XI
PHÁP HỘI
XUẤT HIỆN QUANG MINH
THỨ MƯỜI MỘT
(Hán Bộ
từ quyển 30 đến hết quyển 34)
Hán Dịch:
Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi
Việt Dịch:
Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Trang 3
Ðà la ni rằng:
1.Hê
lệ, 2.Ma lệ ma lệ, 3.Tứ đệ, 4.Y nê, 5.Nhĩ nê, 6.Cú lộ
nễ canh, 7.Cú lộ nễ canh, 8.Cú lệ, 9.Ma lệ, 10.Cú noa đế,
11.A ra nghệ, 12.A hê lệ, 13.Nhĩ nhĩ lệ đế, 14.Tố nhĩ lệ,
15.Nhĩ lệ nhĩ lệ, 16.Biền tỷ lệ, 17.A tỷ lệ, 18.Tố đế
thế, 19.Ðà nễ, 20.Ma nễ, 21.Già nễ, 22.Già rị đế, 23.Tố
già lê, 24.Bát rị dã nhiên nẳng nê, 25.A nỗ lô nhĩ kế,
26.Vi lộ mê, 27.Tố bà niết lý thế, 28.A đà rị lệ, 29.Tát
ma bát ra bổn đế, 30.Bát ra vĩ hê, 31.Ðà la ni, 32.Ðể sắc
sỉ ha, 33.Tố để a thế, 34.Bộ nhượng già già nẵng, 35.Cung
bàn noa, 36.A phạ sa phạ nẳng, 37.Bá rị đố lý dã ninh, 38.Bát
rị già noa ninh, 39.Ma nẳng sa, 40.Tố lộ chỉ đa, 41.Bát na,
42.Ác sát ra, 43.A tì la tỷ dã, 44.Bát ra để sắc tra ha, 45.Ðà
la ni, 46.A nhĩ đa, 47.Ngu nê tì.
Ðà la ni
như vậy
Của chư
Phật đã được
Ðầy đủ
đại thần thông
Trí huệ
vô biên lượng
Rời lìa
các chấp trước
Niệm xứ
đều thanh tịnh
Không sắc
không khứ lai
Chẳng phải
phương phương sở
Không tướng
không ngôn thuyết
Vượt quá
những hí luận
Bồ Tát
siêng năng tu
Rốt ráo
được thanh tịnh
Giả sử
dùng trăm ngàn
Na do tha
kệ tụng
Diễn nói
chừng một câu
Chẳng hết
được biên tế
Chư Thánh
chỗ tán thán
Thanh tịnh
không nhiễm trước
Tất cả
các chúng hội
Thảy đều
sanh tôn trọng
Ðà la ni
như vậy
Thiện pháp
oai thần lực
Hay xô dẹp
phiền não
Khiết được
những thắng lợi
Công đức
và trí huệ
Rộng lớn
như biển cả
Thành tựu
nhẫn nhục lực
Tâm an trụ
chẳng động
Bồ Tát
thường tu tập
Người trì
thường khen ngợi
Bỏ rời
sự nghèo cùng
Sẽ được
của báu lớn
Ðà la ni
như vậy
Thêm lớn
các công đức
Thường
dùng câu không tánh
Chơn thiệt
để trang nghiêm
Do bỏ những
văn tự
Gọi đó
là không tánh
Ðể bỏ
nơi tâm thức
Gọi đó
là pháp tánh
Ðà la ni
như vậy
Rời cấu
thường thanh tịnh
An trụ nơi
thiệt trí
Hiện các
thứ lợi ích
Làm cho các
chúng sanh
Vui mừng
phát tịnh tâm
Vô lượng
chúng Dạ Xoa
Và chúng
Cưu Bàn Trà
Chư Quỷ
Vương như vậy
Lòng họ
rất vui mừng
Ðà la ni
như vậy
Tịch tịnh
không hí luận
Mến ưa
các chúng sanh
Ðều khắp
ban an vui
Trong nhiều
trăm ngàn kiếp
Thường
ở trong các loài
Làm vô lượng
lợi ich
Thanh tịnh
không ô nhiễm
Hoặc dùng
trăm ngàn kệ
Diễn nói
pháp cam lộ
Khiến vô
lượng chúng sanh
Ðều sanh
lòng vui mừng
Thưở xưa
vô lượng Phật
Dùng ý lạc
thanh tịnh
Nơi đà
la ni nầy
Thường
tư duy pháp tánh
Thích Phạm
chư Thiên chúng
Long Vương
và Tu La
Nghe đà
la ni nầy
Lòng họ
rất vui mừng
Ðà la ni
như vậy
Trải qua
các quốc độ
Thường
không cò tai nạn
Bịnh khổ
và ưu não
Tất cả
các chúng sanh
Mọi loài
đều vui thích
Nguyện đà
la ni nầy
Thường
ở nơi tăm tối
Ðà la ni
như vậy
Tùy thân
tâm ở đâu
Cổ họng
và môi lưỡi
Sanh vô lượng
công đức
Nếu thường
thọ trì được
Ðược vô
lượng công đức
Lợi ích
nhiều chúng sanh
Ðều làm
cho vui mừng
Ðà la ni
như vầy
Rời lìa
những tội ác
Diễn thuyết
