồ đến ngồi dưới cội Bồ đề, hàng ma thành đạo và chuyển pháp luân, có tám muôn bốn ngàn người trong đại hội phát tâm Vô thượng Bồ đề”.
Lúc bấy giờ, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ tiến lên bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Vừa rồi tôi tuyên nói bí yếu của đức Như Lai phải chăng không sai trái hủy báng đức Như Lai.
Bí yếu của đức Như Lai rất là huyền diệu rộng lớn không ngằn mé, thế gian khó tin được.
Dầu nói bí yếu của đức Như Lai mà tâm tôi tự nhớ là trí huệ của đức Như Lai nhập trong thân tôi, chớ chẳng phải là sức của tôi”.
Đức Phật phán : “Đúng như vậy. Như lời của Mật Tích đã nói. Đạo huệ của đức Như Lai nhập vào chỗ nào thì không ai là chẳng được an ổn. Hàng đệ tử Phật ban tuyên kinh điển, đều nương nhờ oai thần của đức Như Lai.
Vì nhập vào thân không pháp đạo huệ huyền diệu của đức Như Lai nên không ai là chẳng thông đạt.
Nếu muốn bảo chúng sanh tự kiến lập Như Lai chánh pháp, tuyên nghĩa thu nhận, thì chưa bao giờ có.
Nay ông suy gẫm chơn đế, nương đạo huệ của đức Như Lai mà được sức vô úy diễn nói pháp ấy. Nói rằng chơn đế chánh là pháp ấy.
Tại sao vậy ?
Chơn đế ấy, là đạo vô thượng chánh chơn mà chư Phật quá khứ, chư Phật vị lai, chư Phật hiện tại đều tuân hành. Giả sử có ai ban tuyên kinh điển bí yếu nầy đúng pháp không sai thì đều sẽ thành  Phật.
Nếu có người nghe nói kinh nầy mà tin ưa, thì được tất cả thế gian đều kính mến tin tưởng.
Giả sử có người dùng đầu hoặc vai mang núi Tu Di đứng giữa hư không, việc nầy còn có thể được.
Người không có đức thì chẳng kham nhiệm được nghe kinh điển nầy.
Hoặc đã được nghe cũng khó tin.
Hoặc đã tin nhưng chẳng thể mến thích.
Huống lại là thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết.
Nếu có người nghe kinh nầy mà tin ưa thọ trì, đọc tụng, vì người khác giảng thuyết, người nầy đời trước đã từng cúng dường vô số ức trăm ngàn triệu tải chư Phật Thế Tôn. Đây là bực chánh sĩ vun trồng cội công đức, chí gìn Đại thừa, quyết định được thọ ký.
Huống là người chí thành hay phụng hành !”.
Lúc ấy Ngài Tịch Ý Bồ Tát tiến lên bạch đức Phật :  “Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào là nghĩa vắng lặng đạm bạc ?”.
Đức Phật bảo Ngài Tịch Ý Bồ Tát : “Nầy thiện nam tử ! Nghĩa vắng lặng đạm bạc là tiêu diệt trần lao và đạm bạc những ô nhiễm.
Do tiêu trần lao nên mới gọi là trừ các tham dục vọng tưởng.
Do trừ dục tưởng thì không tư lự. Do không tư lự thì chẳng chấp trước. Do chẳng chấp trước thì không hành nghiệp nhơn duyên. Do không hành nghiệp nhơn duyên  thì không vô minh chỗ có ân ái. Do không vô minh chỗ có ân ái thì tiêu ngô ngã. Do tiêu ngô ngã thì không sanh sắc. Do  không danh sắc thì tiêu nghiệp chấp đoạn chấp thường. Do không nghiệp đoạn diệt chấp thường thì tiêu tham thân.
Nầy thiện nam tử ! Các nhân duyên quả báo tùy theo các nghiệp chấp kiến điên đảo mà thành trần lao, đều do tham thân mà thành họa hoạn ấy.
Do không tham thân thì bỏ cả sáu mươi hai thứ chấp kiến.
Do không tham thân thì vắng bặt các duyên.
Do không tham thân thì tất cả tham dục tự nhiên đạm bạc.
Do không tham thân thì các hy vọng vắng lặng tiêu diệt. 
Ví như nhổ cây thì rễ gốc thân nhánh lá hoa trái đồng thời đều trừ, cây ấy vĩnh viễn không còn có.
Hành giả cũng vậy. Do tiêu tham thân thì không còn có những sáu mươi hai thứ kiến chấp. Do tiêu tham thân nên đều trừ tất cả các pháp sở thọ, họa hoạn trần lao năm ấm sáu nhập. Do không tham thân nên không có các họa hoạn trần lao năm ấm ».
Ngài Tịch Ý thưa : « Bạch đức Thế Tôn ! Vì chẳng dứt trừ tham thân nên có ngô ngã ? ».
Đức Phật dạy : « Nầy thiện nam tử ! Vì còn có ngô ngã nên chẳng dứt trừ tham thân. Vì còn có nhơn, thọ mạng nên chẳng dứt tham trước.
Cái được thấy ấy chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, không có nơi chỗ. Suy tìm tất cả chỗ đều không có cái được thấy. Vì không có cái được thấy nên không có phân biệt. Đây thì  gọi là dứt được kiến chấp tham thân, tham thân đều rỗng không.
Do trí nhu thuận pháp nhẫn hay hiểu biết pháp không nên không còn các chấp kiến kia, thân mình không có tưởng đều không có chỗ làm, không có sanh không có khởi. Đây mới gọi là nhu thuận pháp nhẫn chẳng còn các kiến chấp, là dứt tham thân.
Nầy thiện nam tử ! Nếu chẳng tham thân thì giải thoát thân không có thân.
Sao gọi là không có thân ?
Thân do bốn đai chủng hiệp thành vốn không có tên. Do biết như vậy nên hiểu là hư ngụy, nên gọi là chẳng chơn thiệt, là chẳng có được, đều do vọng tưởng mà có.
Nếu không cầu mong, chẳng vọng tưởng, chẳng mê chẳng lầm, chẳng làm chẳng ở, thì không tham sân. Vì không tham sân nên gọi là vắng lặng, là đạm bạc.
Tiêu diệt những gì mà gọi là vắng lặng ?
Tiêu các nhơn duyên là vắng lặng.
Tại sao vậy ?
Vì từ các nhơn duyên ấy mà làm cho tâm hừng hẩy. Do không nhơn duyên thì tâm chẳng hừng hẩy.
Ví như do nhơn duyên hai khúc gỗ cọ nhau nên có lửa hẩy hừng. Không gỗ không lửa thì không hẩy hừng.
Cũng vậy, do duyên đối kia làm cho tâm hừng hẩy. Do không duyên đối thì không hừng hẩy.
Lại nầy thiện nam tử ! Bồ Tát đại sĩ dùng sức phương tiện tùy thời tiêu diệt nhơn duyên mà chẳng tiêu diệt những cội gốc công đức. Chẳng hưng khởi nhơn duyên trần lao. Hưng phát các công hạnh, các ba la mật. Vứt bỏ các sự ma các nghiệp tà mà chẳng bỏ đạo hạnh nghiệp duyên của chư Phật. Bỏ nhơn Niết bàn mà chẳng bỏ ba mươi bảy phẩm đạo nghiệp. Tâm chẳng luyến ưa Thanh Văn, Duyên Giác. Chẳng bỏ đạo tâm trí chơn của Bồ Tát.Vì quán không vô mà khởi đại bi. Xét các nhơn duyên để không duyên theo tướng. Tuyên giảng chí đức, chẳng vì vọng tưởng mà mất đạo tâm. Vì không mong cầu nên nhàm các nhơn đối đãi các nạn trong ba cõi. Chỉ không co sanh duyên mà chẳng bỏ sở sanh. Không ngờ vực, tu các công đức, làm các đạo hạnh.
Đây là Bồ Tát quyền trí nhập định mà được tự tại.
Duyên vô thường ư ? Chẳng nhàm sanh tử mà được tự do, vì không chỗ sợ vậy.
Duyên có khổ ư ? Kiến lập chúng sanh nơi Niết bàn an ổn.
Duyên vô ngã ư ? Thương xót làm cho chúng sanh được an lạc, vì thi hành đại bi vậy.
Duyên hư vô ư ? Vì tâm được Như Lai tám phần chánh đạo vậy.
Duyên dục hành ư ? Vì làm thuốc thanh tịnh cho những bịnh tham ái vậy.
Ban tuyên chánh pháp ư ? Vì làm cho tâm họ an trụ vững chắc vậy.
Duyên sân hận ư ? Vì tuyên thuốc từ tâm để chúng hết sân hận vậy.
Duyên ngu si ư ? Vì chúng ngu si mà ban cho thuốc thập nhị nhơn duyên để trị tâm bịnh cho họ chẳng di động vậy.
Duyên đẳng phần ư ? Với những chúng sanh đồng đều ba sự tham sân si, đem ba pháp giáo hóa trị tâm bịnh họ, giảng thuốc vô thường vậy.
Duyên vô dục ư ? Vì muốn khai hóa hàng Thanh Văn vậy.
Rời sân hận ư ? Vì làm cho tâm họ được đứng vững nơi Duyên Giác thừa vậy.
Rời ngu si ư ? Vì khai hóa tâm họ an lập nơi Đại thừa vậy.
Duyên sắc tượng ư ? Vì tâm ấy khắp an trụ đến được thân tượng của Như Lai vậy.
Duyên âm thanh ư ? Vì tâm được an trụ thanh âm của Như lai vậy.
Duyên các hơi hương ư ? Vì tâm an lập giới hương của Như Lai vậy.
Duyên các mùi vị ư ? Vì tâm được an trụ đạo vị của Như Lai vậy.
Duyên đại nhơn tướng ư ? Vì tâm an trụ được tướng hảo trang nghiêm vậy.
Duyên mịn trơn ư ? Vì tâm an trụ được tay chưn nhu nhuyến của Như Lai vậy.
Duyên kinh pháp ư ? Vì tâm an trụ đến được ý vô sanh của Như Lai vậy. 
Duyên bố thí ư ? Vì tâm an trụ tại đầy đủ những tướng hảo vậy.
Duyên trì giới ư ? Vì tâm an trụ tại Phật độ nghiêm tịnh vậy.
Duyên nhẫn nhục ư ? Vì tâm an trụ tại phạm âm của Như Lai vậy.
Duyên tinh tiến ư ? Vì tâm an trụ ở hóa độ chúng sanh vậy.
Duyên thiền tư ư ? Vì tâm an trụ ở hưng khởi thần thông vậy.
Duyên trí huệ ư ? Vì tâm an trụ ở dứt các tà kiến, dứt lưới sáu mươi hai điều nghi chấp vậy.
Duyên từ tâm ư ? Vì với tất cả chúng sanh tâm bình đẳng chẳng cưu lòng tổn hại vậy.
Duyên xót thương ư ? Vì lập tâm cứu tế chúng sanh vậy.
Duyên hỉ duyệt ư ? Vì tâm an trụ tại ưa thích nghe pháp vậy.
Duyên xả ly ư ? Vì lập tâm vứt bỏ các họa nguy ách của kiết sự vậy.
Duyên tứ ân ư ? Vì gìn tâm khai hóa dìu dắt chúng sanh vậy.
Duyên tham sân ư ? Vì gầy dựng tất cả sở hữu để ban bố cho chúng sanh vậy.
Duyên phạm ác ư ? Vì tồn tâm an lập giới hạnh thanh tịnh của Như Lai vậy.
Duyên tranh luận ư ? Vì tâm an trụ tại trí biện của Như Lai vậy.
Duyên oán hại ư ? Vì tồn tâm an lập mười trí lực và bốn vô sở úy của Như Lai vậy.
Duyên loạn động ư ? Vì tâm an trụ đến tam muội của Như Lai vậy.
Duyên tà trí ư ? Vì tâm an lập trí ba la mật vô ngại đầy đủ cho chúng sanh vậy.
Duyên hạ thừa ư ? Vì tâm an trụ tại tích công chứa đức chí ở Đại thừa vậy.
Duyên thuận ứng ư ? Vì tồn tâm an hòa chẳng phạm các điều ác phi pháp vậy.
Duyên ác thú ư ? Vì tâm an trụ tại cứu hộ tất cả chúng sanh ác thú đọa bát nạn vậy.
Duyên chư Thiên ư ? Vì tồn tâm hiểu thị những hội hiệp đều sẽ biệt ly vậy.
Duyên chúng nhơn ư ? Vì tâm an trụ tại tất cả diệu thiện vậy.
Duyên niệm Phật ư ?Vì tập thấy chư Phật vậy.
Duyên niệm Pháp ư ? Vì tồn tâm phụng hành đạo pháp mà bỏ sự vô ích vậy.
Duyên niệm Tăng ư ? Vì gầy dựng pháp bất thối chuyển vậy.
Duyên thí cho ư ? Vì tâm an trụ chẳng rời bỏ chúng sanh vậy.
Duyên cấm giới ư ? Vì đầy đủ sở nguyện vậy.
Duyên niệm thiên ư ? Vì tồn tâm an lập đủ trọn công đức nhứt sanh bổ xứ vậy.
Duyên thân hành ư ? Vì đến được Phật thân vậy.
Duyên khẩu ngôn ư ? Vì tâm an trụ các ngôn giáo kinh điển của Phật vậy.
Duyên tâm ý ư ? Vì tồn tâm được Phật ý vậy.
Duyên hữu vi ư ? Vì tâm an trụ tại tích công chứa đức tự được đầy đủ vậy.
Duyên vô vi ư ? Vì tâm an trụ tại đầy đủ thánh huệ vậy.
Nầy thiện nam tử ! Chẳng phải từ nơi không duyên không hóa độ mà đến được đạo Đại thừa. Đều do duyên tâm mà được đến Phật đạo, được đến Nhứt thiết trí.
Nếu có Bồ Tát đều do nơi duyên hóa mà dẫn đạo Nhứt thiết trí. Đây là thiện quyền phương tiện của Bồ Tát, đều do thấy các Pháp, đều cưu lòng đến dẫn đạo Nhứt thiết trí.
Như cõi Đại Thiên chứa nhận tất cả đất đai chúng sanh cỏ cây sông biển, không thứ gì chẳng bao gồm. Tất cả đều mong nhờ nơi đó mà được sanh hượt.
Nầy thiện nam tử ! Cũng vậy, tất cả các duyên đều do Bồ Tát thiện quyền phương tiện thật hành những công hạnh thù thắng đệ nhứt đến Nhứt thiết trí.
Như các hình sắc đều có bốn đại chủng.
Cũng vậy, Bồ Tát thiện quyền phương tiện tạo lập các duyên đều đến Phật đạo.
Tại sao vậy ?
Các chúng sanh hưng khởi tội vạ, đối với Bồ Tát chẳng những không báo đền mà Bồ Tát duyên nơi đây thật hành Bố thí ba la mật liền có thể thành tựu đầy đủ Giới ba la mật.
Nếu có người giận thù cưu lòng độc hại, bấy giờ  Bồ Tát  thật hành Nhẫn ba la mật liền đó sung mãn Tinh tiến ba la mật.
Nếu thấy chúng sanh ở nơi ồn ào náo nhiệt, tâm họ không an ổn, duyên đây mà Bồ Tát hành Thiền ba la mật, bỗng nhiên thành tựu Trí ba la mật.