pháp vi diệu
Ðều dứt
trừ nghi hoặc
Xô phá các
kiên mạn
Ðược vô
lượng công đức
Ðà la ni
như vậy
Pháp rất
sâu vi mật
Người trí
thường suy nghĩ
Dũng mãnh
siêng tu tập
Mặc áo
giáp trí huệ
Xô diệt
các phiền não
Thêm lớn
tâm công đức
Mến thích
không nhàm đủ
Ðà la ni
như vậy
Ðủ danh
gọi rộng lớn
Rõ được
tận vô tận
Sanh biên
vô sanh biên
Dùng trí
huệ như vậy
Các thứ
tự trang nghiêm
Trăm ngàn
các Như Lai
Tôn trọng
mà cúng dường
Ðà la ni
như vậy
Ðủ hai
thứ minh hạnh
Y chỉ nơi
thắng định
Xu hướng
đạo Bồ đề
Tùy thuận
nơi chỉ quán
Thông đạt
huệ vô lậu
Dùng tịnh
tín căn lực
Thành tựu
nơi hai tay
Dùng tịnh
tiến nhẫn nhục
Thành tựu
nơi hai vú
Trí huệ
Ba la mật
Mà dùng
làm đảnh tướng
Tu đa la
làm tuyến
Xâu vòng
hoa tứ biện
Thuở xưa
đã tu hành
Các thứ
công đức lành
Và vô lượng
thí dụ
Tất cả
đều trang nghiêm
Ðà la ni
như vậy
Ðủ vô
lượng công đức
Nơi nhãn
tiền hậu tế
Tận biên
vô tận biên
Hoặc sanh
hoặc vô sanh
Biên tế
phi biên tế
Tịch tịnh
chẳng tịch tịnh
Lưu chuyển
phi lưu chuyển
Vô hữu
và vô sanh
Tịch diệt
cùng vô ngã
Không nhơn
không thọ giả
Nhẫn đến
không chúng sanh
Vô lượng
môn như vậy
Tất cả
đều hiểu rõ
Nhĩ tỷ
thiệt thân tâm
Sáu trần
và tứ đại
Nhẫn đến
thế sanh danh
Tất cả
đều như vậy
Như trên
đã ca ngợi
Ðà lan ni
vi diệu
Tịch tịnh
thắng công đức
Cảnh giới
của chư Phật
Thiệt nghĩa
đà la ni
Văn tự
chẳng tỏ được
Vì thuận
theo thế gian
Chỉ dùng
giả danh nói.
Lúc
ấy đức Thế Tôn và đại chúng đến nhà Nguyệt Quang Ðồng
Tử trải tòa mà ngồi. Ðồng Tử biết đức Phật ngồi xong,
đích thân mang đồ cúng dường vi diệu dâng lên đức Như
Lai và hàng đại chúng. Ðồ cúng dường ấy thuần do sức
bất tư nghì của thiền định phước đức thiện căn thù
thắng làm thành. Lúc cúng dường như vậy cũng chẳng vì mình
mà khắp khiến vô lượng chúng sanh phát tâm xu hướng Bồ
dề được lợi lành to lớn. Ðồng Tử cúng dường đầy
đủ khắp tất cả.
Ðức
Thế Tôn thọ trai xong ở giữa đại chúng bảo Nguyệt Quang
Ðồng Tử rằng: ỘNầy thiện nam tử! Nếu có thiện nam thiện
nữ an trụ nơi Ðại thừa mà thật hành công hạnh bố thí
cúng dường thì có tám mươi thứ công đức thù thắng.
Những
gì là tám mươi thứ? Ðó là thành thục chúng sanh. Dùng lời
khéo để nhiếp thọ. Viên mãn tướng vi diệu. Các căn chẳng
kém thiếu. Bỏ rời sanh tử. Chứng nhập Niết bàn. Hết các
kiết sử. Ðược thắng tự tại. Ðầy đủ công đức. Trang
nghiêm Phật độ. Quyến thuộc thanh tịnh. Có oai đức lớn.
Ðầy đủ trí huệ. Thành tựu công hạnh tối thượng thù
thắng. Viên mãn công hạnh vô thượng vô đẳng đẳng. Trừ
diệt tập khí. Tăng trưởng tất cả trí hạnh Như Lai. Thân
và Xá lợi được các thế gian và hàng Thanh Văn, Duyên Giác
cúng dường. Dẹp phá người ác. Có thể khiến Thiên, Long
Bát Bộ Thần Vương và Phạm Thiên Vương đều sanh lòng tín
ngưỡng. Có oai đức lớn. Tuyên nói khế kinh, ứng tụng,
thọ ký, tự thuyết, phúng tụng, thí dụ, nhơn duyên, bổn
sự, bổn sanh, phương quảng, vị tằng hữu, nhẫn đến luận
nghĩa, thọ trì diễn thuyết. Lòng không biếng mỏi. Nơi pháp
không lẫn tiếc. An trụ Phật đạo. Quốc độ tối thắng.