Nếu có chúng sanh che chướng tối tăm, Bồ Tát vì họ mà dứt trừ lưới kiết phược chướng ngại.
Nếu có chúng sanh siêng tu tập, Bồ Tát bèn vì họ tiêu trừ tất cả chỗ chấp trước, cúi đầu khen ngợi chỉ thị cho họ tự quy.
Với kẻ ưa chê bai hủy báng, Bồ Tát cũng tùy thuận ý của họ, làm cho họ chẳng sanh tâm hủy báng.
Nếu thấy người cần khổ bị vô số khổ não, Bồ Tát liền khởi đại bi cứu họ khỏi khổ.
Nếu thấy người an lạc, Bồ Tát rất vui mừng mà nhiếp thọ họ.
Nếu thấy những loài cang cường khó hóa độ,  Bồ Tát tùy thời dìu dắt huấn thị cho họ phát đạo tâm.
Thấy người nhơn hòa, Bồ Tát ở nơi họ tu tập chí hạnh phát khởi đạo tâm cho họ.
Nếu có lực sĩ báo ứng nghiệp hạnh, Bồ Tát liền thuận nhiếp thủ dạy dỗ hiển khởi đạo tâm.
Đây gọi là tùy duyên mà được tự tại, Bồ Tát tùy thuận thiện quyền phương tiện biết rõ chúng sanh đúng thời mà thuyết pháp. Ở tại báo ứng chí nguyện ái mộ, giáo hóa khai thị phân giải, đều làm cho chúng sanh thản nhiên tinh tiến nơi đại đạo thánh huệ, vì họ mà luận nghĩa sâu xa vô thượng.
Bồ Tát tồn lòng từ rộng vì chúng sanh mà giãi bày đạo chí chơn, lần lượt vì họ mà ban tuyên chỉ dạy đạo nhơn vô thượng ấy, giải thích phân biệt chương cú. Bồ Tát lấy một cú pháp mà diễn xướng bao nhiêu nghĩa.
Với người ưa vắng lặng , Bồ Tát vì họ phân biệt quán xét tất cả. Với người ác giác quán, Bồ Tát đem quán giải thoát tam muội giảng thuyết cấm giới, lại vì họ mà tuyên giảng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Do nghe pháp ấy mà hiểu sự vô thường không cứu không hộ, khiến họ cầu đạo hộ.
Nếu người có chánh định, Bồ Tát vì họ mà luận Huệ ba la mật.
Với người ham mộ ở rảnh rang, Bồ Tát giáo hóa họ tịnh thân khẩu ý.
Với người biết tri túc, Bồ Tát vì họ mà hiển phát hạnh nghiệp công đức của thánh hiền.
Với người có quan niệm tự đại ngu tối, Bồ Tát sẽ vì họ tuyên bố tinh tiến học rộng nghe nhiều.
Với người tham dục, Bồ Tát chỉ bảo cho họ biết họa hoạn bất tịnh vô ích.
Với người hay giận thù, Bồ Tát khuyên họ phát tâm từ chẳng cưu lòng oán hại.
Với người ngu lầm, Bồ Tát dạy họ pháp thập nhị nhơn duyên phát khởi sanh tử.
Với người đẳng phần phiền não, Bồ Tát vì họ diễn nói vô thường, khổ, không, vô ngã.
Với người ham mê sắc dục, Bồ Tát giảng dạy sự bất tịnh.
Với người nhơn từ đến nỗi ngu tối không hiểu biết, Bồ Tát vì họ chỉ bảo sự duyên khởi tội lỗi.
Với người tà kiến, Bồ Tát vì họ quyết rõ pháp không vô.
Với người cưu lòng hy vọng, Bồ Tát diễn nói hạnh không vọng tưởng.
Với người cố chấp nơi thệ nguyện, Bồ Tát dạy họ không nguyện cầu.
Với người ưa nơi ngũ cái, Bồ Tát vì họ phân tích năm ấm như huyễn như hóa hư ngụy không thiệt.
Với người tham chấp các đại chủng, Bồ Tát vì họ giải rõ bốn đại chủng mười tám giới như bóng, do hình chiếu mà hiện.
Với người dựa theo các nhập, Bồ Tát giảng nói mười hai thứ nhập, trong sáu căn, ngoài sáu trần đều chẳng phải sở hữu của ta. Như cảnh chiêm bao lúc thức không còn có.
Với người nương cõi dục, Bồ Tát vì họ giảng nói phân biệt tất cả vạn vật đều về nơi vô thường.
Với người nắm lấy cõi sắc, Bồ Tát vì họ diễn nói tất cả hạnh nghiệp chúng sanh đều là gốc phiền não.
Giả sử có người binh vực cõi vô sắc, Bồ Tát tuyên bố tất cả các pháp đều không có vô ngã.
Với người khó hóa độ, Bồ Tát bảo họ siêng tu tập pháp hiền thánh.
Với người dễ hóa độ, Bồ Tát sẽ vì họ khai thị pháp vô thượng chí chơn.
Với người muốn sanh ở cõi trời cõi người, Bồ Tát vì họ ca ngợi giới phẩm thanh tịnh.
Với người thích Thanh Văn thừa, Bồ Tát chỉ thị tứ đế : khổ, tập, diệt, đạo.
Với người mộ Duyên Giác thừa, Bồ Tát khai thị mười hai nhơn duyên lấy vô minh làm gốc.
Với người học hạnh Đại thừa, Bồ Tát nhơn đó lưu bố sáu ba la mật, bốn đẳng, bốn ân để dắt dẫn họ. 
Với người mới phát tâm, Bồ Tát xem xét chí tánh của họ mà dạy dỗ.
Với người đủ các công hạnh chẳng nhàm sanh tử, Bồ Tát chỉ dạy pháp không nạn để họ được chẳng thối chuyển.
Với người bất thối chuyển, Bồ Tát nhơn đó phân biệt nói Phật độ thanh tịnh.
Với bực nhứt sanh bổ xứ Bồ Tát đại nhơn, Bồ Tát hiển thị đạo tràng Bồ đề chí chơn. 
Nầy thiện nam tử ! Bồ Tát được tự tại theo duyên giáo hóa tuyên bố đạo pháp không có sai lầm, dùng ngôn từ khéo léo làm vui đẹp lợi ích chúng sanh ».
Lúc đó đức Thế Tôn nói lời trên đây, trong pháp hội có một vạn người phát tâm Vô thượng Bồ đề, năm trăm Bồ Tát được vô sanh pháp nhẫn.
Bấy giờ trong chúng hội có các Bồ Tát nghĩ rằng Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ nầy bao giờ thành Phật ? Lúc ông ấy thành Phật hiệu là gì ? Quốc độ ấy tên gì ? Công đức nghiêm tịnh thuộc về loại gì ? Thành tựu chúng Bồ Tát thế nào ?
Đức Thế Tôn biết tâm niệm của chư Bồ Tát liền mỉn cười. Vô số ức trăm ngàn tia sáng từ miệng đức Phật phóng ra chiếu thấu vô hạn thế giới mười phương che ánh sáng của mặt trời mặt trăng, trùm cung điện của ma. Những tia sáng ấy trở về nhiễu vòng quanh đức Phật vô số vòng rồi từ đỉnh đầu đức Phật mà thâu vào.