Danh sắc thanh tịnh. Chứng pháp thân. Ðược vô sở úy. Thành
tựu phước đức. Che khuất các ngoại đạo. Ðủ pháp bực
thiện nhơn. Bỏ việc làm kẻ ác. Tin nhơn phước trí. Hòa
hiệp Phật pháp. Hàng phục chúng ma. Không có mê hoặc đối
với pháp an lạc của đức Phật dạy. Phá diệt ác dục.
Ðủ oai đức lớn. Tu Bồ Tát hạnh. Ðược thắng thần thông.
Bỏ rời sanh tử. Thành tựu chúng sanh. Khen vô biên hạnh.
Nhiếp thọ công đức. Ủy dụ chúng sanh. Thọ dụng pháp lạc.
Tu hành huệ thí. Nhập môn đại trí. Trụ nơi noãn pháp. Chủng
tánh quyết định. Tu hành pháp nhẫn. An trụ Phật đạo.
Nầy
Ðồng Tử! Nếu các thiện nam thiện nữ tu tập công hạnh
bố thí thì thành tựu đầy đủ tám mươi thứ công đức
thù thắng như vậy.
Bấy
giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:
Chư
Bồ Tát đại trí
Ðầy đủ
hạnh bố thí
Ðược tám
mươi công đức
Ta đã lược
giảng nói
Lại có
các công đức
Vô lượng
khó nghĩ bàn
Ðều từ
bố thí sanh
Nay sẽ nói
phần ít
Ông bình
đẳng bố thí
Khắp đủ
cả đại hội
Công hạnh
bố thí ấy
Người trí
phải tu tập
Bố thí
ấy chứa được
Khối phước
chẳng nghĩ bàn
Thân tướng
hảo trang nghiêm
Tất cả
đều viên mãn
Sanh xứ
và chủng tộc
Quốc độ
và cư gia
Danh xưng
cùng sắc tâm
Tất cả
đều thanh tịnh
Chư Thiên
sự thần biến
Và cung điện
thể nữ
Thanh tịnh
vô ngại biện
Ðều từ
bố thí sanh
Bố thí
thắng tư lương
Chư Phật
đều khen ngợi
Ðây là
cội an trụ
Tối sơ
của Bồ đề
Chư Bồ
Tát tinh tiến
Không nghi
hoặc bố thí
An trụ tâm
quyết định
Siêng tu
hạnh bố thí
Tâm bố
thí như vậy
Thành tựu
phước thù thắng
Bồ Tát
siêng tu tập
Sẽ chứng
Phật Bồ đề
Do oai lực
bố thí
Thành tựu
thắng thần thông
Chấn động
muôn ức cõi
Chẳng tổn
hại chúng sanh
Do bố thí
dẫn được
Tịnh giới
và đa văn
Chánh tín
cùng tinh tiến
Tam muội
huệ vô lậu
Do bồ thí
dẫn được
Căn lực
Bồ đề phần
Chánh đoạn
và thần túc
Rời xa các
tập khí
Do bố thí
dẫn được
Âm thanh
diệu thanh tịnh
Trong trăm
muôn ức cõi
Khai thị
vô biên pháp
Do tịnh
tín hành thí
Mau được
các thần thông
Vì thành
tựu thần thông
Phải siêng
tu bố thí
Vô lượng
hàng Thiên chúng
Trăm ngàn
A Tu La
Long Thần
và Dạ Xoa
Cùng quyến
thuộc vây quanh
Ðều ngồi
lầu các đẹp
Mà du hí
tự tại
Các Thần
Vương như vậy
Thấy người
siêng bố thí
Ðều đứng
dậy tiếp rước
Trải tọa
mời cúng dường
Người bố
thí như vậy
Ðầy đủ
oai đức lớn
Sức thần
thông tự tại
Nhiếp thọ
các Thiên Vương
Cưu Bàn
Trà Dạ Xoa
Thảy đều
đến quy phục
Và chúng
Càn Thát Bà
Cũng hiến
các âm nhạc
Kẻ giặc
sanh lòng lành
Người ác
sẽ xa lìa
Của báu
không tổn giảm
Khố tàng
đều đầy đủ
Do vì tu
bố thí
Thành tựu
thắng tư lương
Nhẫn đến
trí huệ Phật
Chẳng hành
pháp ngoại đạo
Người ấy
không bịnh não
Thủ hộ
đà la ni
Ðược những
sức thù thắng
Ðều do
bố thí sanh
Người bố
thí như vậy
Tu tập đạo
Bồ đề
Chẳng gặp
ác tri thức
Ðược bạn
lành đồng đạo
Còn có các
Bồ Tát
Tu tập hạnh
bố thí
Thành tựu
bất tư nghị
Ðà la ni
trí huệ
Dùng vô
lượng kệ tụng
Diễn thuyết
các tổng trì
Tất cả
không chướng ngại
Chẳng mất
nơi bổn nghĩa
Tâm Bồ
đề rộng lớn
Chí nguyện
thường kiên cố
Ðầy đủ
các tịnh giới
Rời bỏ
các ma nghiệp
Chẳng ham
vui ngũ dục
Chuyên siêng
cầu chánh niệm
Lòng thường
không mê hoặc
Cũng chẳng
sanh tham ái
Sân hận
các phiền não
Ðều biết
rõ đúng thiệt
Nơi tất
cả cảnh giới
Chẳng chấp
chẳng mê hoặc
Người ấy
khéo biết rõ
Các phiền
não như vậy
Do nhơn duyên
hòa hiệp
Hay sanh những
lỗi lầm
Nhẫn đến
nơi Phật pháp
Hoặc nhơn
hoặc nhơn nhơn
Tác dụng
nhơn như vậy
Tất cả
đều rõ được
Người ấy
hay biết rõ
Nhãn tận
biên nhơn tánh
Rời xa các
mê lầm
Nơi nhãn
không hề nhiễm
Người ấy
biết rõ được
Nhãn sanh
biên biên tế
Lưu chuyển
và tịch tịnh
Vô hữu
với vô sanh
Nhẫn đến
nhãn tịch diệt
Các nhơn
tánh như vậy
Rời xa các
mê hoặc
Nơi nhãn
không ô nhiễm
Người ấy
biết rõ được
Nhãn tiền
tế ngôn thuyết