  Tịch Ý Bồ Tát liền đứng dậy trịch vai áo phía hữu chắp tay lễ Phật, nói kệ ca ngợi để hỏi ý cười của đức Phật :
“ Cao vọi như núi vàng
Diệu quang sạch bụi trần
Tâm Phật vững vắng lặng
Như mặt trời trên không
Tia sáng ấy rất sáng
Tiêu trừ các tối tăm
Cớ chi hiện như vậy
Xin Thế Tôn giải bày
Sạch sẽ như hoa sen
Mọc ở trong bùn sình
Gốc cọng ở trong nước
Lớn lên không cấu nhơ
Công đức rất thơm tho
Ý niệm càng rộng xa
Chỉ nên an nhiên nói
Cớ chi lại vui cười
Tâm trí Phật an ổn
Vắng lặng và nhu hòa
Lòng từ càng thêm lớn
Tiêu trừ những cấu uế
Dùng ánh sáng trí huệ
Trừ bỏ các tối tăm
An trụ như hoa sen
Vứt bỏ các hồ nghi
Thêm thương tu đạo tràng
Phụng hành được tự tại
Miệng Phật phóng quang minh
Khô cạn các ái dục
Khai hóa các chúng sanh
Cho mắt họ sáng sạch
An trụ tiêu nghịch tặc
Trừ bỏ những tội lỗi
Khắp tất cả chúng hội
Chư Thiên và mọi người 
Ngưỡng nhìn tướng mạo Phật
Có chi Phật vui cười ?“.
Đức Phật bảo Ngài Tịch Ý Bồ Tát : « Ông có thấy Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ ấy chăng ? »
Ngài Tịch Ý Bồ Tát thưa : « Bạch đức Thế Tôn ! Tôi đã thấy ông ấy ».
Đức Phật dạy : « Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ sẽ cúng dường chư Như Lai ở Hiền Kiếp, hộ trì chánh pháp, khai thị lợi ích vô lượng chúng sanh.
Từ thân ấy chết, ông ấy sẽ sanh về nước Diệu lạc của đức Phật A Súc. Từ đó về saư gặp vô số chư Phật, tịnh tu phạm hạnh.
Qua khỏi số kiếp ấy, ông ấy chứa nhóm công đức sẽ thành Phật hiệu Kim Cang Bộ Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cõi nước tên Phổ Tịnh. Kiếp hiệu Nghiêm Tịnh. Cõi nước Phổ Tịnh hiệp bảy báu làm thành, nhơn dân giàu vui đông đảo như cung trời Đâu Suất. Cõi nước ấy không có ba ác đạo và tám chỗ nạn, trời và người chẳng riêng biệt, tất cả đều mộ Phật đạo vi diệu. Cõi ấy không có hai thừa, không có tên Thanh Văn, Duyên Giác, thuần là Bồ Tát.
Đức Kim Cang Bộ Như Lai tuyên thuyết pháp Đại thừa bất thối chuyển. Chúng Bồ Tát ở cõi Phổ Tịnh đông chẳng thể tính đếm hạn lượng được. Cõi ấy không có người tánh ác ganh ghét phá giới tà kiến. Người cõi ấy mến thích Phật Pháp, tâm tánh hiền hòa , đều đủ hai mươi tám tướng tốt trang nghiêm thân thể.
Đức Kim Cang Bộ Như Lai tại thế thọ tám tiểu kiếp, thường vì chúng hội trời người thuyết pháp, thân phóng quang minh chiếu khắp cõi nước. Các hàng trời người được quang minh Phật chiếu đến đều được giải quyết các điều nghi khen ngợi chánh pháp, về theo đức Phật. Mọi người nghĩ rằng tôi phải đến chỗ Phật để học hỏi kinh điển. Có người dùng thần thông của mình đi đến chỗ Phật. Có hàng hữu học nương oai thần của Phật mà đến.
Đức Phật Kim Cang Bộ ở trên hư không cách mặt đất trăm ngàn nhẫn tuyên cáo pháp âm khắp mười phương làm vui đẹp tất cả những người đến dự hội. Chỉ tuyên pháp Đại thừa Vô thượng đại đạo cho chư Bồ Tát.
Cõi nước Phổ Tịnh ấy không một ai chống báng lời giáo huấn của đức Phật.
Cõi nước ấy không có vua chúa, chỉ có đức Phật Thế Tôn là vị Pháp Vương. 
Ở cõi nước ấy, tất cả nhơn dân đều có trí huệ, không chấp ngô ngã, không có ngã sở, chẳng làm chủ nhà ruộng riêng. 
Do lòng từ xót thương của đức Phật, chiều tối người cõi nước ấy thấy đức Kim Cang Bộ Như Lai hiện thân tượng đắp y mang bát đứng trước nhà mình, liền tự nghĩ đức Như Lai thương tôi muốn đến nhà tôi thọ trai. Đêm ấy họ sắm sửa thức ăn, trần thiết ghế bàn. Sáng hôm sau đến giờ ngọ trai, đức Phật và Thánh chúng đến nhà họ thọ trai xong, sau khi rửa tay, đức Phật vì người nhà thí chủ mà thuyết kinh pháp. Thí chủ ấy được pháp bất thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh Giác. Thuyết kinh xong đức Phật trở về tinh xá.
Nếu đức Phật ngồi yên nơi tịnh thất, chư Bồ Tát cõi ấy đều theo pháp tam muội của mình đã được mà tu tập.
Nầy thiện nam tử ! Cõi nước của đức Phật Kim Cang Bộ có công đức trang nghiêm thanh tịnh thù đặc dường ấy ».
Lúc đức Thế Tôn nói lời thọ ký cho Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ, trong chúng hội có hai vạn người phát tâm Vô thượng Bồ đề phát nguyện sanh về cõi nước ấy.
Đức Phật thọ ký rằng lúc đức Phật Kim Cang Bộ thành đạo, trong đại chúng đây ai nguyện được thấy thì đều sẽ được sanh về cỏi Phổ Tịnh ấy, và sẽ được đức Phật ấy thọ ký Vô thượng Bồ đề.
Nghe đức Phật thọ ký, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ vui mừng hớn hở dồi chày kim cang đang cầm lên hư không. Liền đó khắp cõi Đại Thiên chấn động sáu cách, ánh sáng chiếu mươi phương, hoa trời tuôn xuống như tuyết rơi, các thứ âm nhạc tự nhiên trổi lên.
Tay mặt của tất cả mọi người trong pháp hội tự nhiên có nhiều thứ hoa hương phan long xinh đẹp, đều cầm lấy mà đi.
Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ cầm hoa hương phan lọng đi vòng quanh đức Phật nói kệ ca ngợi rằng :
« Pháp rộng khắp tự tại
Pháp tạng chẳng cùng tận
Thuyết pháp rất rành rẽ
Lợi ích cho chúng sanh
Phật trao phó cho tôi
Thường thích dùng pháp khí
Phụng hành đúng chánh pháp
Nguyện tự quy Phật đạo
Trí huệ hay thanh tịnh
Công hạnh đã sáng suốt
Danh hiệu thấu ba đời
Công đức trọn rốt ráo
Trí Phật suốt ba chỗ
Thánh đức không chấp trước
Tự tại độ chúng sanh
Giáo hóa khỏi khổ ách
Thanh tịnh như mặt nguyệt
Dung nhan rất sáng rỡ 
Chiếu đến chỗ rất xa
Dường như mặt trời sáng
Phật âm rất diệu hòa
Như tiếng trời Phạm Thiên
Từ bi tuyên lời dạy
Kính lễ đấng chí tôn
Tự hiển hiện thân hình
Thị hiện có thọ mạng
Xin Phật tuyên pháp âm
Diễn nói các văn tự
Dầu diễn nói kinh pháp
Nhưng không niệm có pháp
Dầu độ khắp chung sanh
Nhưng không tưởng có nhơn
Thế Tôn thương giáo hóa
Ai bảo được ơn Phật
Giả sử tất cả chúng
Chứa đức vô lượng kiếp
Chỉ thưa hỏi Phật pháp
Chí chẳng ở nghiệp khác
Mình phụng hành Phật hạnh
Lại dạy bảo người khác ».
Nhiễu Phật và chúng hội đủ bảy vòng, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ cầm các thứ hoa và lọng báu tung lên cúng dường đức Phật.  Vừa lúc tung hoa, khắp tứ thiên hạ tự nhiên hóa sanh bao nhiêu thứ hoa trang nghiêm tám lớp đường sá, những ao nước tám vị công đức, nương oai thần của Phật, không đâu là chẳng khắp.
Tịch Ý Bồ Tát hỏi Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ : « Đức Như Lai đã thọ ký Phật đạo cho Ngài ? ».
Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ đáp : « Ngài đã thấy đức Phật thọ ký. Sự thọ ký ấy tự nhiên như chiêm bao ».
Hỏi :
« Ngài được thọ ký là đến chỗ nào ? ».
Đáp :
« Chỗ được thọ ký ấy là không chỗ đến ».
Hỏi :
« Chẳng đến chỗ nào ? ».
Đáp :
« Chẳng đến vô ngã, chẳng được nhơn và thọ mạng, chẳng được năm ấm, sáu trần, bốn đại chủng, chẳng thấy công nghiệp độ đời hiện tại, chẳng đến các tội cùng chẳng tội, không có lậu và vô lậu, không có trần lao sân hận, không có hữu vi và vô vi, không có sanh tử và Niết bàn, tất cả đều chẳng đến mới gọi là thọ ký ».
Hỏi :
« Nếu không chỗ đến thì ai được thọ ký ? ».
Đáp :
« Không chỗ đến ấy mới gọi là đến ».
Hỏi :
« Nếu không ngô ngã thì ai được thọ ký ? ».
Đáp :
« Người thọ ký và người được thọ ký đều bình đẳng, bổn tế không có hai, không có khác ».
Hỏi :
« Nếu không bổn tế, thì ai được thọ ký ấy ? ».
Đáp :
« Bổn tế không sanh, cũng không diệt, không có hai. Do bổn tế ấy mà ngày nay được thọ ký ».
Hỏi :
« An trụ bổn tế nào mà được thọ ký ? ».
Đáp :
« An trụ nơi tự nhiên, bổn tế không hai, bổn tế không ngã, không nhơn, không thọ mạng, an trụ nơi tự nhiên mới gọi là được thọ ký ».
Hỏi :
« Ngô ngã bổn tế an trụ chỗ nào ? ».
Đáp :
«An trụ nơi đức Như Lai an trụ ».
Hỏi :
« Không chỗ hay biết là biết chỗ nào? ».
Đáp :
« Chỗ hay biết ấy, là không chỗ biết ».
Hỏi :
« Nếu không chỗ bảo nói là không chỗ nói, giả sử không chỗ nói thì dạy những gì ? ».
Đáp :
« Dạy không chỗ dạy ».
Hỏi :
« Thế nào là dạy không chỗ dạy? ».
Đáp :
« Tất cả các pháp đều không chỗ dạïy ».
Hỏi :
« Giả sử không chỗ dạy thì làm sao biết đó ? ».
Đáp :
« Giả sử không chỗ dạy thì chỗ biết dường ấy ».
Hỏi :
« Thế nào là dạy chỗ biết ? ».
Đáp :
« Chẳng hỏi chỗ biết ».
Hỏi :
« Thế nào là chẳng hỏi chỗ biết? ».
Đáp :
« Tâm không phóng dật  ».
Hỏi :
« Thế nào là tâm không phóng dật? ».
Đáp :
« Tự về nơi yếu nghĩa».
Hỏi :
« Thế nào là tự về nơi yếu nghĩa? ».
Đáp :
« Chẳng thấy vô nghĩa ».
Hỏi :
« Sao gọi là chẳng thấy vô nghĩa? ».
Đáp :
« Chẳng lấy nơi nghĩa cũng chẳng phải vô nghĩa mới gọi là nghĩa ».
Hỏi :
« Sao gọi là chẳng lấy nơi nghĩa cũng chẳng phải vô nghĩa mới gọi là nghĩa? ».
Đáp :
« Chẳng lấy nơi nghĩa cũng chẳng phải vô nghĩa ấy là đạo nghĩa ».
Hỏi :
« Nếu lấy vô nghĩa thì chẳng thành pháp nghĩa ư ? ».
Đáp :
« Pháp nghĩa ấy sao lại là nghĩa ! Tại sao vậy ? Người xu hướng nơi nghĩa thì là phi pháp, chẳng thành là pháp ».
Hỏi :
« Thế nào là pháp? ».
Đáp :
« Pháp không âm hưởng mới gọi là pháp ».
Hỏi :
« Pháp không âm hưởng sao gọi là pháp? ».
Đáp :
« Nơi pháp ấy không có văn tự mới gọi là pháp. Pháp ấy không chỗ được. Pháp ấy không âm thanh, không ngôn từ ».
Hỏi :
« Sao gọi là chỗ đến? ».
Đáp :
« Như chỗ đến được, đây mới gọi là tất cả không đến. Rời lìa nơi có được, nên gọi là tôi đến được Như Lai. Tu tập các pháp mới có thể đến được. Có thể dứt bặt tâm vô ngã. Tất cả chỗ tuyên bày là ánh sáng của trí huệ. Nhơn nơi văn tự ấy mà tuyên bày công nghiệp của Như Lai. Chẳng lấy không đến, Chẳng lấy sẽ đến ».
Hỏi :
« Chỗ đến ấy, chỗ nào chẳng được ? ».
Đáp :
« Lời nói từ nơi miệng là chẳng được vậy. Lời nói từ nơi miệng, trong tâm dựa theo văn tự thì là chẳng được ».
Hỏi :
« Thế nào gọi là được ? ».
Đáp :
« Không chỗ đến ấy, không chỗ dạy ấy. Không chỗ dạy ấy, biết thì là chẳng tự chẳng biết tha. Chẳng biết tự chẳng biết tha mới gọi là được ».
Hỏi :
« Chẳng được thì cái gì làm căn bổn nó. Còn được thì cái gì làm căn bổn nó ? ».
Đáp :
« Sở thọ là căn bổn ».
Hỏi :
« Cái gì làm căn bổn của sở thọ ? ».
Đáp :
« Chỗ dựa nhờ làm căn bổn ».
Hỏi :
« Cái gì làm căn bổn của chỗ dựa ? ».
Đáp :
« Hư ngụy vọng tưởng làm căn bổn ».
Hỏi :
« Cái gì làm căn bổn của hư ngụy vọng tưởng ? ».
Đáp :
« Trần lao làm căn bổn của hư ngụy vọng tưởng ».
Hỏi :
« Chỗ nào làm căn bổn của hư ngụy vọng tưởng trần lao ? ».
Đáp :
« Luyến trước làm căn bổn ».
Hỏi :
« Những gì làm căn bổn  của luyến trước ? ».
Đáp :
« Sắc thanh hương vị xúc làm căn bổn ».
Hỏi :
« Chỗ gì là cội gốc luyến trước ? ».
Đáp :
« Ân ái kiết tập gọi là cội gốc luyến trước. Ở nơi những chỗ luyến trước ấy mà không luyến mộ thì gọi là không luyến trước  ».
Thưa Ngài Tịch Ý ! Ân ái kiết tập ấy, tìm cầu chỗ luyến trước thì vĩnh viễn không có chỗ luyến trước vậy ».
Lúc đức Phật Thế Tôn thọ ký cho Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ và lại ban tuyên nói lại pháp ấy, trong chúng hội có năm trăm vị Tỳ Kheo được lậu tận ý giải, hai trăm vị Bồ Tát được vô sanh pháp nhẫn.
Bấy giờ Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ được đức Phật thọ ký cho, sở nguyện đã đủ, chỗ mong đã toại, vui mừng vòng tay thưa : « Bạch đức Thế Tôn ! Ngưỡng vọng đấng Đại Thánh quang lâm đến cõi Khoáng Dã quốc độ Quỷ Vương tại cung xá Mật Tích của tôi thọ trai bảy ngày. Tôi cũng kính thỉnh chư Bồ Tát và chư đại Thanh Văn cùng đến bỉ xá thọ bữa ăn mọn bảy ngày.