Tùy thế
tục giả lập
Trong ấy
không có thiệt
Người ấy
hay biết rõ
Nhãn hậu
tế ngôn thuyết
Tùy thế
tục giả lập
Trong ấy
không có thiệt
Người ấy
hay biết rõ
Nhãn sanh
biên biên tế
Lưu chuyển
và tịch tịnh
Vô hữu
với vô sanh
Nhẫn đến
nhãn tịch diệt
Các ngôn
thuyết như vậy
Tùy thế
tục giả lập
Trong ấy
không có thiệt
Người ấy
hay biết rõ
Nhãn tiền
tế ngôn thuyết
Chỉ nhơn
duyên hòa hiệp
Trong ấy
không chấp trước
Người ấy
hay biết rõ
Nhãn hậu
tế ngôn thuyết
Chỉ nhơn
duyên hòa hiệp
Trong ấy
không chấp trước
Người ấy
hay biết rõ
Nhãn sanh
biên biên tế
Lưu chuyển
và tịch tịnh
Vô hữu
với vô sanh
Nhẫn đến
nhãn tịch diệt
Các ngôn
thuyết như vậy
Chỉ nhơn
duyên hòa hiệp
Trong ấy
không chấp trước
Người ấy
hay biết rõ
Nhãn tiền
tế ngôn thuyết
Tự tánh
không biểu thị
Trong ấy
không ô nhiễm
Người ấy
hay biết rõ
Nhãn hậu
tế ngôn thuyết
Tự tánh
không biểu thị
Trong ấy
không ô nhiễm
Người ấy
hay biết rõ
Nhãn sanh
biên biên tế
Lưu chuyển
và tịch tịnh
Vô hữu
với vô sanh
Nhẫn đến
nhãn tịch diệt
Các ngôn
thuyết như vậy
Tự tánh
không biểu thị
Trong ấy
không ô nhiễm
Nhĩ tỷ
thiệt thân ý
Sáu trần
và bốn đại
Nhẫn đến
thế sanh danh
Tất cả
đều như vậy
Người ấy
hay biết rõ
Tham dục
tức Phật đạo
Tự tánh
vô sai biệt
Nơi tham
không bị nhiễm
Tất cả
các Phật đạo
Phải cầu
nơi phiền não
Biết tánh
vô sai biệt
Là nhập
môn tổng trì
Nói tham
là tổng trì
Tổng trì
tức là tham
Biết tánh
vô sai biệt
Là học
môn tổng trì
Cúng dường
tham như vậy
Tức là
cúng dường Phật
Vì cúng
dường nơi Phật
Mà thành
tựu tổng trì
Người ấy
hay biết rõ
Sân hận
tức Phật đạo
Tự tánh
vô sai biệt
Nơi sân
không bị nhiễm
Sân tức
là tổng trì
Tổng trì
tức là sân
Biết tánh
vô sai biệt
Là học
môn tổng trì
Cúng dường
sân như vậy
Cũng là
cúng dường Phật
Do cúng dường
nơi Phật
Thành tựu
môn tổng trì
Người ấy
hay biết rõ
Ngu si tức
Phật đạo
Tự tánh
vô sai biệt
Nơi si không
bị nhiễm
Nếu biết
rõ đúng thiệt
Biên tế
của tánh si
Thì là tu
Phật đạo
Thành tựu
môn tổng trì
Si tức là
tổng trì
Tổng trì
tức là si
Biết tánh
vô sai biệt
Là học
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Tức là
cúng dường Phật
Do cúng dường
nơi Phật
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Tức là
cúng dường Pháp
Do cúng dường
nơi Pháp
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Tức là
cúng dường Tăng
Do cúng dường
nơi Tăng
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Tức là
cúng dường giới
Do cúng dường
nơi giới
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường tinh tiến
Vì cúng
dường tinh tiến
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường tán thán
Vì cúng
dường tán thán
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường Phật pháp
Do cúng dường
Phật pháp
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường pháp tánh
Do cúng dường
pháp tánh
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường chơn như
Do cúng dường
chơn như
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô sanh
Do cúng dường
vô sanh
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô diệt
Do cúng dường
vô diệt
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô tận
Do cúng dường
vô tận
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô hữu
Do cúng dường
vô hữu
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô biên
Do cúng dường
vô biên
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường tam hữu
Do cúng dường
tam hữu
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường tịch tịnh
Do cúng dường
tịch tịnh
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường lưu chuyển
Do cúng dường
lưu chuyển
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô chuyển
Do cúng dường
vô chuyển