Tại quốc độ Khoáng Dã Quỷ Vương, các chúng quỷ thần yêu mî, Càn Thát Bà, Ma Hầu La già và những chúng sanh khác được thấy đức Phật Thế Tôn và chư Hiền Thánh, được nghe kinh pháp tất sẽ được mãi mãi an vui không có các họa hoạn, bèn sẽ bỏ lòng sân hận độc hại trái nghịch.
Tứ Thiên Vương cùng quyến thuộc đến cõi Khoáng Dã Quỷ Vương nếu được thấy đức Như Lai nghe thuyết pháp tất sẽ được an hòa chẳng bị ách nạn ».
Vì lòng xót thương và muốn khai hóa vô số chúng sanh khiến họ vun trồng cội công đức nên đức Phật yên lặng nhận lời thỉnh bảy ngày cúng dường của Mật Tích.
Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ thấy đức Phật yên lặng nhận lời thỉnh của mình, lòng vui mừng hớn hở cúi lạy chưn Phật đi nhiễu bên hữu ba vòng rồi lui đi, bỗng nhiên ẩn mất trở về nước Khoáng Dã nơi cung xá của mình.
Sau khi đến cung xá, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ tự nghĩ rằng :
Tôi nên vì đức Thế Tôn mà trang nghiêm cung điện cho hàng chư Thiên cõi dục cõi sắc được chưa từng có, chư Bồ Tát ở các thế giới mười phương đều vui mừng. Tôi còn nhớ thuở trước một đêm ôm ấp chí nguyện tôn thờ đạo pháp chẳng thể nghĩ bàn, nay cũng sẽ như vậy.
Phương Đông cách đây hằng hà sa quốc độ có thế giới tên là Vô lượng Bửu Đức Tịnh. Đức Phật ở cõi đó hiệu là Tịnh Vương. Tôi nên mượn tòa sư tử cao lớn trang nghiêm thanh tịnh ở cõi ấy.
Lúc ấy Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ nhập tịnh bửu vương tam muội. Liền đó tòa sư tử cao lớn trang nghiêm tốt đẹp như ở quốc độ Vô lượng Bửu Đức Tịnh bỗng nhiên hiện đến nước Khoáng Dã Quỷ Thần Vương. Từ Đông đến Tây hai ngàn bốn trăm tám mươi dặm, từ Nam đến Bắc một ngàn hai trăm tám mươi dặm dùng lưu ly, thủy tinh và xà cừ làm đất. Vô lượng hương thơm rải khắp nơi. Có vô số  lò hương báu đốt hương thù diệu. Rải các hoa trời. Trần thiết bao nhiêu là phẩm vật cực hảo màu sắc đẹp sáng làm vui đẹp lòng người, làm thư thái thân người.
Bốn bên tòa sư tử cao quý trang nghiêm ấy lại tự nhiên có ức trăm ngàn triệu vô số những tòa sư tử : các báu làm chưn làm bao  lơn, vô số thiên y trải lên trên, những hoa sen báu, những trân châu thanh tịnh và các thứ báu đặt khắp trên đất.
Trần thiết vô lượng tòa sư tử cao lớn trang nghiêm thanh tịnh chẳng thể nghĩ bàn như thế xong, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ từ tam muội an tường xuất định, liền trong đêm ấy sắm sửa những thức ăn uống lành ngon.
Trần thiết sắm sửa đã xong tất cả, đêm còn chưa sáng, Lực Sĩ cáo với Tứ Thiên Vương rằng : « Các Ngài nên biết ngày hôm nay đức Thế Tôn sẽ đến cung xá tôi thọ trai thỉnh bảy ngày. Chư Bồ Tát và hàng Thanh Văn cũng cùng đến.
Các Ngài chớ nên phóng dật. Phật rất khó gặp, ức đời mới có. Đều phải nhứt tâm nhàm tục mộ đạo cung kính phụng Phật, để được khỏi sanh tử đến nơi chí đạo, chánh pháp khó được nghe, thời cơ cũng khó được gặp. Ba cõi không cậy được, chỉ có đạo được nhờ như hư không khắp nơi không chướng ngại. Chớ để loạn tâm phóng dật. Nên cùng quyến thuộc cúng dường đức Phật bảy ngày. Chớ dựa nơi thân tâm, nên lấy đạo làm gốc. Chớ theo việc khác mà tổn trái đạo giáo, nên chuyên tinh nhứt tâm cúng dường đức Như Lai. Khiến cho cõi nước của Vương, chư Thổ Địa Quỷ Thần, Càn Thát Bà v.v... đều quy y Phật, kính nghe đạo pháp.
Các Ngài nên rõ, đã thỉnh đức Thế Tôn cúng dường quy mạng rồi siêng nghe đức Thế Tôn thuyết pháp để tuyên bố khắp nơi cho tất cả đều được lợi ích. Như vậy mới gọi là báo đáp ân đức Phật ».
Mật Tích Lực Sĩ có hai người con trai tên là Mật Binh và Thiện Phần.
Lực Sĩ bảo con trưởng Mật Binh rằng : « Ngươi đi bố cáo khắp cả địa thần, hư không thần, trời Tứ Thiên Vương, trời Đao Lợi, trời Dạ Ma, trời Đâu Suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, lên đến trời Thiên Ma, cho tất cả đồng hay rằng ngày hôm nay đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn sẽ đến cõi nước Khoáng Dã Quỷ Vương tại cung xá Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ thọ thỉnh cúng dường. Chư Bồ Tát và hàng Thanh Văn cũng đồng đến. Ai muốn thấy Phật nghe pháp thì đến dự hội ».
Thái tử Mật Binh lãnh lịnh, giây lát đã truyền rao khắp nơi.
Lực Sĩ lại sai con thứ Thiện Phần dùng thần thông đi bố cáo khắp các cõi trời sắc giới, từ trời Sơ Thiền Phạm Chúng Thiên đến trời Tứ Thiền Sắc Cứu Cánh Thiên, rằng ngày hôm nay đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật sẽ đến thọ cúng dường tại cung xá của Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ ở nước Khoáng Dã Quỷ Vương. Ai muốn thấy Phật nghe pháp thì đến dự hội.
Thiện Phần lãnh lịnh, giây lát đã truyền rao khắp trời cõi sắc.
Trong khoảnh khắc sau, chư Thiên cõi dục và vhư Thiên cõi sắc đồng đến dự hội dừng ở hư không ngồi theo thứ tự khắp một khoảng ngang rộng trên dưới đều bốn muôn dặm.
Hội trường đã trần thiết trang nghiêm sắm dọn xong, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ vòng tay hướng về phía đức Phật đang ngự mà bạch vói rằng : « Giờ thọ trai đã đến, xin đức Phật Thế Tôn cùng chư Hiền Thánh chúng quang lâm ».
Lực Sĩ nói kệ rằng :
« Đại Thánh Lưỡng Túc Tôn
Trên hết trong trời người
Nay trai thời đã đến
Thỉnh đức Phật quang lâm
Giới đức như sen nở
Tinh tiến căng tăng trưởng 
Tàm quý trên chở che
Đấng tối thắng đoái thương
Kiến lập nơi Thánh đế
Từ bi ban ơn lớn
Không ngã không ngã sở
Đấng Sư Tử đoái thương
Giới hạnh học nghe rộng
Hoa giác ý xinh tươi
Trái giải thoát đầy đủ
Cây thù thắng quang lâm
Công đức lớn hơn biển
Ý Phật sâu lại rộng
Định trong sạch là ý
Hạnh tinh tiến vững mạnh
Từ bi làm đạo tràng
Chuỗi trí huệ trang nghiêm
Bổn huệ sáng mở tỏ
Xin Đại Thánh từ cố
Trí vô động đệ nhứt
Dùng dược thọ chữa bịnh
Học vô học thạnh sáng
Đấng tối thắng quang lâm ».