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô hữu
Do cúng dường
vô hữu
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô sanh
Do cúng dường
vô sanh
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường tịch diệt
Do cúng dường
tịch diệt
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường bất lai
Do cúng dường
bất lai
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô hành
Do cúng dường
vô hành
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường vô vi
Do cúng dường
vô vi
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường khổ thảy
Do cúng dường
khổ thảy
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường khổ trí
Do cúng dường
khổ trí
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường tập trí
Do cúng dường
tập trí
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường diệt trí
Do cúng dường
diệt trí
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường đạo trí
Do cúng dường
đạo trí
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường pháp trí
Do cúng dường
pháp trí
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường loại trí
Do cúng dường
loại trí
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
vô sanh trí
Do cúng vô
sanh trí
Thành tựu
môn tổng trì
Cúng dường
si như vậy
Là cúng
dường tận trí
Do cúng dường
tận trí
Thành tựu
môn tổng trì
Như vậy
nơi chánh đoạn
Niệm trụ
và thần túc
Ngũ căn
và ngũ lực
Thất giác
bát chánh đạo
Gồm xa ma
tha kia
Tì bát xá
na thảy
Nơi chín
pháp nầy
Tất cả
đều như vậy.
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo Nguyệt Quang Ðồng Tử rằng:
Nầy thiện nam tử! Nếu có chúng sanh an trụ nơi Ðại thừa
thành tựu môn đà la ni như đã nói ở trên thì phải xa rời
tám mươi hạng người. Những ai là tám mươi hạng người
ấy?
Ðó
là những kẻ giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, có tâm nghĩ
giết hại mà làm thân Phật ra máu, phá hòa hiệp Tăng, tặc
trụ xuất gia, không có căn, hai căn, tà kiến, tà tư duy, tà
ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tiến, tà niệm, tà định,
chẳng biết chỗ, chẳng biết lúc, chẳng biết pháp, chẳng
biết đạo, chẳng biết lượng, chẳng biết tự tha, đối
với Phật PhápTăng và các học xứ chẳng biết tôn trọng,
đối với hạnhchẳng phóng dật và cảnh giới thù thắng
cũng chẳng tôn ngưỡng, chẳng biết pháp, chẳng biết luật,
chẳng biết học xứ, chẳng biết tội ấy là trọng là khinh,
chẳng biết giới ấy là hư là khuyết, cũng chẳng biết hạnh
tu ấy là tế là thô, cũng chẳng biết nghiệp là vị lai là
hiện tại, với sự hạ liệt cũng chẳng biết rõ, khen Thanh
Văn thừa, phá chê pháp Như Lai, khuyến thị khai đạo Bích
Chi Phật thừa, xa rời nhàm bỏ chánh đạo vô thượng, phá
giới, phá kiến, phá các oai nghi, đi nơi phi đạo, nói có
ngã nhơn, nói có chúng sanh, nói có thọ giả, nói có bổ đặc
già la, chí ý hạ liệt, khởi tham sân si, đoạn kiến, thường
kiến, không kiến vô nhơn kiến, chẳng thấy có, chẳng thấy
không, chẳng thấy nghiệp, chẳng thấy tinh tiến, chẳng biết
nghiệp, chẳng biết nghiệp nhơn, chẳng biết dị thục nhơn,
chẳng biết các căn, chẳng biết các căn nhơn, chẳng biết
giới, chẳng biết giới nhơn, chẳng biết giải thoát, chẳng
biết giải thoát nhơn, chẳng biết đạo, chẳng biết đạo
nhơn, chẳng biết phiền não, chẳng biết phiền não nhơn,
chẳng biết thí, chẳng biết thí nhơn, chẳng biết tiền tế
và hậu tế, chẳng biết tiền tế nhơn và hậu tế nhơn,
chẳng biết sanh tử, chẳng biết sanh tử nhơn, chẳng biết
hữu lậu, chẳng biết hữu lậu nhơn, chẳng biết tận phi
tận, chẳng biết hữu phi hữu, chẳng biết biên tế phi biên
tế, chẳng biết tịch tịnh phi tịch tịnh, chẳng chuyển
phi chuyển, chẳng biết tánh phi tánh, chẳng biết sanh phi sanh,
chẳng biết diệt phi diệt.
Nầy
Ðồng Tử! Nếu thiện nam thiện nữ muốn thành tựu môn đà
la ni đã được nói ở trên, thì phải bỏ rời tám mươi
hạng người phi pháp ấy.
Ðức
Thế Tôn lại nói kệ rằng:
Nếu
người chẳng biết rõ
Nhãn sanh
tận biên tế
Người ấy
mê tổng trì
Trí giả
phải rời xa
Nếu người
biết được nhãn
Không ngã
không chúng sanh
Người ấy
trụ tổng trì
Trí giả
phải thân cận
Nếu người
biết được nhãn
Sanh tận
lìa văn tự
Người ấy
trụ tổng trì
Trí giả
phải thân cận
Nếu người
biết được nhãn
Tịch tịnh
vô sở trụ
Người ấy
trụ tổng trì
Trí giả
phải thân cận
Nếu người
biết được nhãn
Tự tánh
vô sở trụ
Người ấy
trụ tổng trì
Trí giả
phải thân cận
Nếu người
biết được nhãn
Không chuyển
không sắc tướng
Người ấy
trụ tổng trì
Trí giả
phải thân cận
Nếu người
biết được nhãn
Vô sanh tánh
tịch diệt
Người ấy
trụ tổng trì
Trí giả
phải thân cận
Nếu người
biết được nhãn
Tự tánh
rời danh tướng
Chư Phật
không nói được
Không khen
nêu bày được
Người ấy
trụ tổng trì
Trí giả
phải thân cận
Nếu người
biết được nhãn
Tự tánh
lìa danh tướng
Không ai
tư duy được
Thọ trì
diễn thuyết được
Người ấy
trụ tổng trì
Trí giả
phải thân cận
Tánh tổng
trì như vậy
Văn tự
chẳng nói được
Không có
các phương sở
Tâm sở
cũng chẳng đến
Pháp ấy
không hoan hỉ
Cũng chẳng
ở sân hận
Bất dộng
như Sơn Vương
Dầu nói
nhưng không được
Tổng trì
thiệt không có
Nhẫn đến
ngã cũng vậy
Ngã đã
không tự tánh
Tổng trì
cũng không có
Tổng trì
không tự tánh
Kẻ ngu cho
là có
Do đây vọng
phân biệt
Chẳng tỏ
sanh ưu não
Nếu biết
rõ tánh tham
Nhẫn đến
tổng trì không
Hai thứ
phân biệt ấy
Rốt ráo
bất khả đắc
Nếu biết
không tánh không
Tổng trì
cũng chẳng có
Nhẫn đến
Bồ đề phần
Tam ma địa
cũng không
Nếu người
biết rõ được
Tổng trì
và không tánh
Nhẫn đến
tam ma địa
Thì cũng
biết được nhãn
Nếu với
nhãn tận biên
Khéo biết
rõ như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
nhãn sanh biên
Nếu với
nhãn sanh biên
Khéo biết
rõ như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn biên tế
Khéo biết
rõ như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn tịch tịnh
Biết rõ
được như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn lưu chuyển
Biết rõ
được như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn vo hữu
Biết rõ
được như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn vo sanh
Biết rõ
được như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn tịch diệt
Biết rõ
được như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn biến dị
Biết tận
biên như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn biến dị
Biết sanh
biên như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn biến dị
Biết biên
tế như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn biến dị
Biết tịch
tịnh như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn biến dị
Biết lưu
chuyển như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn biến dị
Biết vô
hữu như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn biến dị
Biết vô
sanh như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nếu với
nhãn biến dị
Biết tịch
diệt như thiệt
Thì ở môn
tổng trì
Rốt ráo
thành tựu được
Nhĩ tỷ
thiệt thân ý
Lục trần
và từ đại
Nhẫn đến
thế sanh danh
Tất cả
đều như vậy
Nếu nơi
nhãn tiền tế
Không tướng
biến tướng dị
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu nơi
nhãn tận biên
Không tướng
biến tướng dị
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu nơi
nhãn sanh biên
Không tướng
biến tướng dị
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu nơi
nhãn biên tế
Không tướng
biến tướng dị
Không thủ
không phân biệt
Thì trụ
môn tổng trì
Nếu nơi
nhãn tịch tịnh
Không tướng
biến tướng dị
Không thủ
không phân biệt
Thì trụ
môn tổng trì
Nếu nơi