Đức Thế Tôn thấy Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ bạch đã đến giờ liền bảo đại chúng nên sớm chuẩn bị đắp y cầm bát đến chỗ Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ bảy ngày thọ thỉnh.
Trong hàng Thanh Văn và chư Bồ Tát, những vị có thần thông thì tự dùng thần lực đi theo đức Phật, những vị không có thần thông thì đứng vào trong ánh sáng của đức Phật, nương oai thần của đức Phật đều được đi cả.
Lúc đức Phật lên đường, chư Bồ Tát đi trước dẫn đường, chư Thanh Văn đi hầu phía sau, chư Thiên, Long Thần cầm hoa hương kỹ nhạc chầu chực trên không, chư Thiên Nữ nói kệ ca ngợi đức Phật rằng :
   « Vui mừng phát quang minh
Âm nhạc tự nhiên vang
Trời mưa các thứ hoa
Chấn động cả thế giới
Phật oai đức rất lớn
Thần thông ba la mật
Phật biến hóa vô hạn
Rất mừng được thấy Phật
Phật cát tường vô lượng
Phật Thần Thánh vô biên
Phật oai nghi vô cùng
Phật công đức vô hạn
Đi đến Linh Thứu sơn
Tại trong tám núi lớn
Bay kên giữa hư không
Vô ngại như nhạn vương
 Chư Thiên cõi dục và chư Thiên cõi sắc thấy đức Phật Thế Tôn từ hư không mà đến dường như mặt trời sáng hiện trong nước, như mặt trăng tròn đứng giữa các vì sao, chư Thiên Đế tôn quý trong hàng chư Thiên, như Phạm Vương chói che chúng hội, tất cả đều rất vui mừng liền rải bao nhiêu thứ hoa trời xanh vàng đỏ trắng cúng dường đức Phật. Những là ý hoa, đại ý hoa, nhu nhuyến hoa, đại nhu nhuyến hoa, trú dạ thọ hoa, ly cấu hoa, những thứ hoa trăm cánh, ngàn cánh đến trăm ngàn cánh. Chư Thiên cũng nổi mây rải các thứ hương trời : thiện diệu hương, thường huân hương, ô diên hương, thường hữu hương. Đồng thời cũng trổi âm nhạc trời.
Giây lát đức Phật cùng chư Bồ Tát và chúng Thanh Văn đến nước Khoáng Dã Quỷ Vương thuộc cõi của Tứ Thiên Vương dừng lại tại cung điện của họ.
Lúc đức Phật vừa dừng bước thì cả đại địa chấn động có ánh sáng chiếu khắp mười phương.
Tứ Thiên Vương thấy đức Phật đến, vội vàng cùng quyến thuộc mang hoa hương phan lọng trổi nhạc đờn ca đến trước đức Phật đảnh lễ đi vòng bên hữu ba vòng rồi rải hương hoa cúng dường, xong rồi đứng qua một phía.
Đức Thế Tôn vì Tứ Thiên Vương mà ban tuyên kinh pháp. Một vạn ba ngàn quỷ thần yêu mị phát tâm Vô thượng Bồ đề. Một vạn ngọc nữ cũng phát tâm như vậy.
Bấy giờ Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ cùng các con, cung nhơn thể nữ và quyến thuộc cầm hương hoa phan lọng trổi nhạc đến chỗ đức Phật đảnh lễ đi nhiễu bên hữu bảy vòng, rồi rải hoa rải hương cúng dường, tất cả đều theo thứ tự mà ngồi.
Tòa sư tử của đức Phật ngự cao lớn trang nghiêm hơn cả.
Chư Bồ Tát và hàn Thanh Văn vẫn ngồi nơi chỗ của mình.
Chư Thiên cõi dục và chư Thiên cõi sắc thấy những tòa sư tử được trần thiết ấy rất cao lớn trang nghiêm thì lấy làm lạ nghĩ rằng sao Mật Tích Lực Sĩ tìm đâu những tòa sư tử báu đẹp trang nghiêm huyền diệu thù thắng thế nầy ?
Thừa oai thần của đức Phật, ở trên không tự nhiên có tiếng bảo :
Các Ngài muốn biết ư ! Phương Đông cách đây quá hằng hà sa quốc độ có thế giới tên là Vô Lượng Tịnh, Phật hiệu là Tịnh Vương Như Lai chí chơn đẳng chánh giác. Mật Tích Lực Sĩ đã từng thấy cõi vi diệu trang nghiêm thanh tịnh ấy. Nay vì pháp mà trưng vời những tòa cao vọi rất vi diệu vấy.
Lúc đức Thích Ca Mâu Ni Phật vừa ngồi lên tòa sư tử cao rộng xong, trong nước Khoáng Dã Quỷ Vương chúng quỷ thần yêu mị, Càn Thát Bà, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già đồng đến lễ Phật rồi đứng qua một phía vòng tay cung kính. 
Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ nói với Tứ Thiên Vương và những chúng đến dự hội rằng : « Thưa các Ngài ! Nay những thứ ăn uống đã sẵn sàng, các Ngài nên cùng tự tay cần mẫn dâng cúng lên đức Phật và chư Bồ Tát Thánh chúng. Tại sao vậy ? Vì những lời đức Phật đã dạy, nếu ai có thể hoan hỉ tá trợ hưng công cúng dường thì được vô lượng phước. Đối với thí chủ, phước cũng chẳng giảm ».
Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ cùng các con và cung nhơn quyến thuộc tự tay sớt thức ăn lành ngon nhứt tâm cung kính dâng cúng đức Phật và Thánh chúng.
Đức Phật và chư Bồ Tát Thánh chúng đều được sung mãn.
Ăn uống xong, dâng nước rửa. Sau đó Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ kê chiếc ghế nhỏ ngồi ở trước đức Phật bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Mong đấng từ bi phải thời thuyết pháp cho các loài chúng sanh rõ được đạo vô sanh. Người chưa phát tâm được phát đạo tâm. Người đã phát đạo tâm được lên bực bất thối chuyển. Cũng làm cho chúng quỷ thần yêu mị Càn Thát Bà đây mãi mãi được an ổn không họa hoạn vui hòa nhơn từ. Chư Thiên, người đời cùng chúng sanh trong ba cõi được tâm nguyện thù tuyệt siêu việt thế gian ».
Đức Phật bảo Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ và toàn thể đại chúng : «Lắng nghe ! Lắng nghe ! Phải khéo suy gẫm. Nếu thiện nam thiện nữ nhập được pháp môn an trụ bền vững, thì được tâm nguyện thù đặc không chỗ phân biệt sai thất ».
 Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ cùng đại chúng vâng dạ lắng nghe.
Đức Phật phán dạy : « Nếu thiện nam thiện nữ dốc lòng ngưỡng tín khéo theo đạo pháp nhiều sự thuận nghi muốn thấy các bực Hiền Thánh để được nghe pháp, lòng chẳng ghét ganh, chẳng lẫn tiếc, giơ tay bố thí, bỏ thối quen thích theo thế tục, chỗ phước bố thí chẳng mong báo đáp, chẳng cưu lòng não hại, ý chí trong sạch chuyên tinh nhứt tâm chẳng hề bạo dữ, tin nhơn quả báo ứng, ưa thích nghiệp lành chẳng có hồ nghi dụ dự, thấy rõ lý thanh bạch biết quả chẳng mất. Thà bỏ thân mạng chớ chẳng phạm tội ác. Luôn nhơn từ không giết hại, không trộm cướp, chẳng tà dâm, chẳng phạm vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu và ỷ ngữ, chẳng ghen ghét, giận thù và si mê. Chẳng phạm mười ác mà hành mười lành, cũng khuyên người khác làm như vậy. Thường bình đẳng thành tín thấy hàng Sa Môn phụng trì giói hạnh tinh tiến tu hành tư duy tu tập, đúng nghĩa tiết, vắng lặng đạm bạc, chẳng luyến trước, chẳng tà ngữ, chí tánh nhơn từ, rời bỏ pháp ác sốt bạo, chói sáng như ngọn đuốc, tâm tánh bình hòa, không nói lời khinh hủy, bỏ tuyệt nhủ nghê, dứt rời tâm đường đột phiền não, luôn luôn huệ thí.