nhãn lưu chuyển
Không tướng
biến tướng dị
Không thủ
không phân biệt
Thì trụ
môn tổng trì
Nếu nơi
nhãn vô hữu
Không tướng
biến tướng dị
Không thủ
không phân biệt
Thì trụ
môn tổng trì
Nếu nơi
nhãn vô sanh
Không tướng
biến tướng dị
Không thủ
không phân biệt
Thì trụ
môn tổng trì
Nếu nơi
nhãn tịch diệt
Không tướng
biến tướng dị
Không thủ
không phân biệt
Thì trụ
môn tổng trì
Nhĩ tỷ
thiệt thân ý
Sáu trần
và bốn đại
Nhẫn đến
thế sanh danh
Tất cả
đều như vậy
Tham, sân,
si, phẫn, mạn
Tật, cuống,
xan, ưu, não
Quá thất,
cấu, độc tiển
Bạo lưu,
hắc bạch nghiệp
Bất sanh
cũng bất diệt
Bất khứ
cũng bất lai
Bất động
cũng bất dị
Phi tác cũng
phi hành
Phi minh cũng
phi ám
Phi lưu bỏ
bạo lưu
Vô tận
và vô trụ
Phi hành
phi bất hành
Phi văn tự,
phan duyên
Phi xuất
cũng phi nhập
Phân biệt
vọng tưởng thảy
Cả sáu
mươi hai môn
Ðều riêng
theo nghĩa lý
Tất cả
đều như vậy
Nếu biết
nhãn tiền tế
Nhẫn đến
nơi thượng hạ
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu biết
nhãn tận biên
Nhẫn đến
nơi thượng hạ
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu biết
nhãn sanh biên
Nhẫn đến
nơi thượng hạ
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu biết
nhãn biên tế
Nhẫn đến
nơi thượng hạ
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu biết
nhãn tịch tịnh
Nhẫn đến
nơi thượng hạ
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu biết
nhãn lưu chuyển
Nhẫn đến
nơi thượng hạ
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu biết
nhãn vô hữu
Nhẫn đến
nơi thượng hạ
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu biết
nhãn vô sanh
Nhẫn đến
nơi thượng hạ
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nếu biết
nhãn tịch diệt
Nhẫn đến
nơi thượng hạ
Không thủ
không phân biệt
Là trụ
môn tổng trì
Nhĩ tỷ
thiệt thân ý
Sáu trần
và bốn đại
Nhẫn đến
thế sanh danh
Tất cả
đều như vậy.
Nơi tướng
bất biến của địa đại
Không có
thủ trước không phân biệt
Người biết
rõ ràng được như vậy
Thì thành
tựu được môn tổng trì
Nơi tướng
vô sanh của địa đại
Không có
thủ trước không phân biệt
Người biết
rõ ràng được như vậy
Thì thành
tựu được môn tổng trì
Nơi tướng
vô diệt của địa đại
Không có
thủ trước không phân biệt
Người biết
rõ ràng được như vậy
Thì thành
tựu được môn tổng trì
Nơi tướng
chứng nhập của địa đại
Không có
thủ trước không phân biệt
Người biết
rõ ràng được như vậy
Thì thành
tựu được môn tổng trì
Nơi tướng
xuất ly của địa đại
Không có
thủ trước không phân biệt
Người biết
rõ ràng được như vậy
Thì thành
tựu được môn tổng trì
Nơi tướng
vô nguyện của địa đại
Không có
thủ trước không phân biệt
Người biết
rõ ràng được như vậy
Thì thành
tựu được môn tổng trì
Nơi tướng
vô trụ của địa đại
Cùng các
tướng bất lai bất khứ
Tướng vô
biên và tướng vô tận
Tướng tương
ưng tướng chẳng tương ưng
Tướng rời
lìa danh tự kế đạt
Tướng quan
sát và tướng lưu chuyển
Tướng vô
hữu và tướng tu trị
Tướng không
có ngôn thuyết biểu thị
Tướng tịch
tịnh tướng vô sở y
Tướng niệm
trụ và tướng chánh đoạn
Tướng thần
túc và tướng căn lực
Tướng thất
giác chi đạo vô úy
Ác tướng
của địa đại như vậy
Không có
thủ trước không phân biệt
Người biết
rõ ràng được như vậy
Thì thành
tựu được môn tổng trì
Nều nơi
tướng vô xuất của ngã
Nơi tướng
vô tướng tướng vô nguyện
Tướng vô
trụ và tướng vô sanh
Cùng nơi
tướng vô diệt của ngã
Nơi các
tướng của ngã như vậy
Không có
thủ trước không phân biệt
Người biết
rõ ràng dược như vậy
Thì thành
tựu được môn tổng trì
Nơi tướng
rời văn tự của ngã
Không có
thủ trước không phân biệt
Người biết
rõ ràng được như vậy
Thì thành
tựu được môn tổng trì
Biết nhãn
tiền và hậu tế
Rời xa nơi
tướng thường tướng đoạn
Nhơn duyên
tự tánh đều rỗng không
Ðấng Ðại
Ðạo Sư phương tiện nói.