Thường cung kính tôn trọng các bực Sa Môn thanh tịnh ấy đồng như Phật và  đệ tử Phật. Thường theo hầu cận khiêm hạ đảnh lễ chẳng làm trái ý.
Thường phụng sự các thiện tri thức ấy. Do vì mến pháp nên dùng pháp thí cứu tế nguy ách, ban tuyên chánh pháp để giáo hóa người : bố thí được giàu, trì giới sanh thiên, nghe rộng thêm trí, tu hành hiệp đạo, bố thí thì của nhiều, xan tham thành ngạ quỷ, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến nhứt tâm và trí huệ thì lần nhập đạo pháp, phạm giới thì đọa địa ngục,  giận hờn thì xấu xí, lười biếng thì bỏ đạo, loạn tâm thì sanh tội, ngu si thì tối tăm. Đó là do nơi thân, nơi khẩu, nơi ý mà có quả báo.
Ba nghiệp phạm ác thì mãi mãi chẳng an, sa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Giữ gìn ba nghiệp chẳng phạm thì sanh lên trời sanh trong người, ở chỗ chư Phật, mãi mãi an vui không có họa hoạn.
Phải vì mọi người mà khai thị quả báo tội phước, chỗ kết quả của điều thiện ác.
Nếu thấy người có thiện căn pháp khí, thì vì họ mà giảng pháp sâu xa, những pháp không, vô tướng, vô nguyện, đi không chỗ đi, đến không chỗ đến, không ngã, không nhơn, không thọ, không mạng.
Vì họ mà phân biệt pháp áo diệu mười hai nhơn duyên : do dựa vào sự nầy nên có sự kia sanh, nếu chẳng dựa vào sự nầy thì sự kia chẳng sanh, do đây mà thành kia, chẳng do thì chẳng thành.
Do vô minh mà thành hành, do hành mà thành thức, do thức mà thành danh sắc, do danh sắc mà thành lục nhập, do lục nhập mà thành xúc, do xúc mà thành thọ, do thọ mà thành ái, do ái mà thành thủ, do thủ mà thành hữu, do hữu mà thành sanh, do sanh mà thành lão tử thân tứ đại ngũ ấm rất khổ.
Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì không có lão tử khổ lụy vì ngũ ấm tứ đại, mà mãi mãi an vui, không còn họa hoạn. Bởi diệt dứt hết thì không còn có. Tại sao vậy ? Vì khởi cái nầy thì sanh cái kia, không khởi cái nầy thì không có cái kia.
Cũng như trồng cây mới sanh chồi rễ cội nhánh lá bông trái. Nhổ cây không chồi thì đâu còn nhánh lá bông trái nữa.
Tỏ ngộ đế lý không có vô minh không còn chấp trước thì chẳng còn gì kéo níu sanh khởi mười hai chi.
Tất cả đều do duyên mà đối sanh. Không có duyên thì không có đối sanh.
Cả ba cõi đều vốn không, đều từ không mà sanh, đều từ có mà tử.
Vì chẳng thấu đạt không vô mà cho rằng từ nơi có mà thành ra sanh, chẳng biết có ấy rỗng không, do chấp lấy có ngã mà thành ra tử vậy.
Biết không thì chẳng sanh. Rõ có thì chẳng tử.
Vì tội nó theo, trần lao nó đến nên điên đảo khổ não si tối chẳng thiệt.
Vì họ mà tuyên chơn đế ứng theo nghi tiết quán sát trúng pháp, mà ở nơi pháp không có tạo tác !
Chẳng có chỗ tạo thì không có thối chuyển cũng không chẳng thối chuyển. Chẳng có nạn qua lại xoay quanh.
Giả sử phân biệt nơi pháp mà phân biệt không chấp trước, nhận biết là vốn không, tất cả các pháp đều đạm bạc vắng lặng.
Gầy dựng cho người ấy, hoặc Bồ Tát ấy thường được thấy Phật, chẳng rời bên Phật, chẳng mất sự nghe pháp, chẳng trái Thánh chúng.
Sanh về nơi nào đều thấy chư Phật. Dầu có thác sanh mà chẳng sanh về chỗ không có Phật. Vì sanh ra được thấy Phật nên không phóng dật, mộ cầu pháp chơn chánh tinh tiến. Siêng tu tập theo đây nên chẳng màng gia nghiệp mà hay gìn tịnh hạnh, chẳng luyến vợ con tôi tớ giữ gìn nhà cửa mà siêng gắng thọ thì chánh pháp, không chơi bời phóng túng ái dục.
Chư Phật Thế Tôn thuyết giáo. Vì dốc lòng tin mà xuất gia tu hành. Sau khi tin pháp Phật xuất gia thì làm bạn lữ chơn chánh với thiện tri thức để thọ nghiệp chơn chánh, tánh hạnh vi diệu, nghe pháp huyền diệu, lấy sự hành đạo làm trọng yếu mà chẳng chưng diện, giác ý đệ nhức mà chẳng nhàm đủ, thường cầu học rộng. Như pháp được nghe vì người khác mà giảng rộng. Tâm không mong lợi dưỡng cung kính mà giảng thuyết kinh điển. Từ nơi trí huệ đã được học hỏi, nhơn lúc đi đứng mà vì người giảng thuyết, làm cho người nghe pháp thêm lớn lòng đại bi, mà đối với chúng sanh phát tâm đại bi, đến được học rộng, không lẫn tiếc, chẳng tham thân mạng, ít muốn ít cầu mà biết vừa đủ, trọng nghiệp lành, vui cúng dường, thích rảnh rang vắng vẻ chuyên ròng giữ tiết. Theo nơi pháp được học mà suy ngẫm nghĩa thú, về nơi chánh nghĩa suy xét phụng hành chớ chẳng thiên về văn sức. Chẳng riêng vì mình và vì chúng sanh cầu Đại thừa tối thượng, chí mộ Phật thừa thành không phóng dật.
Thế nào là không phóng dật ?
Do vì đã thấu đạt cảnh giới nên nhãn chẳng thấy sắc, chẳng thọ vọng tưởng, chẳng trước văn sức, rõ sắc là nạn, dầu có mộ thích liền bỏ nó qua, biết nó vốn là không.
Nếu tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc, ý biết pháp cũng như vậy, chẳng biết pháp, chẳng vọng tưởng, chẳng trước pháp rõ pháp là nạn, dầu có mộ thích liền rời bỏ biết rõ pháp là không.
Nói rằng không phóng dật đó, tâm mình không sanh cũng hộ trợ tâm người khác. Bỏ vui ái dục vào nơi pháp lạc. Chẳng tưởng tham dục, không tưởng giận hờn, không tưởng nguy hại. Không có nghiệp hành tham dục, giận thù ngu si. Không có những căn bổn ác ấy.
Thân chẳng làm đều ác, miệng chẳng nói quấy, tâm chẳng nghĩ bẩn. Chẳng làm trái với tâm niệm. Chẳng phạm tất cả những pháp bất thiện.
Như trên đây gọi là không phóng dật.
Do vì không phóng dật mà thường đúng tiết hạnh, biết rõ có, biết rõ không, biết rõ không không có.
Sao gọi là có, gì gọi là không ?
 
 

Xem Tiếp Theo Trang 4

 

TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap
Xx
Xx