Nếu lúc
diễn thuyết pháp
Mà phân
biệt tướng nhãn
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
chơn thuyết pháp
Nếu lúc
tư duy pháp
Mà phân
biệt tướng nhãn
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
chánh tư duy
Nếu lúc
tu tập pháp
Mà phân
biệt tướng nhãn
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
chơn tu tập
Nếu biết
nhãn tánh không
Thì chẳng
xu Bồ đề
Chư Phật
nơi người ấy
Thường
hiện tiền thuyết pháp
Nếu chẳng
biết được nhãn
Thì cũng
chẳng biết sắc
Nếu người
biết được nhãn
Thì cũng
biết được sắc
Nếu người
biết được sắc
Thì cũng
biết được nhãn
Nhĩ tỷ
thiệt thân ý
Tất cả
đều như vậy
Nếu lúc
diện thuyết pháp
Phân biệt
nơi nhơn tướng
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
là thuyết pháp
Nếu lúc
diễn thuyết pháp
Phân biệt
tướng tịch tịnh
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
là thuyết pháp
Nếu lúc
diễn thuyết pháp
Phân biệt
nơi tướng đạo
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
là thuyết pháp
Nếu lúc
diễn thuyết pháp
Phân biệt
nơi tướng không
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
là thuyết pháp
Nếu lúc
diễn thuyết pháp
Phân biệt
nơi tích tập
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
là thuyết pháp
Nếu lúc
diễn thuyết pháp
Phân biệt
nơi sự vật
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
là thuyết pháp
Nếu lúc
diễn thuyết pháp
Phân biệt
nhãn nhiếp thủ
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
là thuyết pháp
Chẳng biết
rõ nơi nhãn
Thì sanh
lòng tham dục
Nếu biết
rõ được nhãn
Thì tham
dục chẳng sanh
Nhĩ tỷ
thiệt thân ý
Sáu trần
và bốn đại
Nhẫn đến
thế sanh danh
Tất cả
đều như vậy
Nếu lúc
diễn thuyết pháp
Phân biệt
mười tám giới
Người ấy
vọng phân biệt
Chẳng gọi
là thuyết pháp
Nơi chí
nguyện chẳng thối
Rõ thấu
nơi tánh không
Ðược các
môn tam muội
Người ấy
khéo thuyết pháp
Nơi chí
nguyện chẳng thối
Rời phân
biệt nơi nhãn
Do vì không
phân biệt
Người ấy
khéo thuyết pháp
Chẳng rõ
nhãn tánh không
Cũng mê
nhãn tự tánh
Do vì chẳng
biết rõ
Thì chẳng
nên thuyết pháp
Nếu biết
nhãn tánh không
Thì biết
nhãn tự tánh
Do vì biết
rõ nhãn
Người ấy
nên thuyết pháp
Chẳng biết
nhãn tánh không
Cũng mê
cú tự tánh
Do vì chẳng
biết rõ
Thì chẳng
nên thuyết pháp
Nếy biết
nhãn tánh không
Thì biết
cú tự tánh
Do vì biết
được rõ
Người ấy
nên thuyết pháp
Chẳng biết
nhãn tánh không
Cũng mê
văn tự tánh
Do vì chẳng
biết rõ
Thì chẳng
nên thuyết pháp
Nếu biết
nhãn tánh không
Thì biết
văn tự tánh
Do vì biết
được rõ
Người ấy
nên thuyết pháp
Chẳng biết
nhãn tánh không
Cũng mê
danh tự tánh
Do vì chẳng
biết rõ
Thì chẳng
nên thuyết pháp
Nếu biết
nhãn tánh không
Thì biết
danh tự tánh
Do vì biết
được rõ
Người ấy
nên thuyết pháp
Chẳng biết
nhãn tánh không
Cũng mê
sắc tự tánh
Do vì chẳng
biết rõ
Thì chẳng
nên thuyết pháp
Nếu biết
nhãn tánh không
Thì biết
sắc tự tánh
Do vì biết
được rõ
Người ấy
nên thuyết pháp
Chẳng biết
nhãn tánh không
Y thế tướng
phân biệt
Chẳng khéo
tùy thuận được
Ðiều phục
các chúng sanh
Nếu biết
nhãn tánh không
Chẳng y
tướng phân biệt
Thì khéo
tùy thuận được
Ðiều phục
các chúng sanh
Chẳng rõ
nhãn có không
Mà thuyết
pháp giữa chúng
Người ấy
tham lợi dưỡng
Mọi người
chẳng tín thọ
Nếu biết
nhãn có không
Mà thuyết
pháp giữa chúng
Người ấy
chẳng tham trước
Mọi người
đều tín thọ
Chẳng rõ
nhãn tánh không
Mà ngồi
trên pháp tọa
Dầu nói
nhiều thí dụ
Mọi người
chẳng tín thọ
Nếu biết
nhãn tánh không
Mà ngồi
trên pháp tòa
Những thí
dụ được nói
Mọi người
đều tín thọ
Nhĩ tỷ
thiệt thân ý
Sáu trần
và bốn đại
Nhẫn đến
thế sanh danh
Tất cả
đều như vậy”.
Lúc đức
Thế Tôn nói kinh Xuất Hiện Quang Minh nầy rồi, Nguyệt Quang
Ðồng Tử và các đại chúng,tất cả thế gian Trời,Người,
A Tu La v.v… nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ
phụng hành.
PHÁP HỘI
XUẤT
HIỆN QUANG MINH
THỨ MƯỜI
MỘT HẾT
HẾT TẬP
2